Tài liệu Nhân vật nữ trong nỗi buồn chiến tranh của bảo ninh và trong chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ của svetlana alexievich

  • Số trang: 115 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 46 |
  • Lượt tải: 0
hungba1170093

Tham gia: 25/04/2018

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2 BÙI ĐỨC HIẾN NHÂN VẬT NỮ TRONG NỖI BUỒN CHIẾN TRANH CỦA BẢO NINH VÀ TRONG CHIẾN TRANH KHÔNG CÓ MỘT KHUÔN MẶT PHỤ NỮ CỦA SVETLANA ALEXIEVICH LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM HÀ NỘI, 2018 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2 BÙI ĐỨC HIẾN NHÂN VẬT NỮ TRONG NỖI BUỒN CHIẾN TRANH CỦA BẢO NINH VÀ TRONG CHIẾN TRANH KHÔNG CÓ MỘT KHUÔN MẶT PHỤ NỮ CỦA SVETLANA ALEXIEVICH Chuyên ngành: Lí luận văn học Mã số: 8 22 01 20 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. PHÙNG GIA THẾ HÀ NỘI, 2018 LỜI CẢM ƠN Tôi xin đƣợc gửi lời cảm ơn chân thành và biết ơn sâu sắc tới PGS.TS . Phùng Gia Thế - ngƣời thầy đã trực tiếp hƣớng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình học tập, luôn động viên và giúp đỡ để tôi thực hiện luận văn này. Tôi xin đƣợc bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy giáo, cô giáo những ngƣời đã cho tôi rất nhiều những kiến thức bổ trợ vô cùng có ích trong khóa học vừa qua. Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau Đại học, các thầy giáo, cô giáo trong khoa Ngữ văn, đặc biệt là các thầy cô trong Tổ bộ môn Lý luận văn học đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập. Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ trong suốt thời gian tôi thực hiện đề tài này. Luận văn đƣợc hoàn thành song không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Tôi rất mong nhận đƣợc những ý kiến đóng góp từ phía các thầy cô giáo và các bạn bè đồng nghiệp để đề tài của tôi đƣợc hoàn thiện hơn Hà Nội, ngày 20 tháng 7 năm 2018 Tác giả luận văn Bùi Đức Hiến LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan những nội dung đã trình bày trong luận văn này là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi dƣới sự hƣớng dẫn trực tiếp của PGS.TS. Phùng Gia Thế. Những nội dung này không trùng lặp với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác. Hà Nội, ngày 20 tháng 7 năm 2018 Tác giả luận văn Bùi Đức Hiến MỤC LỤC MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1 1. Lí do chọn đề tài......................................................................................... 1 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ......................................................................... 2 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................. 7 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ............................................................. 8 5. Phƣơng pháp nghiên cứu ........................................................................... 8 6. Đóng góp của luận văn .............................................................................. 8 7. Bố cục của luận văn ................................................................................... 8 NỘI DUNG ..................................................................................................... 10 Chƣơng 1. SÁNG TÁC CỦA SVETLANA ALEXIEVICH VÀ BẢO NINH TRONG DÒNG CHẢY VĂN HỌC VỀ CHIẾN TRANH ................. 10 1.1. Về hành trình sáng tác của Svetlana Alexievich và Bảo Ninh ............. 10 1.1.1. Hành trình sáng tác của Svetlana Alexievich ................................ 10 1.1.2. Hành trình sáng tác của Bảo Ninh ................................................. 