Tài liệu Những diễn biến của hiện tượng chuyển giá ở việt nam trong thời kì hội nhập

  • Số trang: 63 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 53 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 39837 tài liệu

Mô tả:

TÓM TẮT ĐỀ TÀI 1. Lý do chọn đề Năm 2006, Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO đã mở ra nhiều cơ hội phát triển cho nền kinh tế Việt Nam. Việc thu hút nguồn vốn FDI của Việt Nam đã có nhiều bước tiến đáng kể , mà theo các chuyên gia nhận định đây là những trứng vàng của nền kinh tế. Từ 2006 đến thàng 8 năm 2008, nguồn vốn FDI đổ vào Việt Nam không ngừng tăng lên và liên tiếp lập những mốc kỷ lục mới về tổng mức vốn đầu tư . Năm 2009, trong giai đoạn kinh tế thế giới lâm vào tình trạng khủng hoảng nặng nề, nguồn vốn FDI vẫn duy trì ở mức cao tuy thấp hơn so với đỉnh vào năm 2008, và dự báo trong năm 2010 sẽ tiếp tục tăng trở lại.Nguồn vốn FDI đổ vào nước ta không chỉ là tăng về số lượng các dự án mà tăng về cả qui mô và chất lượng của các dự án. Cũng như ngày càng có nhiều quốc gia, các tập đoàn lớn trên thế giới tìm hiểu cơ hội đầu tư vào thị trường Việt Nam. Việc tiếp nhận vốn FDI sõ tạo ra cơ hội tiếp cận với trình độ khoa học kỹ thuật hiện đại, trình độ quản lý kinh tế tầm cao của thế giới và giải quyết công ăn việc làm cho lao động trong nước. FDI trở thành một trong những nguồn cung cấp vốn quan trọng cho nên kinh tế, là động lực thúc đẩy kinh tế Việt Nam phát triển, tạo nên tính năng động và cạnh tranh cho thị trường. Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp tích cực của vốn FDI, thì nguồn vốn này vẫn tiềm ẩn những rui ro nếu chúng ta không có các biện pháp quản lý hợp lý và đồng bộ. Đặt biệt trong những năm gần đây tình hình các doanh nghiệp FDI kê khai lỗ kéo dài nhiều năm làm cho chính phủ Việt Nam bị thất thu thuế ảnh hưởng trực tiếp đến ngân sách, bên cạnh đó tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh với các doanh nghiệp trong nước, tác động không tốt đến cơ chế quản lý tài chính của chính phủ trong lĩnh vực FDI, và ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng nguồn vốn này cũng như tác động xấu đến mục tiêu thu hút và quản lý vĩ mô vốn FDI của chính phủ. Vấn đề dược đặt ra là đã có hình vi “chuyển giá “tại các doanh nghiệp FDI hiện nay. Đứng trước tình hình này Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư 66/2010/TT-BTC vào ngày 22 tháng 4 năm 1 2010 hướng dẫn thực hiện việc xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết. Thông tư này thay thế Thông tư 117/2005/TT-BTC ngày 19 tháng 12 năm 2005. Tình hình chuyển giá đã và đang là một thực trạng đáng báo động ở Việt Nam hiện nay, trong khi các quốc gia phát triển đã có nhiều kinh nghiệm trong việc chống chuyển giá ở các công ty đa quốc gia, thì Việt Nam vẫn còn thiếu kinh nghiệm trong vấn đề này. Chính vì lý do này tôi quyết định chọn đề tài “Những diễn biến của hiện tượng chuyển giá ở Việt Nam trong thời kì hội nhập” làm đề tài nghiên cứu. 2. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài Mục đích của đề tài này là tìm hiểu, nghiên cứu và phân tích hiện tượng chuyển giá ở Việt Nam trong thơi gian qua, khi nguồn vốn FDI đổ vào Việt Nam ngày càng tăng, và hoạt động của các công ty đa quốc gia ngày càng sôi động. Từ đó, đề ra một số biện pháp chống chuyển nhằm giúp các cơ quan chức năng quản lý tốt hơn các doanh nghiệp FDI trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới. Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các doanh nghiệp FDI đang hoạt động trên địa bàn TP HCM nói riêng và cả nước nói chung và hiện tượng chuyển giá của các doanh nghiệp này tại Việt Nam trong những năm gần đây. 3. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp sử dụng trong đề tài là và phương pháp thống kê, liệt kê, phân tích các nguồn số liệu từ đó đưa ra nhận xét để làm rõ vấn đề. Bên cạnh đó dê tài còn sử dụng phương pháp phương so sánh trong quá trình phân tích. 4. Cấu trúc dự kiến Chương 1: Công ty đa quốc gia và hoạt động chuyển giá Chương 2: Thực trạng chuyển giá quốc tế ở Việt Nam trong thởi kì hội nhập kinh tế thế giới Chương 3: Những giải pháp chống chuyển giá ở Việt Nam 5. Đóng góp của đề tài Đóng góp một số giải pháp chống chuyển giá cho các cơ quan quản lý của nhà nước quản lý tốt hơn đối với các doanh nghiệp FDI, góp phần làm tăng nguồn thu 2 ngân sách Nhà nước từ việc thu thuế TNDN đối với các công ty này.Mặt khác, giúp các doanh nghiệp Việt Nam, đặt biệt các doanh nghiệp có tham gia trong liên doanh có cái nhìn rõ hơn về chuyển giá quốc tế cũng như những biện pháp tự bảo vệ mình trong khi hợp tác với các đối tác nước ngoài. 