Tài liệu Những giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong thị trường dịch vụ taxi của công ty cổ phần ngôi sao tương lai

  • Số trang: 77 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 46 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

-1- Lời mở đầu Trong những năm qua, khi thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện chuyển nền kinh tế nước ta từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Hoạt động trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, mỗi doanh nghiệp thực sự trở thành chủ thể kinh tế của quá trình tái sản xuất xã hội. Các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế như được tiếp thêm sức mạnh mới, không ngừng phát triển và nâng cao chất lượng, số lượng cũng như quy mô hoạt động. Trải qua những hoàn cảnh hết sức khó khăn và thử thách các doanh nghiệp từng bước khẳng định vị thế của mình trên thương trường, đóng góp một phần to lớn vào sự nghiệp phát triển chung của nền kinh tế nước nhà. Thị trường luôn luôn biến động, luôn có sự đào thải theo quy luật vốn có của nó. Và một điều cốt lõi, doanh nghiệp muốn đứng vững và phát triển trên thị trường bắt buộc phải có: vốn, lao động và trình độ quản lý, đó là điều kiện hết sức cơ bản nhưng không phải bất cứ doanh nghiệp nào cũng áp dụng và tận dụng nó một cách triệt để vào công việc kinh doanh của đơn vị mình. Vấn đề đặt ra là doang nghiệp sẽ đứng vững và phát triển trên thị trường, các hoạt động kinh doanh ngày càng đạt hiệu quả tốt hay giậm chân tại chỡ, hay thậm chí làm ăn thua lỗ và đi đến phá sản? Câu trả lời hoàn toàn phụ thuộc vào nhận thức năng lực và khả năng nắm bắt thị trường của các nhà quản lý. Trong cơ chế thị trường hiện nay, mỗi doanh nghiệp vừa là người sản xuất, đồng thời vừa là người trực tiếp tiêu thụ sản phẩm của mình làm ra, doanh nghiệp phải đảm bảo mục tiêu cuối cùng của mình là lợi nhuận. Thị trường luôn thay đổi và nhu cầu ngày càng cao. Thị trường đã trở thành một vấn đề quyết định sự tồn vong của doanh nghiệp. Để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp phải tung ra các sản phẩm phù hợp với nhu cầu tiêu dùng với khẩu hiệu “hãy sản xuất ra cái mà khách hàng thích, bán và sản xuất cái mà khách hàng cần”, thêm vào đó chất lượng sản phẩm là yếu tố quan trọng mà bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng phải quan tâm đến nó đồng thời cố gắng giảm chi phí và hạ giá thành sản phẩm để phù hợp với thu nhập của -2người tiêu dùng. Từ những cơ sở đó xây dựng chiến lược lâu dài nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Điều đó tạo được chữ tín với khách hàng, mà chữ tín trong kinh doanh là tài sản vô hình lớn nhất của doanh nghiệp, nhờ tài sản này mà doanh nghiệp sẽ phát huy được thế mạnh riêng, phát triển liên tục và bền vững để vươn lên chiếm lĩnh thị trường. Qua lý luận và thực tiễn, chúng ta thấy con người là yếu tố quan trọng, tất yếu cần phải có trong mỗi doanh nghiệp, yếu tố con người quyết định sự thành công của doanh nghiệp. Vì vậy việc thu hút lao động, bố trí lao động mới, sắp xếp lại lao động, giải quyết các quan hệ lao động là những yếu tố quan trọng của chức năng quản trị. Bất kỳ một doanh nghiệp nào đều muốn chiến thắng trong cạnh tranh, có uy tín chỗ đứng trên thị trường. Muốn vậy không có cách nào khác là phải duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, tạo cho doanh nghiệp có vị thế ổn định, đảm bảo cho việc tiêu thụ sản phẩm đạt hiệu quả tốt nhất. Điều đó phụ thuộc vào trình độ chiếm được thị phần lớn trên thị trường vai trò của các nhà quản lý, mặt khác giúp cho doanh nghiệp có thể tận dụng đến mức cao nhất các ưu thế về nguồn lực, hạn chết được nhiều rủi ro nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao trong kinh doanh. Mỗi doanh nghiệp là một tế bào cơ bản tạo nên hệ thống kinh tế quốc dân của mỗi nước. Doanh nghiệp có phát triển kinh doanh tốt mới giúp cho đất nước phồn vinh và phát triển. Vì vậy các chủ doanh nghiệp phải biết cách kinh doanh để làm giàu cho bản thân, cho doanh nghiệp và cho đất nước. Muốn có được kết quả như vậy các doanh nghiệp phải tìm cho mình một thị trường tiêu thụ sản phẩm thích hợp. Chính vì vậy, các doanh nghiệp phải tìm mọi cách để duy trì thị trường truyền thống và mở rộng thị trường mới. Trong nền kinh tế thị trường việc các doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong sự cạnh tranh gay gắt là điều tất yếu. Để tồn tại và phát triển, tất cả mọi doanh nghiệp đều vừa phải đương đầu với các đối thủ cạnh tranh, vừa phải tìm mọi cách thuyết phục và lôi kéo khách hàng. Trước thực tế đó cùng với những kiến thức tích luỹ trong quá trình hoc tập tại Công Ty Cổ Phần Ngôi Sao Tương Lai (FUTURE STAR CORP), tôi đã nghiên -3cứu tìm