12 1.2. Nỗi buồn chiến tranh và Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ trong dòng chảy văn học về chiến tranh ................................................. 13 1.2.1. Đề tài chiến tranh trong văn học Việt Nam và vị trí của Nỗi buồn chiến tranh ....................................................................................... 13 1.2.2. Đề tài chiến tranh trong văn học Xô-viết và vị trí của “Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ” trong dòng chảy văn học .......... 18 TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 .............................................................................. 23 Chƣơng 2. NHÂN VẬT NỮ TRONG NỖI BUỒN CHIẾN TRANH VÀ TRONG CHIẾN TRANH KHÔNG CÓ MỘT KHUÔN MẶT PHỤ NỮ NHÌN TỪ NHỮNG ĐIỂM TƢƠNG ĐỒNG ................................................. 24 2.1. Ngƣời phụ nữ phải đối diện với hoàn cảnh khắc nghiệt ....................... 24 2.2. Ngƣời phụ nữ với những chấn thƣơng .................................................. 36 TIỂU KẾT CHƢƠNG 2 .............................................................................. 46 Chƣơng 3. NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT CỦA NHÂN VẬT NỮ TRONG NỖI BUỒN CHIẾN TRANH VÀ TRONG CHIẾN TRANH KHÔNG CÓ MỘT KHUÔN MẶT PHỤ NỮ ........................................................................ 47 3.1. Nhân vật nữ trong Nỗi buồn chiến tranh .............................................. 47 3.1.1. Nỗi cô đơn cam chịu ....................................................................... 47 3.1.2. Những bi kịch thân phận ................................................................. 52 3.1.3 Tình yêu và bản năng tính dục ......................................................... 58 3.1.4. Nghệ thuật xây dựng nhân vật ........................................................ 65 3.2. Nhân vật nữ trong Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ ........ 76 3.2.1. Phụ nữ là nạn nhân bi kịch của chiến tranh ................................... 76 3.2.2 Niềm tự hào về bản thể giới nữ ........................................................ 85 3.2.3. Nghệ thuật xây dựng nhân vật ........................................................ 92 TIỂU KẾT CHƢƠNG 3 ............................................................................ 101 KẾT LUẬN ................................................................................................... 102 TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 105 1 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1.1. Trong cấu trúc của tác phẩm tự sự, nhân vật có vai trò đặc biệt quan trọng. Nhân vật có chức năng giống nhƣ chiếc chìa khoá giúp độc giả khám phá thế giới nghệ thuật của tác phẩm và tƣ tƣởng của nhà văn. Xây dựng nhân vật, do đó luôn đƣợc xem là yếu tố then chốt cho thấy tài năng và sự sáng tạo của nhà văn. Tên tuổi của những nhà văn lớn thƣờng gắn liền với những nhân vật mà họ đã sáng tạo ra. 1.2. Trong các tác phẩm văn học Việt Nam và thế giới, đặc biệt là những tác phẩm đƣợc viết trong thời kì chiến tranh và viết về đề tài chiến tranh thì hình tƣợng phổ biến nhất là hình tƣợng ngƣời lính. Bên cạnh đó, hình tƣợng nhân vật ngƣời phụ nữ cũng đƣợc đặc biệt chú ý trong quá trình kiến tạo tác phẩm, phản ánh cuộc sống gian khổ và những khắc nghiệt của con ngƣời do chiến tranh gây ra, nhất là những ngƣời trực tiếp tham gia chiến trận. Nhân vật ngƣời phụ nữ đã truyền tải những thông điệp, cái nhìn, quan niệm của nhà văn về cuộc chiến cũng nhƣ cuộc đời, đồng thời cũng góp phần quan trọng trong việc truyền tải những giá trị tƣ tƣởng - thẩm mĩ đặc thù cho tác phẩm văn học. 1.3. Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh và Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ của Svetlana Alexievich là hai tác phẩm viết về chiến tranh rất tiêu biểu của nền văn học Nga và Việt Nam. Trƣớc nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết với những hƣớng tiếp cận phong phú về hai tác phẩm này. Tuy nhiên, những nghiên cứu đó chủ yếu mới xem xét chúng trong phạm vi tách biệt, riêng lẻ, thực tế chƣa có công trình nào tìm hiểu về hình tƣợng nhân vật nữ trong hai tác phẩm dƣới góc nhìn của văn học so sánh. 1.4. Trong chƣơng trình Ngữ văn ở bậc học trung học phổ thông, học sinh đƣợc tiếp xúc các tác phẩm với hệ thống nhân vật mang nhiều đặc trƣng 2 gắn với phong cách sáng tác của từng nhà văn. Đặc biệt, trong công tác giảng dạy và đánh giá học sinh theo hƣớng phát triển năng lực nhƣ hiện nay, việc khai thác tác phẩm theo hƣớng văn học so sánh đang đƣợc chú ý. Thiết nghĩ, việc nghiên cứu về nhân vật nữ trong Nỗi buồn chiến tranh và Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ là một cách gợi mở hƣớng tiếp cận mới cho học sinh, đồng thời cung cấp những tƣ liệu phục vụ cho các thầy cô giáo và các em học sinh trong quá trình tìm hiểu, lý giải, phân tích những tác phẩm văn học viết về chiến tranh trong văn học thế giới nói chung. Với những lí do trên, tác giả luận văn lựa chọn đề tài: “Nhân vật nữ trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh và trong Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ của Svetlana Alexievich” nhằm mục đích chỉ rõ những điểm tƣơng đồng và khác biệt về thế giới nhân vật nữ trong hai tác phẩm. Đồng thời, với đề tài này chúng tôi hi vọng sẽ đóng góp một phần sức lực của mình vào việc khẳng định vị trí của bộ môn Văn học so sánh cũng nhƣ việc ứng dụng hƣớng đi này trong thực tiễn nghiên cứu, giảng dạy văn học ở nƣớc ta hiện nay. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Nỗi buồn chiến tranh và Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ là hai tác phẩm nổi tiếng. Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện tại vẫn chƣa có công trình nghiên cứu nào tập trung đi sâu vào việc so sánh về nhân vật nữ trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh và trong Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ của Svetlana Alexievich. Rải rác đâu đó ở các công trình nghiên cứu cũng nhƣ trong một số bài viết riêng lẻ từng tác phẩm của từng nhà văn, một số nhà phê bình đã gặp gỡ nhau trong cách đánh giá sơ bộ về nội dung tƣ tƣởng đƣợc thể hiện trong hai tác phẩm, trong đó có thể kể tới một số bài viết tiêu biểu nhƣ sau: 3 Là một trong những nhà văn lão thành của văn học Việt Nam, ngƣời cho đến nay vẫn gắn bó với đề tài chiến tranh cách mạng, nhà văn Nguyên Ngọc trong bài viết về tác phẩm Thân phận của tình yêu (Báo Văn nghệ số 37 năm 1991) đã chỉ rõ “Cuốn sách Thân phận của tình yêu của Bảo Ninh là sự nghiền ngẫm về chiến thắng, ý nghĩa và giá trị to lớn và dữ dội của chiến thắng. Nó chỉ cho chúng ta biết rằng, chúng ta đã làm nên chiến công vĩ đại thắng Mĩ với cái giá ghê gớm đến chừng nào. Một đặc sắc nữa của cuốn sách này là tác giả viết với tư cách hoàn toàn của người trong cuộc, không đứng ngoài, đứng trên nhìn ngắm mà đứng trong, thậm chí ở tận đáy của cuộc chiến tranh. Anh viết về cuộc chiến tranh “của anh” gần như bằng tất cả máu của anh. Về nghệ thuật, đó là thành tựu cao nhất của văn học đổi mới” [29]. Trong bài giới thiệu về Nỗi buồn chiến tranh, nhà văn Nam Dao viết: “Tác phẩm không hậu hiện đại qua những hình thức thời thượng. Tác