3 NỘI DUNG CHƯƠNG I: CÔNG TY ĐA QUỐC GIA VÀ HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIÁ. 1.1 Công ty đa quốc gia 1.1.1 Khái niệm. Công ty đa quốc gia, thường viết tắt là MNC (Multinational corporation) hoặc MNE (Multinational enterprises), là khái niệm để chỉ các công ty sản xuất hay cung cấp dịch vụ ở ít nhất hai quốc gia. Các công ty đa quốc gia lớn có ngân sách vượt cả ngân sách của nhiều quốc gia. Công ty đa quốc gia có thể có ảnh hưởng lớn đến các mối quan hệ quốc tế và các nền kinh tế của các quốc gia. Các công ty đa quốc gia đóng một vai trò quan trọng trong quá trình toàn cầu hóa. Một số người cho rằng một dạng mới của MNC đang hình thành tương ứng với toàn cầu hóa – đó là xí nghiệp liên hợp toàn cầu. Công ty đa quốc gia là Công ty hoạt động và có trụ sở ở nhiều nước khác nhau. (khác với Công ty quốc tế: chỉ là tên gọi chung chung của 1 công ty nước ngoài tại 1 quốc gia nào đó.) 1.1.2 Đặc điểm hoạt động các công ty đa quốc gia Quyền sở hữu tập trung: các chi nhánh, công ty con, đại lý trên khắp thế giới đều thuộc quyền sở hữu tập trung của công ty mẹ, mặc dù chúng có những hoạt động cụ thể hằng ngày không hẳn hoàn toàn giống nhau. Thường xuyên theo đuổi những chiến lược quản trị, điều hành và kinh doanh có tính toàn cầu. Tuy các công ty đa quốc gia có thể có nhiều chiến lược và kỹ thuật hoạt động đặc trưng để phù hợp với từng địa phương nơi nó có chi nhánh. 4 Các công ty đa quốc gia có thể xếp vào ba nhóm lớn theo cấu trúc các phương tiện sản xuất:  Công ty đa quốc gia “theo chiều ngang” sản xuất các sản phẩm cùng loại hoặc tương tự ở các quốc gia khác nhau (ví dụ: McDonalds).  Công ty đa quốc gia “theo chiều dọc” có các cơ sở sản xuất ở một số nước nào đó, sản xuất ra sản phẩm là đầu vào cho sản xuất của nó ở một số nước khác (ví dụ: Adidas).  Công ty đa quốc gia “nhiều chiều” có các cơ sở sản xuất ở các nước khác nhau mà chúng hợp tác theo cả chiều ngang và chiều dọc (ví dụ: Microsoft). Một số khác cho rằng đặc điểm cơ bản của các công ty đa quốc gia là bộ phận không trực tiếp làm việc với khách hàng, tiếng Anh: back-office, (ví dụ cung cấp nguyên liệu, tài chính và nguồn nhân lực) ở mỗi quốc gia mà nó hoạt động. Các công ty đa quốc gia đã tạo ra một phiên bản nhỏ của chính nó ở mỗi công ty. Xí nghiệp liên hợp toàn cầu mà một số người cho rằng sẽ là giai đoạn tiếp theo trong tiến trình phát triển của công ty đa quốc gia thì không có đặc điểm này. 1.1.3 Mục đích phát triển thành công ty đa quốc gia Thứ nhất: đó là nhu cầu quốc tế hóa ngành sản xuất và thị trường nhằm tránh những hạn chế thương mại, quota, thuế nhập khẩu ở các nước mua hàng, sử dụng được nguồn nguyên liệu thô, nhân công rẻ, khai thác các tìêm năng tại chỗ. Thứ hai , đó là nhu cầu sử dụng sức cạnh tranh và những lợi thế so sánh của nước sở tại, thực hiện việc chuyển giao các ngành công nghệ bậc cao. Thứ ba, tìm kiếm lợi nhuận cao hơn và phân tán rủi ro. Cũng như tránh những bất ổn do ảnh hưởng bởi chu kỳ kinh doanh khi sản xuất ở một quốc gia đơn nhất. Ngoài ra, bảo vệ tính độc quyền đối với công nghệ hay bí quyết sản xuất ở một ngành không muốn chuyển giao cũng là lý do phải mở rộng địa phương để sản xuất. Bên cạnh đó, tối ưu hóa chi phí và mở rộng thị trường cũng là mục đích của MNC. 5 Hoạt động MNC, vì được thực hiện trong một môi trường quốc tế, nên những vấn đề như thị trường đầu vào, đầu ra, vận chuyển và phân phối, điều động vốn, thanh toán… có những rủi ro nhất định. Rủi ro thường gặp của các MNC rơi vào 2 nhóm sau: _Rủi ro trong mua và bán hàng hóa như: thuế quan, vận chuyển, bảo hiểm, chu kỳ cung cầu, chính sách vĩ mô khác… _Rủi ro trong chuyển dịch tài chính như: rủi ro khi chính sách của chính quyền địa phương thay đổi, các rủi ro về tỷ giá, lạm phát, chính sách quản lý ngoại hối, thuế ,khủng hoảng nợ… 1.1.4 Tác hại của chuyển giá. _Tác hại của thủ thuật chuyển giá không chỉ là ngân sách nhà nước bị mất đi một khoản thuế lớn, mà hàng năm chúng ta còn phải cân đối một lượng ngoại tệ không nhỏ cho việc nhập về những nguyên liệu, máy