Tài liệu Nhân vật sám hối trong truyện ngắn của nam cao trước cách mạng tháng tám năm 1945

  • Số trang: 56 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 84 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC NGUYỄN THỊ MAI LINH NHÂN VẬT SÁM HỐI TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Sơn La, năm 2013 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC NGUYỄN THỊ MAI LINH NHÂN VẬT SÁM HỐI TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 Chuyên ngành: Văn học Việt Nam KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Người hướng dẫn: TS. Đỗ Hồng Đức Sơn La, năm 2013 LỜI CẢM ƠN Em xin chân thành cảm ơn phòng Đào tạo, các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, đặc biệt là các thầy cô trong tổ Văn Học Việt Nam đã tạo điều kiện giúp em trong quá trình nghiên cứu. Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo - Tiến sĩ Đỗ Hồng Đức đã giúp đỡ, chỉ bảo tận tình trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp. Em xin chân thành cảm ơn các bộ phận Thư viện Trường Đại học Tây Bắc, các bạn lớp K50- ĐHSP Ngữ văn đã giúp em hoàn thành khóa luận này. Em xin chân thành cảm ơn! Nguyễn Thị Mai Linh K50 ĐHSP Ngữ văn MỤC LỤC MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1 1. Lí do chọn đề tài ........................................................................................... 1 2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................... 2 3. Mục đích và nhiệm vụ của khóa luận .......................................................... 4 3.1. Mục đích nghiên cứu ................................................................................. 4 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................. 4 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của khóa luận ........................................... 5 4.1. Đối tượng nghiên cứu ................................................................................ 5 4.2. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................... 5 5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................. 5 6. Đóng góp của khóa luận ............................................................................... 5 7. Cấu trúc của khóa luận ................................................................................ 6 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG ...................................................... 7 1.1. Khái quát về tác giả Nam Cao .................................................................. 7 1.1.1. Tiểu sử và con người ............................................................................... 7 1.1.2. Quan điểm nghệ thuật ............................................................................. 9 1.1.3. Sự nghiệp sáng tác ................................................................................ 12 1.2. Một số khái niệm cơ bản ......................................................................... 15 1.2.1. Khái niệm sám hối ................................................................................. 15 1.2.2. Nhân vật sám hối trong văn học............................................................ 16 Tiểu kết ........................................................................................................... 18 CHƯƠNG 2: NHÂN VẬT SÁM HỐI TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 ................. 20 2.1. Sám hối - triết lý tình thương, lòng vị tha của Nam Cao ....................... 20 2.2. Những nhân vật sám hối tiêu biểu trong sáng tác của Nam Cao .......... 23 2.2.1. Nhân vật sám hối trong đề tài viết về người nông dân .......................... 23 2.2.2. Nhân vật sám hối trong đề tài viết về người trí thức tiểu tư sản ........... 33 Tiểu kết. .......................................................................................................... 48 KẾT LUẬN ..................................................................................................... 50 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1.1. Nam Cao là một tài năng lớn, một cây bút hiện thực xuất sắc đã góp phần đáng quý vào quá trình hiện đại hóa nền văn học Việt Nam trên hành trình phát triển văn học thế kỉ XX. Nam Cao đến với nền văn học hiện thực phê phán khi nó đã vào giai đoạn thoái trào (1940- 1941). Tuy xuất hiện muộn nhưng không vì thế mà tên tuổi và tác phẩm của Nam Cao bị lu mờ. Sáng tác của Nam Cao đã vượt qua được những thử thách khắc nghiệt của thời gian, quy luật đào thải cái lạc hậu, các tác phẩm của ông càng thử thách lại càng sáng ngời; càng khám phá người ta lại thấy những giá trị văn chương đích thực. Hơn thế nữa, những tác phẩm ấy còn có sức hút mạnh mẽ và sự ám ảnh kì lạ đối với bạn đọc mọi thời đại. Chỉ với mười lăm năm cầm bút (1936 – 1951), nhà văn Nam Cao đã để lại một sự nghiệp văn chương tuy không đồ sộ về khối lượng nhưng lại luôn ẩn chứa một sức sống khỏe khoắn, bền lâu của một giá trị văn chương đích thực, có giá trị vượt lên trên “Các bờ cõi và giới hạn”. Tuy vậy, Nam Cao thật sự là một nhà văn tiêu biểu và độc đáo, được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm; với hơn hai trăm công trình nghiên cứu lớn nhỏ về ông và các tác phẩm của nhà văn này. Điều đó khẳng định tài năng, nét độc đáo của ngòi bút Nam Cao và những giá trị của ông trong việc đóng góp vào nền văn học nước nhà. Vì thế, tìm hiểu về Nam Cao và những tác phẩm của ông là một việc làm thiết thực, có ý nghĩa, rất cần thiết. 