hiểu, phân tích và đi sâu đánh giá khả năng cạnh tranh của công ty. Và đó là lý do thôi thúc tôi quyết định chọn đề tài: Những giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong thị trường dịch vụ taxi của Công ty Cổ Phần Ngôi Sao Tương Lai (Taxi Future). -4- CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU. 1.1 Giới thiệu tổng quát về đề tài nghiên cứu. Ngày nay, trên phạm vi toàn thế giới, dịch vụ Taxi đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa, xã hội. Hoạt động dịch vụ Taxi ngày càng phát triển với tốc độ chóng mặt và trở thành một ngành kinh tế rất quan trọng ở nhiều nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Trong những năm gần đây, dịch vụ Taxi nói riêng và Việt Nam nói chung đang trong tình trạng cạnh tranh rất gay gắt. Chỉ riêng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đã có khoảng trên 30 công ty hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ Taxi, tổ chức hoạt động, có kinh nghiệm trong việc tổ chức, thu hút vốn đầu tư, thu hút nguồn khách. Dưới những áp lực và cạnh tranh đó, để có vị thế lớn mạnh trên thị trường các công ty kinh doanh lĩnh vực dịch vụ Taxi đã không ngừng đổi mới, phát triển công ty nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh. Công ty Cổ phần Ngôi Sao Tương Lai được thành lập từ năm 2007, trải qua ba năm hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động kinh doanh, còn nhiều vấn đề vướng mắc cần được giải quyết nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty. Sau khi nghiên cứu tình hình cạnh tranh của Công ty Cổ phần Ngôi Sao Tương Lai, tôi quyết định chọn đề tài: " Những giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong thị trường dịch vụ taxi của Công ty Cổ Phần Ngôi Sao Tương Lai ( Taxi Future)". 1.2 Tổng quan lịch sử nghiên cứu. Trong năm 2008 và 2009 vừa qua mặc dù nền kinh tế Việt Nam bị khủng hoảng nhưng các đơn vị kinh doanh taxi vẫn phát triển tốt bằng chứng là các hãng taxi vẫn tăng đầu xe và nâng cao chất lượng dòng xe của mình nhằm phục vụ nhu cầu sử dụng taxi ngày càng cao tại TP.HCM và các tỉnh lân cận như Bình Dương và Đồng Nai. Vào năm 2010 khi nền kinh tế ổn định hơn các dự án đầu tư của nước ngoài đang tăng mạnh đặc biệt các dự án về bất động sản ( toà nhà văn phòng, căn hộ cao cấp, các khu du lịch nghĩ dưỡng,…) đang được đầu tư mạnh sẽ tạo ra nhu cầu sử dụng taxi ngày càng cao. -5Bên cạnh đó do chủ trương siết chặt quản lý đối với xe taxi dù, đây cũng là cơ hội để taxi chính hãng phát triển. Do đó việc cạnh tranh để giành thị trường, thu hút khách hàng của các hãng taxi sẽ ngày càng lớn. Nếu như không hiểu rõ đổi thủ thì khả năng giành thị trường là rất khó khăn. 1.3 Quan điểm chọn đề tài. Trong nền kinh tế thị trường việc các doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong sự cạnh tranh gay gắt là điều tất yếu. Hiện nay, ngành công nghiệp không khói đem lại nguồn thu rất lớn cho ngân sách Nhà nước, giải quyết được công ăn việc làm cho người lao động, góp phần bảo tồn và phát triển nền văn hoá mang đậm đà bản sắc dân tộc. Nhận thức được điều này, dich vụ Taxi phát triển mạnh mẽ, đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp kinh doanh dịch vu taxi ra đời hàng loạt. Sự phát triển về quy mô cũng như số lượng các doanh nghiệp taxi một mặt đã tạo ra bước ngoặt trưởng thành của ngành dịch vụ Taxi, mặt khác tạo nên áp lực cạnh tranh rất lớn giữa các công ty trong cùng lĩnh vực. Chính vì vậy, để có thể tồn tại và phát triển được các công ty kinh doanh dịch vụ luôn luôn phải tìm mọi cách để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình so với các đối thủ cạnh tranh khác. Nhận thức được vấn đề này, sau khi thực tập tại Công ty Cổ phần Ngôi Sao Tương Lai, thấy được áp lực cạnh tranh của các công ty kinh doanh dịch vụ Taxi trên địa bàn TP.HCM là rất lớn. Đồng thời thấy được những lợi thế, điểm mạnh của Công ty Cổ phần Ngôi Sao Tương Lai. Tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu của mình là “Những giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong thị trường dịch vụ taxi của Công ty Cổ Phần Ngôi Sao Tương Lai ( Taxi Future)” để góp phần giảm bớt áp lực cạnh tranh của công ty so với các công ty khác trên địa bàn TP.HCM. 1.4 Những tư liệu được sử dụng (liệt kê). Sử dụng các tư liệu, thông tin trên internet. Các tư liệu do công ty cung cấp và tư liệu thu thập trong quá trình thực tập. 1.5 Phương pháp nghiên cứu. Thiết lập đề cương chi tiết cho đề tài nghiên cứu khoa học. -6Phương pháp phân tích, thu thập và nghiên cứu các tài liệu liên quan. Phân tích cơ sở lý luận đề ra giải pháp nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh, đánh giá thực trạng khả năng cạnh tranh của công ty. Sử dụng phương pháp so sánh, đánh giá khả năng cạnh tranh so với các công ty khác. Sử dụng phương pháp khảo sát phỏng vấn khách hàng. -7- CHƯƠNG 2 : NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ SỨC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY. 2.1. Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường. Cạnh tranh là một quy luật tất yếu khách quan tồn tại trong nền kinh tế hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trường không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người. Trong mọi phương diện của cuộc sống ý thức vươn lên luôn là yếu tố chủ đạo, hướng suy nghĩ và hành động của con người. Hoạt động sản xuất kinh doanh là một mảng quan trọng trong đời sống xã hội, trong đó ý thức vươn lên không đơn thuần là trở thành người đứng đầu mà có thể là sự thành công trong một lĩnh vực nào đó hay là đạt được một mục tiêu cụ thể nào đó. Suy nghĩ và hành động trong sản xuất kinh doanh luôn bị chi phối bởi tính kinh tế khắc nghiệt nhất là cạnh tranh. Cạnh tranh luôn gắn liền với thị trường vì cạnh tranh được hình thành và phát triển trong lòng thị trường. Vậy cạnh tranh là gì? 2.1.1. Quan niệm về cạnh tranh. [ 7 ] Khái niệm về cạnh tranh được nhiều tác giả trình bày dưới nhiều góc độ khác nhau trong các giai đoạn phát triển khác nhau của nền kinh tế xã hội. Vấn đề cạnh tranh kinh tế, về mặt lý luận, từ lâu đã được các nhà kinh tế học trước C.Mác và chính các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin cũng đã đề cập đến. Khi đi nghiên cứu sâu về nền sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa và cạnh tranh tư bản chủ nghĩa, C.Mác đã phát hiện ra quy luật cạnh tranh cơ bản là : Quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân giữa các ngành và qua đó hình thành nên hệ thống giá cả thị trường. Quy luật này dựa trên sự chênh lệch giữa giá cả và chi phí sản xuất và khả năng có thể bán hàng hoá dưới giá trị của nó nhưng vẫn thu được lợi nhuận. Cạnh tranh vừa là môi trường, vừa là động lực trong nền kinh tế thị trường. Trong Văn kiện Đại hội VIII của Đảng cũng đã ghi rõ: “Cơ chế thị trường đòi hỏi phải hình thành một môi trường cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp, văn minh. Cạnh tranh vì lợi ích phát triển đất nước, chứ không phải làm phá sản hàng loạt, lãng phí các nguồn lực, thôn -8tính lẫn nhau”. Trong mục tiêu tổng quát của kế hoạch 5 năm 2001-2005 Đảng ta khẳng định cần phải: “Nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế”. Thuật ngữ “Cạnh tranh” được dùng ở đây là cách gọi tắt của cụm từ cạnh tranh kinh tế – một dạng cụ thể của cạnh tranh. Cạnh tranh xuất hiện trong quá trình hình thành và phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hoá. Do đó, hoạt động cạnh tranh gắn liền với sự tác động của các quy luật thị trường, như quy luật giá trị, quy luật cung - cầu… Do cách tiếp cận khác nhau, bởi mục đích nghiên cứu khác nhau, nên trong thực tế có nhiều quan niệm khác nhau về cạnh tranh. Kế thừa các quan điểm của các nhà nghiên cứu chúng ta có thể thấy rằng: cạnh tranh là quan hệ nhằm phản ánh mối quan hệ giữa các chủ thể của nền kinh tế thị trường cùng theo đuổi mục đích lợi nhuận tối đa. Đó là sự ganh đua giữa các chủ thể nhằm giành được những điều kiện thuận lợi nhất để thu được lợi nhuận siêu ngạch về phía mình. Cạnh tranh còn là phương thức giải quyết mâu thuẫn lợi ích kinh tế giữa các chủ thể của nền kinh tế thị trường. Cạnh tranh không quyết định bản chất kinh tế - xã hội của các chế độ xã hội. Tính chất cạnh tranh bị chi phối bởi bản chất kinh tế - xã hội của những chế độ xã hội đó. Tính cạnh tranh đơn thuần là khả năng sinh lợi trong kinh doanh. Một gánh bún riêu vỉa hè làm ăn có lãi là có tính cạnh tranh cao hơn một nhà hàng 5 sao nhưng làm ăn thua lỗ. Cái gì quyết định tính cạnh tranh của doanh nghiệp? Là khả năng cung cấp được cái gì thị trường đang cần, với một giá hợp lý với cái chất lượng của sản phẩm được cung cấp và làm ăn có lãi. Ai là người xác định tính cạnh tranh của doanh nghiệp? Là doanh nhân, từ sự đam mê, khả năng và những cơ hội kinh doanh đặc thù của họ. Vì mỗi người có một đam mê (làm giàu và làm cái gì mình thích thú), khả năng và cơ hội khác nhau, cho nên bản chất của mỗi doanh nhân và hoàn cảnh đặc thù của họ cho họ một lợi thế cạnh tranh đặc biệt, hoàn toàn không giống với ai. Vì vậy, chỉ có doanh nhân mới chính là người khẳng định được lợi thế của riêng mình và biết lợi dụng thời thế để tạo anh hùng. Nếu họ làm ăn có lãi, doanh nghiệp họ có tính cạnh tranh. Nếu họ không thành công thì chính họ hoặc người khác sẽ lấy bài học thất bại đó để làm tốt hơn. Nếu -9cơ hội kinh doanh có thực và khả thi, thì chắc chắn người sau sẽ làm hay hơn người trước, cầu sẽ có cung. Luật cạnh tranh là