Tài liệu Nhân vật và cốt truyện trong truyện ngắn kim lân ( luận văn ths. văn học )

  • Số trang: 141 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 262 |
  • Lượt tải: 2
nguyetha

Đã đăng 8490 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN -------- NGÔ THỊ THU TRANG NHÂN VẬT VÀ CỐT TRUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN KIM LÂN Chuyên ngành: Lý luận văn học Mã số : 60 22 01 20 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC Ngƣời hƣớng dẫn: PGS.TS Đoàn Đức Phƣơng Hà Nội – 2014 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN -------- NGÔ THỊ THU TRANG NHÂN VẬT VÀ CỐT TRUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN KIM LÂN Chuyên ngành: Lý luận văn học Mã số : 60 22 01 20 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC Ngƣời hƣớng dẫn: PGS.TS Đoàn Đức Phƣơng Hà Nội – 2014 LỜI CAM ĐOAN Luận văn tốt nghiệp Nhân vật và cốt truyện trong truyện ngắn Kim Lân là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đoàn Đức Phương. Các số liệu và tài liệu tôi sử dụng trong khóa luận là trung thực và có xuất xứ rõ ràng. Hà Nội, ngày 12 tháng 11 năm 2014 Tác giả luận văn Ngô Thị Thu Trang LỜI CẢM ƠN Trước hết, tôi xin dành lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Đoàn Đức Phương, người thầy đã trực tiếp, nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này. Tôi xin gửi lời trân trọng cảm ơn tới tất cả các thày giáo, cô giáo trong trường, các thày giáo, cô giáo trong khoa Văn học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã cho tôi vốn kiến thức và tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt khóa học tại trường, giúp tôi hoàn thành luận văn này. Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp đã luôn sẵn sàng giúp đỡ, chia sẻ với tôi những điều kiện, kiến thức học tập để tôi hoàn thành luận văn này. Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân yêu trong gia đình đã ủng hộ, động viên để tôi hoàn thành luận văn này. Xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, ngày 12 tháng 11 năm 2014 Tác giả luận văn Ngô Thị Thu Trang MỤC LỤC: Mở đầu: ………..….……………………………………………..………..…… 1 1. Lý do chọn đề tài………………………………………………….………1 2. Lịch sử vấn đề ……………………...……………………………….…. 3 3. Đối tượng, mục đích, phạm vi nghiên cứu……...…………..………... 12 4. Phương pháp nghiên cứu………………………...…………………….. 13 5. Cấu trúc luận văn ……...……………...……………………………. ….14 Chương 1: Hành trình sáng tác và quan niệm nghệ thuật của Kim Lân ............ 14 1. Hành trình sáng tác của Kim Lân…………………………………….…14 1.1. Sáng tác của Kim Lân trước Cách mạng tháng Tám 1945 …….. .15 1.2. Sáng tác của Kim Lân sau Cách mạng tháng Tám 1945 ….. ……19 2. Quan niệm nghệ thuật của Kim Lân …………… .……………………..21 2.1. Quan niệm của Kim Lân về con người …..……………………..…22 2.2. Quan niệm của Kim Lân về cái đẹp ………………………….……33 2.3. Quan niệm của Kim Lân về việc viết văn ………...……………… 44 Chương 2: Nhân vật trong truyện ngắn Kim Lân …………...….……….….… 48 1. Nhân vật trong tác phẩm văn học ……………………...……...……….48 2. Các kiểu nhân vật trong truyện ngắn Kim Lân …….…………..………50 2.1. Nhân vật mang thân phận bé mọn, thua thiệt ..……………… …50 2.2. Nhân vật nặng lòng với quê hương bản xứ ……….………….…60 2.3. Nhân vật có sức sống tiềm tàng …………….…….………….…67 3. Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn của Kim Lân …….…73 3.1. Tạo dựng chân dung nhân vật ……………………….…………73 3.2. Đặt nhân vật vào những tình huống thử thách, …… …………..79 3.3. Khắc họa đời sống nội tâm nhân vật …………….……………. 81 3.4. Xây dựng nhân vật mang tính chất tự truyện …….…………….87 Chương 3: Cốt truyện trong truyện ngắn Kim Lân … .………………..……. 93 1. Cốt truyện trong tác phẩm văn học …..………….……………………. 93 2. Các kiểu cốt truyện trong truyện ngắn Kim Lân …….....….………….. 95 2.1. Cốt truyện tuyến tính …………………...……...……………… 95 2.2. Cốt truyện gấp khúc ………………………….………………... 99 2.3. Cốt truyện khung ……………………….……………...