móc cao hơn giá trị thực của nó. _ Ngoài ra, nguy hiểm hơn là còn tạo ra một môi trường kinh doanh, cạnh tranh không bình đẳng với các doanh nghiệp trong nước. _ Khi tình trạng thua lỗ ảo kéo dài, trong liên doanh bị kiệt sức, phải rút vốn, nhường sân cho đối tác. Thực tế cho thấy không ít DN “con” tại VN đã bị DN “mẹ” ở nước ngoài thôn tính theo kiểu này. 1.2 Các nghiệp vụ mua bán nội bộ và hoạt động chuyển giá ở các công ty đa quốc gia. 1.2.1 Các nghiệp vụ mua bán nội bộ. Các MNC do hoạt động trên nhiều quốc gia khác nhau và ở mỗi quốc gia thường có chi nhánh hay công ty con vì vậy mà hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty phải phù hợp với phong tục tập quán và luật pháp kinh doanh tại quốc gia đó. Các đặc điểm kinh doanh trên dẫn đến các giao dịch nội bộ của các MNC diễn ra rất 6 đa dạng, phức tạp, khối lượng giao dịch ngày càng lớn. Vì vậy mà các cơ quan thuế riêng lẻ của từng quốc gia sẽ rất khó khăn trong việc quản lý và kiểm soát. Với tính chất đặc biệt quan trọng và tính bảo mật cao của các nghiệp vụ này, các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ sẽ được bảo mật và chỉ có các nhà quản trị cấp cao trong MNC mới tiếp cận được. Các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chiến lược phát triển của các MNC. Trong thực tế các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ được thực hiện theo chỉ thị của các nhà quản trị cấp cao với giá trị rất lớn nhưng giá trị này đã không được ghi nhận hoặc chỉ thể hiện một số rất nhỏ. Các chứng từ, chứng cứ kèm theo không thể hiện chính xác giá trị và bản chất của nghiệp vụ vì vậy đã gây khó khăn cho các cơ quan thuế trong việc đưa ra bằng chứng chứng minh các MNC đã thực hiện hành vi chuyển giá. Dựa vào tính chất và đặc điểm của các nghiệp vụ mua bán nội bộ phổ biến trên thị trường, ta phân chia các nghiệp vụ mua bán nội bộ thành các nhóm như sau : _ Các nghiệp vụ mua bán nội bộ liên quan nguyên vật liệu có tính đặc thù cao, hay các nguyên vật liệu mà một công ty con đặt tại một quốc gia có các lợi thế riêng làm cho giá của nguyên vật liệu ấy thấp. _Các nghiệp vụ mua bán nội bộ liên quan đến các thành phẩm, các công ty con tại các quốc gia khác nhau có thể mua thành phẩm được sản xuất tại một quốc gia (Sourcing country) và sau đó bán lại mà không cần phải đầu tư máy móc hay nhân công cho sản xuất. _Các giao dịch liên quan việc dịch chuyển một lượng lớn máy móc, thiết bị cho sản xuất mà đặc biệt hơn là điểm đến của các giao dịch này là các quốc gia đang phát triển. _Các giao dịch liên quan đến các tài sản vô hình như nhượng quyền, bản quyền, thương hiệu, nhãn hàng, các chi phí liên quan đến nghiên cứu và phát triển sản phẩm. 7 _Có sự cung cấp các dịch vụ quản lý, dịch vụ tài chính hay chi phí cho các chuyên gia vào làm việc tại các nước nhận chuyển giao. _Có sự tài trợ và nhận tài trợ về các nguồn lực như tài lực và nhân lực. _Có các khoản đi vay và cho vay nội bộ các công ty con của MNC hay giữa công ty mẹ và các công ty con. Các chuyển giao nội bộ này diễn ra thường xuyên với giá trị lớn, vì vậy để hạn chế các tác động tiêu cực của các nghiệp vụ này cần có một nguyên tắc áp dụng chung và thống nhất trên các quốc gia.Nguyên tắc này được lập ra nhằm đảm bảo tính công bằng trong thương mại, là cơ sở cho các nghiệp vụ mua bán, trao đổi hàng hóa và cung cấp dịch vụ giữa các quốc gia. 1.2.2 Chuyển giá: Chuyển giá (transfer pricing) là việc định giá quá cao hoặc quá thấp trong hoạt động thương mại giữa nội bộ công ty của các công ty đa quốc gia nhằm chuyển thu nhập và lợi nhuận từ nước có thuế cao sang nước có thuế thấp. Như vậy, chuyển giá là một hành vi mang tính chủ quan, áp đặt giá cả mua bán lên các giao dịch nội bộ, không căn cứ trên giá cả thị trường, quy luật cung cầu giữa công ty mẹ và công ty con hay giữa các công ty con với nhau nhằm mục đích cuối cùng là tối thiểu số thuế phải nộp. 1.2.3 Phương thức trốn thuế qua chuyển giá: Thực ra, trốn thuế qua chuyển giá có thể được thực hiện một cách bài bản ngay từ giai đoạn đầu tư thông qua việc tính giá trị công nghệ, thương hiệu... (vốn vô hình) cao. Phần vốn góp cao lên cùng tỉ lệ góp vốn cao, làm cho Tỷ lệ lợi nhuận được chia cao hơn nhiều so với vốn thực. Chưa hết, bằng cách tăng chi phí khấu hao (nghĩa là lợi nhuận giảm). Tức là: Thu nhập chịu thuế giảm = Việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp. 8 Ví dụ: Khi doanh nghiệp nâng giá trị lên 1.000 USD với thời gian khấu hao 10 năm thì mỗi năm sẽ đưa vào chi phí 100 USD và như thế có nghĩa là thu nhập chịu thuế giảm 100 USD; và với mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 25% như hiện nay, Nhà nước sẽ thấp thu 25 USD. Đến giai đoạn hoạt động, việc nâng giá vật tư, phụ tùng đầu vào cũng kéo theo ngân sách bị thấp thu rất nhiều loại thuế. Chẳng hạn, khi doanh nghiệp nâng giá lên 100.000 USD thì công ty mẹ không phải nộp một đồng thuế GTGT nào (vì là hàng xuất khẩu), đồng thời được khấu trừ thuế đầu vào. Còn công ty con, phải nộp thuế với hàng nhập khẩu nhưng bù lại, được khấu trừ khi bán sản phẩm. Thế là đương nhiên cả "mẹ" và "con" đều không mất một đồng thuế nào trong khi được hưởng trọn khoản tiền do nâng giá mà có. Với thuế nhập khẩu:  Hàng nằm trong diện miễn giảm: số tiền được miễn giảm = số thấp thu của Nhà nước.  Nhưng ngay cả khi không nằm trong diện miễn giảm: số tiền nộp thuế cũng đã được đưa vào chi phí và làm giảm thu nhập chịu thuế = một lượng tương đương. Thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp cho ngân sách. Giả sử:  Với trị giá hàng hóa được nâng lên là 100.000 USD và thuế suất thuế nhập khẩu là 30%  Thuế nhập khẩu phải nộp là 30.000 USD (nghĩa là thu nhập chịu thuế giảm 30.000 USD).  Thuế thu nhập doanh nghiệp bị mất là: 30.000 x 25% = 7.500 USD Thuế suất ở trong nước = nước ngoài: 9 Công ty mẹ ở nước ngoài tăng thu nhập chịu thuế lên 100.000 USD sẽ phải nộp thuế là 25.000 USD, phần còn lại được coi như thu nhập là 72.000 USD. Công ty con giảm thu nhập chịu thuế 100.000 USD sẽ giảm thuế thu nhập 25.000 USD. Đây chính là khoản mà Nhà nước ta bị thất thu. Thuế suất nước ngoài < Việt Nam:  Thuế thu nhập DN ở Đài Loan là 20%  Thuế thu nhập DN ở Việt Nam là 28% (trước đây) Chi nhánh ở Đài Loan sẽ có thể tăng giá chuyển giao hàng hoá và dịch vụ cho chi nhánh ở Việt Nam. Nếu khoản nâng giá là 100.000 USD lợi nhuận báo cáo ở Đài Loan sẽ tăng 100.000 USD & thuế nộp cho nước này tăng thêm 20.000 USD. Đồng thời lợi nhuận ở Việt Nam giảm đi 100.000 USD. Tức số thuế phải đóng ở đây giảm đi 28.000 USD. Như vậy thông qua chuyển giá quốc tế công ty này đã "tiết kiệm" được 8.000 USD.  Hơn 60% hoạt động thương mại toàn cầu là giao dịch có khả năng chuyển giá. Chống chuyển giá hiệu quả sẽ ngăn chặn được thất thoát thuế thu nhập và làm Giảm giá thành sản phẩm, mang lợi ích cho người tiêu dùng + tăng thu nhập cho ngân sách. Rõ ràng trốn thuế qua “chuyển giá” là cách rất tốt để các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể thu lợi nhuận tối đa. Và đây chính là một hình thức gian lận thương mại. 10 CHƯƠNG 2.THỰC TRẠNG CHUYỂN GIÁ Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ HỘI NHẬP 2.1. Những hành vi chuyển giá thường thấy ở các doanh nghiệp có nguồn vốn FDI ở Việt Nam 2.1.1. Nâng giá trị vốn góp Các MNC có máy móc thiết bị công nghệ hiện đại nên tậng dụng những lợi thế của mình các MNC sẽ tiến hành góp vốn bằng máy móc thiết bị và công nghệ hiện đại. Do phía Việt Nam chưa có đủ năng lực và trình độ để thẩm định giá các loại thiết bị công nghệ hiện đại này nên thường sẽ bị các đối tác nước ngoài định giá các thiết bị, công nghệ cao hơn giá trị thực tế của chúng. Việc định giá cao sẽ làm nâng giá trị vốn góp trong liên doanh của bên đối tác và chiếm lấy quyền quản trị công ty. Về phía đối tác Việt Nam đa phần chỉ góp vốn bằng giá trị sử dụng đất nên giá trị vốn góp trong liên oanh thường rất thấp. Việc định giá cao thiết bị máy móc đầu tư ban đầu đã giúp cho các MNC chuyển một lượng tiền đi ngược trở ra cho công ty mẹ ngay từ lúc đầu tư ban đầu. Ví dụ : Một khách sạn liên doanh giữa Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn và Vina Group đã xác định giá trị đưa vào góp vốn của Vina Group là 4.340.000 USD. Nhưng theo sự thẩm định giá của công ty giám định giá Quốc Tế thì giá trị tài sản góp vốn của Vina Group chỉ có giá trị là 2.990.000 USD. Như vậy trong nghiệp vụ định giá giá trị góp vốn liên doanh này phía Việt Nam đã bị thiệt 1.350.000 USD tương đương 45.2%. Tình trạng nâng giá tài sản góp vốn trên mang lại sự thiệt hại cho cả 3 đối tượng là phía liên doanh góp vốn Việt Nam, chính phủ Việt Nam và cả người tiêu dùng Việt Nam. Bên liên doanh Việt Nam bị thiệt trong phần vốn góp, làm cho tỷ lệ góp vốn nhỏ lại; Chính phủ Việt Nam bị thất thu thuế; còn người tiêu dùng Việt Nam phải tiêu dùng sản phẩm với giá cả đắt hơn giá trị thực tế của sản phẩm. Do nâng giá trị tài sản góp vốn nên tỷ lệ vốn cao hơn phía Việt Nam, vì vậy bên đối tác nước ngoài thường sẽ nắm quyền kiểm soát và điều hành doanh nghiệp. 