một bộ luật được ban hành nhằm qui định các hành vi cạnh tranh và các hành vi khác liên quan. Tại nước Việt Nam, luật cạnh tranh được quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua và ban hành ngày 03 tháng 12 năm 2004, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2005. Luật gồm 6 Chương, 123 Điều, áp dụng với mọi tổ chức cá nhân doanh nghiệp, mọi hiệp hội, ngành nghề hoạt động ở Việt Nam và quy định các hành vi của các cơ quan tổ chức, cơ quan quản lý Nhà nước liên quan. Điều 1 chương 1 của luật chỉ rõ phạm vi điều chỉnh: Luật này quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh, trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh, biện pháp xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh. Sứ mệnh cơ bản của luật cạnh tranh là: • Khẳng định và bảo hộ quyền tự do kinh doanh của doanh nhân. • Duy trì và ổn định trật tự cạnh tranh • Góp phần hình thành ý thức cạnh tranh lành mạnh • Góp phần khơi thông dòng chảy và điều tiết cạnh tranh Cạnh tranh là hành động ganh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân hay các nhóm, các loài vì mục đích giành được sự tồn tại, sống còn, giành được lợi nhuận, địa vị, sự kiêu hãnh, các phần thưởng hay những thứ khác. Thuật ngữ cạnh tranh được sử dụng cho nhiều lĩnh vực khác nhau như lĩnh vực kinh tế, thương mại, luật, chính trị, sinh thái, thể thao. Cạnh tranh có thể là giữa hai hay nhiều lực lượng, hệ thống, cá nhân, nhóm, loài, tùy theo nội dung mà thuật ngữ này được sử dụng. Cạnh tranh có thể dẫn đến các kết quả khác nhau. Một vài kết quả, ví dụ như trong cạnh tranh về tài nguyên, nguồn sống hay lãnh thổ, có thể thúc đẩy sự phát triển về mặt sinh học, tiến hoá, vì chúng có cơ hội, được cung cấp lợi thế cho sự sống sót, tồn tại. Ngày nay, hầu hết tất cả các quốc gia trên thế giới đều phải thừa nhận trong mọi hoạt động kinh tế đều phải có cạnh tranh và coi cạnh tranh không những là môi trường, động lực của sự phát triển nói chung, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển và tăng năng suất lao động, hiệu quả của các doanh nghiệp nói riêng mà còn là yếu tố quan trọng - 10 làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội. Một trong những khó khăn là không có một sự đồng nhất trong quan niệm về cạnh tranh. Lý do là thuật ngữ này được sử dụng để đánh giá cho tất cả các doanh nghiệp, các ngành, các quốc gia và cả khu vực liên quốc gia. Khi xác định tính cạnh tranh của một doanh nghiệp hay của một ngành công nghiệp chỉ cần xét đến tiềm năng sản xuất một hàng hoá hay dịch vụ ở một mức giá ngang bằng hay thấp hơn mức giá phổ biến mà không phải có trợ cấp. Với các quan niệm về cạnh tranh như trên, có thể rút ra khái niệm về cạnh tranh của doanh nghiệp như sau: “ Cạnh tranh của doanh nghiệp là một quá trình trong đó các doanh nghiệp luôn phải ganh đua với nhau, tìm mọi biện pháp – cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn – để đạt được mục tiêu kinh doanh của mình, thông thường chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các doanh nghiệp trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích”. Cạnh tranh là cuộc chạy đua kinh tế liên tục không hề có đích đến. Đó chính là quá trình mà các chủ thể luôn luôn phải vươn lên, mọi sự cải tiến ở một bên đều là đối trọng cho bên thứ hai (đối thủ cạnh tranh). Cạnh tranh luôn đi đôi với mạo hiểm, nhưng không mạo hiểm, không cạnh tranh là mạo hiểm với chính bản thân mình. Sự đứng yên hay thụt lùi là tự sát, là phá sản đối với doanh nghiệp. Vậy sự cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản và là động lực phát triển của nền kinh tế thị trường. Không có cạnh tranh thì không có kinh tế thị trường. Trong kinh tế thị trường, khả năng (năng lực) cạnh tranh cao là điều kiện sống còn của mỗi doanh nghiệp trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt như hiện nay. 2.1.2. Phân loại cạnh tranh. [ 5 – trang 3 ] Phân loại cạnh tranh có ý nghĩa rất quan trọng trong nghiên cứu về cạnh tranh. Phân loại cạnh tranh nhằm nhận thức rõ về từng loại hình cạnh tranh để từ đó có những phản ứng thích hợp trong từng hoàn cảnh cụ thể. 2.1.2.1.Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường. Cạnh tranh giữa người mua và người bán: Là cuộc cạnh tranh diễn ra theo quy luật mua rẻ bán đắt. Những người bán muốn bán sản phẩm của mình với giá cao nhất, ngược lại người mua có tham vọng mua được hàng hoá với giá rẻ nhất. Giá cuối cùng là - 11 sự cân bằng và thống nhất giữa người mua và người bán sau một quá trình thương lượng và tạo nên giá cả thị trường. Cạnh tranh giữa người mua với nhau: Chỉ xảy ra khi cung nhỏ hơn cầu. Tức khi lượng hàng hoá dịch vụ cung ứng trên thị trường khiến cho hàng hoá trên thị trường trở nên khan hiếm và người mua sẽ chấp nhận giá cao để mua được hàng hoá mà họ cần, điều này khiến cho giá cả hàng hoá leo thang không ngừng. Kết quả cuối cùng là người bán thu lợi nhuận tối đa còn người mua thì chịu thiệt hại. Cạnh tranh giữa người bán với nhau: Đây là cuộc cạnh tranh chính trên thị trường, mang tính chất gay go và quyết liệt nhất quyết định tính chất sống còn của doanh nghiệp. Cuộc cạnh tranh này thường trong trường hợp cung lớn hơn cầu và khi đó người bán sẽ cạnh tranh với nhau làm tăng thêm lượng hàng hoá tiêu thụ cho công ty mình; tăng tỷ lệ thị phần cung (tăng lợi nhuận, tăng đầu tư chiều sâu, mở rộng sản xuất). Quy luật cạnh tranh khắc nghiệt sẽ lần lượt đào thải ra khỏi thị trường những doanh nghiệp nào không có chiến lược kinh doanh thích hợp và giữ lại các doanh nghiệp nào không có chiến lược kinh doanh thích hợp và giữ lại các doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh hơn hẳn các đối thủ trên thị trường. 2.1.2.2. Căn cứ vào mức độ cạnh tranh trên thị trường. Thị trường cạnh tranh hoàn hảo hay thuần tuý: Là tình trạng cạnh tranh trong đó giá cả của một loại hàng hoa là không thay đổi trong toàn bộ địa danh của thị trường, bởi vì người mua, người bán đều biết tường tận về các điều kiện của thị trường.Trong điều kiện đó không có công ty (nhà kinh doanh) nào có đủ sức mạnh có thể ảnh hưởng đến giá cả sản phẩm của mình trên thị trường. Do đó, cả hai bên mua bán đều phải chấp nhận giá cả đang phổ biến trên thị trường thông qua quan hệ cung cầu. Cạnh tranh không hoàn hảo: Là hình thức cạnh tranh chiếm ưu thế trong các ngành sản xuất mà ở đó các cá nhân bán hàng hoặc các nhà sản xuất có đủ sức mạnh và thế lực có thể chi phối được giá cả sản phẩm của mình trên thị trường. Cạnh tranh không hoàn hảo có hai loại: độc quyền nhóm và cạnh tranh mang tính độc quyền. • Độc quyền nhóm: Tồn tại trong các ngành sản xuất mà ở đó chỉ có it người sản xuất, mỗi người đều nhận thức được giá cả của các sản phẩm của mình không phụ - 12 thuộc vào sản lượng của mình mà còn phụ thuộc vào hoạt động của những đối thủ cạnh tranh quan trọng trong ngành. • Cạnh tranh mang tính độc quyền: Là một hình thức cạnh tranh mà ở đó người bán có thể ảnh hưởng đến người mua bằng sự khác nhau trong các sản phẩm của mình về hình dáng, kích thước, chất lượng, nhãn mác. Trong rất nhiều trường hợp người bán có thể buộc người mua chấp nhận giá. Trong hình thức cạnh tranh này có nhiều người bán về cơ bản là giống nhau, có thể thay thế cho nhau ở mức độ cao nhưng không phải là thay thế hoàn hảo, hay nói cách khác độ co giãn của cầu theo giá là cao nhưng không phải vô cùng. Trong ngành cạnh tranh kiểu này, quy mô cạnh tranh của các doanh nghiệp có thể lớn, vừa hoặc nhỏ nên các doanh nghiệp mới gia nhập ngành tương đối dễ và các doanh nghiệp trong ngành rời bỏ cũng dễ dàng nếu việc kinh doanh của họ trở nên không có lãi. 2.1.2.3. Căn cứ vào phạm vi ngành. Cạnh tranh trong nội bộ ngành: Là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất ra một loại sản phẩm hàng hoá dịch vụ, cùng phục vụ một tập khách hàng trọng điểm, kết quả là hình thành lợi nhuận bình quân và giá cả sản xuất. Cạnh tranh giữa các ngành: Là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành kinh tế khác nhau nhằm giành giật lợi nhuận cao nhất. Trong quá trình cạnh tranh, các doanh nghiệp luôn bị hấp dẫn bởi các ngành có lợi nhuận cao nên có sự dịch chuyển vốn từ ngành ít lợi nhuận sang ngành nhiều lợi nhuận hơn. Sự chuyển dịch này sau một thời gian vô hình chung đã hình thành nên sự phân phối hợp lý giữa các ngành sản xuất để rồi kết quả cuối cùng là các chủ doanh nghiệp đầu tư ở các ngành khác nhau cùng một số vốn chỉ thu được lợi nhuận như nhau, tức là hình thành nên tỷ suất lợi nhuận chung cho tất cả các ngành. 2.1.2.4. Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ. Hay còn gọi là cạnh tranh trong nước và cạnh tranh quốc tế. Cạnh tranh quốc tế có thể diễn ra ở ngay thị trường nội địa, đó là cạnh tranh giữa hàng hoá trong nước sản xuất với hàng ngoại nhập (nhất là hàng nhập lậu). - 13 - 2.1.3. Những tác động tích cực và tiêu cực của cạnh tranh. Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong nền sản xuất hàng hóa nói riêng, và trong lĩnh vực kinh tế nói chung, là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần vào sự phát triển kinh tế. Cạnh tranh mang lại nhiều lợi ích, đặc biệt cho người tiêu dùng. Người sản xuất phải tìm mọi cách để làm ra sản phẩm có chất lượng hơn, đẹp hơn, có chi phí sản xuất rẻ hơn, có tỷ lệ tri thức khoa học, công nghệ trong đó cao hơn...