……. .103 2.4. Cốt truyện tâm lý ……………………….……………………. 106 3. Nghệ thuật tổ chức cốt truyện trong truyện ngắn của Kim Lân ....….... 111 3.1. Trình bày …...…..…………………………………...……….. 111 3.2. Vận động ………………….………………….……..…..…… 116 3.3. Kết thúc………………………………….…..……..…………. 124 Kết luận: ………………….……………………...……..………………… 127 Thư mục tham khảo MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong đội ngũ nhà văn hiện đại Việt Nam, Kim Lân thuộc nhóm những nhà văn viết không nhiều nhưng lại tạo được những dấu ấn đặc biệt. Nhắc đến ông, cả bạn đọc và bạn văn đều cảm nhận một điều gì đó gần gũi, thân thiết mà cũng rất đáng nể trọng. Cái tên Kim Lân đã được công chúng biết và nhớ đến từ rất sớm, khi ông cho đăng Đứa con người vợ lẽ trên báo Trung Bắc chủ nhật năm 1942. Hơn tám mươi năm cuộc đời và gần sáu mươi năm đau đáu với nghiệp văn nhưng gia tài ông để lại không nhiều, chỉ khoảng ngoài ba mươi tác phẩm, mà chủ yếu lại chỉ là truyện ngắn. Vỏn vẹn chừng ấy “đứa con tinh thần” nhưng “đứa” nào cũng có một chỗ đứng, thậm chí vị trí trang trọng, trong lòng độc giả. Nhớ đến Kim Lân là nhớ đến phong vị làng quê Bắc Bộ. Cái hồn quê xứ sở ấy đã thấm đẫm trên từng trang văn của ông. Đó là hơi thở của vẻ đẹp văn hóa tao nhã, nên thơ vùng văn vật, là sức sống bền bỉ, dẻo dai của những con người đồng ruộng vượt lên từ lam lũ cuộc đời, cũng là những ánh lửa của niềm tin yêu, lạc quan mà nhà văn gửi gắm. Không những vậy, nhớ đến Kim Lân, bạn đọc cũng không thể quên cái lối kể chuyện nhẹ nhàng, dí dỏm, cứ như đang chuyện trò gần gũi, thân thiết, đặc biệt là cái cách ông xây dựng thế giới nhân vật và tổ chức cốt truyện trong tác phẩm. Mọi nỗi niềm muốn tâm sự với cuộc đời, bao mơ ước muốn sẻ chia, gây dựng, và cả tài năng độc đáo đều bộc lộ qua thế giới nhân vật và cốt truyện trong truyện ngắn của nhà văn. Nó cũng bình dị và sâu sắc như chính con người ông vậy. Chính bởi thế, truyện ngắn Kim Lân không những tạo nên một bản sắc rất riêng cho người sáng tạo ra nó mà còn góp phần không nhỏ vào việc hoàn thiện và hiện đại hóa một thể loại văn học vẫn còn mới mẻ của văn đàn dân tộc từ những buổi đầu của thế kỷ XX. 1 Kim Lân cũng là một trong số không nhiều nhà văn luôn có tác phẩm được lựa chọn giảng dạy trong chương trình Ngữ Văn phổ thông qua các thời kỳ. Trước năm 1995, ông có hai tác phẩm được đưa vào chương trình dạy học là Làng (lớp 9 Phổ thông Cơ sở) và Vợ nhặt (lớp 12 Phổ thông Trung học). Sau năm 1995, trong chương trình chỉnh lý sách giáo khoa, hai tác phẩm kể trên vẫn được giữ nguyên vị trí tại chương trình giảng dạy ở các khối lớp. Đặc biệt, tác phẩm Vợ nhặt có mặt trong cả ba bộ sách: Văn học 12 chưa phân ban và Ngữ Văn 12 thí điểm ban Khoa học Xã hội và Nhân văn, Ngữ Văn 12 thí điểm ban Khoa học Tự nhiên. Hiện nay, khi chương trình Ngữ Văn phổ thông đã có sự thống nhất thì Làng và Vợ nhặt vẫn là các tác phẩm được giảng dạy như trước. Vợ nhặt vẫn có mặt trong hai bộ sách Chương trình chuẩn và Chương trình nâng cao. Cùng với đó, cái tên Kim Lân và Vợ nhặt cũng xuất hiện khá thường xuyên trong các đề thi tốt nghệp Trung học Phổ thông và đề thi tuyển sinh Đại học nhiều năm gần đây. Có thể thấy, Kim Lân là một nhà văn luôn có một vị trí quan trọng trong đời sống văn học dân tộc. Trong thế giới tác phẩm của Kim Lân, nhân vật và cốt truyện luôn là yếu tố tạo dấu ấn đặc biệt với bạn đọc. Đây cũng là hai phương diện không thể tách rời nhau trong một truyện ngắn nói chung. Nhân vật chính là phương tiện để nhà văn khái quát hiện thực đời sống một cách hình tượng, cũng là nơi để họ thể hiện nhận thức của mình về muôn mặt cuộc đời. Và cốt truyện lại là phương diện để nhân vật ấy bộc lộ những tính cách thông qua một hệ thống các sự kiện được tạo dựng. Khi viết truyện, Kim Lân luôn có ý thức tạo dựng nhân vật một cách kỹ lưỡng và xây dựng cốt truyện hợp lý, sao cho vấn đề truyền tải đến bạn đọc được hiệu quả nhất. Việc tìm hiểu nhân vật và cốt truyện trong truyện