1.2. Trong các truyện ngắn của Nam Cao trước Cách Mạng Tháng Tám, chúng tôi nhận thấy khá nhiều truyện ngắn của ông xuất hiện nhân vật sám hối. Là một “Người thư kí trung thành của thời đại”, cùng với tài năng, sự sáng tạo, Nam Cao đã đi tìm cho mình một lối đi riêng: Khám phá thế giới tinh thần của con người, khám phá phẩm chất, nhân cách của con nguời. Đi theo hướng này, nhà văn đi sâu vào phản ánh hiện thực qua những bi kịch của cuộc đời mỗi nhân vật: Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người, bi kịch tình thương, bi kịch vỡ mộng, bi kịch sống mòn. Để từ đó giúp bạn đọc có một cái nhìn đầy đủ nhất về hiện thực đời sống xã hội; khơi gợi tình thương, sự đồng cảm của bạn đọc; thấy được tấm lòng nhân đạo, yêu thương con người của nhà văn; đồng thời mang lại giá trị nhận thức, giá trị giáo dục vô cùng sâu sắc đối với người đọc bởi bản thân người đọc khi đọc những nhân vật sám hối dường như cũng tự mình cảm thấy sám hối 1 cho chính mình. Vì vậy, tìm hiểu đề tài nhằm khẳng định những đóng góp của Nam Cao, khẳng định giá trị nhân đạo và hiện thực qua những sáng tác của ông. 1.3. Nam Cao còn là một trong những tác gia lớn được giới thiệu trong chương trình giảng dạy môn Ngữ văn ở nhà trường phổ thông và Đại học. Tìm hiểu về nhân vật sám hối trong truyện ngắn của Nam Cao trước Cách mạng Tháng Tám để hiểu rõ giá trị ẩn chứa trong tác phẩm của ông là một việc làm thiết thực và thích hợp, có thể giúp ích cho việc tiếp cận tác phẩm của Nam Cao, tìm hiểu giá trị về nội dung và tư tưởng nhân đạo của nhà văn. Với đề tài này, chúng tôi mong muốn đi sâu vào vào việc tìm tòi và khám phá các tác phẩm của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám có xuất hiện nhân vật sám hối. Hi vọng sự tìm tòi và khám phá ấy sẽ trở thành một tài liệu hữu ích đối với các bạn sinh viên yêu thích, tìm hiểu môn Ngữ văn và đặc biệt yêu thích Nam Cao và những sáng tác của ông. Trong thực tiễn giảng dạy và nghiên cứu, việc hiểu và truyền đạt cho học sinh về nhân vật văn học nhất là nhân vật sám hối trong tác phẩm của Nam Cao là một vấn đề rất khó nhiều khi còn nhiều hạn chế, mơ hồ và chung chung. Vì vậy với mong muốn cho việc giảng dạy và nghiên cứu tác phẩm Nam Cao ở trường phổ thông đặc biệt là về nhân vật sám hối được dễ hiểu và chính xác hơn chúng tôi đã chọn đề tài: “Nhân vật sám hối trong truyện ngắn của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám năm 1945” để nghiên cứu. 2. Lịch sử vấn đề Nam Cao là nhà văn lớn, một hiện tượng lớn trong nền văn học hiện đại. Những tác phẩm của Nam Cao phản ánh chân thực cuộc sống và mang giá trị nhân đạo sâu sắc. Vì thế có rất nhiều công trình nghiên cứu về tác giả và tác phẩm Nam Cao. Tuy nhiên, trong điều kiện của cá nhân, chúng tôi chỉ được tiếp xúc với một số công trình nghiên cứu về Nam Cao. Trong số những công trình ấy, có một số công trình đã đề cập đến vấn đề (sám hối nhân vật) mà chúng tôi quan tâm: 2.1. Trong bài viết Đời thừa của tác giả Nguyễn Hoành Khung có đề cập đến những giọt nước mắt sám hối của nhân vật Hộ, nước mắt của bi kịch tinh thần, của bi kịch tình thương. Ông nhận định: “Cái bi kịch thứ nhất không thực hiện được hoài bão lớn – tuy rất đau đớn nhưng còn lí do để an ủi, hi sinh sự nghiệp vì tình thương; còn bi kịch thứ hai này – lẽ sống tình thương bị vi phạm thì không có gì an ủi, biện hộ được. Và nếu Hộ phải từ bỏ con đường sự nghiệp là do áp lực của hoàn cảnh thì sự vi phạm vào nguyên tắc tình thương lại trực tiếp do bản thân anh. Vì thế mà nó chua xót vô cùng – tỉnh rượu, nhớ lại hành vi 2 của mình, Hộ hối hận tới đau đớn. Khi rón rén bước lại gần người vợ đang nằm bế con ngủ mệt trên võng, nhận ra cái “dáng nằm thật là khó nhọc và khổ não”, “cái tướng vất vả lộ ra cả đến trong giấc ngủ”, từ khuôn mặt xanh xao, có cạnh, có đôi mắt thâm cuồng, đến bàn tay “xanh trong xanh lạ”, “lủng củng rặt những xương”, tất cả đều “lộ một cái gì mềm yếu, một cái gì ẻo lả, một vẻ bạc mệnh, một cài gì đau khổ và chật vật”; Hộ đã “khóc nức nở”, nước mắt “bật ra như một quả chanh mà người ta bóp mạnh”. Anh đau đớn nghĩ đến lối cư xử tồi tệ của mình đối với người vợ đáng phải được an ủi che chở đó. Hộ nghẹn ngào nói với Từ giọng nói đẫm nước mắt “Anh... anh... chỉ là... một thằng khốn nạn. Anh không thể tha thứ cho mình” [11, 421 – 422]. Cũng trong bài viết này, tác giả Nguyễn Hoành Khung có đề cập đến hình ảnh nước mắt - một biểu hiện của sự sám hối trong truyện ngắn Nam Cao. Tác giả đưa ra nhận định: “Trong sáng tác, Nam Cao đã nhiều lần đề cập và ca ngợi nước mắt. Nhân vật tiểu tư sản của ông không ít tật xấu và lỗi lầm nhưng thường là những người hay bị hối hận giày vò và thường khóc vì hối hận. Đó không phải là thứ “hối hận” ồn ào hời hợt của những kẻ lấy việc xỉ vả mình để khoe khoang, cũng không phải thứ “hối hận” có chu kì của nhiều kẻ tiểu tư sản dùng để xoa dịu cái lương tâm rách nát của mình trong khi vẫn buông mình theo cái xấu. Mà đó là sự giằng xé chảy máu của những tâm hồn trung thực, khao khát lương thiện...” [11, 422]. 