để đáp ứng với thị hiếu của người tiêu dùng. Cạnh tranh, làm cho người sản xuất năng động hơn, nhạy bén hơn, nắm bắt tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng, thường xuyên cải tiến kỹ thuật, áp dụng những tiến bộ, các nghiên cứu thành công mới nhất vào trong sản xuất, hoàn thiện cách thức tổ chức trong sản xuất, trong quản lý sản xuất để nâng cao năng xuất, chất lượng và hiệu quả kinh tế. Ngoài mặt tích cực, cạnh tranh cũng đem lại những hệ quả không mong muốn về mặt xã hội. Nó làm thay đổi cấu trúc xã hội trên phương diện sở hữu của cải, phân hóa mạnh mẽ giàu nghèo, có những tác động tiêu cực khi cạnh tranh không lành mạnh, dùng các thủ đoạn vi phạm pháp luật hay bất chấp pháp luật. Vì lý do trên cạnh tranh kinh tế bao giờ cũng phải được điều chỉnh bởi các định chế xã hội, sự can thiệp của nhà nước. Trong xã hội, mỗi con người, xét về tổng thể, vừa là người sản xuất đồng thời cũng là người tiêu dùng, do vậy cạnh tranh thường mang lại nhiều lợi ích hơn cho mọi người và cho cộng đồng, xã hội. 2.2. Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. 2.2.1. Khái niệm về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. [7] Khả năng cạnh tranh, sức cạnh tranh, hay năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đã được nói tới nhiều khi chúng ta bàn luận về sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt là trong điều kiện toàn cầu hoá như hiện nay. Vậy chúng ta phải hiểu khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp như thế nào? Quan điểm tân cổ điển (dựa trên lý thuyết thương mại truyền thống): Khả năng cạnh tranh của một sản phẩm thể hiện qua lợi thế so sánh vầ chi phí sản xuất và năng suất. Theo đó khả năng cạnh tranh của một ngành, công ty được đánh giá cao hay thấp - 14 tuỳ thuộc vào chi phí sản xuất có giảm bớt hay không vì ci phí sản xuất vẫn được coi là điều kiện cơ bản của lợi thế cạnh tranh. Quan điểm tổng hợp của Vardwer, E.Martin và R.Westgren: Khả năng cạnh tranh của một ngành, công ty là khả năng tạo ra và duy trì lợi nhuận, thị phần trên các thị trường trong và ngoài nước. Như vậy, lợi nhuận và thị phần là hai chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của công ty. Chúng có mối quan hệ tỷ lệ thuận với nhau, lợi nhuận và thị phần càng lớn thể hiện khả năng cạnh tranh của công ty càng cao. Ngược lại, lợi nhuận và thị phần càng giảm hoặc nhỏ phản ánh khả năng cạnh tranh của công ty hạn chế hoặc chưa cao. Từ các quan điểm trên có thể rút ra kết luận: “Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp chính là khả năng tạo ra, duy trì và phát triển thị phần, lợi nhuận thông qua việc giảm thiểu chi phí sản xuất, hạ giá thành, nâng cao chất lượng và tạo sự khác biệt cho sản phẩm làm ra”. 2.2.2. Phân biệt khái niệm lợi thế cạnh tranh và vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp. [8] 2.2.2.1. Lợi thế cạnh tranh. Lợi thế cạnh tranh là sở hữu của những giá trị đặc thù, có thể sử dụng được để “nắm bắt cơ hội”, để kinh doanh có lãi. Khi nói đến lợi thế cạnh tranh, chúng ta nói đến lợi thế mà một doanh nghiệp đang có và có thể có, so với các đối thủ cạnh tranh của họ. Lợi thế cạnh tranh là một khái niệm cho doanh nghiệp, có tính vi mô chứ không phải có tính vĩ mô ở cấp quốc gia. Như vậy không có cái gọi là “lợi thế Việt Nam” mà chỉ có lợi thế của doanh nghiệp A hoặc doanh nghiệp B. Theo quan điểm của Michael Porter, doanh nghiệp chỉ tập trung vào hai mục tiêu tăng trưởng và đa dạng hóa sản phẩm, chiến lược đó không đảm bảo sự thành công lâu dài cho doanh nghiệp. Điều quan trọng đối với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào là xây dựng cho mình một lợi thế cạnh tranh bền vững. Theo Michael Porter lợi thế cạnh tranh bền vững có nghĩa là doanh nghiệp phải liên tục cung cấp cho thị trường một giá trị đặc biệt mà không có đối thủ cạnh tranh nào có thể cung cấp được. 2.2.2.2. Vị thế cạnh tranh. - 15 Vị thế cạnh tranh là việc xác định cách thức công ty làm khác biệt hoá cái mà công ty cung cấp và giá trị công ty đem đến thị trường. Điều này sẽ đánh dấu vị trí của công ty trong cuộc cạnh tranh và thúc đẩy công ty đưa ra chiến lược cạnh trạnh phù hợp. “Ưu thế cạnh tranh lâu dài duy nhất của doanh nghiệp chính là có được năng lực học tập nhanh hơn đối thủ cạnh tranh”. Những doanh nghiệp thành công nhất của thế kỷ 21 sẽ là những công ty xây dựng nền móng trên tổ chức mô hình học tập. Trong nền kinh tế lấy tri thức làm chủ đạo, trong các doanh nghiệp hiện đại theo mô hình tập trung tri thức, thì năng lực học tập trở thành năng lực cơ bản của doanh nghiệp, là nguồn gốc để doanh nghiệp dành ưu thế cạnh tranh. Vị thế cạnh tranh được Michael E.Porter định nghĩa là làm theo một cách khác để đạt đến một mục tiêu khác. 2.3. Các tiêu chí và phương pháp đánh giá khả năng cạnh tranh của công ty. 2.3.1. Nguồn gốc lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Những giá trị nào quyết định lợi thế cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp? Đó là sự thôi thúc, đam mê, khả năng và bản chất đặc thù của người doanh nhân cộng với điều kiện hoàn cảnh cá nhân, tài nguyên sẵn có, nhu cầu của thị trường mà họ tiếp cận được, tạo ra những cơ hội kinh doanh đặc thù để doanh nhân có thể nắm bắt. Như vậy mỗi doanh nhân có mỗi lợi thế khác nhau. 2.3.2. Một số tiêu thức đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.