ngắn Kim Lân sẽ giúp bạn đọc phần nào thấy rõ hơn những thông điệp, tư tưởng của nhà văn về cuộc sống cũng như tài năng nghệ thuật truyện ngắn bậc thầy của ông. 2 Với những lí do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn nhân vật và cốt truyện trong truyện ngắn của nhà văn Kim Lân làm đề tài nghiên cứu cho mình. 2. Lịch sử vấn đề Là cây bút truyện ngắn sớm có chỗ đứng vững chãi trên văn đàn dân tộc, cũng là nhà văn được bạn đọc trân trọng và yêu mến trong suốt thời gian qua, Kim Lân và tác phẩm của ông đã trở thành đối tượng bàn luận, nghiên cứu của rất nhiều học giả, độc giả khác nhau. Trong phạm vi giới hạn của đề tài, chúng tôi chỉ xin hệ thống những ý kiến, nhận định nổi bật về tác giả, tác phẩm và những ý kiến có liên quan trực tiếp đến đề tài. Năm 1942, Kim Lân trình làng văn tác phẩm đầu tay Đứa con người vợ lẽ trên tờ báo Trung Bắc chủ nhật. Rồi sau đó là hàng loạt truyện ngắn khác như Đứa con người cô đầu, Người kép già, Đôi chim thành… Rất nhanh, tên tuổi ông đã để lại một dấu ấn đặc biệt trong lòng độc giả. Và có lẽ, người nghiên cứu sớm nhất về truyện ngắn Kim Lân chính là nhà văn Nguyên Hồng. Trong cuốn Những nhân vật ấy đã sống với tôi, ông đã hồi tưởng lại: “Từ giữa những năm 1943 - 1944 ấy, tôi được đọc mấy truyện của Kim Lân… Thoạt tiên tôi chẳng những không để ý mà còn thấy cái tên Kim Lân chương chướng thế nào ấy, hình như định chọi, định đả chữ nhau với một số tên như Mộng Ngọc, Mộng Dương, hay Hoài Trạch, Hoài Tâm… lúc bấy giờ vậy. Nhưng rồi chỉ bập vào mấy truyện của anh mà tôi thấy không phải loại ướt át một cách bợm bãi, trái lại có một cái gì đó chân chất của đời sống con người nghèo hèn, khổ đau, giọng văn nhiều rung cảm thắm thiết, đặc biệt là lại gần gũi với mình…” [18, tr. 82]. Như vậy, tác phẩm của ông đã có một ấn tượng sâu sắc về nội dung tư tưởng và giọng điệu với bạn đọc. Sau hàng loạt truyện ngắn của Kim Lân ra đời, cùng với thời gian, các nhà nghiên cứu đã có cái nhìn dày dặn và cụ thể hơn về tác phẩm cũng như tài năng nghệ thuật của ông. Sáng tác của Kim Lân đã được giới phê bình quan tâm trên rất nhiều bình diện. 3 Nổi bật hơn cả và cũng sớm hơn cả là hướng nghiên cứu tập trung vào nội dung sáng tác của Kim Lân. Đây cũng là điều tất yếu, bởi vấn đề nhà văn phản ánh cũng chính là chìa khóa để mở cánh cửa những điều trăn trở, quan tâm của họ trước cuộc đời. Điều làm nên ấn tượng “gần gũi” với Nguyên Hồng từ tác phẩm của Kim Lân cũng không là gì xa lạ ngoài thế giới mà nhà văn phản ánh: đời sống của những con người “nghèo hèn, khổ đau”. Sau này, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân trong một bài viết đăng trên Tạp chí Văn học số 6 với nhan đề: Văn xuôi Kim Lân đã nói cụ thể hơn về nội dung truyện ngắn của tác giả này: “Đọc văn xuôi Kim Lân, ta bắt gặp cái thế giới của những người thường dân nghèo khổ vốn là hạng “hạ lưu” ở xã hội cũ: Những người nông dân miền xuôi mất nhà mất đất xiêu dạt lên miền ngược, táp vào một xóm chợ bến sông, một góc phố núi hay ven một đồn điền, một xóm trai, tiếp tục vật lộn với miếng sống sơ đẳng hằng ngày. Đã có lúc nhà văn gọi những nhân vật thân thuộc ấy của ngòi bút mình là “những đầu thừa đuôi thẹo ở khắp xó xỉnh cuộc sống”. Cách gọi giống như là sự tự mệnh danh đầy đau xót của chính các nhân vật ấy” [1]. Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn trong một bài viết: Kim Lân – nhà văn của những kiếp người đầu thừa đuôi thẹo cũng khẳng định: “Hình như những mẫu người đầu thừa đuôi thẹo ấy đã gửi một đại diện của họ vào văn học và Kim Lân đã làm việc này một cách tự nguyện” [67]. Năm 1983, trong bài viết Khải luận cho cuốn Tổng tập văn học Việt Nam, tập 30A, Nguyễn Đăng Mạnh có viết: “Văn Kim Lân tỏ ra độc đáo, hấp dẫn hơn khi ông viết về những cái gọi là “thú đồng quê” hay “phong lưu đồng ruộng”. Ông cũng cho rằng, “Sở dĩ có sự hấp dẫn, không phải vì ở đấy những tập quán ngộ nghĩnh, kỳ lạ, những thú chơi phiền phức, cầu kỳ được trình bày cặn kẽ, mà chính là nhờ nhà văn đã thể hiện lên được những con người ở làng quê Việt Nam độc đáo kia, tuy nghèo khổ thiếu thốn mà vẫn yêu đời” [32, tr. 64]. 