Tài liệu Nhân viên công tác xã hội từ thực tiễn trung tâm phục hồi chức năng tâm thần tỉnh ninh bình

  • Số trang: 93 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 414 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI LẠI TIẾN THẮNG NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG TÂM THẦN TỈNH NINH BÌNH LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI Hà Nội, 2016 HÀ NỘI - năm VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI LẠI TIẾN THẮNG NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG TÂM THẦN TỈNH NINH BÌNH Chuyên ngành: CÔNG TÁC XÃ HỘI Mã số: 60.90.01.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. HÀ THỊ THƯ Hà Nội, 2016 HÀ NỘI - năm LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi. Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này trung thực. Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình. Học viên Lại Tiến Thắng MỤC LỤC MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 1 Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG TRỢ GIÚP NGƯỜI TÂM THẦN ................................ 12 1.1. Khái niệm và đặc điểm người tâm thần ............................................ 12 1.2. Lý luận về nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp người tâm thần... 19 1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến nhân viên công tác xã hội trong hoạt động trợ giúp người tâm thần ........................................................................... 27 1.4. Cơ sở pháp lý về nhân viên công tác xã hội trong hoạt động nghề nghiệp........................................................................................................ 30 Chương 2. THỰC TRẠNG VỀ NHÂN VIÊNCÔNG TÁC XÃ HỘI TẠI TRUNG TÂM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG TÂM THẦN TỈNH NINH BÌNH ........................................................................................ 34 2.1. Đặc điểm về địa bàn và khách thể nghiên cứu ................................. 34 2.2. Thực trạng về yêu cầu đối với nhân viên xã hội trong hoạt động trợ giúp người tâm thần tại Trung tâm .......................................................... 42 Chương 3. BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG TÂM THẦN TỈNH NINH BÌNH ...................................... 60 3.1. Biện pháp nâng cao năng lực, trình độ cho nhân viên công tác xã hội với người tâm thần ................................................................................... 60 3.2. Biện pháp nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý về nhiệm, chức năng của Nhân viên công tác xã hội với người tâm thần ......................... 62 3.3. Biện pháp xây dựng mô hình về nhân viên công tác xã hội với người tâm thần tại Trung tâm phục hồi chức năng tâm thần tỉnh Ninh Bình ..... 65 KẾT LUẬN .................................................................................................... 70 TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 72 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT CTXH Công tác xã hội ĐTB Điểm trung bình Nxb Nhà xuất bản SL Số lượng TL Tỷ lệ DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1. Số lượng Nhân viên công tác xã hội tại Trung tâm những năm gần đây .................................................................................................................. 35 Bảng 2.2. Đánh giá về số lượng Nhân viên công tác xã hội so với yêu cầu công việc tại Trung tâm .................................................................................. 36 Bảng 2.3. Nhân viên công tác xã hội theo thâm niên công tác và theo giới tính ..37 Bảng 2.4. Xếp loại về thi đua của đội ngũ Nhân viên công tác xã hội tại Trung tâm .................................................................................................................. 