Tài liệu Những biện pháp phát triển năng lực tự học về văn học sử cho học sinh thpt ở miền núi phía bắc

  • Số trang: 123 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 111 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM NGUYỄN THỊ THU HÀ NHỮNG BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC VỀ VĂN HỌC SỬ CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở MIỀN NÚI PHÍA BẮC LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Thái Nguyên, năm 2011 Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI Trang bìa NGUYÊN phụ TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM NGUYỄN THỊ THU HÀ NHỮNG BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC VỀ VĂN HỌC SỬ CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở MIỀN NÚI PHÍA BẮC Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Văn - Tiếng Việt Mã số: 60.14.10 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN GIA CẦU Thái Nguyên, năm 2011 Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn LỜI CẢM ƠN Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Gia Cầu Người thầy đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn. Em xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong khoa Ngữ văn, khoa Sau đại học trường ĐHSP Thái Nguyên đã nhiệt tình giúp đỡ và động viên em trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường. Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn BGH trường phổ thông Vùng Cao Việt Bắc, những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian qua. Thái Nguyên , ngày 10 tháng 8 năm 2011 Tác giả Nguyễn Thị Thu Hà Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các tài liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng, các kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố ở bất kỳ công trình nào khác. Tác giả luận văn Nguyễn Thị Thu Hà Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn i MỤC LỤC Trang Trang bìa phụ Lời cảm ơn Lời cam đoan Mục lục ....................................................................................................................................i Danh mục viết tắt trong luận văn....................................................................................... iii PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1 PHẦN NỘI DUNG .......................................................................................................... 10 Chƣơng 1 MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ TỰ HỌC VĂN HỌC SỬ Ở THPT ........................................................... 10 1.1. Cơ sở lý luận ..................................................................................... 10 1.1.1. Lý thuyết về tự học .................................................................... 10 1.1.2. Lý thuyết dạy học các bài học về lịch sử văn học (VHS). ......... 25 1.2. Cơ sở thực tiễn .................................................................................. 34 1.2.1. Chương trình, SGK về văn học sử ở THPT ............................... 34 1.2.2 Đặc điểm của học sinh THPT ở miền núi phía Bắc về việc tiếp nhận tri thức văn học sử. ............................................................... 47 Chƣơng 2 NHỮNG BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC VỀ VĂN HỌC SỬ CHO HỌC SINH THPT Ở MIỀN NÚI PHÍA BẮC........ 69 2.1. Biện pháp 1: Giải toả vướng mắc đầu tiên của học sinh miền núi khi tự học các bài viết về văn học sử - vướng mắc về thuật ngữ. ............ 69 2.1.1. Những thuật ngữ học sinh vướng mắc: “nhận định”, ................ 69 2.1.2. Biện pháp giải toả: ..................................................................... 70 2.1.3. Hiệu quả: .................................................................................... 73 2.2. Biện pháp 2: Kích thích hứng thú tự học các bài học VHS trong SGK Ngữ Văn. ......................................................................................... 73 Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ii 2.2.1. Hứng thú đối với các bài học về văn học sử của học sinh THPT ở miền núi phía Bắc. ................................................................ 74 2.2.2. Kích thích hứng thú tự học đối với các bài học văn học sử của học sinh THPT ở miền núi phía Bắc. ............................................ 75 2.3. Biện pháp 3: Phát triển năng lực phát hiện và hệ thống hoá các nhận định văn học sử trong SGK. ............................................................ 77 2.3.1. Thực tế năng lực phát hiện và hệ thống hoá các nhận định văn học sử trong SGK của học sinhTHPT ở miền núi phía Bắc. ........ 77 2.3.2. Cách thức mà luận văn đề xuất để làm phát triển năng lực phát hiện và hệ thống hoá các nhận định về văn học sử trong SGK. .. 79 2.4. Biện pháp 4: Phát triển năng lực tái hiện và chứng minh các nhận định về văn học sử trong SGK. ....................................................... 87 2.4.1. Thực tế năng lực tái hiện và chứng minh các nhận định văn học sử của học sinhTHPT ở miền núi phía Bắc. ................................. 87 2.4.2. Cách thức mà luận văn đề xuất để làm phát triển năng lực tái hiện (nhắc lại) và chứng minh (làm sáng tỏ) một nhận định . ............. 88 Chƣơng 3 THIẾT KẾ BÀI HỌC VỀ VĂN HỌC SỬ THEO HƢỚNG CHÚ TRỌNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH THPT Ở MIỀN NÚI PHÍA BẮC ................................................................................ 97 3.1. Thiết kế bài học văn học sử “Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 ” – SGK, Ngữ Văn 11, tập 1 (bộ chuẩn). ................................................................................. 97 3.1.1. Mục tiêu bài học ......................................................................... 97 3.1.2. Định hướng dạy học ................................................................... 97 3.1.3. Tiến trình bài học ....................................................................... 98 PHẦN KẾT LUẬN........................................................................................................ 113 TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................11416 Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn iii DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN Chữ viết đầy đủ Chữ viết tắt Giáo viên GV Hà Nội HN Học sinh HS Nhà xuất bản giáo dục Phổ thông NXBGD PT Sách giáo khoa SGK Trung học phổ thông THPT Văn học sử VHS Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 1 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Thế kỷ XX đã trôi qua, cả nhân loại bước vào thế kỷ mới. Một thế kỷ với những hứa hẹn mới, thách thức mới, đòi hỏi mới, khó khăn mới đang đặt ra nhiều suy nghĩ, trăn trở cho mỗi quốc gia, dân tộc và mỗi cá nhân. Đó là thế kỷ XXI, thế kỷ của “một nền văn minh đầy sáng tạo”, thế kỷ mà công nghệ thông tin đang đảo lộn đời sống văn hoá và vật chất của mỗi con người. Thế kỷ XXI là thế kỷ của văn minh trí tuệ, thế kỷ của sự bùng nổ thông tin và khoa học công nghệ đang diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh và khối lượng ngày càng lớn. Trước tình hình đó, để hội