11 Đối tác nước ngoài sẽ điều hành công ty theo mục đích của họ để cho tình hình thua lỗ kéo dài và bên liên doanh Việt Nam không đủ tiềm lực tài chính để tiếp tục hoạt động đành phải bán lại phần vốn góp và hàng loạt các công ty liên doanh trở thành công ty 100% vốn nước ngoài. 2.1.2 Chuyển giá thông qua chuyển giao công nghệ Đây là hành vi chuyển giá thông qua việc chuyển giao công nghệ và thu phí tiền bản quyền, đây là một loại chi phí chiếm tỷ trọng lớn do khấu hao giá trị tài sản cố định vô hình. Một ví dụ điển hình cho việc chuyển giá thông qua chuyển giao công nghệ đó là tại Công ty Liên doanh Nhà máy Bia Việt Nam. Công ty Liên doanh Nhà máy Bia Việt Nam là một liên doanh hoạt động theo Luật Đầu tư Nước ngoài được Ủy ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư (nay là Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cấp phép số 287/GP ngày 09 tháng 12 năm 1991. Hai đối tác liên doanh là Công ty Thực phẩm II tại thành phố Hồ Chí Minh và Công ty Heneiken International Behler (Hà Lan). Đến năm 1994 thì giấy phép liên doanh này được chuyển nhượng sang giấy phép số 287/GPDCI ngày 27/10/1994 liên doanh với Asia Pacific Breweries PTE.LTD (Singapore). Tổng số vốn đầu tư là 49,5 triệu USD và vốn pháp định là 17 triệu USD. Bên liên doanh Việt Nam chiếm 40% và bên liên doanh Singapore chiếm 60% vốn, ngành nghề sản xuất của liên doanh là sản xuất bia để tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Khi đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì tình trạng kinh doanh của công ty bị thua lỗ kéo dài qua các năm, nguyên nhân chủ yếu là do phải trả cho chi phí bản quyền quá cao và tăng dần qua các năm. Trong tình hình công ty liên doanh thường xuyên thua lỗ, phía liên doanh Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề nhưng ngược lại phía liên doanh nước ngoài vẫn không hề hấn gì vì họ vẫn nhận đủ tiền bản quyền từ nhãn hiệu và tiền bản quyền lại có xu hướng ngày càng tăng ngày càng tăng. 12 2.1.3 Chuyển giá nhằm mục đích chiếm lĩnh thị trường Các công ty đa quốc gia khi vào thị trường một quốc qia nào đó, mục tiêu ưu tiên của họ là giành láy thị phần của các công ty nội địa đang hoạt động trong lãnh vực mà họ kinh doanh. Với mục tiê u này Các MNC thường sẽ liên doanh với một công ty nội địa hơn là vào đầu tư thẳng là công ty 100% vốn nước ngoài. Nguyên nhân là các MNC này muốn sử dụng hệ thống phân phối và thị phần có sẵn của các công ty nội địa. Sau một thời gian liên doanh thì các MNC này sẽ dùng các thủ thuật khác nhau, trong đó có thủ thuật chuyển giá để đẩy công ty nội địa ra và chuyển công ty liên doanh thành công ty 100% vốn nước ngoài. Với những thủ thuật này, một mặt các MNC sẽ chiếm lĩnh được thị trường của các công ty nội địa ở quốc gia đó, đồng thời việc đẩy đối tác ra khỏi liên doanh, các MNC sẽ giành được toàn bộ phần lợi nhuận thu dược tử hoạt động kinh doanh ở quốc gia đó mà vẫn không tốn nhiều chi phí và thời gian cho việc tiềm hiểu thị trường và quản bá hình ảnh. Năm 2009, có hơn 6.000 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, vốn thực hiện là 33 tỉ USD, DN nước ngoài chiếm 13,8% tổng sản phẩm xã hội đóng góp vào xuất khẩu: trừ dầu thô là 33%, cộng cả dầu thô lên đến 53%. Riêng xuất khẩu các sản phẩm chế tác chất lượng cao DN đầu tư nước ngoài chiếm tới trên 80%. Có thể thấy doanh nghiệp nước ngoài ngày càng thâm nhập sâu rộng tại thị trường Việt Nam, chứng tỏ các doanh nghiệp FDI rất thành công trong việc tiếp cận thị trường Việt Nam cũng như phát triển qui mô sản xuất. 2.1.4 Chuyển giá thông qua chênh lệch thuế suất Khi thuế suất thuế TNDN ở hai quốc có mức chênh lệch đáng kể các MNC sẽ dùng hình thức chuyển giá đề làm giảm đáng kể số thuế mà mình phải nộp.Các MNC sẽ chuyển lợi nhuận của mình ở quốc gia có mức thuế suất thấp, đồng thời dùng các biện pháp để làm tăng chi phí từ đó làm cho hoạt động kinh doanh luôn ở mức lỗ ở những quốc gia có mức thuế suất cao. Ví du của công ty Foster: Vào thời điểm mà giá bán một két bia Foster’s