4 Như vậy, cái nhìn về nội dung truyện ngắn Kim Lân của Nguyễn Đăng Mạnh đã có sự mở rộng tới một phạm trù nữa, đó là cái thú “phong lưu đồng ruộng” như chính từ dùng của nhà văn. Từ đó, tác giả cũng đưa ra cái nhìn tổng quát về toàn bộ nội dung truyện ngắn Kim Lân trước Cách mạng tháng Tám 1945: “Đó là những trang số phận của các đầu thừa, đuôi thẹo, được đưa từ các xó xỉnh tối khuất lên mặt trang giấy trắng chứa nhân thế, nhân tình hoặc những trang tuy nghiêng về phía phong tục, trình bày cặn kẽ những thú chơi lành mạnh…, nhưng vẫn biểu hiện một phần vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám, những người sống vất vả, nghèo khổ nhưng vẫn yêu đời, trong sáng, thông minh, tài hoa” [32, tr. 369]. Với nhận xét này, Nguyễn Đăng Mạnh đã phác họa thế giới nhân vật trong truyện ngắn Kim Lân là thế giới của những con người gắn với không gian đồng ruộng làng quê Bắc Bộ, có số phận, có tính cách đặc thù. Tuy nhiên, vấn đề nghệ thuật tạo dựng nên thế giới nhân vật ấy lại chưa được tác giả đề cập kỹ lưỡng trong bài viết. Cùng thống nhất với các quan điểm trên, nhà nghiên cứu Hoài Việt đưa ra nhận xét về hai đề tài chính trong truyện ngắn của Kim Lân: “Chính cái vốn sống phong phú của ông đã dẫn ông tới với hai đề tài chủ yếu trong nghiệp văn của ông: số phận những người thấp cổ bé họng trong xã hội cũ và phong tục tập quán, những thú vui, trò chơi nơi thôn dã” [59]. Ngoài ý kiến về hai đề tài chủ yếu trong truyện ngắn của Kim Lân, ông còn chỉ ra nguồn gốc thành công của nhà văn là ở cái tâm và cái tài. Cái tâm của ông là lòng thương xót con người hay con vật, là sự chân thật, thẳng thắn, ghét sự khuất tất, ám muội. Cái tài là “con mắt nhìn, cái óc nghĩ, cây bút viết ra”. Trong cuốn Từ điển văn học, phần giới thiệu về Kim Lân cũng được Trần Hữu Tá đánh giá: “Thế giới nghệ thuật của ông chỉ tập trung ở khung cảnh làng quê cùng với cuộc sống, thân phận người nông dân (…) Những con người của quê hương ông, thân thiết ruột thịt với ông, từ cuộc sống đói nghèo lam lũ trực tiếp bước vào tác phẩm, tự nó toát lên ý nghĩa hiện thực, mặc dù nhà văn chưa 5 thật tự giác về điều đó” [47, tr. 369]. Cũng tại cuốn sách này, tác giả cũng khái quát về truyện ngắn sau Cách mạng của nhà văn: “Kim Lân vẫn tiếp tục viết về làng quê Việt Nam. Ông thường viết về những cảnh tội nghiệp, cuộc sống khốn khó đến cùng cực của người nông dân dưới chế độ cũ và sự đổi đời của họ nhờ Cách mạng” . Như vậy, mặc nhiên, các nhà nghiên cứu đều đồng nhất một quan điểm về thế giới nhân vật cũng như đề tài trong truyện ngắn Kim Lân là thế giới của nông thôn, thế giới của người nông dân thuần hậu, chất phác. Có lẽ, cái không khí náo nhiệt chốn Hà thành, nơi một thời gian dài nhà văn gắn bó cho tới cuối đời, đã không hề lan chiếm góc nhỏ nào trong tâm thế sáng tạo nghệ thuật của ông. Tác phẩm của ông, con người ông vẫn quyết làm một đốm lửa khác biệt giữa cuộc đời để lưu giữ cái hồn quê – hồn Việt cho bạn đọc. Ngay chính Kim Lân là người cũng đã từng khẳng định điều đó: “Đó là những câu chuyện về bản thân tôi, tâm tư và số phận của tôi cũng như những người gần gũi trong làng xóm của tôi”[63]. Bất cứ bạn đọc nào khi tiếp cận tác phẩm của Kim Lân cũng đều cảm nhận được một không khí gần gũi, bình dị mà tinh tế, tài hoa của một cây bút truyện ngắn bậc thầy, ẩn sau đó là dáng dấp của một con người lịch lãm, hào hoa xứ Kinh Bắc. Mỗi trang văn của ông đều là thành quả của một cái nhìn kỹ lưỡng, tỉ mỉ, say sưa về cuộc sống và con người vùng Bắc Bộ và một lối diễn đạt đặc thù của “đứa con đẻ của đồng ruộng” (Nguyên Hồng). Nhận xét về phương diện này, Lại Nguyên Ân đã có những đánh giá xác đáng: “Chất giọng thường xuyên trong truyện ngắn của Kim Lân là chất giọng thật sự văn