2.2. Trong bài viết Tính chất lưỡng hóa trong nhân vật Chí Phèo của Nguyễn Quang Trung ông đã tìm hiểu về khái niệm tính chất lưỡng hóa trong nhân vật hay nói cách khác chỉ ra được đặc điểm tính cách của nhân vật sám hối: “... nhân vật có những phản ứng (tâm, sinh lý) luôn có sự dao động trước các tình huống của môi trường. “Dao động” tức là không đứng im, cũng không phải là sự vận động một chiều mà là sự vận động qua lại, tạo nên một kiểu nhân vật không thuần nhất mà luôn dằng co, tự mâu thuẫn rất phức tạp. Cụ thể hơn, tính dao động của nhân vật lưỡng hóa được biểu hiện bên ngoài ấy phản ánh (hay chịu sự chi phối) những dao động phức tạp của những yếu tố bên trong như tư tưởng, tình cảm, đạo đức...” [ 11, 347]. 2.3. GS Nguyễn Văn Hạnh trong “Nam Cao một đời người một đời văn” có viết: “Trong tác phẩm của Nam Cao con người sống trong một xã hội thật dữ dằn, cay nghiệt, hoàn cảnh như muốn nghiền nát con người đi, nhưng con người vẫn không chịu khuất phục, vẫn cố ngoi lên để sống, để bộc lộ tình cách, để làm người. Cuộc đấu tranh khi quyết liệt khi âm thầm của con người với hoàn cảnh và với chính bản thân mình để tìm lối ra, để vươn tới ánh sáng, giữ gìn các giá 3 trị nhân bản ngay trong hoàn cảnh sống tưởng chừng như không thể nào chịu đựng nổi, niềm tin của tác giả vào thiện căn của con người, khao khát của tác giả về một cuộc sống xứng đáng lương thiện. Tất cả những điều này làm cho những trang viết của Nam Cao bao giờ cũng thấm đượm lan tỏa sự ấm áp của tình người, của hi vọng” [6, 60]. Tác giả đã nhìn thấy được vẻ đẹp tâm hồn của những nhân vật trong sáng tác của Nam Cao. Họ biết vươn lên, đấu tranh với hoàn cảnh để tìm cho mình lối ra, để vươn tới những giá trị tốt đẹp của con người. Như vậy, khi tiến hành tìm hiểu về nhân vật sám hối trong các truyện ngắn của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, chúng tôi đồng thời khảo cứu các công trình nghiên cứu của các giáo sư, các nhà nghiên cứu văn học có liên quan tới nhân vật sám hối. Kết quả cho thấy: Các bài viết, các công trình nghiên cứu nói nhiều về Nam Cao và tác phẩm của ông nhưng nhân vật sám hối và những giá trị tư tưởng mà tác giả gửi gắm qua nhân vật này thì chưa được giới nghiên cứu quan tâm. Vì vậy trong quá trình khai thác vấn đề, chúng tôi một mặt tiếp thu, kế thừa những thành tựu đáng trân trọng của các nhà nghiên cứu, một mặt mong muốn được đi sâu tìm hiểu và khám phá những giá trị ẩn chứa trong tác phẩm của Nam Cao qua đề tài: Nhân vật sám hối trong truyện ngắn của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. 3. Mục đích và nhiệm vụ của khóa luận 3.1. Mục đích nghiên cứu Tìm hiểu vấn đề thông qua nhân vật sám hối xuất hiện trong truyện ngắn của Nam Cao, chúng tôi hi vọng sẽ đạt được các mục đích sau: - Trước hết là tìm hiểu những giá trị, tư tưởng ẩn chứa trong tác phẩm của Nam Cao. Từ đó khám phá, khẳng định tài năng cũng như tấm lòng của Nam Cao. - Thông qua tìm kiếm, phân tích nhân vật sám hối của Nam Cao chúng tôi tiếp cận tác phẩm ở một góc nhìn cụ thể và hi vọng sẽ đóng góp một tài liệu tham khảo có ích cho việc học tập của các bạn sinh viên cũng như quá trình giảng dạy sau này của bản thân. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Với đề tài này, chúng tôi mong muốn được khai thác nhân vật sám hối, khai thác giá trị nội dung và tư tưởng nhân đạo của nhà văn trong việc phản ánh hiện thực đời sống và nhân cách con người trong một số truyện ngắn của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. 4 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của khóa luận 4.1. Đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu nhân vật sám hối trong truyện ngắn của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Ở đề tài này, chúng tôi đi nghiên cứu những truyện ngắn Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám có xuất hiện nhân vật sám hối. Trong quá trình tiến hành nghiên cứu vấn đề, chúng tôi có đối sánh với sáng tác của một số nhà văn cùng viết về vấn đề này. 5. Phương pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp trong đó chú trọng đến các phương pháp: Khảo sát và thống kê, phân tích, so sánh, bình luận. - Phương pháp khảo sát, thống kê: Đây là những phương pháp quan trọng dựa vào việc khảo sát, thống kê cụ thể để chứng minh cho những nhận định, đánh giá. Với số lượng sáng tác của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám, phương pháp khảo sát, thống kê khiến cho nghiên cứu tránh được cảm giác sa đà mà đi sâu vào nghiên cứu những vấn đề quan trọng. - Phương pháp phân tích văn học: Đây là phương pháp được sử dụng thường xuyên trong quá trình thực hiện đề tài nhằm làm rõ hơn về Nhân vật sám hối trong trong truyện ngắn của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Tuy nhiên một số truyện được phân tích tương đối toàn diện, một số truyện chỉ phân tích một mặt nào đó để làm sáng tỏ những nhận định, đánh giá xoay quanh nhân vật sám hối trong tác phẩm của Nam Cao. - Phương pháp so sánh đối chiếu: Đây là phương pháp dùng để so sánh, làm nổi bật nhân vật sám hối trong tác phẩm của Nam Cao trong hai đề tài lớn: Người nông dân và tri thức tiểu tư sản trong truyện ngắn của Nam Cao và với các tác giả khác. Đồng thời làm nổi bật tài năng và cá tính sáng tạo của nhà văn. - Phương pháp bình luận văn học: Nhằm làm nổi bật nhân vật sám hối trong một số truyện ngắn Nam Cao trước cách mạng tháng Tám năm 1945. 