[ 5 – trang 20] Có rất nhiều chỉ tiêu để đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, bao gồm cả chỉ tiêu định tính và chỉ tiêu định lượng. Một số chỉ tiêu định tính thường được sử dung là : chỉ số về chất lượng, sự khác biệt của sản phẩm, mức độ cải tiến sản phẩm, phát triển và cung ứng sản phẩm mới, sự linh hoạt về giá, mức độ mềm dẻo trong quyết định điều chỉnh giá, mức độ hoàn thiện, liên kết trong hệ thống phân phối, sự phù hợp, đa dạng của các biện pháp xúc tiến thương mại, mức độ tin tưởng của khách hàng, người cung ứng, kỹ năng của nhân viên…Các chỉ tiêu định lượng bao gồm thị phần, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận, năng suất lao động,… Chúng ta chỉ đi xem xét một vài chỉ tiêu sau: - 16 2.3.2.1. Thị phần. Thị phần hay tỷ lệ thêm nhập thị trường được hiểu là phần chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh trong ngành. Thực chất nó là phần thị trường mà doanh nghiệp có được trong một thời kỳ nhất định. Có thể chia thị phần làm hai: Phần chiếm lĩnh thị trường tuyệt đối và phần chiếm lĩnh thị trường tương đối • Phần chiếm lĩnh thị trường tuyệt đối: Là phần trăm kết quả tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp so với kết quả tiêu thụ sản phẩm cùng loại của tất cả các doanh nghiệp bán trên cùng một thị trường. Thị phần của doanh nghiệp = QDN Q x100(%) Trong đó: - QDN là khối lượng hàng hoá (hiện vật) doanh nghiệp tiêu thụ được trên thị trường. - Q là tổng khối lượng hàng hoá cùng loại tiêu thụ được trên thị trường tương ứng. Hoặc: Thị phần của doanh nghiệp = MDN M x100(%) Trong đó: - MDN là doanh thu doanh nghiệp thực hiện được trên thị trường. - M doanh thu của toàn ngành hiện có trên một thị trường. • Phần chiếm lĩnh thị trường tương đối: Là tỷ lệ giữa phần chiếm lĩnh thị trường một cách tuyệt đối của doanh nghiệp so với phần chiếm lĩnh thị trường một cách tuyệt đối của đối thủ cạnh tranh mạnh nhất trong ngành. Thị phần tương đối = MDN MĐT x100(%) - 17 Trong đó: - MDN doanh thu của doanh nghiệp trên thị trường. - MĐT doanh thu của đối thủ cạnh tranh mạnh nhất trong ngành trên cùng một thị trường. Vậy, thị phần tuyệt đối là chỉ tiêu có thể dùng so sánh giữa các đối thủ cạnh tranh cới nhau và với doanh nghiệp nhưng thị phần tương đối chỉ có thể được dùng so sánh giữa doanh nghiệp với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất trong ngành. Đây là chỉ tiêu cơ bản nhất để đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Thị phần được coi là một công cụ để đo lường vị thế của doanh nghiệp trên thị trường. Thị phần càng lớn chứng tỏ vị thế của doanh nghiệp càng cao đồng nghĩa với khả năng cạnh tranh cao của doanh nghiệp. Bởi thực chất khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và phát triển thị phần. Nếu daonh nghiệp có phạm vi thị trường nhỏ hẹp, điều đó có nghĩa doanh nghiệp đang bị chèn ép, thị phần bị thu hẹp bởi các đối thủ cạnh tranh. 2.3.2.2. Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận. Lợi nhuận: Là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu cua doanh nghiệp và tổng chi phí trong một thời kì nhất định. Lợi nhuận = Tổng doanh thu - Tổng chi phí - Các khoản phải nộp Lợi nhuận không chỉ là thu nhập mặc nhiên của vốn đầu tư mà còn là phần thưởng cho những ai dám chấp nhận rủi ro và mạo hiểm. Do đó, lợi nhuận phản ánh khả năng sử dụng các công cụ cạnh tranh cũng như khả năng cạnh tranh hiện tại của doanh nghiệp càng lớn. Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu là tỷ lệ so sánh giữa lợi nhuận và doanh thu thuần thu được trong một thời kỳ nhất định. Chỉ tiêu này phản ánh trong một thời kỳ nhất định, doanh nghiệp thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận trên một đồng doanh thu thuần. Chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp càng cao, khả năng cạnh tranh hiện tại của doanh nghiệp càng lớn. - 18 Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu = LN M x100(%) Trong đó: - LN: Tổng lợi nhuận đạt được trong kỳ (lợi nhuận trước thuế). - M: Doanh thu thuần đạt được trong kỳ. Tỷ suất lợi nhuận trên tổng chi phí, chỉ tiêu này phản anh mức lợi nhuận trên một đồng chi phí bỏ ra. Chỉ tiêu này càng lớn, khả năng cạnh tranh hiện tại của doanh nghiệp càng lớn. Tuy nhiên, với mức lợi nhuận cao, chi