xuôi. Nó không thích hướng vào chất trữ tình, không thích rống lên thống thiết. Nó thích phô bày cái nôm na thật thà, đáng yêu nhưng cũng đáng tức cười của những sự thật xung quanh chứ không thích phủ lên các sự thật ấy một sự cảm động đến rưng rưng. Chính là do thích phô bày nôm na thật thà của những con người và sự vật xung quanh nên văn xuôi của con người này đã chú trọng khai thác các khả 6 năng miêu tả của các ngôn ngữ (…). Nhà văn rất chú ý miêu tả lời ăn tiếng nói của họ và đã biến thứ ngôn ngữ sống của những cư dân sống thực đó thành một đối tượng nghệ thuật rất đáng lắng nghe, nếu ta biết nghiệm ra cái vẻ đẹp đích thực của lời ăn tiếng nói ấy” [1]. Năm 1997, trong bài Sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật đặc sắc của truyện ngắn Kim Lân, tác giả Bảo Nguyên cũng đã chỉ ra thành công của nhà văn ở các phương diện: sử dụng ngữ âm và từ vựng: “Kim Lân đã dùng hàng loạt từ láy: xác xơ, heo hút, ngăn ngắt, úp súp, sù sì, dật dờ, thê thiết (…) Từ láy đã góp phần tích cực tạo ra âm điệu trầm, nhịp ngôn ngữ chậm, có tác dụng nhấn mạnh những đặc tính cần miêu tả (…) Ông lựa chọn những từ ngữ còn mang hơi thở của cuộc sống hàng ngày, để diễn đạt chúng đúng cái cuộc sống miền quê với những con người quê giản dị và đáng yêu (…) Trong việc sử dụng từ ngữ, Kim Lân đặc biệt chú ý những thành ngữ, những từ đệm vốn là những từ ngữ cửa miệng của người dân: “giời đất cha mẹ ơi”, “cụ bảo thì là dân ta”, “dầu bây giờ đắt gớm”(…) Những từ ngữ này đặt đúng hoàn cảnh đã tạo ra tác dụng vừa khắc hoạ tính cách nhân vật vừa gợi nên nét đời thường rất phù hợp với cuộc sống miền quê”[42]. Bên cạnh đó, khi nhận xét về giọng văn của Kim Lân, ngoài việc thống nhất với đánh giá của Lại Nguyên Ân, Bảo Nguyên rất tinh tế khi bổ sung thêm: “Giọng văn chủ đạo của ông thường trầm sáng như giọng ca dao, cổ tích. Nhịp văn của ông chậm gọn… Đó là một thứ giọng đệm phù hợp với quang cảnh nông thôn, với văn minh nông nghiệp (…) Yêu thương, ca ngợi là nét giọng chủ đạo trong các truyện ngắn Kim Lân. Song ở mỗi truyện, ở mỗi hoàn cảnh, ở mỗi nhân vật, trong từng điều kiện, Kim Lân sử dụng các giọng khác nhau để miêu tả. Giọng phẫn uất lẫn mỉa mai trong Đứa con người vợ lẽ giọng cảm thương và mỉa mai trong Con chó xấu xí giọng cảm thông lẫn kính phục trong Thượng tướng Trần Quang Khải - Trạng Vật. (…) Trong các truyện tâm lí xã hội của Kim Lân ta thường bắt gặp một giọng kể, giọng tả đồng tình, cảm thương”. Từ 7 những ý kiến đánh giá trên, tác giả đã đưa ra kết luận khái quát: “Ngữ âm từ vựng, giọng điệu được bàn tay nhà nghệ sĩ tài ba Kim Lân đã sắp đặt tạo ra một thứ ngôn từ mang đậm chất “văn xuôi ”. Đó là một đoá hoa tạo nên sức hút ban đầu cho các độc giả. Đó là phong cách giản dị mà độc đáo của Kim Lân” [42]. Ngoài ra, vấn đề nghệ thuật truyện ngắn Kim Lân cũng được các nhà nghiên cứu chú tâm ở các phương diện. Lại Nguyên Ân đã từng có những tổng kết rất xác đáng về các kiểu truyện ngắn của nhà văn: “Bằng vào hai tập Vợ nhặt và Nên vợ nên chồng, có thể kể được khoảng ba kiểu truyện chính. Kiểu phổ biến hơn cả có thể gọi là những truyện ngắn tính cách. Nhiệm vụ nghệ thuật mà nhà văn vẽ ra ở đó là vẽ ra một con người (…) Hơi khác chút ít với kiểu truyện tính cách này, Vợ nhặt là truyện ngắn không chú tâm hẳn vào nhân vật nào (…) Diễn biến của truyện không nhằm khám phá một nét tính cách nào của một trong số các nhân vật. Cái được chủ yếu ở đây là miêu tả một tình huống. Đây có thể gọi là ước lệ là truyện ngắn tình huống (…) Có một kiểu truyện nữa mà Kim Lân viết rất ít. Tôi muốn nói truyện ngắn Con chó xấu xí từng được đặt làm cái tên chung cho tập truyện Vợ nhặt hồi in lần đầu thành sách. Đây là truyện có hơi hướng ngụ ý” [1]. Trong bài viết này, ông cũng bày tỏ điều ông tâm đắc ở Kim Lân chính là cách nhà văn dụng công xây dựng các chi tiết: “Ông là một nhà văn kỹ lưỡng, tinh tế trong việc lựa chọn chi tiết, kỳ khu và tài hoa trong việc lựa chọn ngôn từ, hình ảnh”. Nhận định này cũng đã được chính nhà văn thừa nhận. Năm 1994 trong bài Nghĩ về nghề văn, Kim Lân bộc bạch: “Khi sáng tác truyện ngắn, đối với tôi chi tiết vô cùng quan trọng. Trong truyện ngắn của tôi đầy ắp chi tiết. Tôi nói bằng chi tiết. Truyện của tôi viết ra không ai kể lại được .