38 Bảng 2.5. Trình độ học vấn của đội ngũ nhân viên công tác xã hội tại Trung tâm .................................................................................................................. 39 Bảng 2.6. Nhân viên công tác xã hội với người tâm thần được đào tạo về công tác xã hội ......................................................................................................... 40 Bảng 2.7. Nhân viên công tác xã hội được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng liên quan đến người tâm thần ................................................................. 41 Bảng 2.8: Phẩm chất đạo đức của Nhân viên công tác xã hội với người tâm thần43 Bảng 2.9. Mức độ đáp ứng yêu cầu về kiến thức liên quan đến công tác xã hội với người tâm thần qua cách nhìn nhận của Nhân viên công tác xã hội ........ 44 Bảng 2.10. Mức độ đáp ứng yêu cầu về kỹ năng liên quan đến công tác xã hội với người tâm thần qua cách nhìn nhận của Nhân viên công tác xã hội ........ 46 Bảng 2.11. Mức độ thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ chăm sóc y tế của nhân viên công tác xã hội với người tâm thần ................................................................. 48 Bảng 2.12. Mức độ thực hiện nhiệm vụ tư vấn, tham vấn của nhân viên công tác xã hội với người tâm thần .......................................................................... 50 Bảng 2.13. Mức độ thực hiện nhiệm vụ phục hồi chức năng lao động của nhân viên công tác xã hội với người tâm thần ......................................................... 52 Bảng 2.14. Mức độ thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục của nhân viên công tác xã hội với người tâm thần ................................................................. 54 Bảng 2.15. Một số yếu tố ảnh hưởng đến nhân viên CTXH với người tâm thần .56 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong tiến trình phát triển của bất cứ một Quốc gia nào đều phải quan tâm đến công tác an sinh xã hội. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách xã hội, đặc biệt là nhân lực thực hiện công tác xã hội, coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển bền vững, ổn định chính trị - xã hội, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta. Trong lĩnh vực bảo trợ xã hội, đối tượng phục vụ rất lớn và phức tạp, trong đó có đối tượng là người tâm thần đang được quản lý - chăm sóc - phục hồi chức năng tại các Trung tâm Bảo trợ xã hội với số lượng lớn và có xu hướng ngày càng gia tăng. Nhân viên công tác xã hội trước đây được đào tạo là rất ít, hiện đang làm việc tại các Trung tâm Bảo trợ xã hội, công tác xã hội còn xem là hoạt động từ thiện và còn nhiều bất cập, hệ thống cung cấp dịch vụ trợ giúp xã hội còn mỏng, đội ngũ làm nghề công tác xã hội vừa thiếu về số lượng, lại hạn chế về chuyên môn nghiệp vụ; sự nhận biết của xã hội về nghề công tác xã hội còn hạn chế. Thực tế nhiều năm qua cho thấy, các chủ trương, chính sách về phát triển nghề công tác xã hội ngày càng được cụ thể hóa, đáp ứng tốt hơn những nhu cầu của xã hội đặc biệt là người khuyết tật, người yếu thế, trong đó có người tâm thần như Đề án 32/2010/QĐ-TTg của Chính phủ về phát triển nghề công tác xã hội, Đề án 1215/2011/QĐ-TTg của Chính phủ, phê duyệt Đề án trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn 2011-2020. Đối với Tỉnh Ninh Bình trong những năm qua công tác an sinh xã hội luôn được các cấp ủy Đảng, chính quyền quan tâm. Đặc biệt khi đề án 32, Đề án 1215 của Chính phủ các cấp các ngành đã triển khai, thực hiện tích cực. Cơ 1 sở vật chất phục vụ đối tượng được cải tạo, nâng cấp; nhiều lớp tập huấn, học tập nâng cao nhận thức về nghề công tác xã hội, trợ giúp người tâm thần được tổ chức trong toàn tỉnh, nhất là cho cán bộ, nhân viên làm trong lĩnh vực Bảo trợ xã hội. Từ đó đời sống vật chất và tinh thần của người tâm thần ngày càng được nâng cao, tính chuyên nghiệp của nhân viên công tác tại các Trung tâm Bảo trợ xã hội được cải thiện. Các công trình nghiên cứu về công tác xã hội chung thì đã có, tuy nhiên nghiên cứu về nhân viên công tác xã hội đối làm việc trong lĩnh vực chăm sóc người tâm thần thì khá mới mẻ. Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài “Nhân viên Công tác xã hội từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng tâm thần Tỉnh Ninh Bình” làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của mình. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài 2.1. Một số nghiên cứu ở nước ngoài Trên thế giới nghiên cứu dịch tễ học về các rối loạn tâm thần từ lâu đã thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu cũng như các nhà hoạch định chính sách vì tính hữu dụng của nó. Đã có rất nhiều những nghiên cứu về dịch tễ học sức khỏe tâm thần. Sự phát triển dịch tễ học tâm thần chia ra 4 giai đoạn. Đáng lưu ý là, trước đây, trong quá trình lịch sử, cách hiểu về các vấn đề tâm thần đã có.[26;29] * Giai đoạn thứ nhất: Giai đoạn này bắt đầu từ thời gian đầu xuất hiện dịch tễ học và kéo dài đến giữa thế kỷ 20 (năm 1950). Những nghiên cứu trong giai đoạn này dựa trên số liệu của người bệnh ở bệnh viện, nên nghiên cứu đã bỏ qua những người có bệnh nhưng không đến bệnh viện. Kết quả là những số liệu thống kê trong giai đoạn này thường đơn lẻ và không mang tính đại điện, không thể 2 hiện được tỉ lệ bệnh tâm thần trong cộng đồng. [10, tr.63-65]. Trong đó có tác giả Robert Faris và Warren Dunham nghiên cứu tại chỗ ở của người bệnh tâm thần, giữa những năm 1922 và 1934 tại Chicago; kết quả cho thấy, tỷ lệ Tâm thần phân liệt ở nông thôn thấp hơn ở thành thị. * Giai đoạn thứ hai từ nhăm 1950 đến 1980 Sau chiến tranh thế giới thứ hai, có nhiều quân nhân bị bệnh tâm thần, tỷ lệ bệnh tâm thần ở trong quân đội được quan tâm và nghiên cứu, nhiều cuộc điều tra trong quân đội được tiến hành. Từ đây, khái niệm điều tra trong cộng đồng bắt đầu được sử dụng. Trong dân sự, các nhà tâm thần học bắt đầu nghiên cứu bệnh tâm thần trong cộng đồng và bắt đầu điều tra bệnh tâm thần trong cộng đồng. Trong giai đoạn này, các nhà nghiên cứu cũng bắt đầu sử dụng các bảng câu hỏi để nghiên cứu tại cộng đồng. Sau đây là một vài thí dụ: Trong điều tra ở Midtown Manhattan, do chuyên viên xã hội tiến hành, việc đánh giá người bệnh dựa vào hậu quả của bệnh tâm thần, kết quả điều tra cho thấy, 23% mẫu bị bệnh tâm thần nặng. Điều tra Stirling County ở New York trên 1.010 hộ dân dựa trên bộ câu hỏi, và dựa vào Cẩm Nang Hướng Dẫn Thống Kê Chẩn Đoán về Các Chứng Bệnh Tâm thần lần 1 của Hiệp hội tâm thần Mỹ. Kết quả cho thấy tỷ lệ bệnh tâm thần là 20% dân số. Những nghiên cứu trong giai đoạn này đã cung cấp được số liệu về tỉ lệ các vấn đề trong cộng đồng, nhờ sử dụng bảng câu hỏi mà kết quả có tính chất thống nhất và khách quan. Tuy nhiên, phương pháp chẩn đoán và thu thập số liệu chưa được thống nhất giữa các cuộc điều tra. Bên cạnh đó các công cụ nghiên cứu trong giai đoạn này không dựa vào các tiêu chuẩn chẩn đoán. Số liệu từ những cuộc điều tra cộng đồng trên diện rộng sử dụng các bảng hỏi tự thuật về các dấu hiệu căng thẳng, đau buồn những không dựa trên các tiêu chuẩn chẩn đoán tổ chức hợp lý [27, Tr. 221 - 223]. 3 * Giai đoan thứ ba từ 1980 đến 1990: Trong giai đoạn này, các bảng câu hỏi vẫn được sử dụng trong các điều tra, nhưng với sự ra đời của ICD 10 và DSM IV, các bảng câu hỏi đã dựa trên những tiêu chuẩn chẩn đoán rõ ràng và hợp lý. Sự ra đời của ICD 10 và DSM IV được đánh giá là nền tảng cho sự tiến bộ lớn về phương pháp cho các nghiên cứu dịch tễ học [10, Trg 222]. Bộ câu hỏi được chú ý trong giai đoạn này là Bảng liệt kê phỏng vấn chẩn đoán (Diagnostic Interview Schedule DIS) xây dựng dựa trên tiêu chuẩn chẩn đoán của DSM IV. Sau đây là một vài cuộc điều tra: Điều tra dịch tễ vùng (Epidemiological Catchment Area - ECA) tại Hoa kỳ, [28; tr.63] với bộ câu hỏi Bảng liệt kê phỏng vấn chẩn đoán (DIS), xác định tỷ lệ bệnh tại Hoa kỳ, được coi là cuộc điều tra đầu tiên trên thế giới có sử dụng phiếu hỏi chẩn đoán. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong vòng sáu tháng, cứ năm người Mỹ thì có một người bị mắc các vấn đề về sức khỏe tâm thần. Nếu tính trong thời gian của cả đời, thì cứ 3 người Mỹ sẽ có người mắc các vấn đề về sức khỏe tâm thần. * Giai đoạn thứ tư từ 1990 đến nay: Các điều tra trong giai đoạn này cũng nhằm nhiều mục đích khác nhau: tỷ lệ bệnh trong cộng đồng, các thiệt hại của bệnh tâm thần, nhận thức của xã hội về bệnh tâm thần, tổ chức y tế v.v... Cuộc điều tra quốc gia ở Úc năm 1999 [29, Tr. 197-205], với bộ câu hỏi Bảng phỏng vấn chẩn đoán quốc tế tổng hợp (Composite International Diagnostic Interview - CIDI) ngoài việc xác định tỷ lệ bệnh tâm thần trong cộng đồng, cuộc điều tra này còn nghiên cứu thiệt hại do bệnh tâm thần gây ra, chất lượng cuộc sống và sử dụng các dịch vụ y tế. Kết quả nghiên cứu này cho thấy tỉ lệ người dân mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần phổ biến là 17,7%. Trong tổng số những người mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần, có 4,6% không bao giờ liên lạc với các cơ sở chăm sóc sức khỏe, 29,4% đã có gặp bác sĩ và 7,5% đã có gặp bác sĩ tâm thần trong năm qua. 4 Lần đầu tiên cuộc điều tra của Tổ chức Y tế thế giới năm 1990 (WHO) với bộ câu hỏi CIDI, trên 60.559 người ở trên 14 quốc gia khác nhau để xác định tỷ lệ bệnh tâm thần trong cộng đồng, thiệt hại do bệnh tâm thần gây ra; và bộ câu hỏi khảo sát việc sử dụng dịch vụ y tế; hoạt động của ngành y tế 2.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam Một trong những nghiên cứu đầu tiên phải kể đến nghiên cứu dịch tễ về bệnh tâm thần phân liệt do Nguyên Văn Siêm thực hiện, nghiên cứu trên một phường tại Thành Phố Đà Nẵng, khảo sát toàn bộ các hộ trong phường với tổng số hộ dân là 23758. Khảo sát đựa trên tiêu chuẩn chẩn đoán ICD 10, tác giả sử dụng hai phiếu khảo sát: a) khảo sát sàng lọc: “Phiếu sức khỏe gia đình” b) sau đó nếu tìm thấy những dấu hiệu nghi bệnh, người bệnh tiến hành “Bảng phỏng vấn bệnh tâm thần phân liệt”. Kết quả: tỷ lệ mắc chung là 0,52 0,61% dân số. Tỷ lệ mắc điểm là 0,49 - 0,53%. Tỷ lệ mới mắc trong một năm 0,29 - 0,56%o. Xác suất mắc bệnh 1,26 - 1,44%. Tỷ số bệnh nhân nữ/nam là 0,9. Số bệnh nhân khởi phát ở độ tuổi 15 - 25 có tỷ lệ cao nhất (49 - 65%). Tuổi khởi phát trung bình ở nam là 20 - 25, ở nữ là 25 - 30. Tỷ lệ độc thân ở bệnh nhân nam là 40,58%, ở bệnh nhân nữ là 38,71%. Tỷ lệ ly hôn, ly thân là 5,33%. Tỷ lệ bệnh nhân mạn tính và hay tái phát là 88 - 94%. Tiên lượng: số bệnh nhân lành bệnh (ổn định trên 7 năm) khoảng 13% (bệnh nhân nữ lành bệnh so với nam là 5/1); tỷ lệ thuyên giảm tốt là 33%, cả khá và tốt là 50 77%. Nghiên cứu này được tiến hành từ những năm 1977, và sau đó tiếp tục vào những năm 1999. Đề tài thực hiện cả bốn công đoạn của nghiên cứu dịch tễ học theo quan điểm của các nhà y học: (mô tả, phân tích, can thiệp và đánh giá). Điểm hạn chế của đề tài là sử dụng một công cụ nghiên cứu do mình sáng tạo ra, nhưng lại không đề cập đến tính hiệu lực, độ tin cậy của công cụ nghiên cứu. Điều này ảnh hướng đến giá trị khoa học của đề tài. Mặc dù vậy, số liệu của đề tài này vẫn rất đáng tham khảo vì đây là một trong những nghiên cứu đầu tiên về dịch tễ học liên quan đến tâm thần học. [21]. 