được công ty bia Foster’s Việt Nam bán cho các đại lý là 240.000 đồng/két với thuế suất 13 thuế tiêu thụ đặc biệt cho bia chai là 75% thì mỗi két bia phải đóng thuế tiêu thu đặc biệt là: Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt = Giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt/(1+thuế suất) =240.000/(1+75%) = 137.143 VND Thuế tiêu thụ đặc biệt tính =137.143 x 75% = 102.857 VND Như vậy với giá bán một két bia là 240.000 VND thì công ty bia Foster’s Việt Nam phải có nghĩa vụ nộp thuế tiêu thụ đặc biệt cho nhà nước là 102.857 VND. Với một số thuế nộp lớn như vậy thì chủ đầu tư của Foster’s Việt Nam đã tìm cách để lách thuế và nộp số thuế nhỏ hơn. Chủ đầu tư Foster’s tại Việt Nam đã quyết định thành lập thêm một công ty TNHH Foster’s Việt Nam. Công ty này có nhiệm vụ chuyên thực hiện nhiệm vụ tiêu thụ sản phẩm do hai nhà máy bia Foster’s sản xuất ra. Giá bán một két bia Foster’s của hai nhà máy bia cho công ty TNHH Foster’s Việt Nam chỉ là 137.500 VND. Với giá bán như vậy thì thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp cho mỗi két bia sẽ là: 137.500 Thuế tiêu thụ đặc biệt = x 75 % = 58.929 VND 1+ 75% Công ty TNHH Foster’s Việt Nam bán bia ra thị trường thì công ty này phải nộp thêm thuế giá trị gia tăng là 5%. Giả sử giá bán một két bia không đổi vẫn là 240.000 VND/két thì số thuế giá trị gia tăng mà công ty TNHH bia Foster’s phải nộp là 240.000 Thuế tiêu thụ đặc biệt = x 5 % = 11.429 VND 1+ 5% Như vậy tổng cộng số thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế giá trị gia tăng mà chủ đầu tư phải nộp trong trường hợp chủ đầu tư thành lập thêm công ty TNHH Foster’s Việt Nam cho mỗi két bia là 58.929 VND + 11.429 VND = 70.358 VND. Nếu chúng ta đem so sánh tổng số tiền thuế phải nộp của chủ đầu tư trước và sau khi thành lập công ty TNHH Foster’s Việt Nam thì chúng ta có thể thấy là chủ đầu tư đã tiết kiệm được một khoản tiền thuế phải nộp là 32.499 VND (tương đương 31,60%). Với cách thực hiện này thì thuế TNDN mà chủ đầu tư phải nộp có thể là không thay đổi hoặc thay 14 đổi theo hướng có lợi cho chủ đầu tư vì chủ đầu tư có thể đưa thêm các chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí khấu hao hay chi phí quảng cáo nhằm giảm số thuế TNDN phải nộp. Với trường hợp trên thì các chuyên gia tài chính nhận định mặc dù cơ quan nhà nước có thể nhận diện ra đây là một hành vi chuyển giá nhưng do pháp luật Việt Nam tại thời điểm đó còn nhiều điểm chưa chặt chẽ hoặc không có điều luật chế tài đối với hành vi trên vì vậy mà cơ quan nhà nước không thể bắt bẻ về thủ thuật tách rời khâu sản xuất và khâu thương mại của công ty bia Foster nhằm mục đích lách thuế và giảm số thuế phải nộp. 2.2. Tình trạng chuyển giá ở Tp HCM trong những năm gần đây: Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò đầu tàu kinh tế của cả Việt Nam. Thành phố chiếm 0,6% diện tích và 7,5% dân số của Việt Nam nhưng chiếm tới 20,2% tổng sản phẩm, 27,9% giá trị sản xuất công nghiệp và 34,9% dự án nước ngoài. Thành phố cũng đứng đầu Việt Nam tổng lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với 2.530 dự án FDI, tổng vốn 16,6 tỷ USD vào cuối năm 2007. Riêng trong năm 2007, thành phố thu hút hơn 400 dự án với gần 3 tỷ USD. Trong năm qua tổng thu ngân sách trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt hơn 128.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 1/3 tổng thu ngân sách của cả nước. Nguồn vốn FDI khổng lồ đổ vào TP trong các năm qua là động lực mạnh mẽ thúc đầy kinh tế Tp phát triển,tuy nhiên nó vẫn tiềm ần nhiều thách thức trong đó nổi trội lên là tình trạng chuyển giá đang khá phổ biến ở các doanh nghiệp FDI. Báo cáo của Cục Thuế TP Hồ Chí Minh về kết quả kinh doanh năm 2009 của doanh nghiệp FDI trên địa bàn cho thấy, gần 60% số doanh nghiệp báo cáo thua lỗ. Không nhiều người ngạc nhiên về điều này. Bởi ngay trong năm 2007- được coi là đỉnh cao của kinh tế Việt Nam- vẫn có gần 70% doanh nghiệp FDI kêu lỗ. Năm sau đó, 2008, tỷ lệ này cũng chiếm tới hơn 61%, báo cáo quyết toán năm 2008 của 1.154 doanh nghiệp FDI hoạt động trên địa bàn, thì đã có tới 708 đơn vị khai lỗ, chiếm tỷ lệ tới 61,35%. Và năm 2009 gần 60% số doanh nghiệp FDI trên địa bàn TP HCM báo 15 cáo thua lỗ.. Điều này lý giải vì sao tỷ lệ đóng góp cho ngân sách quốc gia của khối FDI (không kể dầu thô) khá thấp, dao