nhập với xu thế phát triển chung của thế giới, thời đại, một yêu cầu hết sức cấp bách đặt ra với nền giáo dục nước ta là: phải liên tục đổi mới, hiện đại hoá nội dung và phương pháp dạy học. Mục đích cuối cùng là để từng cá nhân tự mình có ý thức tạo được một cuộc cách mạng học tập trong bản thân. Đổi mới phương pháp dạy học Ngữ Văn là một vấn đề đã và đang được quan tâm đặc biệt trong sự nghiệp đổi mới giáo dục và đào tạo ở nước ta. Phương pháp là khâu quan trọng quyết định tới sự thành công của quá trình dạy học. Xu hướng dạy học phát triển năng lực tự học về Ngữ Văn cho học sinh trung học phổ thông đang trở thành phương châm hành động của giáo viên dạy Ngữ Văn ở miền núi hiện nay. Việc tự học Ngữ Văn ở nhà trường nói chung và tự học về văn học sử nói riêng là một vấn đề đã và đang được nhiều nhà nghiên cứu về phương pháp dạy học Ngữ Văn cũng như nhiều nhà giáo đã quan tâm. Qua thực tế giảng dạy văn học sử ở Trường PT Vùng Cao Việt Bắc nơi hội tụ con em dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc, chúng tôi Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 2 nhận thấy: VHS là bài học có tính khái quát và tính trừu tượng cao nên có phần khô khan và kém hấp dẫn. Là một các bài học khó như vậy, nhưng còn những giáo viên chưa thực sự đầu tư đúng mức, chưa vận dụng lối dạy học tích cực hoá người học, chưa tìm ra biện pháp thích hợp để phát triển năng lực tự học cho học sinh theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học văn học sử .Vì vậy dẫn tới tình trạng học sinh thờ ơ với bài giảng, tiếp thu kiến thức một cách thụ động, khó có khả năng chủ động, sáng tạo tiếp nhận kiến thức cho riêng mình. Từ đó vô hình chung đã làm mất đi khả năng tự học, tự nghiên cứu của học sinh. Vậy, một vấn đề đặt ra là, làm thế nào để học sinh không thờ ơ với bài giảng, có hứng thú say mê tìm hiểu? Làm thế nào để học sinh rèn luyện được những thói quen tốt trong học tập? Vì vậy, vấn đề đặt ra là phát triển năng lực tự học cho học sinh THPT ở miền núi phía Bắc là một việc làm cần thiết, sát thực, đúng với xu thế đổi mới phương pháp phù hợp với chiến lược “phát huy nội lực của người học” đáp ứng mục tiêu của giáo dục như Nghị quyết II của Ban chấp hành Trung ương khoá VIII đã ghi: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học, phát triển mạnh phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân...” Vì những lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Những biện pháp phát triển năng lực tự học về văn học sử cho học sinh THPT ở miền núi phía Bắc”. 2. Lịch sử vấn đề 2.1. Tự học trong nhà trường nói chung Tự học là một vấn đề được các nhà giáo dục nổi tiếng thế giới quan tâm từ rất lâu dưới các phương diện, góc độ khác nhau. Từ những năm TCN, Xôcrát (469-339TCN) đã đưa ra quan niệm rất nổi tiếng: giáo dục phải giúp con người tự khẳng định chính mình. Vận Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 3 dụng quan điểm này vào dạy học, ông cho rằng cần phải để cho người học tự suy nghĩ, tự tìm tòi, cần giúp người tự học phát hiện thấy sai lầm của mình và tự khắc phục những sai lầm đó. TK XVII,J.A.Cômenxki (1592-1670) đã nghiên cứu vấn đề quan điểm giáo dục: “đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán của người học, hay tìm ra phương pháp cho phép giáo viên giảng ít hơn, học sinh học nhiều hơn. Ông đã đề ra một số nguyên tắc dạy học nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh: nguyên tắc đảm bảo tính trực quan trong dạy học, nguyên tắc đi từ cái chung đến cái riêng ...”