6. Đóng góp của khóa luận Khóa luận bước đầu đi tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật thông qua nhân vật sám hối trong một số truyện ngắn của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám. Từ đó, tăng cường sự hiểu biết của bản thân về lí thuyết lí luận văn 5 học. Qua đó hiểu sâu sắc hơn nội dung, tư tưởng nghệ thuật trong sáng tác của Nam Cao. Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho việc học tập nghiên cứu của sinh viên, học sinh. 7. Cấu trúc của khóa luận Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, khóa luận bao gồm hai chương: Chương 1: Những vấn đề chung Chương 2: Nhân vật sám hối trong truyện ngắn của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. 6 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1. Khái quát về tác giả Nam Cao 1.1.1. Tiểu sử và con người Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri, sinh ngày 29 tháng 10 năm 1915, trong một gia đình nông dân nghèo ở làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, Phủ Lí Nhân, tỉnh Hà Nam (nay là xã Hòa Hậu huyện Lí Nhân tỉnh Hà Nam). Bút danh Nam Cao được ghép từ hai chữ đầu của tên huyện và tên tổng. Ông sinh ra trong gia đình ngèo, cha là Trần Hữu Huệ, làm nghề trạm trổ và bốc thuốc bắc. mẹ là Trần Thị Minh làm vườn và dệt vải. Nam cao là con một gia đình đông anh em, là anh cả của bốn em trai và ba em gái. Ông cũng là người duy nhất được học hành tử tế. Năm 1922, Nam Cao theo học một trường tư ở trong làng, sau đó học tiểu học và Thành chung ở Nam Định. Đầu năm 1935, ông từ Nam Định về quê chữa bệnh. Tháng 10 năm 1935, Nam Cao lập gia đình cùng bà Trần Thị Sen. Nhưng cuối năm ấy Nam Cao vào Sài Gòn với cậu mở một hiệu may và sống ở đó ba năm. Ở đây ông có điều kiện tiếp xúc với nhiều tầng lớp xã hội: Công nhân, học sinh, binh lính..., đã thấm đẫm không khí đấu tranh sôi nổi của thành phố Sài Gòn trong những năm cao trào Mặt trận dân chủ. Tầm mắt được mở rộng, Nam Cao bắt đầu sáng tác và có rất nhiều ước mơ, hi vọng. Năm 1938, ông bị ốm nặng do bệnh tim và tê thấp. Ông trở ra Bắc, tự học và thi đỗ bậc Thành Chung. Sau đó Nam Cao nhận dạy học ở một trường tư ở vùng ngoại ô Hà Nội. Cuộc sống của một thầy giáo khổ trường tư đã giúp ông hiểu sâu sắc thân phận của người trí thức tiểu tư sản nghèo trong một xã hội ngột ngạt bế tắc và được ghi lại một cách chân thực trong tác phẩm Sống Mòn. Năm 1940 quân Nhật vào Đông Dương, trường Công Thanh bị đóng cửa. Nam Cao phải sống long đong bằng đủ nghề: Viết văn, làm báo, làm gia sư, có khi thất nghiệp về quê ăn bám vợ. Nam Cao sống ở nông thôn, sống trong cảnh nghèo khổ của một gia đình đông con, đã từng trải qua và tiếp xúc với cuộc sống thất nghiệp, mòn mỏi của tầng lớp trí thức. Đây cũng là lý do giải thích tại sao Nam Cao thành công ở hai mảng đề tài lớn đó là: Người nông dân và người tri thức. Năm 1943, Nam Cao gia nhập Hội Văn hóa cứu quốc cùng một số nhà văn như Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi, Nguyên Hồng. Nhưng 7 do sự khủng bố găy gắt, ông về tham gia hoạt động cùng Việt Minh ở quê. Ông cũng tham gia giành chính quyền và sau ngày tổng khởi nghĩa được bầu làm chủ tịch xã. Sau đó ít lâu Nam Cao được điều lên Hà Nội và làm thư kí tòa soạn Tiền phong của của Hội văn hóa cứu quốc. Năm 1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Nam Cao theo đoàn quân Nam Tiến vào vùng Nam – Trung – Bộ. Năm 1947, ông lên Việt Bắc phục vụ kháng chiến. Nam Cao từng làm phóng viên báo Cứu quốc, thư kí tòa soạn báo Cứu quốc Việt Bắc và làm mọi việc của một cán bộ thông tin, tuyên truyền, viết tài liệu, làm ca dao tuyên truyền. Cuối năm 1947, Nam Cao vinh dự được gia nhập Đảng Cộng Sản Đông Dương và ông sống, hoạt động tại Bắc Cạn. Năm 1948 – 1949, ông đi thực tế ở vùng đồng bằng và dự định viết một cuốn tiểu thuyết mới về quê hương kháng chiến. Năm 1950, Nam Cao nhận công tác ở tòa tạp chí Văn nghệ, cơ quan của Hội Văn nghệ Việt Nam, ông được chỉ định làm ủy viên tiểu ban Văn nghệ trung ương. Sau đó Nam Cao đi chiến dịch biên giới cùng với bộ đội. Ngày 23-09-1951, Nam Cao và Nguyễn Huy Tưởng dự Hội nghị Văn nghệ liên khu III, sau đó hai nhà văn cùng vào công tác tại khu IV. Đến tháng 111951 trên đường đi công tác ở vùng dịch hậu Nam Cao đã bị phục kích. Ngày 30-11-1951, Nam Cao đã anh dũng hi sinh ở Hoàng Đan (Ninh Bình). Nam Cao đã ngã xuống khi trong mình còn ấp ủ cuốn tiểu thuyết quê hương. Nam Cao là người hiền lành, trầm kặng, nhút nhát đến vụng về, ít nói, có vẻ ngoài lạnh lùng đến khó gần. Nhà văn rất khổ tâm về cái tật hãi người và cái mặt không chơi được của mình. Ông đã tả mặt mình trong truyện ngắn Cái mặt không chơi được: “Cái mặt tôi như nước đá, và ngượng nghịu, và vô duyên và lố bịch đủ hết” [7; 295]. Trái ngược với cái vẻ lạnh lùng ấy là một trái tim luôn ấm nóng và một tấm lòng luôn sôi nổi, luôn quan tâm đến số phận con người. Sống dưới chế độ thực dân phong kiến tối tăm, ngột ngạt Nam Cao đã không chịu khuất phục. Một nhà văn mảnh khảnh, thư sinh, lặng lẽ ít nói, rụt rè, nhưng chất chứa trong lòng tâm sự của người nghệ sĩ: Tài cao phận thấp, chí khí uất (Tản Đà) đó cũng là tâm trạng phản