động 9-10% tổng thu ngân sách của quốc gia trong giai đoạn 2005- 2008. Riêng năm 2009, phần đóng góp của doanh nghiệp FDI giảm 11,2% so với kế hoạch. Những doanh nghiệp FDI kê khai lỗ cũng thường đến từ các quốc gia mà ở đó mức thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp thấp hơn nhiều lần so với mức phải đóng ở Việt Nam. Thuế suất thuế TNDN ở Việt Nam từ năm 2003 trở về trước là 32%, cuối năm 2003 là 28%,từ năm 2008 đến nay là 25%, trong khi ở một số quốc gia và vùng lãnh thổ khác chỉ khoảng mức 10% hoặc thậm chí bằng 0%. Bảng thuế suất thuế TNDN các quốc gia và vùng lãnh thổ năm 2009: Quốc gia( vùng lãnh thổ) Thuế suất thuế TNDN Achentina 35% Úc 30% Bungari 10% Hồng Kông 16,5% Canada 19,5% Chi Lê 17% Trung Quốc 25% Pháp 33,33% Đức 29,3% Hungari 16% Indonexia 25% Ailen 12,5% Nhật 40,69% Malaixia 25% Ba Lan 19% Singapo 17% Thổ Nhỉ Kì 20% 16 Rumani 16% Việt Nam 25% Để thấy rõ hơn tình hình lỗ tại các doanh nghiêp FDI ta xem bảng số liệu khảo sát các doanh nghiệp FDI trên địa bàn thành phố HCM qua các năm. Năm Số doanh nghiệp Số doanh nghiệp kê Tỉ lệ (%) đươc khảo sát khai lỗ 1996 451 310 68,7 1997 510 358 70,2 1998 500 341 68,2 1999 395 281 71,1 2000 352 235 66,8 2001 704 545 77,4 Từ bảng số liệu trên cho ta thấy được tình các doanh nghiệp FDI báo cáo lỗ luôn chiếm một tỉ lệ rất cao trong số các doanh nghiệp được khảo sát, trung bình 71,1%. Cục thuế TPHCM cho rằng, có rất nhiều thủ thuật khiến cho DN rơi vào tình trạng lỗ giả, lãi thật như nâng chi phí vật tư, nâng định mức vật tư cao hơn giá trị thực tế là những thủ thuật phổ biến nhất. Trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu, các DN phải đương đầu với khó khăn về tài chính là điều dễ hiểu, nhưng việc các DN có vốn đầu tư nước ngoài tại VN liên tục báo lỗ trong nhiều năm qua lại là điều không bình thường.Một nghịch lý là phần lớn các doanh nghiệp trong khi báo cáo làm ăn thua lỗ tới cả chục năm qua, cũng là quãng thời gian họ liên tục phát triển cả về doanh thu lẫn quy mô hoạt động. Thực trạng trên đã minh chứng rõ hơn về tình trạng lỗ giả, lời thật của các doanh nghiệp FDI trong thời gian qua, các doanh nghiệp này dần loại các doanh nghiệp trong nước và nhanh chống chiếm lĩnh thị phần trong các lĩnh vực khác nhau. 17 2.3. Một số ví dụ tiêu biểu về hiện tượng chuyển giá ở Việt Nam trong những năm gần đây: Mục tiêu của các MNC ( công ty đa quốc gia) là tối ưu hóa chi phí, tăng doanh thu từ đó thực hiện mục tiêu mở rộng thị trường và tối đa hóa lợi nhuận cho các cổ đông. Một cách tốt để các MNC có thể giảm thiểu chi phí kinh doanh là làm giảm số thuế mình phải nộp đặt biệt ở các quốc gia có mức thuế suất cao như ở Việt Nam. Bên cạnh đó luật pháp ở Việt Nam trong vấn đề định giá chuyển giao còn chưa hoàn thiện và luật pháp còn có độ trễ so với tình hình thực tế của nền kinh tế,các qui định đã được ban hình thì nhiều qui định chưa phù hợp, nhiều khe hở .Trước tình hình này các công ty đa quốc gia này đã bằng nhiều hình thức khác nhau đã lách luật hay làm trái luật để thực hiện hành vi chuyển giá mà cơ quan thuế của Việt Nam khó có thể phát hiện, hay phát hiện nhưng do những quy định chưa hoàn thiện nên cũng không thể xử phạt đối với những trường hợp này. Văn bản pháp lý đầu tiên đề cập đến chuyển giá được Bộ Tài chính ban hành năm 1997. Điều này cho thấy, hiện tượng chuyển giá trong giao dịch có yếu tố nước ngoài xuất hiện ở nước ta từ lâu và các nhà hoạch định chính sách tài chính đã xác định đây là một vấn đề cần quan tâm quản lý. Vậy nhưng, một thời gian dài vẫn xảy ra tình trạng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) báo cáo thua lỗ, trong khi liên tục phát triển cả về doanh thu, quy mô hoạt động lẫn mở rộng chiếm lĩnh thị trường. Đặt biệt trong những năm gần đây tình hình chuyển giá diễn ra ngày một nghiêm trọng trong các ngành như sản xuất ô tô, dệt may, nước giải khác và điện tử. Để đối phó với tình hình này Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư 66/2010/TT-BTC vào ngày 22 tháng 4 năm 2010 hướng dẫn thực hiện việc xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết. Thông tư này thay thế Thông tư 117/2005/TT-BTC ngày 19 tháng 12 năm 2005.Theo Thông tư 66, giá sản phẩm trong giao dịch liên kết được xác định theo giá thị trường trên cơ sở so sánh tính tương đương giữa giao dịch liên kết với giao dịch độc