5 Nghiên cứu của tác giả Bùi Hồng Tâm, Cao Tiến Đức khảo sát tại Quảng Ninh, cho biết tỉ lệ mắc tâm thần phân liệt là 0,21%; động kinh là 0,12%, chậm phát triển tâm thần là 0,15%, nghiện rượu là 0,25), sa sút trí tuệ là 0,05%. Trần Viết Nghi & cộng sự [8] cho biết tỉ lệ mắc căng thẳng trên 881 công nhân làm việc tại một công ty giày da là 11,5%. [22, tr. 38-40]. Viện sức khỏe tâm thần ban ngày Mai Huơng, khảo sát sức khỏe tâm thần học sinh truờng học thành phố Hà Nội bằng công cụ SDQ của Tổ chức Y tế Thế giới chuẩn hóa Việt Nam cho thấy trên mẫu nghiên cứu gồm 1.202 học sinh tiểu học và trung học cơ sở trong độ tuổi 10 - 16 tuổi, tỷ lệ học sinh có vấn đề về sức khỏe tâm thần chung là 19,46 %. Tỷ lệ này đối với nam, nữ, tiểu học, trung học cơ sở, nội thành, ngoại thành không có gì khác biệt [15, 108]. Đặng Hoàng Minh và Hoàng Cẩm Tú, năm 2009 sử dụng công cụ YSR thực hiện khảo sát trên 1727 học sinh, lứa tuổi từ 11- 15, ở 2 trường THCS ở Hà Nội cho thấy tỉ lệ trẻ mắc các vấn đề về sức khỏe tâm thần là 10,94%. [19, tr 106-112] Nghiên cứu về CTXH với người tâm thần những năm gần đây cũng có một tác giả quan tâm nghiên cứu tiêu biểu là tác giả Nguyễn Thị Thanh Hường và cộng sự (2014) với giáo trình “Công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần”, Giáo trình được biên soạn dưới sự hỗ trợ của Đề án 1215 và Dự án Atlantic Philanthropies. Giáo trình gồm 5 chương trong đó chương 1 có đề cập đến nhiệm vụ và chức năng của CTXH trong chăm sóc sức khỏe tâm thần tại cộng đồng. Chương 3 có đề cập đến các nội dung can thiệp của CTXH trong chăm sóc sức khỏe tâm thần trong đó có hoạt động phát hiện sớm, can thiệp khẩn cấp, xác định và phân tích vấn đề, các hoạt động hỗ trợ trực tiếp cho người tâm thần và gia đình, các hoạt động tạo ra sự thay đổi của cộng đồng để xây dựng môi trường thuận lợi nhằm phòng ngừa và giải quyết vấn đề cảu người tâm thần và gia đình họ. Chương 4 đề cập đến các vấn đề 6 sức khỏe tâm thần và một số phương pháp can thiệp của Nhân viên công tác xã hội. [12, tr5-6]. Theo hướng nghiên cứu này, tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương và Trần Đình Tuấn đã biên soạn giáo trình “Quản lý ca về chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần”, Giáo trình được biên soạn dưới sự hỗ trợ của Đề án 1215 và Dự án Atlantic Philanthropies. Giáo trình đã đề cập đến quy trình quản lý trường hợp trong chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần, các kỹ năng cơ bản trong thực hành quản lý trường hợp với người tâm thần. Đây là cơ sở rất quan trọng để Nhân viên công tác xã hội làm việc với người tâm thần có thể tìm hiểu và vận dụng vào công việc cụ thể của mình [13, tr5-6]. Tác giả Lê Thị Thu Phương, trong đề tài tốt nghiệp thạc sỹ về “Nhân viên xã hội trong hoạt động công tác xã hội từ thực tiễn huyện Eah’Leo, tỉnh Đắklắk” đã đề cập đến các yêu cầu và nhiệm vụ của nhân viên xã hội và nhan viên xã hội bao gồm cả những cán bộ lao động, trẻ em, phụ nữ, y tế... Tóm lại, nghiên cứu về nhân viên công tác xã hội trong việc quản lý, nuôi dưỡng, điều trị, phục hồi chức năng cho người tâm thần tại các Trung tâm Bảo trợ xã hội còn rất ít ỏi; cho đến nay vẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu nhân viên công tác xã hội tại Trung tâm phục hồi chức năng tâm thần Tỉnh Ninh Bình. Do đó tác giả mạnh dạn lựa chọn đề tài này làm luận văn tốt nghiệp của bản thân, góp phần nâng cao hiệu quả can thiệp, trợ giúp của nhân viên công tác xã hội với người tâm thần tại Trung tâm phục hồi chức năng tâm thần tỉnh Ninh Bình. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1 Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về nhân viên công tác xã hội tại Trung tâm phục hồi chức năng tâm thần tỉnh Ninh Bình; các yếu tố ảnh hưởng đến nhân viên công tác xã hội đang làm việc tại đây; từ đó đề xuất một số biện 7 pháp nhằm nâng cao hiệu hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của nhân viên công tác xã hội với người tâm thần. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu - Hệ thống hóa các cơ sở lý luận về người người tâm thần, nhân viên công tác xã hội đối với người người tâm thần. - Phân tích thực trạng nhân viên công tác xã hội và các yếu tố ảnh hưởng đến Nhân viên công tác xã hội tại Trung tâm phục hồi chức năng tâm thần Tỉnh Ninh Bình. - Đề xuất các biện pháp để phát huy hiệu quả thực hiện nhiệm vụ đối với người tâm thần của nhân viên công tác xã hội từ thực tiễn tại Trung tâm phục hồi chức năng tâm thần tỉnh Ninh Bình. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Nhân viên công tác xã hội từ thực tiễn Trung tâm Phục hồi chức năng tâm thần tỉnh Ninh Bình 4.2. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi về đối tượng: Có rất nhiều khía cạnh để nghiên cứu về nhân viên công tác xã hội, tuy nhiên dựa vào mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu chúng tôi tập trung nghiên cứu và làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về nhiệm vụ nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp cho người tâm thần. Phạm vi về khách thể nghiên cứu: Nghiên cứu bằng bảng hỏi 65 cán bộ, nhân viên làm việc với người tâm thần tại Trung tâm, phỏng vấn sâu 3 lãnh đạo Trung tâm và 10 người tâm thần sống tại Trung tâm. 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Phương pháp luận Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: Từ những đánh giá thực trạng về đời sống của Bệnh nhân tâm thần, thực trạng Nhân viên công tác xã hội đối 8 với người tâm thần rút ra được những lý luận và đưa ra được những đề xuất về biện pháp để nâng cao hiệu quả Nhân viên công tác xã hội đối với người tâm thần Nghiên cứu vấn đề lý luận trong hệ thống: nghiên cứu hệ thống những lý thuyết có liên quan trực tiếp đến đề tài, hệ thống các yếu tố có liên quan như công tác xã hội nhóm, công tác xã hội cá nhân đối với người tâm thần, hệ thống chính sách đối với người tâm thần, rối nhiễu tâm trí... 5.2. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp phân tích tài liệu Là phương pháp sử dụng các kỹ thuật chuyên môn nhằm thu thập thông tin, số liệu, tài liệu từ các nguồn tài liệu đã được công bố hoặc rút ra từ các nguồn tài liệu những thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu. Trong quá trình nghiên cứu tôi sử dụng phương pháp phân tích tài liệu: + Tìm hiểu các giáo trình, tài liệu có liên quan đến Nhân viên công tác xã hội như: Nhập môn công tác xã hội, công tác xã hội nhóm, công tác xã hội cá nhân, Phát triển cộng đồng, Lý thuyết công tác xã hội, công tác xã hội với người tâm thần… + Phân tích những công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến vấn đề Nhân viên công tác xã hội đối với người tâm thần. + Đọc và phân tích các tài liệu, báo cáo hàng năm của tỉnh, của Trung tâm như: “Báo cáo kết quả thực hiện Đề án 1215 , Đề án 32...... + Đọc, tìm hiểu và phân tích, đánh giá các tài liệu liên quan đến chính sách hỗ trợ đối với người tâm thần và các biện pháp can thiệp, phục hồi chức năng, hỗ trợ, giúp đỡ đối tượng. - Phương pháp điều tra bảng hỏi Dựa trên hình thức hỏi đáp gián tiếp dựa trên bảng các câu hỏi được soạn thảo trước, điều tra viên tiến hành phát bảng hỏi, hướng dẫn thống nhất cách trả lời các câu hỏi, người được hỏi tự đọc các câu hỏi trong bảng hỏi rồi ghi cách trả lời của mình vào phiếu hỏi rồi gửi lại cho các điều tra viên. 9 Với phương pháp này, đề tài sẽ phát bảng hỏi dành cho 65 cán bộ làm việc với người tâm thần tại Trung tâm để tìm hiểu, thu thập thông tin chung về thực trạng về đặc điểm của Nhân viên công tác xã hội; thực trạng về việc đáp ứng yêu cầu về đạo đức, kiến thức, kỹ năng, thực trạng về việc thực hiện nhiệm vụ của Nhân viên công tác xã hội với người tâm thần cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến nhân viên công tác xã hội với người tâm thần. - Phương pháp phỏng vấn sâu Là phương pháp thu thập thông tin qua hỏi đáp. Phương pháp này được sử dụng để tìm hiểu sâu sắc về các phản ứng, suy nghĩ, thái độ tình cảm, động cơ, quan điểm, chính kiến của nhân viên trực tiếp phục vụ đối tượng người tâm thần cũng như ý kiến của lãnh đạo về Nhân viên công tác xã hội. Nội dung phỏng vấn: Phỏng vấn 03 lãnh đạo Trung tâm phục hồi chức năng tâm thần tỉnh Ninh Bình để tìm hiểu đánh giá của lãnh đạo Trung tâm về đội ngũ Nhân viên công tác