phí thấp sẽ lôi kéo các doanh nghiệp khác thâm nhập thị trường dễ dàng. Do đó, doanh nghiệp phải chia sẻ thị phần với đối thủ mới. Thậm chí doanh nghiệp có nguy cơ bị đẩy ra khỏi thị trường nếu không biết tận dụng lợi thế đi trước của mình. Vì vậy, với mức chi phí cao, lợi nhuận hợp lý sẽ giúp cho doanh nghiệp có được lợi nhuận ổn định hơn trong tương lai. Tỷ suất lợi nhuận trên tổng chi phí = LN GV + F x100(%) Trong đó: - GV: Trị giá vốn của hàng hoá bán ra. - F: Chi phí bỏ ra để đạt doanh thu. 2.3.2.3. Năng suất lao động. Năng suất lao động là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Năng suất lao động là giá trị sản lượng được sản xuất ra bởi một đơn vị lao động hay vốn. Năng suất lao động càng cao, khả năng tạo ra lượng giá trị trên một đơn vị thời gian của một đơn vị lao động hay vốn càng lớn. Đây là điều kiện hạ thấp giá thành sản phẩm, hạ giá bán, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường. Đối với một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại thì năng suất lao động được hiểu là mức tiêu thụ hàng hoá bình quân của một nhân viên bán hàng trong một đơn vị thời gian. - 19 Năng suất lao động của một nhân viên bán hàng hoặc Mức tiêu thụ hàng hoá = Số nhân viên bán hàng = Số nhân viên bán hàng Mức tiêu thụ hàng hoá Tăng năng suất lao động luôn gắn liền với giảm hao phí lao động, giảm giá thành sản xuất kinh doanh. Tăng năng suất lao động chính là một yếu tố làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Điều đó được thể hiện: • Tăng năng suất lao động là một yếu tố để không ngừng mở rộng tiêu thụ hàng hoá của doanh nghiệp, tạo điều kiện để phục vụ tốt khách hàng. • Tăng năng suất lao động là điều kiện để các doanh nghiệp tiết kiệm hao phí lao động, tiết kiệm chi phí, tăng tích luỹ cho doanh nghiệp và cho xã hội, cải thiện đời sống của người lao động trong doanh nghiệp. Năng suất lao động của doanh nghiệp càng cao doanh nghiệp càng có nhiều điều kiện tiết kiệm chi phí, mở rộng kinh doanh, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. 2.3.2.4. Tỷ suất chi phí và chi phí Marketing. Tỷ suất chi phí là tỷ lệ giữa tổng chi phí bỏ ra và doanh thu đạt được từ chi phí đó. Tỷ suất chi phí phản ánh hiệu quả sử dụng chi phí trong kinh doanh của doanh nghiệp. Tỷ suất chi phí = Tổng chi phí Tổng doanh thu x100(%) Chi phí Marketing nằm trong chi phí chung, là nguồn vốn doanh nghiệp bỏ ra để thực hiện các chiến dịch Marketing nhằm nâng cao khả năng tiêu thụ sản phẩm. - 20 - 2.3.3. Phương pháp và công cụ đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.[5 – trang 10] 2.3.3.1. Cạnh tranh giá cả. Trước hai loại hàng hoá có cùng công dụng, chức năng như nhau, người tiêu dùng sẽ lựa chọn hàng hoá nào có giá cả thấp hơn. Giá cả hàng hoá là thuộc tính căn bản của một sản phẩm, thực tế nó là một phần của sản phẩm. Trong kinh doanh, giá cả là một yếu tố nhạy cảm, một tề bào thần kinh của thị trường. Người ta có thể thay đổi giá nhanh hơn bất cứ yếu tố nào khác của Marketing –mix và đặc tính này góp phần quan trọng cho việc tăng hay giảm giá chiến thuật của nó. Giá cả của hàng hoá được quyết định bởi giá trị hàng hoá, mặt khác phụ thuộc vào khả năng thanh toán (mức sống) của người tiêu dùng thông qua quan hệ cung – cầu trên thị trường. Với mức sống còn thấp, người tiêu dùng thông thường tìm mua hàng hoá có giá rẻ, phù hợp với khả năng thanh toán của họ. Vì vậy người sản xuất khôn ngoan trong trường hợp này sẽ làm hàng hoá với chất lượng bình thường nhưng giá cả thấp để thu hút khách hàng có khả năng thanh toán thấp về mình. Ngược lại khi mức sống cao, người tiêu dùng sẽ quan tâm đến hàng hoá có chất lượng tốt, chấp nhận giá cao. Với một doanh nghiệp sử dụng chiến lược cạnh tranh dẫn đầu về giá nhằm phân phối đại trà sản phẩm ra thị trường, để có thể định giá thấp hơn các đối thủ cạnh tranh khi vẫn muốn duy trì một mức lợi nhuận mong muốn, đòi hỏi doanh nghiệp phải có thiết bị sản xuất hiệu quả, tận dụng lợi thế kinh tế theo quy mô và đường kinh nghiệm, giảm thiểu chi phí nghiên cứu phát triển, dịch vụ khách hàng và quảng cáo – nhằm hạ thấp giá thành sản phẩm. Nhờ việc duy trì được giá thành thấp nên doanh nghiệp có thể han chế được sự thâm nhập thị trường của các thành viên mới, duy trì lợi nhuận trong giai đoạn cạnh tranh gay gắt; đồng thời, với thị phần cao, doanh nghiệp có vị thế thương lượng cao với nhà phân phối. Từ đó doanh nghiệp có thể duy trì mức lợi nhuận trên trung bình. Tuy nhiên, không phải lúc nào giảm giá cũng có thể bán được hàng vì trên thực tế giảm giá có thể dẫn tới các hành động trả đũa của đồi thủ, có thể dẫn tới giảm giá lâu dài của tất cả mọi người bán, mặt khác còn gây nghi ngờ cho khách hàng về chất lượng sản phẩm.
- Xem thêm -