lập để lựa chọn phương pháp xác định giá phù hợp nhất. 18 Thông tư 66 quy định đến 13 loại giao dịch được xem là giao dịch liên kết. Doanh nghiệp và các cơ quan quản lý căn cứ vào yếu tố "khác biệt trọng yếu" mà Thông tư 66 quy định để đánh giá một giao dịch giữa các bên liên kết có sự chuyển giá hay không. Theo đó, "khác biệt trọng yếu" là khác biệt về thông tin hoặc dữ liệu làm tăng hoặc giảm ít nhất 1% đơn giá sản phẩm giao dịch hoặc khác biệt về thông tin hoặc dữ liệu làm tăng hoặc giảm ít nhất 0.5% tỷ suất lợi nhuận gộp hoặc tỷ suất sinh lời. Định nghĩa này có phần cụ thể và siết chặt hơn so với định nghĩa về "khác biệt trọng yếu" đã được quy định trong Thông tư 117. 2.3.1 Chuyển giá ở công ty liên doanh VNTRA Năm 1994, Công ty cổ phần Thiết bị điện Hà Nội thành lập cong ty VNTRA là liên doanh với Công ty ABB Asia Pacific (Bộ phận ở Châu Á Thái Bình Dương - tập đoàn lớn nhất thế giới trong lĩnh vực thiết bị điện) thành lập Công ty liên doanh Chế tạo biến thế - ABB )có vốn đầu tư 24,7 triệu USD và vốn pháp định 10,97 triệu USD, trong đó phía Việt Nam góp 35% (3,84 triệu USD). Do sản phẩm có giá cao, không đạt sản lượng kế hoạch, chất lượng chưa ổn định và cách tiếp cận thị trường thiếu năng động, nên sau 7 năm hoạt động, công ty bị thua lỗ liên tục, phía đối tác Việt Nam không đủ tiềm lực tài chính để tiếp tục hoạt đông, trong khi công ty không có dấu hiệu có thể đạt dược lợi nhuận trở lại. Kết quả là, phía Việt Nam phải rút vốn khỏi liên doanh và công ty trở thành công ty 100% vốn nước ngoài. Đến tháng 5 năm 2002,Nhà máy chế tạo biến thế mới rút hết và hoàn tất xong các thủ tục chuyển nhượng toàn bộ phần vốn của mình cho phía đối tác liên doanh là công ty TNHH ABB. Công ty TNHH ABB trở thành công ty có 100% vốn nước ngoài. Sau khi đối tác phía Việt Nam rút vốn khỏi liên doanh, với tiềm lực tài chính và kinh nghiệm sẵn có được tích lũy, công ty này đã liên tục đi lên và không ngừng phát triển với tốc độ phát triển bình quân là 22%/năm.Đến tháng 3/2005, thực hiện chủ trương của Nhà nước, Nhà máy chế tạo biến thế đã thực hiện cổ phần hóa và lấy tên là Công ty cổ phần Chế tạo biến thế Hà Nội. 19 Trong khi đó,ABB là tập đoàn hàng đầu về điện và tự động hóa.Tập đoàn ABB hoạt động trên khắp thế giới với hệ thống các công ty con tại trên 100 quốc gia với số nhân viên lên tới 117 nghìn người. Năm 1993, ABB có mặt tại Việt Nam và cho đến nay, doanh nghiệp này đã có hơn 600 nhân viên làm việc tại Hà Nội, Bắc Ninh, Đà Nẵng, Vũng Tàu và Tp.HCM.ABB Viet Nam sản xuất các sản phẩm điện trung thế, như trạm phân phối hợp bộ, tủ đóng cắt hợp bộ trung thế với công nghệ mới nhất của tập đoàn này để phục vụ thị trường trong nước. Ngoài ra, nhà máy còn cung ứng các chi tiết sản phẩm cho các cơ sở của ABB trên toàn cầu để sản xuất các thiết bị điện cao thế. Vấn đề đặt ra ở dây là liệu công ty Vntra có lỗ thực sự hay không, trong khi liên doanh phía nước ngoài là một công ty hàng đầu thế giới và có nhiều kinh nghiệm trong việc quản lý cũng như quản bá hình ảnh cong ty với công chúng. Câu hỏi về chuyển giá trong liên doanh Vntra được đặt ra. Công ty ABB đã định giá quá cao các sản phẩm được nhập khẩu từ nước ngoài từ đó làm tăng giá thành sản phẩm bán ra, các chi phí hoạt động luôn ở mức cao. Với mục tiêu xây dựng một hình ảnh sản phẩm chất lượng, giảm số thuế Thu nhập doanh nghiệp phải nộp,và việc chủ đích muốn đẩy đối tác phía Việt Nam ra khỏi liên doanh công ty luôn duy trì tình trạng lỗ triền miên qua các năm. Thực tế trên đã cho thấy tình hình công ty lỗ ảo là hoàn toàn có căn cứ, tuy nhiên trong thời kì đó Pháp luật ở Việt Nam còn chưa đầy đủ cũng như năng lực của các cán bộ thuế còn chưa hoàn thiện nên khó có thể phát hiện sự vi phạm của ABB. 2.3.2 Chuyển giá ở P&G Việt Nam P&G Việt Nam là một công ty liên doanh giữa Công ty Proter & Gamble Far Earst với Công ty Phương Đông, được thành lập vào ngày 23 tháng 11 năm 1994. Tổng số vốn đầu tư ban đầu của liên doanh này là 14,3 triệu USD và đến năm 1996 tăng lên là 367 triệu USD. Trong đó Việt Nam góp 30% và phía đối tác chiếm 70% (tương đương 28 triệu USD). Sau hai năm hoạt động (năm 1995 và 1996) liên doanh này đã lỗ đến một con số khổng lồ là 311 tỷ đồng. Số tiền lỗ này tương đương với ¾ giá trị vốn góp của cả liên doanh. Trong con số thua lỗ 311 tỷ này thì năm 1995 lỗ 20
- Xem thêm -