kháng mãnh liệt của người tri thức tiến bộ với cái xã hội bóp nghẹt cuộc sống của con người. Ông thù ghét những sách phù phiếm, nói những chuyện rắc rối của những kẻ ăn không ngồi rồi. Sinh ra và lớn lên ở vùng đồng bằng Bắc Bộ nghèo khổ, tiêu điều. Nam Cao gắn bó với bà con nông dân nghèo khổ ruột thịt. Đó là bà ngoại của nhà văn, ở góa từ năm 22 tuổi, suốt cuộc đời cực nhọc, vất vả nuôi con cháu; đó là người mẹ hiền lam lũ; người vợ chịu thương, chịu khó của nhà văn; đó là người 8 dì nuôi, đã ẵm bế nhà văn khi còn tấm bé và hình ảnh những con người ấy trở đi, trở lại trong nhiều sáng tác của Nam Cao. Tác phẩm của Nam Cao luôn thể hiện lên cái làng Đại Hoàng thân thuộc của mình. Hình ảnh làng quê và bà con nông dân nghèo khổ ở quê hương luôn sống trong lòng Nam Cao, đã nâng đỡ, an ủi nhà văn khi bi quan, bế tắc; đã giúp nhà văn trước vực thẳm của sự sa ngã và tuyệt vọng. Mỗi thiên truyện của Nam Cao về nông dân là một bản kể khổ đầy ân tình của người con xa quê. Nam Cao đã chết trên đường về quê hương, trong khi đang ủ ấp những dự định lớn về cuốn tiểu thuyết quê hương từ lâu. Cái chết ấy nói lên thật thấm thía về sự gắn bó thiết tha của nhà văn với quê hương nghèo. Là một thanh niên tư sản trí thức, lại sống giữa xã hội đầy rẫy xấu xa, Nam Cao không phải không bị tiêm nhiễm sự tiêu cực. Nhưng điểm đặc biệt đáng quý ở Nam Cao luôn tự đấu tranh nghiêm khắc để vượt lên chính bản thân, vượt lên khỏi cuộc sống tầm thường, nhỏ nhen, đê tiện để vươn tới cái đúng, cái tốt đẹp. Nam Cao hay bị hối hận, giày vò đến đau đớn những lỗi lầm của mình. Đó không phải là sự hối hận chu kì của nhiều chàng tiểu tư sản dùng để xoa dịu lương tâm trong khi vẫn buông lỏng theo cái xấu, mà theo Tô Hoài đó là những giằng xé chảy máu của một tâm hồn trung thực vô ngần, cố giữ thiện căn trong cuộc đời bẩn thỉu luôn khao khát “một tâm hồn trong sạch và mơ tới cảnh sống của những con người chật hẹp” [2, 40]. Sau cách mạng Nam Cao thành tâm, tận tụy trong mọi công tác, đồng thời với ý thực quyết tâm, tự rèn luyện, tự cải tạo mình và luôn quan niệm Hoàn toàn vì Đảng [2, 40]. Giá trị lớn lao trong những sáng tác của Nam Cao luôn gắn liền với cuộc đấu tranh tư tưởng trung thực suốt đời cầm bút của mình. 1.1.2. Quan điểm nghệ thuật Nam Cao là một trong những nhà văn hiện thực phê phán giai đoạn (19301945) có ý thức nhất về quan điểm nghệ thuật của mình. Tuy ít được phát biểu dưới dạng lí luận nhưng nó lại được bộc lộ sâu sắc quan điểm sáng tác và hình tượng nghệ thuật. Quan điểm của một nhà văn hay nói cụ thể hơn là quan điểm của nhà văn Nam Cao luôn gắn với quan điểm chính trị, xã hội, với lập trường công dân của nhà văn, gắn với hoàn cảnh xã hội và đời sống văn học. Quan điểm nghệ thuật nảy sinh từ khi nhà văn có ý thức trách nhiệm về ngòi bút của mình, nó nảy sinh từ những tâm hồn nghệ thuật, nó là những đúc kết, những trải nghiệm hay đơn giản chỉ là những điều tác giả thốt lên với bạn đọc để chia sẻ cảm thông, để phê 9 phán hay tố cáo vấn đề nào đó. Nam Cao nhận thức sâu sắc và phê phán tính ảo mộng phi hiện thực của thứ nghệ thuật chỉ chạy theo cái đẹp bên ngoài. Trong tác phẩm Giăng sáng (1942), ông vạch trần sự lừa dối của thứ nghệ thuật thi vị hóa cuộc sống, ông cho rằng: “Cái ánh trăng xanh huyền ảo nó làm đẹp đến cả những cảnh thật ra chỉ tầm thường xấu xa” [7, 219]. Trăng đẹp thật nhưng “trong căn lều nát mà làm cho cái bề ngoài trông cũng đẹp biết bao người quằn quại, nức nở, nhăn nhó với những đau thương của kiếp mình! Biết bao tiếng nghiến răng chửi rủa! Biết bao cực khổ và lầm than” [7, 221]. Cái sự thực tàn nhẫn luôn luôn bày ra đấy bị cái thi vị của trăng che dấu đi. Cái sự thực tàn nhẫn kia phải chăng là tình trạng khốn khổ của nhân dân, cái nghèo đói, bế tắc, tù túng trong cuộc sống của họ. Bằng cái nhìn thấu đáo của một nhà văn, Nam Cao đã nhận ra được điều ấy và ông yêu cầu “Nghệ thuật không cần là ánh trăng lừa dối; không nên là ánh trăng lừa dối; nghệ thuật là tiếng kêu đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than” [7, 221]. Bằng lập trường nhân đạo của mình, Nam Cao lên án xu hướng thoát li tiêu cực của văn chương lãng mạn đương thời, chạy theo cái đẹp, đắm chìm trong cái đẹp nhưng lại quay lưng với đời sống thực tại, làm ngơ trước những đau khổ của nhân dân. Ông đòi hỏi nghệ thuật phải trở về với đời sống hiện thực, phản ánh chân thật hiện thực lúc bấy giờ đó là tình trạng thống khổ của nhân dân lao động “Nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than” (Giăng Sáng). Nghệ thuật chân chính phải nhìn thẳng vào sự thực tàn nhẫn phải nói lên được nỗi thống khổ của nhân dân, nghệ thuật phải vì nhân dân mà lên tiếng. Nam Cao cho rằng người cầm bút phải có lương tâm, phải biết đứng trong lao khổ mở hồn ra đón lấy tất cả những vang động của cuộc đời. Và ở Đời Thừa ông lại khẳng định một tác phẩm có giá trị phải “Nó phải chứa đựng một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng tình thương, lòng bác ái, sự công bình. Nó làm cho người gần người hơn” [7, 263]. Ý thức được điều này, trong các sáng tác của mình, Nam Cao luôn kết hợp sâu sắc giữa giá trị nhân đạo và giá trị hiện thực. Ông luôn tâm đắc với câu nói của Francoie Coppee: Người ta chỉ xấu xa, hư hỏng trước đôi mắt giáo hoảnh của phường ích kỉ, và