(…) Truyện Làng, Vợ nhặt, Bố con ông gác máy bay trên núi Côi-kê, Ông lão hàng xóm nếu kể cốt truyện ra thì tẻ nhạt không có gì đáng chú ý cả. Chi tiết lấn át cốt truyện, chi tiết thể hiện một cách tinh tế nhất và rõ ràng nhất tính cách nhân vật cũng như hoàn cảnh sống của nhân vật”. 8 Với những gì đã thể hiện trên trang văn của mình, Kim Lân đã sớm được đánh giá cao trên văn đàn dân tộc. Khẳng định về tài năng viết truyện ngắn của Kim Lân, Hà Minh Đức viết trong Nhà văn nói về tác phẩm: “Kim Lân là một trong những cây bút truyện ngắn xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại. Kim Lân đã tạo được cách viết độc đáo… Phải nói rằng Kim Lân viết không nhiều nhưng những sáng tác của ông đã gây ấn tượng với bạn đọc” [8, tr. 31]. Cả đời văn Kim Lân chỉ chuyên tâm viết truyện ngắn. Truyện của ông thường tập trung miêu tả sinh hoạt làng quê và hình tượng người nông dân. Nhưng thế giới nghệ thuật của ông không vì vậy mà bị giảm sức sống và sự hấp dẫn. Trên báo Văn nghệ, số 34, Trần Ninh Hồ có viết: “Tuy tầm vóc, vị trí mỗi nhà văn một khác nhưng Kim Lân cũng là một nhà văn thường đến với ta trong những khoảng chợt nhớ của đời người, khó mà diễn đạt thành lời… Mỗi lần mở những trang viết ít ỏi ấy, ta lại cảm thấy không một bước ngoặt, một chặng đường nào của con người Việt Nam trong gần nửa thế kỷ qua mà Kim Lân không đả động tới dẫu chỉ bằng sự chạm trổ hết sức khiêm tốn: truyện ngắn” [17]. Phong Lê trong bài Kim Lân và những phận người bé mọn còn cho rằng, ông chính là chứng nhân cho một giai đoạn rực rỡ của văn học dân tộc: “Ông là người cùng thế hệ và là người cùng hoạt động với Nam Cao, Nguyên Hồng, Tô Hoài…Những tên tuổi trên, đã cùng ông gắn với sự khởi đầu cho nghiệp viết vào thời kỳ cuối của văn học hiện thực 1945;và sau này có quan hệ gắn bó với nhau trong từng khu vực công việc hoặc phạm vi nghề nghiệp, vì một nền văn nghệ mới. Tất cả đều là chứng nhân, là đại diện cho cả một hành trình lớn của văn học Việt Nam hiện đại (thế kỷ XX), đi qua mốc lịch sử 1945; và ông là thuộc trong số rất ít người đi trọn cuộc hành trình đó để vượt sang thế kỷ XXI- ở tuổi ngót 90”. [27] Trong cái nhìn của những người viết văn sau này, Kim Lân thực sự là một “bậc đàn anh”, là người đáng để họ ngưỡng mộ, học hỏi. Trong Nghề văn cũng lắm công phu (tái bản năm 2003), Nguyễn Khải đã từng tâm sự: “Về văn xuôi là 9 nghề của tôi, trước sau tôi thần phục có ba người là ông Nguyễn Tuân, Nam Cao và Kim Lân. Sau này viết lách được cái gì thường cũng lấy văn của ba ông làm chuẩn”. Thậm chí, khi đọc Làng, Vợ nhặt, ông còn cho rằng: “Đó là thần viết, thần mượn tay người để viết nên những trang sách bất hủ” [19, tr. 21]. Có thể thấy rằng, Kim Lân là một trong số các nhà văn có chỗ đứng trang trọng trong con mắt của độc giả. Tác phẩm của ông, dù không nhiều, luôn được bạn đọc và giới nghiên cứu quan tâm. Càng ngày, các bài viết về Kim Lân càng đa dạng, phong phú. Những năm gần đây, sáng tác của Kim Lân cũng được lựa chọn nghiên cứu trong nhà trường qua nhiều công trình luận văn công phu, tỉ mỉ. Đơn cử một số công trình tiêu biểu như: Nguyễn Quốc Thanh khi nghiên cứu Cảm hứng chủ đạo và nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Kim Lân, (Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh) đã rút ra được nhiều ý kiến xác đáng: “Đọc truyện Kim Lân, người đọc luôn cảm nhận được ở tác phẩm của ông thường toát lên cảm hứng ca ngợi những giá trị tốt đẹp của cuộc sống, cảm hứng yêu thương trân trọng con người và cuộc sống của con người. Nguồn mạch cảm hứng ấy xuất phát từ cái tâm của con người nhân ái, cái