xã hội làm việc tại Trung tâm, những thuận lợi, khó khăn, liên quan đến trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của Nhân viên công tác xã hội khi thực hiện nhiệm vụ can thiệp, trợ giúp người tâm thần. - Phương pháp quan sát: Thông qua các tri giác như nghe, nhìn,tác giả thu thập các thông tin từ thực tế tại Trung tâm và tại cộng đồng nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu của đề tài. Với phương pháp này một lần nữa để khẳng định sâu hơn về thực trạng Nhân viên công tác xã hội đối với người tâm thần tại Trung tâm phục hồi chức năng tâm thần Tỉnh Ninh Bình. - Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng các công thức toán thống kê như: tỷ lệ phần trăm, số trung bình cộng, thứ bậc... để xử lý các số liệu đã thu thập được cho đề tài. 10 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6.1. Ý nghĩa lý luận của luận văn Đây là nghiên cứu đầu tiên tại Trung tâm phục hồi chức năng tâm thần Tỉnh Ninh Bình đã hệ thống hóa được những vấn đề lý luận liên quan đến người tâm thần, đến Nhân viên công tác xã hội đối với người tâm thần như khái niệm, nhiệm vụ, các yếu tố ảnh hưởng đến Nhân viên công tác xã hội với người tâm thần. Đồng thời cũng chỉ ra được cơ sở pháp lý về người tâm thần và Nhân viên Công tác xã hội với người tâm thần. 6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn Đánh giá được thực trạng đặc điểm của Nhân viên công tác xã hội với người tâm thần, thực trạng đáp ứng yêu cầu của Nhân viên công tác xã hội với người tâm thần cũng như việc thực hiện nhiệm vụ của Nhân viên công tác xã hội với người tâm thần. Đồng thời đánh giá được những yếu tố ảnh hưởng đến người tâm thần, Qua đó, đề xuất được các biện pháp nâng cao nhiệm vụ của Nhân viên công tác xã hội với người tâm thần và từ đó nâng cao nhận thức cả xã hội đối với người tâm thần; giúp người tâm thần hòa nhập cộng đồng. Góp phần vào hoạch định chính sách đối với Nhân viên công tác xã hội và người tâm thần. 7. Cơ cấu của luận văn Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục thì nội dung của đề tài gồm 3 chương: Chương 1: Những vấn đề lý luận về nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp người tâm thần Chương 2: Thực trạng về nhân viên công tác xã tại Trung tâm phục hồi chức năng tâm thần tỉnh Ninh Bình. Chương 3: Biện pháp nâng cao hiệu quả của nhân viên công tác xã hội từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng tâm thần tỉnh Ninh Bình. 11 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG TRỢ GIÚP NGƯỜI TÂM THẦN 1.1. Khái niệm và đặc điểm người tâm thần 1.1.1.Một số khái niệm * Khái niệm về tâm thần Trong tiếng Việt cũng có nhiều từ khác nhau thường được dùng để mô tả tình trạng bất thường về mặt sức khỏe tâm thần (tức tình trạng sức khỏe tâm thần không khỏe mạnh) như: Rối nhiễu tâm lý; tâm thần, bệnh tâm thần, sức khỏe tâm thần bị tổn thương, hay có vấn đề về sức khỏe tinh thần, có vấn đề tâm bệnh. Nhiều nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra các quan điểm riêng của mình về tình trạng có vấn đề sức khỏe tâm thần. Tác giả Hoàng Cẩm Tú đã dùng khái niệm “sức khỏe tâm thần bị tổn thương” để mô tả tình trạng sức khỏe tâm thần không khỏe mạnh. Bà xác định tình trạng này như sau: “sức khỏe tâm thần bị tổn thương: Không chỉ bó hẹp ở một tỉ lệ nhỏ của các tâm thần (10 20%) như những bệnh tâm thần nặng, mạn tính hoặc các khuyết tật thâm thần, mà còn bao gồm các trạng thái không thoải mái về tâm lý do căng thẳng bởi các stress tâm lý từ phía môi trường sống gia đình, trường học, cộng đồng xã hội... như rối loạn ngủ, biếng ăn, mệt mỏi, học giảm sút, thiếu hứng thú, xa lánh, ngại giao tiếp, lo sợ hốt hoảng, buồn chán... đến rối loạn hành vi chống đối”. [19, tr. 106] Trong điều tra về tỉ lệ trẻ vị thành niên miền Bắc Việt Nam có vấn đề sức khỏe tâm thần, tác giả Nguyễn Cao Minh lại trích dẫn quan điểm của WHO về vấn đề sức khỏe