. Ngày nay, kế thừa những thành tựu của Cômenxki, lý luận dạy học đã xây dựng được một hệ thống các nguyên tắc dạy học: đảm bảo tính vững chắc của tri thức kĩ năng, kĩ xảo với tính mềm dÎo của tư duy... Trong cuốn “Học tập hợp lý” (Cộng hòa dân chủ Đức trước đây) do R.Retzke chủ biên, các tác giả đã đề cập đến vấn đề bồi dưỡng năng lực tự nghiên cứu cho học sinh mới vào trường. Năm 1984, Nxb Thanh niên giới thiệu cuốn “Nghiên cứu học tập như thế nào” của Hebơc Smitman (Cộng hoà dân chủ Đức). Với cuốn sách này, tác giả đã đề cập tới nhiều vấn đề về phương pháp nghiên cứu và tự học như thế nào cho khoa học và đạt hiệu quả cao. Cuốn “Tự học như thế nào” của Rubakin, dịch giả là Nguyến Đình Côi , xuất bản 1982 đã giúp bạn đọc biết tự học tập, nâng cao kiến thức toàn diện của mình. Cuốn “Phương pháp dạy và học hiệu quả” - Cark Rogers- một nhà giáo dục học, nhà tâm lý học người Mĩ do Cao Đình Quát dịch đã giải đáp cho học sinh câu hỏi học cái gì và học như thế nào? Câu hỏi dạy cái gì và dạy như thế nào cũng được giải đáp. Ngoài ra, còn khá nhiều cuốn sách cũng đề cập đến vấn đề tự học. Ở nước ta, trong những năm gần đây cũng đã xuất hiện một số bài viết về tự học. Tác giả Vũ Quốc Anh có bài viết: “Tạo ra năng lực tự học Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 4 sáng tạo của HS THPT”. GS. Phan Trọng Luận với bài: “Dạy văn để HS tự học văn”. Tại Hà Nội năm 1988, một cuộc hội thảo khoa học với tiêu đề “Nghiên cứu tự học - tự đào tạo” đã được tổ chức với sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều GS đầu ngành. Trong cuộc hội thảo này, nội dung các bài viết, các bài phát biểu đều nhấn mạnh tầm quan trọng của tự học và yêu cầu các cấp ngành phải chăm lo xây dựng phong trào tự học toàn dân. Bộ trưởng Bộ giáo dục - đào tạo Nguyễn Thị Bình nói: “Năng lực tự học - tự đào tạo đều tiềm ẩn trong mỗi người. Nếu biết kết hợp quá trình đào tạo ở trường, ở lớp với quan tâm tự học - tự đào tạo thì đó là con đường ngắn nhất để tạo ra “nội lực” cần thiết cho sự phát triển một con người và cho đất nước”. Tạp chí giáo dục số 2 năm 1998 đã đặc biệt quan tâm đăng tải một số bài viết tiêu biểu trong hội thảo: “Tự học - chìa khoá vàng của giáo dục” của GS. Phan Trọng Luận, “Vì năng lực tự học sáng tạo của HS” của Nguyễn Nghĩa Dân. Tiếp theo đó, tạp chí Nghiên cứu giáo dục đã có rất nhiều các bài viết khác như bài của Thạc sĩ Thái Văn Long (Cà Mau) “Khơi dậy và phát huy năng lực tự học sáng tạo của người học trong Giáo dục - đào tạo”, hay “Vị trí của tự học, tự đào tạo trong quá trình dạy học, giáo dục và đào tạo”. Bên cạnh đó, một số cuốn sách cũng được xuất hiện như “Tôi tự học” - Nguyễn Duy Cẩn, “Tự học là một nhu cầu của thời đại” - Nguyễn Hiến Lê... Những cuốn sách này chủ yếu đúc kết những kinh nghiệm quý báu trong quá trình tự học của một số tác giả. Đặc biệt, trung tâm nghiên cứu và phát triển tự học còn cho ra mắt bạn đọc tạp chí “Tự học”. Tạp chí này đã thu hút sự chú ý và sự tham gia luận bàn về vấn đề tự học của nhiều nhà khoa học, giáo sư, nhà giáo...Các tác giả đã cung cấp lý thuyết dạy tự học như thế nào, bên cạnh đó có thể hiện thiết kế bài học một số môn. Tuy nhiên, các cuốn sách hầu như mới chỉ dừng lại ở phần lý thuyết chung nhất cho mọi môn học mà chưa đi vào các biện pháp cụ thể đối với từng môn học. Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 5 Cuốn “Học và dạy cách học” do GS. Nguyễn Cảnh Toàn chủ biên. Nxb ĐHSP, xuất bản 2002 là một trong những cuốn sách đầu tiên ở Việt Nam viết một cách có hệ thống về việc học và dạy cách học. Cuốn sách thực sự là tài liệu bổ ích giúp cho việc đổi mới phương pháp dạy và học ở Việt Nam, đặc biệt là quá trình dạy tự học. 2.2. Tự học trong môn Ngữ Văn Ngữ Văn là một môn học có những đặc trưng riêng nên đòi hỏi người đọc phải có sự liên tưởng, tưởng tượng và tư duy. Vì vậy, trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy môn Ngữ Văn cũng là một vấn đề được quan tâm. Cuốn “Áp dụng dạy và học tích cực trong môn học” do nhóm tác giả GS Trần Bá Hoành, TS. Nguyễn Trí , PGS. TSKH Cao Đức Tiến, TS. Nguyễn Trọng Hoàn biên soạn do Nxb ĐHSP Hà Nội xuất bản đã nói đến một trong những đặc trưng của phương pháp tích cực đó là tự học. Các tác giả cũng nhấn mạnh đến nội dung dạy và học tập trung vào HS. Ở đó, các tác giả không chỉ quan tâm đến kiến thức, năng lực phát hiện và giải quyết các vấn đề thực tiễn. Cuốn “Văn học giáo dục thế kỷ XXI” của GS Phan Trọng Luận, Nxb ĐHQGHN, 2002 có một số bài đề cập đến vấn đề đổi mới phương pháp và vấn đề tự học. Với bài “Tự học- chuyện cũ mà mới’’, tác giả đã đề cập đến bí quyết của tự học. Như vậy, đã có rất nhiều những bài viết, những công trình đề cập đến vấn đề tự học môn Ngữ Văn nói riêng. Các bài viết đã chỉ ra được mục tiêu, cách thức, biện pháp để dạy tự học. Tuy nhiên, các bài viết còn thiên về mặt lý thuyết mà chưa cụ thể hoá đối với từng môn học, phân môn của nhà trường phổ thông. 2.3. Tự học đối với bài học văn học sử. Văn học sử là một bộ phận của môn Ngữ Văn ở trường THPT. Các bài học văn học sử chiếm một vị trí quan trọng trong chương trình SGK Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 6 Ngữ Văn vì nó cung cấp những tri thức khái quát về văn học để học sinh có cơ sở tiếp nhận các tác phẩm văn chương cụ thể. Vì vậy, văn học sử cũng nằm trong quỹ đạo của các nhà nghiên cứu về phương pháp, những người quan tâm đến sự đổi mới giáo dục. Tuy nhiên là các công trình nghiên cứu về lĩnh vực này còn rất ít ỏi và khiêm tốn. Vụ giáo dục phổ thông cấp III đã soạn thảo cuốn “Hướng dẫn phát huy tính chủ động và sáng tạo của học sinh trong dạy và học môn Ngữ Văn”. Hướng dẫn không chỉ nêu yêu cầu về việc cải tiến nội dung, phương hướng giảng dạy Văn theo hướng phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo của học sinh mà còn yêu cầu rất cụ thể đối với các bài học văn học sử: “chấm dứt việc đọc chậm cho học sinh chép bài, cố gắng khắc phục tình trạng giáo viên nói nhiều, bắt học sinh ghi chép nhiều. Thay vào đó, trong một giờ dạy, giáo viên yêu cầu học sinh phải suy nghĩ nhiều, phải nói được nhiều suy nghĩ của mình, phải tìm tòi, phát triển để chủ động tiếp thu bài học”. Là những Giáo sư đầu ngành phương pháp dạy học Văn, họ luôn trăn trở với việc dạy học bộ phận văn học sử như thế nào để đạt chất lượng và hiệu quả cao hơn, GS Phan Trọng Luận đã viết cuốn: “Mấy vấn đề giảng dạy văn học sử ở trường PT cấp 3” và “Rèn luyện tư duy qua giảng dạy văn học” hay cuốn “phương pháp dạy học văn” cũng chỉ dành một chương để nói về văn học sử, hay một phần không nhiều trong cuốn “ Dạy văn dạy cái hay cái đẹp” của Nguyễn Thị Bình. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, một số luận văn Th.s cũng đã khai thác đề tài tự học, tự nghiên cứu như “Những hình thức tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh trong giờ học văn học sử ở trường THPT” của Đào Văn Phán. “Hình thành năng lực tự học cho HS THPT qua giờ văn học sử” của Lê Khánh Tùng, “Rèn luyện năng lực tự học cho học sinh qua những giờ văn học sử (bài khái quát giai Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 7 đoạn văn học) của Nguyễn Thị Bích Hường”, “Hình thành năng lực tự