tâm của người cầm bút. Cái tâm ấy bình dị, chất phác mà sâu sắc như con người ông” [53, tr. 98]. Tác giả nghiên cứu cũng cho rằng, nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Kim Lân có những nét rất đặc thù:“vận dụng các kiểu trần thuật trong phương thức trần thuật khách quan (với kiểu trần thuật lạnh lùng) và phương thức trần thuật chủ quan (với kiểu người trần thuật xưng tôi đóng vai trò dẫn truyện và kiểu người trần thuật xưng tôi vừa là người dẫn truyện vừa là một nhân vật). Nguyễn Thị Nha Trang cũng đã đưa ra những nhận định rất sâu sắc trong công trình Phong cách văn xuôi nghệ thuật Kim Lân (Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh). Ở đây, người viết đã khái quát được những nội dung và phương thức tự sự chủ đạo trong văn xuôi nghệ thuật Kim Lân: “Thế giới và cuộc sống con người trong văn xuôi nghệ thuật Kim Lân về căn bản là thế giới 10 được nhìn từ quê hương, hay mang hình bóng quê hương đồng bằng Bắc Bộ vốn dung dị và kín đáo, thân thuộc của nhà văn” và “Phương thức tự sự trong văn xuôi nghệ thuật của Kim Lân chủ yếu là tự sự mang tính tự truyện, đặc biệt là sự kết hợp hình thức trần thuật chủ quan với hình thức trần thuật khách quan, lấy trung tâm chú ý của sáng tạo nghệ thuật là xây dựng nhân vật, sự hòa phối kỹ thuật trong việc xây dựng tình huống và cốt truyện; ngôn ngữ và giọng điệu thuần hậu, chân tình” [58, tr. 96]. Khổng Thị Minh Hạnh khi nghiên cứu Cái nhìn thời gian, không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Kim Lân, (Đại học Sư phạm Thái Nguyên) cho rằng: “Từ tiếng gọi tha thiết của miền quê hương Kinh Bắc cộng với vốn sống và cái tài, cái tâm của một nhà văn hết lòng say mê sự sống, Kim Lân đã đem đến một cái nhìn nghệ thuật giàu lòng nhân hậu trước cuộc sống và con người làng quê” [12, tr.102]. Không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Kim Lân, theo tác giả, chủ yếu là những kiểu “không gian bối cảnh, không gian sự kiện, không gian tâm lý”. Tương tự, thời gian nghệ thuật bao gồm kiểu “thời gian sự kiện, thời gian sinh hoạt và thời gian tâm lý.” Trên đây là một số trong rất nhiều công trình nghiên cứu về con người và văn chương Kim Lân. Có thể thấy, dù tiếp cận và nghiên cứu ở những góc độ khác nhau, các nhà nghiên cứu đều thống nhất một số quan điểm như sau: - Kim Lân là nhà văn chuyên viết truyện ngắn. Ông là một trong những cây bút truyện ngắn xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại với lối viết độc đáo, ấn tượng. - Thế giới nghệ thuật của nhà văn tập trung ở khung cảnh cuộc sống, con người làng quê. - Kim Lân là nhà văn có tấm lòng nhân hậu, có lối viết giản dị mà kỹ lưỡng. Vấn đề nhân vật và cốt truyện trong truyện ngắn Kim Lân đã được các nhà nghiên cứu đề cập tới trong các công trình kể trên. Tuy nhiên, nó chỉ xuất hiện riêng lẻ như là một vài nhận định trong tổng thể các bài viết. 11 Trên tinh thần tiếp thu và vận dụng những thành quả nghiên cứu của lớp người đi trước, luận văn của chúng tôi xin tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện hơn về Nhân vật và cốt truyện trong truyện ngắn Kim Lân, với mong muốn góp thêm chút tiếng nói nhỏ thể hiện tấm lòng yêu quý và trân trọng những sáng tạo nghệ thuật của nhà văn. 3. Đối tƣợng, mục đích, phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đặc điểm nhân vật và cốt truyện trong truyện ngắn Kim Lân. Từ đó tìm hiểu nghệ thuật xây dựng nhân vật và cách thức tổ chức cốt truyện của nhà văn. Mục đích của luận văn khi nghiên cứu Nhân vật và cốt truyện trong truyện ngắn Kim Lân, chúng tôi mong muốn sẽ góp thêm vài ý kiến trong việc tìm hiểu tác phẩm cũng như phong cách nghệ thuật của nhà văn từ hai phương diện nhân vật và cốt truyện. Qua đó, góp thêm phần khẳng định vị trí của ông trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại, khắc sâu thêm tấm lòng yêu quý của bạn đọc với nhà văn. Trong chương trình dạy học Ngữ Văn hiện hành, Kim Lân cũng là tác giả có tác phẩm được đưa vào giảng dạy ở hai cấp học: Trung học Cơ sở và Trung học Phổ thông. Vì vậy, khi thực hiện công trình này, chúng tôi cũng mong muốn đóng góp thêm một vài ý kiến vào công việc học tập và giảng dạy truyện ngắn Kim Lân ở nhà trường. Phạm vi nghiên cứu của đề tài: các truyện ngắn của Kim Lân đã được xuất bản: Làng, truyện ngắn, Tạp chí Văn nghệ, 1948, NXB Văn nghệ, Hà Nội, 1955. Nên vợ nên chồng, tập truyện ngắn, NXBVăn nghệ, Hà Nội, 1955. Ông lão hàng xóm (cùng Nguyên Hồng, Nguyễn Văn Bổng), NXB Văn nghệ, Hà Nội, 1957. 