tâm thần: “sức khỏe tâm thần bao gồm rất nhiều các vấn đề khác nhau từ nhẹ đến nặng, với nhiều triệu chứng phong phú. Tuy 12 nhiên, một cách khái quát, những triệu chứng này là sự kết hợp của những suy nghĩ, cảm xúc lệch lạc và mối quan hệ với người khác lệch lạc, ví dụ như trầm cảm, lo âu, stress đến chậm phát triển và những rối loạn liên quan đến việc lạm dụng chất gây nghiện”, đồng thời cho rằng “Bệnh tâm thần là tình trạng sức khỏe do bị rối loạn các chức năng nhận thức, cảm xúc, xã hội. Một người được coi là có bệnh tâm thần khi được những người có chuyên môn y tế như bác sỹ tâm thần, cán bộ tâm lý lâm sàng công nhận” [18, tr.10]. Một số tác giả khác cũng lý giải rõ: Thực ra, bệnh tâm thần chính là các tâm thần. Xét về khía cạnh thuật ngữ, chỉ được gọi là "bệnh" khi biết rõ được nguyên nhân và cơ chế gây bệnh của nó. Trong khi hầu hết các tâm thần đều chưa xác định được chính xác nguyên nhân gây bệnh, cho nên gọi là "rối loạn”, để chỉ sự hoạt động tâm thần bất thường. Chỉ được xem là có bệnh khi các rối loạn gây nên những hậu quả bất lợi về sinh học, tâm lý, xã hội. Người có triệu chứng tâm thần chưa hẳn gọi là có tâm thần. Có nhiều loại tâm thần mà người bệnh không tự nhận thức được các triệu chứng rối loạn của chính mình, mà do được quan sát bởi những người xung quanh, ví dụ: người bệnh miên hành (mộng du) hoặc những người có chứng hoang tưởng .[20;22;23] Những cách dùng từ khác nhau trên phụ thuộc vào quan niệm riêng của từng tác giả về tình trạng có vấn đề về sức khỏe tâm thần, cũng như phụ thuộc vào mức độ nặng (nghiêm trọng) của các vấn đề sức khỏe tâm thần các tác giả đang quan tâm, hoặc đề cập đến trong nghiên cứu của mình. Trong lĩnh vực công tác xã hội và cụ thể là trong nghiên cứu này chúng tôi gọi bằng thuật ngữ “Người tâm thần”. *. Khái niệm người tâm thần Lâu nay khi mọi người nghe nói đến người tâm thần ta thường nghĩ ngay đến hình ảnh những người ăn mặc quái dị, có những hành vi không giống ai, đứng la hét ngoài đường … hoặc thông qua phim ảnh, sách báo họ lại hình 13 dung ra những người có tính khí hung dữ bất thường, hành vi ghê gớm không thể đoán trước … Thế thì có phải tất cả những người bệnh tâm thần đều là như thế không ? Thật ra những hiện tượng nêu trên chỉ gặp ở một bộ phận rất ít những bệnh nhân bị các loại bệnh tâm thần nặng và không được điều trị kịp thời. [23] Trong nghiên cứu này tôi sử dụng khái niệm người tâm thần là người “có vấn đề về sức khỏe tâm thần” để mô tả tình trạng không khỏe mạnh về sức khỏe tâm thần và xác định tình trạng có vấn đề về sức khỏe tâm thần là: - Người có những biểu hiện hành vi, cảm xúc, suy nghĩ kém thích nghi, mang tính kỳ lạ hoặc lệch chuẩn so với cộng đồng; - Kéo dài, gây đau khổ hoặc làm ảnh hưởng đến sức khoẻ, cuộc sống, mối quan hệ của cá nhân và những người xung quanh - Được chẩn đoán, kết luận của những người có chuyên môn (bác sỹ tâm thần hoặc những nhà tâm lý lâm sàng được cấp phép). 1.1.2. Nguyên nhân của các vấn đề về tâm thần Khác với các bệnh thực thể, nguyên nhân của tâm thần thường phức tạp và thay đổi tùy theo các rối loạn đặc biệt và tùy theo từng cá nhân riêng biệt. Mặc dù nguyên nhân của một số tâm thần chưa được xác định rõ nhưng rất nhiều bằng chứng đã chứng minh rằng những nhân tố sinh học, tâm lý và môi trường khác nhau có thể góp phần vào sự phát sinh hay tiến triển của một tâm thần. Có thể nói hầu hết các vấn đề sức khỏe tâm thần đều là kết quả của sự kết hợp, tác động qua lại không ngừng giữa các yếu tố bên ngoài (kinh tế, văn hoá, các mối quan hệ xã hội...) và các yếu tố bên trong (các đặc điểm di truyền, sinh hoá, sinh lý của não và các đặc điểm tư duy, nhân cách...) chứ không phải là kết quả tác động trực tiếp của một yếu tố duy nhất. Rất nhiều tác giả thuộc các trường phái khác nhau quan tâm tìm cách giải thích nguyên nhân của các vấn đề sức khỏe tâm thần. Thời trung cổ, 14
- Xem thêm -