học cho học sinh THPT qua việc dạy các bài văn học học sử về tác gia” của Phạm Thị Minh Thuỷ, “Hình thành thói quen tự học cho HS THPT qua bài học văn học sử (tác gia)” của Vũ Thị Sáu, “Hình thành năng lực tự học tác phẩm văn chương cho học viên trường trung học dạy nghề” của Trần Thị An, “Dạy học văn học sử theo hướng hình thành và phát triển năng lực tự học ở học sinh lớp 10” của Dương Thuỳ Linh . Như vậy, đã có những luận văn nghiên cứu về rèn luyện năng lực tự học nói chung qua các bài văn học sử cho học sinh THPT và chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Những biện pháp phát triển năng lực tự học về văn học sử cho học sinh THPT ở miền núi phía Bắc”. Chương trình và SGK THPT đã có sự thay đổi về nhiều mặt. Chúng tôi hy vọng những biện pháp phát triển năng lực tự học về văn học sử cho học sinh THPT ở miền núi phía Bắc mà luận văn đề xuất sẽ giúp cho học sinh có được kĩ năng tự học các bài học văn học sử. 3. Mục đích nghiên cứu . Luận văn hướng tới mục đích: - Khảo sát thực trạng năng lực tự học về VHS của học sinh THPT ở miền núi phía Bắc. - Trên cở sở đó, luận văn đề xuất những biện pháp phát triển năng lực tự học về văn học sử cho học sinh THPT ở miền núi phía Bắc. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu. Trong chương trình Ngữ Văn THPT có các loại giờ học: giờ học về lịch sử văn học (VHS), giờ học về tác phẩm văn học (Đọc - hiểu văn bản), giờ học về lý luận văn học. Nhưng ở đề tài này chúng tôi chỉ nghiên cứu: năng lực tự học về văn học sử của học sinh THPT ở miền núi phía Bắc học tập tại Trường PT Vùng Cao Việt Bắc - TP Thái Nguyên. Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 8 5. Nhiệm vụ nghiên cứu. Để thực hiện được mục tiêu đã đề ra, chúng tôi xác định đề tài cần giải quyết những nhiệm vụ sau: 5.1. Nghiên cứu vấn đề tự học trên bình diện lý thuyết: + Vấn đề tự học nói chung. + Vấn đề tự học Ngữ Văn nói riêng. + Vấn đề tự học VHS của học sinh THPT ở miền núi phía Bắc. 5.2. Khảo sát thực tế về năng lực tự học các bài VHS của học sinh học sinh THPT ở miền núi phía Bắc. - Hứng thú và nhận thức của học sinh về bài học VHS. - Năng lực tự học các bài học VHS: + Khả năng đọc văn bản và dàn ý hoá các bài học văn học sử trong SGK. + Khả năng phát hiện và hệ thống hoá các nhận định về VHS mà SGK nêu ra. + Khả năng tái hiện và chứng minh (làm sáng tỏ) một nhận định. + Khả năng làm các bài tập về văn học sử (bài kiểm tra, bài thi). 6. Phƣơng pháp nghiên cứu. Để giải quyết những vấn đề đã được đặt ra chúng tôi vận dụng cả hai nhóm phương pháp nghiên cứu khoa học: 6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết. - Phương pháp phân tích và tổng hợp lý luận về vấn đề tự học và tự học VHS. Bằng phương pháp này chúng tôi có cơ sở lý luận định hướng cho việc phát triển năng lực tự học về văn học sử cho học sinh THPT ở miền núi phía Bắc. - Phương pháp thống kê phân loại. 6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn. 6.2.1. Phương pháp khảo sát: Phương pháp khảo sát điều tra được thực hiện bằng hình thức phiếu điều tra nhằm thu thập các thông tin cụ thể về năng lực tự học các bài học Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 9 VHS của học sinh THPT ở miền núi phía Bắc. 6.2.2. Phương pháp thực nghiệm sư phạm. 7. Kết cấu của luận văn. Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương: Chương I: Cở sở lý luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề tự học các bài học văn học sử ở THPT. Chương II: Những biện pháp phát triển năng lực tự học về văn học sử cho học sinh THPT ở miền núi phía Bắc. Chương III: Một số thiết kế bài học theo hướng phát triển năng lực tự học về văn học sử cho học sinh THPT ở miền núi phía Bắc. Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 10 PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ TỰ HỌC VĂN HỌC SỬ Ở THPT 1.1. Cơ sở lý luận 1.1.1. Lý thuyết về tự học 1.1.1.1. Khái niệm tự học. Lịch sử văn hoá trong và ngoài nước đã xuất hiện biết bao những tấm gương học tập nổi tiếng. Họ là những người có ý chí và phương pháp học tập, nhất là cách tự học. Trên thế giới có những tên tuổi khiến ta vừa cảm động vừa khâm phục như là Côpecnic (Balan, 1473 - 1543), Niutơn (Anh, 1643 - 1727), Gao xơ (Đức, 1777- 1855)... Những tấm gương trong nước nhờ tự học mà thành tài như người thầy giáo Chu Văn An, danh y Tuệ Tĩnh, Lương Thế Vinh...Gần đây nhất có các nhà trí thức, nhà sư phạm, GS Tạ Quang Bửu, GS Tôn Thất Tùng, GS. Nguyễn Cảnh Toàn...và biết bao những nhà giáo, nhà nghiên cứu thuộc mọi lĩnh vực cũng đang say sưa tự học để khẳng định mình, để cống hiến trí tuệ cho công cuộc xây dựng đất nước. Và dân tộc đã có một tấm gương vĩ đại sáng ngời về tinh thần tự học, tự nghiên cứu - đó chính là Bác Hồ kính yêu của dân tộc Việt Nam. Tinh thần học tập lấy “Tự học làm cốt” của Bác Hồ đã trở thành tư tưởng khái quát, mang tính quy luật. Trên con đường đấu tranh cách mạng đầy gian khổ, chông gai nhưng Bác vẫn luôn vượt qua nó để tự học ở mọi nơi, mọi lúc. Người Việt Nam ta từ xưa không chỉ coi trọng lối học từ người thầy “Không thầy đố mày làm nên”, mà còn rất coi trọng lối học từ bạn “Học thầy không tày học bạn”, đặc biệt còn đề cao cách tự học của mỗi cá nhân “Đi một ngày đàng học một sàng khôn”, “Học đi đôi với hành”, “Học một Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 11 biết mười”, tự học ngay cả trong cuộc sống sinh hoạt “Học ăn, học nói, học gói, học mở ”...Vì vậy mà trong xu thế đổi mới giáo dục ở Việt Nam, các giáo sư đầu ngành như Phan Trọng Luận, Nguyễn Cảnh Toàn, Trần Bá Hoành...đã đi tìm những phương pháp dạy học dựa trên cơ sở lấy việc tổ chức hoạt độngtự học của người học làm hoạt động cơ bản. Vậy, tự học là gì ? Tự học sẽ đem lại hiệu quả học tập cho người học như thế nào ? Có tác giả xem hoạt động tự học như là một hình thức tổ chức dạy học. Các tác giả lại chú ý tới hoạt động tự học như là một phương thức tự đào tạo, tự nâng cao trình độ học vấn của người học. Hoạt động tự học có thể diễn ra dưới sự tổ chức, điều khiển trực tiếp của giáo viên như trong các phương pháp dạy học tích cực, cũng có thể diễn ra dưới sự tổ chức, điều khiển gián tiếp của GV như một hình thức tổ chực dạy học trong mối quan hệ với các hình thức tổ chức dạy học khác. Hoạt động tự học còn là phương thức đào tạo của con người. Vì vậy có nhiều những định nghĩa khác nhau về tự học. Tự học (Self - leaning) là học với sự tự giác và tích cực ở mức độ cao. PGS Lê Khánh Bằng cho rằng: “Tự đi tìm lấy kiến thức có nghĩa là tự học”; lại có ý kiến: “Tự học là hình thức hoạt động cá nhân, do bản thân người học nỗ lực thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ học tập ở trên lớp hay ngoài lớp, có thể diễn ra khi còn đang học, khi đã ra trường và trong suốt cả cuộc đời” (TS. Hà Thị Đức). Hay tác giả Trịnh Quang Từ trong “Những phương hướng tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên các trường quân sự”, (Luận án tiến sĩ, HN, 1995) quan niệm : “Tự học là quá trình nỗ lực chiếm lĩnh tri thức của bản thân người học bằng hành động của chính mình, hướng tới những mục đích nhất định”. Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 12 GS. Nguyễn Cảnh Toàn trong “Quá trình dạy tự học”, Nxb GDHN,1997 cho rằng: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp...) và có khi cả có bắp (khi phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, chí tiến thủ, không ngại khổ, ngại khó, kiên trì, nhẫn nại, say mê khoa học)...để chiếm lĩnh một lĩnh vực kiến thức nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thàmh sở hữu của mình”. Như vậy, theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn thì tự học là hoạt động diễn ra ngoài giờ lên lớp, không có sự giáp mặt giữa thầy và trò. Và GS Nguyễn Cảnh Toàn đã chính xác hoá các khái niệm: “Học giáp mặt” là học giáp mặt với thầy, thầy trò nhìn mặt nhau và có thể trao đổi thông tin bằng lời nói trực tiếp (không qua máy móc) bằng chữ viết, nhìn trực tiếp ngay trên bảng, trên giấy bằng cả ánh mắt, nụ cười, nét mặt, cử chỉ. “Học từ xa” là học không giáp mặt với thầy, mọi thông tin giữa thầy và trò đều không trực tiếp mà là gián tiếp qua sách vở, tài liệu và các phương tiện kĩ thuật của tin học và viễn thông. “Xa” chỉ có nghĩa là không giáp mặt nhau, còn khoảng cách địa lý giữa thầy và trò có thể là nửa vòng trái đất, cũng có thể chỉ vài chục mét. Sở dĩ các tác giả có những quan niệm khác nhau về tự học là do góc độ nghiên cứu của các tác giả là hoàn toàn khác nhau. Song nhìn chung các tác giả đều quan niệm tự học là học với sự độc lập, tích cực, tự giác ở mức độ cao, đó là quá trình mà trong đó, chủ thể người học tự biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị cho mình bằng các thao tác trí tuệ hoặc chân tay, nhờ cả ý chí, nghị lực và sự say mê học tập của cá nhân. Tự học có thể diễn ra ở trên lớp hoặc ngoài giờ trên lớp, chẳng hạn như giải bài tập trên Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 13 lớp, nảy sinh những thắc mắc khi nghe giáo viên giảng bài, tự sắp xếp những lời giảng của giáo viên theo ý hiểu của mình để ghi vào vở. Theo chúng tôi, tự học là một quá trình, mà ngƣời học tự mình chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo thông qua hoạt động trí tuệ (quan sát, phân tích, tổng hợp, so sánh, phán đoán...), tự học gắn liền với động cơ tình cảm và ý chí...của người học để vượt qua những khó khăn, trở ngại trong học tập nhằm tích luỹ kiến thức cho bản thân người học từ kho tàng tri thức của nhân loại, biến những kinh nghiệm này thành kinh nghiệm và vốn sống của bản thân người học. Như vậy, cốt lõi của học là tự học. Hễ có học là có tự học và không ai có thể học hộ người khác được. Khi nói học là hàm ý xét đến mối quan hệ với ngoại lực, tức là dạy. Còn khi nói là tự học, là chỉ riêng nội lực của người học. Hai người cùng học một thầy nhưng kết quả tuỳ theo chất lượng tự học ở từng người. Ngoại lực tác động đến nội lực như thế nào thì đó chính là thước đo chất lượng dạy học. Tác động đó có thể kìm hãm nếu thầy áp đặt, là kích thích nội lực phát triển nếu thầy gợi mở, khuyến khích sáng tạo, mà đỉnh cao là tạo nên được sự cộng hưởng của nội lực. 1.1.1.2. Khái niệm năng lực tự học. Hoạt động tự học muốn diễn ra thực sự thì một yêu cầu đặt ra là cần phải hình thành được ở người học năng lực tự học. Chỉ khi người học đã có được năng lực tự học cho bản thân thì mới tự mình tiến hành việc học tập một cách tự chủ, độc lập, sáng tạo như đòi hỏi của giáo dục đào tạo ngày nay. Vậy “năng lực” là gì ? Theo Từ điển tiếng Việt (Trung tâm từ điển ngôn ngữ Hà Nội, Việt Nam, Hà Nội - 1992): “Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”. Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Xem thêm -