nước mắt là một miếng kính biến hình vũ trụ. Và chính điều đó thể hiện giá trị cao nhất của tình người. Trong sáng tác của ông không có nước mắt giả dối. Tình thương với con người là cái gì đó cao quý lắm. Nếu không có tình thương thì con người trở thành quái vật, bị xui khiến bởi lòng tự ái. Vì vậy, chủ nghĩa nhân đạo có thể nói là một đặc điểm cơ bản trong sáng tác của Nam Cao. Nó được thể hiện qua sự cảm thông không che đậy với những con người đáng thương cùng khổ (Dì Hảo, Lão Hạc, Một Đám Cưới…) trong sự bênh vực, minh 10 oan cho những con người khốn khổ, tủi nhục, bị xã hội và cuộc đời xua đuổi, hắt hủi, khinh miệt một cách bất công (Chí Phèo, Lang Rận, Tư cách mõ) cũng như trong việc vạch trần những hành vi nham hiểm, tàn bạo của bọn địa chủ, cường hào, giắc gieo bao tội ác lên đầu những người dân hiền lành, lương thiện. Có thể nói mỗi tác phẩm xuất sắc của Nam Cao đều xây dựng một nền móng vững chắc của tư tưởng nhân đạo, hướng tới việc khơi gợi tình thương, thức tỉnh nhân tính, đòi hỏi những điều kiện để con người có thể phát triển hết khả năng, tiềm tàng chứa đựng trong họ. Ông viết: “Chao ôi! Đối với những người quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi.., toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn; không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương, không bao giờ ta thương” [7, 94]. Văn chương phải thể hiện được tinh thần nhân đạo, đây chính là một trong những quan điểm nghệ thuật lớn của không những chỉ có Nam Cao mà rất nhiều nhà văn khác nữa. Nam Cao cũng như những cây bút đương thời, hưởng đến những con người cùng khổ, nhận ra những xót xa, cay đắng của số phận con người, nhưng ít ai nhìn thấy nỗi đau tinh thần của con người như ông. Nam Cao là nhà văn, và chỉ có Nam Cao đạt tới sự cải tạo thẩm mĩ của xã hội; biến nó thành một quan điểm nghệ thuật của nhà văn. Trong nhiều sáng tác của mình, Nam Cao phê phán thứ văn chương hời hợt. Trong tác phẩm Đời thừa ông để nhân vật Hộ đánh giá về cuốn Đường về: “Xoàng lắm, nó chỉ mang giá trị địa phương thôi và chỉ lột tả bề ngoài của xã hội”. Ông khẳng định văn chương phải gắn với cuộc đời, phản ánh được chiều sâu cuộc đời để từ đó Nam Cao cho rằng một tác phẩm thực sự, thật giá trị khi nó phải “vượt lên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người” [7, 263]. Nam Cao cũng đã chỉ ra giá trị văn chương đó chính là ý nghĩa của nó đối với cuộc đời “Văn chương sẽ không là gì cả nếu không vì cuộc đời mà có”. Những lời lẽ bốc đồng của Hộ với bạn bè hóa ra lại là những tuyên ngôn nghệ thuật sâu sắc và những tiến bộ của Nam Cao. Những quan điểm ấy làm nên giá trị đích thực của văn chương gần gũi với quan niệm của chúng ta ngày nay. Nam Cao không chỉ tuyên ngôn về ý nghĩa văn chương đối với cuộc đời mà ông còn đề cập sâu sắc đến nghề văn và sáng tác trong văn chương. Mặt khác, về bản chất của sự sáng tạo thì Nam Cao cũng khẳng định nghề văn là nghề sáng tạo: “Văn chương không cần những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có” [7, 254]. Nam Cao khẳng định điều này và ông trải nghiệm nó bằng chính những năm tháng đầu đời cầm bút của mình. Lúc đó Nam Cao viết theo 11 những khuôn mẫu của văn chương đương thời. Nó thiếu đi hơi thở của cuộc đời, nó thoát li cuộc sống và sau đó ông chuyển sang khuynh hướng hiện thực và cũng từ đó trên những trang viết của ông ấm nồng sự sống của cuộc đời và với ông sáng tạo là cách làm nên những tác phẩm mang chính hơi thở của mỗi nhà văn. Nam Cao cho rằng nghề văn là một nghề cao quý đòi hỏi nhà văn phải có lương tâm, trách nhiệm. Nam Cao cho rằng: “Sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện” [7, 254]. Nhà văn Hộ trong Đời Thừa đã đau đớn day dứt khi thấy tên mình lu mờ đi trước những tên tuổi mới. Cứ mỗi lần đọc lại một cuốn sách hay một đoạn văn ký tên mình anh lại “đỏ mặt lên, nghiến răng, vò nát sách và mắng mình như một thằng khốn nạn” [7, 254]. Anh tự xỉ vả mình khi nhìn những cuốn văn viết vội, đỏ mặt lên xấu hổ khi đăng những bài báo “người đọc quên ngay sau khi đọc”( Đời thừa). Hộ cay đắng nhận ra rằng: Thế nghĩa là hắn là một kẻ vô ích, một người thừa vì hắn chẳng đem lại một chút gì mới lạ đến văn chương. Như vậy, ta thấy Nam Cao rất coi trọng chủ thể sáng tạo. Chúng ta cũng hiểu được tại sao tác phẩm của ông lại viết về những cái tưởng như đơn giản, nhỏ nhặt, vụn vặt thôi nhưng lại chứa đựng ý nghĩa, tư tưởng lớn lao, sâu sắc đến như vậy. Từ những nhận thức đó, Nam Cao đã khẳng định được nhà văn phải là những người khám phá những nét bản chất của đời sống ở bề sâu của nó chứ không phải cái nhìn hời hợt bên ngoài. Điều này không chỉ là quan niệm mà còn là nỗi trăn trở suốt cả cuộc đời cầm bút của nhà văn và cũng vì điều ấy trong tác phẩm của ông luôn lấp lánh sự sáng tạo. Trong Sống mòn của Nam Cao đã thể hiện văn chương như một vũ khí chiến đấu “tạng người như y cầm súng, cầm gươm. Y sẽ cầm bút mà chiến đấu”. Quan điểm này giúp cho Nam Cao rất gần với các nhà văn cách mạng. Văn học nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy ( Hồ Chí Minh). Như vậy ta thấy rằng, tuy Nam Cao không trực tiếp phát biểu ý kiến, quan niệm về nghệ thuật của mình nhưng qua các sáng tác của ông ta thấy đã xuất hiện những tuyên ngôn nghệ thuật mới mẻ, độc đáo và rất