12 Anh chàng hiệp sĩ gỗ, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 1958 . Vợ nhặt, tập truyện ngắn, NXB Văn học, Hà nội, 1984. Ông Cản Ngũ, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 1984. Tuyển tập Kim Lân, NXB Văn học, Hà Nội, 1996. Kim Lân - Tác phẩm chọn lọc, NXB Hội nhà văn, 2004. Kim Lân tuyển tập, NXB Văn học, 2012 Tuy nhiên, để phục vụ cho vấn đề nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ tìm hiểu qua một số truyện ngắn tiêu biểu của nhà văn. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu Để thực hiện đề tài nghiên cứu, chúng tôi sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau đây: - Phương pháp phân tích, tổng hợp: phân tích các tác phẩm của Kim Lân trên hai phương diện chủ yếu: nhân vật và cốt truyện, từ đó tổng kết, đánh giá về các kiểu nhân vật, kiểu cốt truyện và nghệ thuật viết truyện ngắn của nhà văn. - Phương pháp loại hình: xem xét sáng tác của nhà văn từ góc độ loại hình thể loại, loại hình văn bản nghệ thuật. - Phương pháp so sánh: đối chiếu các vấn đề nghiên cứu về truyện ngắn Kim Lân với truyện ngắn của một số tác giả khác để đi tìm những sự tương đồng và khác biệt. - Phương pháp thống kê, phân loại: thu thập và phân loại các dấu hiệu nghệ thuật nổi bật trong sáng tác của Kim Lân xoay quanh vấn đề nghiên cứu. 5. Cấu trúc luận văn Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 3 chương: - Chương 1: Hành trình sáng tác và quan niệm nghệ thuật của Kim Lân. - Chương 2: Nhân vật trong truyện ngắn Kim Lân. - Chương 3: Cốt truyện trong truyện ngắn Kim Lân. 13 Chƣơng 1 HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT CỦA KIM LÂN 2.1. Hành trình sáng tác của Kim Lân Nhà văn Kim Lân tên thật là Nguyễn Văn Tài, sinh ngày 01 tháng 08 năm 1920 tại một miền quê giàu truyền thống văn hóa, làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Xứ Kinh Bắc quê hương ông vốn là đất nghìn năm văn hiến, nơi từng phát tích vương triều, nơi có bề dày lịch sử, có truyền thống văn hóa lâu đời với những hội hè, đình đám… cũng là nơi có những làn điệu dân ca quan họ ngọt ngào, sâu lắng đắm mê lòng người. Cậu bé Tài đã được nuôi dưỡng tài năng trong một không gian sinh thành đậm chất văn hóa nghệ thuật như thế. Và chính cái bút danh của ông cũng phần nào là hệ quả tất yếu từ không gian đó. Kim Lân chính là sự lựa chọn rút ngắn từ tên một nhân vật trong vở tuồng nổi tiếng mà ông đam mê từ những buổi hội làng thuở bé: Đổng Kim Lân trong vở tuồng Sơn Hậu. Là con của một người vợ lẽ trong một gia đình bình dân, hồi nhỏ, cậu bé Tài chỉ được học hết bậc Tiểu học. Rồi cụ thân sinh mất, cậu phải đi phụ việc cho các lớp thợ đàn anh để giúp gia đình kiếm sống bằng rất nhiều nghề khác nhau. Những tháng ngày lang bạt này cũng chính là một nguồn tư liệu dồi dào về muôn mặt cuộc sống, thôi thúc một anh Tài với lòng ham viết, thích viết cầm bút để khẳng định một điều gì đó với cuộc đời, với xung quanh. Kim Lân đến với Cách mạng khá sớm. Năm 1944, ông đã được giác ngộ và tham gia Hội Văn hóa cứu quốc. Cách mạng tháng Tám thành công, ông tiếp tục cống hiến tích cực cho đất nước. Môi trường sống mới này cũng giúp ông có cái nhìn dày dặn và sâu sắc hơn về con người trong cuộc sống. Và bản sắc văn hóa quê hương, trải nghiệm cuộc đời cùng với niềm yêu thích văn chương đã hun đúc nên một con người, một nhà văn Kim Lân khá kín 14
- Xem thêm -