sâu sắc về: tư tưởng nghệ thuật, vị trí, cách nhìn của người nghệ sĩ, giá trị văn chương, bản chất nghệ thuật. Đó chính là những thành công lớn của phong cách Nam Cao, và những đóng góp lớn lao của nhà văn với nền văn học Việt Nam hiện thực phê phán. 1.1.3. Sự nghiệp sáng tác Sự nghiệp sáng tác của Nam Cao khởi đầu từ năm 1936, nhưng thực sự trở thành một bản lĩnh, một phong cách sáng tạo độc đáo bắt đầu từ truyện ngắn Chí 12 Phèo (1941). Các sáng tác trước cách mạng của Nam Cao tập trung vào hai mảng đề tài lớn: Cuộc sống của những người trí thức tiểu tư sản nghèo và cuộc sống người nông dân lao động. Ở đề tài người trí thức tiểu tư sản, nổi bật lên qua các truyện ngắn: Những truyện không muốn viết, Giăng sáng, Mua nhà, Truyện tình, Quên điều độ, Nước mắt, Đời thừa… và tiểu thuyết Sống mòn (1944). Nhân vật trung tâm của các sáng tác về đề tài này là những nhà văn nghèo, những giáo khổ trường tư, những học sinh thất nghiệp… Nam Cao tập trung phát hiện và miêu tả tấn bi kịch tinh thần ở họ, đó là mâu thuẫn giữa những khát vọng chân chính, ý thức sâu sắc về giá trị cuộc sống và nhân phẩm với hoàn cảnh xã hội, mưu sinh miếng cơm manh áo, những toan tính tẹp nhẹp hàng ngày, để rồi cuối cùng họ sống trong những cảnh đời thừa, những kiếp chết mòn về tinh thần. Qua đây nhà văn muốn phê phán cái xã hội phi nhân tính đã dồn đuổi, bóp nghẹt, tàn phá sự sống và tâm hồn những người trí thức đồng thời thể hiện khát vọng hướng tới một nhân cách toàn thiện, xứng đáng với giá trị con người. Về đề tài người nông dân, Nam Cao thực sự tiến thêm một bước trong việc nhận thức và mô tả bi kịch đời sống của họ so với các nhà văn đương thời. Bên cạnh một số truyện: Trẻ con không được ăn thịt chó, Mua danh, Tư cách mõ, Điếu văn, Một đám cưới, Dì Hảo, Lang Rận, Nửa đêm… nổi lên hai truyện đứng vào hàng kiệt tác: Chí Phèo và Lão Hạc. Nhà văn quan tâm trước hết những kẻ bần cùng, thấp cổ bé họng, hiền lành nhẫn nhục, bị đối xử bất công, bị xô đẩy vào con đường lưu manh, đánh mất nhân tính lúc nào không hay (Chí Phèo, Một bữa no, Lang Rận, Tư cách mõ…). Nhân vật Chí Phèo hiện ra như một chứng tích đáng thương và ghê rợn về sự hủy diệt tàn bạo của cái xã hội bất lương và phi nhân tính đối với thể xác và linh hồn của con người. Tuy vậy, ngay trong những số phận tưởng như mất hết nhân tính, đứng ngoài lề xã hội, nhà văn vẫn phát hiện ở họ những khát vọng hướng thiện, những đốm sáng nhân bản lấp lánh đáng quý. Đây chính là chiều sâu và nét độc đáo trong chủ nghĩa nhân đạo của Nam Cao. Viết về loại nhân vật nông dân, Nam Cao đặt vấn đề cách nhìn quần chúng, phải biết vượt qua cái bề ngoài gàn dở, lẩm cẩm, ngu dốt để mà gần họ, cố mà tìm hiểu cái bản tính tốt ở họ thường bị che lấp, vùi dập, không được phép tàn nhẫn, ghẻ lạnh với họ. Chủ đề này phát hiện rõ nhất ở trong Lão Hạc (1943) và được phát triển trong một hoàn cảnh mới ở truyện Đôi mắt (1948). Tuy chưa giác ngộ chân lí cách mạng, nhưng chịu ảnh hưởng ít nhiều của Hội văn hóa cứu quốc, Nam Cao cũng ít nói tới tương lai với một tâm 13 trạng náo nức và đầy hi vọng về khả năng đổi đời của con người; Sự đời không thể cứ mù mịt mãi thế này đâu. Tương lai phải sáng sủa hơn. Một rạng đông đã báo rồi. Đó là một dự cảm chính xác của nhà văn trong đêm trước cách mạng toàn dân tộc. Sau Cách mạng tháng Tám, Nam Cao cũng như nhiều văn nghệ sĩ khác tự nguyện, hăm hở đi theo kháng chiến. Nam Cao không ngại khó, ngại khổ, tự nguyện làm tuyên truyền viên vô danh cho cách mạng, đồng thời có ý thức rèn luyện, cải tạo mình. Tâm niệm chân thành của Nam Cao là: Sống đã rồi hãy viết. Ông thực sự là một chiến sĩ xông xáo trên các mặt trận, ghi chép, lấy tài liệu, hình thành ý đồ cho các tác phẩm lớn về sau. Đối với các văn nghệ sĩ, đi vào cuộc kháng chiến đó đòi hỏi phải chân thành, vừa cần nghị lực, vừa phải có cái nhìn đúng về nhân dân và kháng chiến. Đây là một cuộc nhận đường vất vả, nhiều khi cam go và quyết liệt, nhất là với lớp văn nghệ sĩ trước cách mạng. Nam Cao không ngoài tình trạng chung đó. Ông viết truyện ngắn Đôi mắt, một mặt phê phán lối sống trưởng giả, xa lạ, lạc lõng và cái nhìn khinh bạc đối với quần chúng của lớp nhà văn kiểu cũ, đồng thời như một biểu thị quyết tâm dứt khoát và chân thành hòa nhập vào cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân. Nhật kí Ở rừng và tập kí sự Chuyện biên giới cũng đi theo tinh thần ấy. Nhà văn Nam Cao thực sự là một tấm gương tiêu biểu cho một lớp nhà văn giác ngộ lẽ sống lớn của dân tộc và thời đại, nguyện dùng nghệ thuật góp phần xây dựng những nhân cách mới. Văn của Nam Cao, ở rất nhiều tác phẩm mang tính tự nguyện, ta thấy hiện rõ ở đó những cảnh đời, tâm tình, quan niệm của tác giả, nhất là ở những tác phẩm viết về trí thức, văn nghệ sĩ. Điền (Giăng sáng), Hộ (Đời thừa), ông giáo (Lão Hạc), Thứ (Sống mòn).., kể cả nhân vật nhà văn Hoàng trong Đôi mắt sau này. Cả cuộc đời của Nam Cao, thông qua nghệ thuật, là một quá trình phấn đấu không bao giờ thỏa hiệp cho một nhân cách cao đẹp – nhân cách con người và nhân cách nghề nghiệp. Nam Cao chú tâm miêu tả con người không dừng lại ở cử chỉ, hành động bên ngoài, mà nỗ lực nắm bắt, phát hiện và miêu tả quá trình tâm lí sâu sắc của nhân vật. Ngay cả kết cấu truyện, ông cũng không câu nệ vào cốt truyện, mà chủ trương giải phóng cốt truyện, thậm chí viết loại truyện không có cốt truyện. Cho nên câu chuyện được kể với giọng điệu hết sức linh hoạt tự nhiên, cách thức trần thuật tuân theo quan điểm nhân vật. Ngôn ngữ truyện Nam Cao thật sự sống động, phong phú, tinh tế, bắt chặt ngôn ngữ dung dị của đời sống con người. Có những khi ngòi của ông sắc lạnh, tỉnh táo, thiếu suy tư, có khi lại trữ tình, đằm 14 thắm. Nam Cao thực sự là một tài năng lớn đã góp phần cách tân một bước đáng kể nền văn xuôi Việt Nam, nhất là thể loại truyện ngắn. Nhiều tác phẩm của Nam Cao cho đến nay vẫn là những mẫu mực bậc thầy, đáng để cho các nhà văn học tập. 1.2. Một số khái niệm cơ bản 1.2.1. Khái niệm sám hối Ta có thể thấy có rất nhiều định nghĩa về Sám hối. Theo tác giả Nguyễn Như Ý trong cuốn Đại từ điển Tiếng Việt giải nghĩa: Sám hối là sự ăn năn, hối hận về những tội lỗi của mình. Trong Kinh Pháp Bảo Đàn có nói: Sám giả sám kỳ tiền khiên, hối giả hối kỳ hậu quá: Sám là sám trừ tội trước, hối là hối cải lỗi sau. [14, 96]. Sám hối là tự mình ăn năn, hổ thẹn những lỗi lầm trước đây đã tạo, nguyện sửa đổi không dám tái phạm những lỗi lầm đó nữa. Trong từ Sám hối thì Sám tiếng Phạn gọi là Samma, tiếng Hoa dịch là hối hóa. Chữ Hối là Hán ngữ, ghép hai từ ngữ Phạn và Hán lại thành hai chữ sám hối, có nghĩa là ăn năn chừa bỏ và không tái phạm. Trong đời sống hằng ngày, không ai là không có những lỗi lầm và lỗi lầm ấy có thể do vô tình hoặc cố ý gây ra. Nhưng dù lỗi lầm đó như thế nào đi nữa trong thâm sâu của cõi lòng, trong nội tâm, chúng ta thấy mình có tội, nhận ra tội lỗi của mình, chúng ta phán xét chính mình, nhận điều xấu mình đã làm, hay cái tâm địa xấu xa của mình và cương quyết thực hiện sửa sai, thì đó mới thật sự là cốt lõi của việc sám hối. Còn nếu biết lỗi cũ là sai, ăn năn thay đổi, rồi tiếp tục tái phạm, thì không phải là Sám hối. Nhiều người trong thời đại hôm nay dù đã làm bao nhiêu điều xấu, vẫn không thấy mình có tội. Họ đã đánh mất ý thức tội lỗi, và đó là nguy cơ lớn nhất của nhân loại ngày nay. Ta có thể xếp Sám hối theo một số bước cơ bản sau: 1. Ý thức về tội lỗi. 2. Hối hận, day rứt vì những điều xấu mình đã làm. 3. Quyết tâm thú nhận tội lỗi. 4. Thực sự sửa đổi đời sống. 5. Làm những điều tốt đẹp cho cuộc sống. Như vậy, Sám hối không phải là rửa tội hay xá tội mà là chấp nhận tội lỗi phạm phải, rồi tự sửa đổi, quyết không tái phạm. Sống khác đi, không sống như cũ nữa, không làm điều xấu nữa; dứt khoát với tình trạng tội lỗi mà mình đang mắc phải. Giai đoạn này rất khó và đòi hỏi sự hy sinh, sự chiến đấu với chính 15 mình, và sự chiến thắng, làm chủ được chính mình. Từ những định nghĩa trên ta có thể khái đưa ra một định nghĩa chung: Sám hối là sự thức tỉnh sâu sắc về nhân cách và nó được thể hiện qua sự ân hận hay hối hận về những việc mình đã làm và cao hơn là mong muốn được sửa chữa hoặc mong muốn làm điều gì đó tốt hơn. 1.2.2. Nhân vật sám hối trong văn học Nhân vật văn học là con người được miêu tả trong văn học bằng phương tiện văn học. Trong văn học, nhân vật văn học được chia thành nhiều loại nhân vật khác nhau. Đó có thể là nhân vật tha hóa, nhân vật tính cách, nhân vật anh hùng, nhân vật dị dạng, nhân vật sám hối… Tuy nhiên ở khóa luận này chúng tôi chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu những đặc điểm của nhân vật sám hối. Nhân vật sám hối là một cách định dạng, lấy sám hối làm tiêu chí để xếp loại nhận vật. Có thể xếp nhân vật sám hối vào loại nhân vật phức tạp, bởi khi xây dựng nhân vật này thì nhà văn gắn cho nhân vật của mình những đặc điểm của nhiều loại nhân vật như nhân vật loại hình, nhân vật tư tưởng, nhân vật tính cách và ít được xây dựng mang đặc điểm nhân vật chức năng. Nhân vật sám hối là nhân vật bộc lộ thái độ, tình cảm và tư tưởng của mình qua hành vi và nhất là qua độc thoại nội tâm. Và ở nhân vật này thì sự vận động của hành động nhân vật không phải diễn ra bên ngoài mà chủ yếu diễn ra ở bên trong, diễn ra trong thế giới nội tâm. Thế giới nội tâm đó được hiểu là một thế giới không đơn giản mà nó rất phong phú, phức tạp, điều này tạo nên cho nhân vật sám hối của chúng ta một tính cách phức tạp. Phải nhìn nhân vật này dưới nhiều góc độ, nhiều chiều, đặt nhân vật này trong hoàn cảnh cụ thể thì ta mới có thể nhận ra được cái mặt tốt đẹp của nhận vật, sự sám hối của chính nhân vật. Nhân vật sám hối khi mang những đặc điểm của nhân vật loại hình thể hiện tập trung các phẩm chất xã hội, đạo đức của một loại người nhất định của một thời. Ta bắt gặp loại người nhất định ấy trong tác phẩm của Nam Cao. Khi miêu tả hạng người nông dân bị bần cùng hóa, lưu manh hóa, trong tác phẩm Chí Phèo, Nam cao vẫn thể hiện cái nhìn ưu ái, vừa sót thương, vừa trân trọng. Ông đã phát hiện và khẳng định nhân phẩm đẹp đẽ của người nông dân ngay trong khi họ bị rạch nát cả bộ mặt người, bị giết chết tâm hồn người. Qua nhân vật Chí Phèo Nam cao đã nói lên được tiếng nói tố cáo chế độ thực dân phong kiến chịu sự chi phối bởi quyền lực vạn năng của đồng tiền, bộ mặt đểu cáng của giai cấp thống trị Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Nhân vật sám hối mang đặc điểm của nhân vật tính cách khi nó được mô tả như một nhân cách, một cá nhân có tính cách nổi bật. Ta lại quay trở lại với Chí 16
- Xem thêm -