phẩm cổ điển từ cấu trúc đến văn phong. Tác phẩm nói về chiến tranh qua thân phận thời hậu chiến, với cái đau đằng đẵng của con người cứ tưởng chiến tranh chấm dứt. Không, không như tiếng bom đạn thôi nổ trên đầu, nó nổ trong đầu. Máu không chảy ra ngoài, nó chảy vào trong. Đã xảy ra, chiến tranh không bao giờ thực sự kết thúc với những người sống sót sau cuộc chiến. Nó chỉ kết thúc trên những trang sử biên niên, với ngày tháng trơ lỳ. Nhưng trong văn chương đích thực, nó còn đó như những vết trầy trụa đớn đau chẳng bao giờ lành, cảnh báo để những thế hệ mai hậu biết trân quí hòa bình…”[30]. Thực tế khi mới ra đời đã có không ít nhà phê bình coi cuốn tiểu thuyết của Bảo Ninh là “điên loạn”, “rối bời”, “lố bịch hóa hiện thực”, “bôi nhọ quân đội” (chẳng hạn nhƣ bài viết của Đỗ Văn Khang trên tuần báo Văn nghệ số 43, ra ngày 26/10/1991), song nhìn chung tác phẩm này đƣợc đánh giá rất cao từ phía các nhà phê bình, nghiên cứu và cả ngƣời đọc. Đây cũng là xu hƣớng đánh giá chung của các nhà phê bình, nghiên cứu về tác phẩm ở hiện thời. 4 Trong bài viết “Thân phận tình yêu của Bảo Ninh” (in trong Thi pháp hiện đại), học giả Đỗ Đức Hiểu cho rằng: “Thân phận tình yêu hay Nỗi buồn chiến tranh là một hiện tượng ngôn từ lạ lùng mang tính đa thanh, tính đối thoại..., là một cuộc phiêu lưu muốn nhập vào văn học hiện đại thế giới” [20; tr.271]. Tuy vậy, nhận xét của nhà nghiên cứu ở đây mới dừng ở mức khái quát, chƣa đi sâu vào phân tích cụ thể, chi tiết các yếu tố ngôn từ của tác phẩm. Nhà phê bình Nguyễn Đăng Điệp trong bài “Kĩ thuật dòng ý thức qua Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh” (in trong sách Tự sự học - một số vấn đề lí luận và lịch sử) khi nghiên cứu về đặc sắc của cuốn tiểu thuyết này đó là kĩ thuật dòng ý thức đã khẳng định: “Ở Việt Nam, cũng từng có một số nhà miêu tả dòng ý thức nhân vật nhưng phải đến “Nỗi buồn chiến tranh” thì kĩ thuật dòng ý thức được vận dụng triệt để trở thành nguyên tắc nghệ thuật chi phối cách tổ chức của tác phẩm” [8; tr.121]. Quan tâm đến thi pháp nghệ thuật của tác phẩm, Phạm Xuân Thạch trong bài Nỗi buồn chiến tranh viết về chiến tranh thời hậu chiến - từ chủ nghĩa anh hùng đến nhu cầu đổi mới bút pháp khẳng định: “Riêng Bảo Ninh, anh đã đẩy những khuynh hướng nghệ thuật của những nhà văn đi trước đến một chiều kích mới. Anh quyết liệt từ bỏ hình thức tiểu thuyết hiện thực truyền thống (theo kiểu tiểu thuyết - ký sự như Đất trắng) để theo đuổi tiểu thuyết tâm lý” [39; tr.34]. Tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh, đúng nhƣ nhận xét của nhà văn Nguyễn Quang Thiều “Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh chinh phục được bạn đọc nhiều nước trên thế giới trước hết vì nó đã chạm vào mẫu số chung của nhân loại”. Trên thực tế, tiểu thuyết của Bảo Ninh đã đƣợc dịch, giới thiệu ở nhiều nƣớc trên thế giới và đƣợc chào đón nồng nhiệt. Tờ Independent, một trong những nhật báo có uy tín của nƣớc Anh đã nhận xét về tác phẩm của Bảo 5 Ninh: “Vượt ra ngoài sức tưởng tượng của người Mỹ, “Nỗi buồn chiến tranh” đi ra từ chiến tranh Việt Nam đã đứng ngang hàng với cuốn tiểu thuyết chiến tranh vĩ đại của thế kỷ, “Mặt trận phía Tây vẫn yên tĩnh” của Erich Maria Remarque (…). Một cuốn sách viết về sự mất mát của tuổi trẻ, cái đẹp, một câu chuyện tình đau đớn… một thành quả lao động tuyệt đẹp”. Bên cạnh đó, trên một số tạp chí về văn học trong và ngoài nƣớc, trên những trang mạng cũng xuất hiện hàng loạt bài viết về cuốn tiểu thuyết này. Nhìn chung, có thể thấy, đã có nhiều ý kiến bình luận khác nhau, thậm chí trái chiều về Nỗi buồn chiến tranh, song về cơ bản, hầu hết các nhà nghiên cứu đều khẳng định vị trí quan trọng của tác phẩm trong đời sống tiểu thuyết đƣơng đại. Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của Svetlana Alexievich. Xuất bản lần đầu tại Nga năm 1983, đến những năm cuối thập niên 80, cuốn sách đƣợc xuất bản tại Việt Nam qua bản dịch của nhà văn Nguyên Ngọc. Mới đây tác phẩm đƣợc Tao Đàn mua bản quyền và đƣợc nhà văn Nguyên Ngọc dịch mới hoàn toàn so với bản trƣớc đó. Ngay từ trƣớc khi cuốn sách đƣợc dịch sang tiếng Việt nó đã đƣợc chú ý ở Việt Nam. Trên tạp chí Sông Hương - số 20 (tháng 8 - 1986) có đăng bài: “Xet - la - na và tác phẩm Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ” do Vƣơng Kiều dịch theo bản tiếng Pháp đã ghi lại cuộc trả lời phỏng vấn của bà về một số vấn đề xoay quanh tác phẩm, đặc biệt là những ngƣời phụ nữ từng tham gia cuộc chiến: "Tôi đã tiếp xúc với những mẫu người phụ nữ thật hết sức khác nhau, có người thái độ của họ quả quyết trong chiến tranh, có người bị chiến tranh đè bẹp, có người giữ được bản chất thanh khiết, lại có người bị tước mất tinh thần mơ mộng, có người e dè khép kín, có người lại cởi mở. Đó 6 là những phụ nữ với sức mạnh tinh thần của họ, cộng với khả năng to lớn của tâm hồn nhân bản, họ đã tạo nên chủ đề cuốn sách của tôi” [22]. Lê Hồng Lân cũng đã đề cập một vài nét về tác phẩm trên tạp chí Văn nghệ quân đội: "Còn hàng trăm câu chuyện khủng khiếp khác về gương mặt bị bầm nát của những người phụ nữ trong cuộc chiến tranh. Hơn 20 triệu người Nga Xô Viết chết trong chiến tranh thế giới thứ hai có bao nhiêu gương mặt phụ nữ? Khó ai biết chính xác, nhưng đọc cuốn sách này ta biết hàng nghìn thân phận, hàng nghìn gương mặt người phụ nữ không còn nguyên dạng cả bên trong lẫn bên ngoài. Họ là ai? Là phụ nữ từ nông dân đến trí thức, từ nông thôn ra thành thị. Họ là binh nhất, binh nhì, du kích, y tá, cứu thương, bác sĩ phẫu thuật... Họ là cơ trưởng, trung sĩ lái máy đầu kéo, chiến sĩ súng máy, xạ thủ bắn tỉa, chiến xa hạng nặng… Họ là những cô gái trẻ chưa một lần yêu không may rơi vào tay bọn Đức. Thường các cô có một viên đạn để tự kết liễu nếu không may rơi vào tay giặc, nhưng cô không kịp trở tay. Sáng hôm sau đồng đội thấy cô bị cắt vú, moi mắt, cắt bộ phận sinh dục và đóng cọc xuyên qua người. Trên gương mặt dù thảng thốt và đau đớn vẫn không giấu được vẻ đẹp của tuổi 19” [23]. Trong bài viết “Một cuốn sách viết về chiến tranh, mà lại toàn về phụ nữ”, Trang Nguyen đã khẳng định “Quan trọng hơn, tác phẩm của bà đã kêu gọi loài người cùng đứng lên để chống lại một cuộc chiến có thể xảy ra trong tương lai, bởi không thể để những trang sử đen tối lặp lại với hàng triệu người bị tước quyền sống yên ổn. Tương lai, nhất định phải được kiến tạo trên nền tảng hòa bình”. Có thể nói, những nghiên cứu, phê bình về tiểu thuyết Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ mới chủ yếu đƣợc in trên các tạp chí, các trang báo mạng và trên các diễn đàn, chƣa phong phú về số lƣợng và chƣa sâu sắc về mức độ nghiên cứu. Nhìn chung, các bài viết mới mang tính chất giới thiệu 7 cuốn sách đến với độc giả Việt Nam, có một số bài nghiên cứu, nhận diện một cách khái quát tác phẩm và tác giả mà chƣa có công trình nào đi sâu nghiên cứu cụ thể các bình diện của tác phẩm hay tiếp cận tác phẩm ở một góc độ lý thuyết nào đó. Đồng thời cũng chƣa có công trình nào nghiên cứu tác phẩm trên tinh thần so sánh, đối chiếu với các tác phẩm có cùng chủ đề, đề tài. Dựa trên đặc điểm của hai cuốn tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh và Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ của Svetlana Alexievich, tác giả luận văn lựa chọn đề tài “Nhân vật nữ trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh và trong Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ của Svetlana Alexievich” với mục đích làm rõ điểm tƣơng đồng và khác biệt, những tƣơng tác văn hóa, văn học thông qua thế giới nhân vật nữ của hai tác phẩm. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu 3.1.1. Đối sánh hệ thống nhân vật ngƣời phụ nữ trong hai tác phẩm để nhận biết những tƣơng đồng, ảnh hƣởng, khác biệt đồng thời thấy đƣợc nỗ lực sáng tạo riêng của mỗi nhà văn. 3.1.2. Góp phần vào việc khẳng định sự thành công khi xây dựng hình tƣợng nhân vật nữ trong hai tác phẩm của hai nhà văn nổi tiếng. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu đề tài này còn góp phần vào việc khẳng định vị trí, tầm quan trọng của bộ môn Văn học so sánh trong bối cảnh nghiên cứu, giảng dạy văn học hiện nay. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 3.2.1. Tập hợp và trình bày những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài. 3.2.2. Nghiên cứu so sánh nhân vật nữ trong hai tác phẩm nói trên ở cả trên hai bình diện tƣ tƣởng và thi pháp nghệ thuật. 8 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Nhân vật nữ trong hai tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh và trong Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ của Svetlana Alexievich. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi khảo sát và phân tích của luận văn chủ yếu tập trung vào hai tác phẩm Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ của Svetlana Alexievich, Nhà xuất bản Hà Nội, 2017 và Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Nhà xuất bản Trẻ, 2012. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Trong quá trình thực hiện đề tài này, ngƣời viết sử dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể nhƣ phƣơng pháp so sánh, phƣơng pháp phân tích, tổng hợp, phƣơng pháp hệ thống, trong đó, so sánh đƣợc xem là phƣơng pháp chủ yếu. 6. Đóng góp của luận văn 6.1. Về mặt lí luận, luận văn nhằm góp phần làm rõ đặc trƣng của văn học so sánh với tƣ cách là một bộ môn nghiên cứu mối quan hệ giữa nền văn học dân tộc và văn học thế giới. 6.2. Trên cơ sở so sánh thế giới nhân vật trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh và trong Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ của Svetlana Alexievich, luận văn chỉ ra những nét tƣơng đồng cũng nhƣ điểm khác biệt về đặc điểm và cách xây dựng nhân vật nữ của hai tác giả. 7. Bố cục của luận văn Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn đƣợc cấu trúc thành 3 chƣơng: Chương 1: Sáng tác của Svetlana Alexievich, Bảo Ninh trong dòng chảy văn học về chiến tranh. 9 Chương 2: Nhân vật nữ trong Nỗi buồn chiến tranh và Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ - Nhìn từ những điểm tƣơng đồng. Chương 3: Những điểm khác biệt về nhân vật nữ trong Nỗi buồn chiến tranh và Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ. 10 NỘI DUNG Chƣơng 1. SÁNG TÁC CỦA SVETLANA ALEXIEVICH VÀ BẢO NINH TRONG DÒNG CHẢY VĂN HỌC VỀ CHIẾN TRANH 1.1. Về hành trình sáng tác của Svetlana Alexievich và Bảo Ninh 1.1.1. Hành trình sáng tác của Svetlana Alexievich 1.1.1.1. Tiểu sử Svetlana Alexievich sinh năm 1948 tại thị trấn phía tây Ukraina song Alexievich lớn lên ở Belarus. Svetlana Alexievich là một nhà báo điều tra và nhà văn chủ yếu viết thể loại văn xuôi hiện thực. Bà đã giành đƣợc nhiều giải thƣởng danh giá: giải thƣởng Leninsky Komsomol ở Liên Xô (1986), giải Book Circle ở Hoa Kì và đặc biệt là giải thƣởng Nobel Văn học năm 2015 “vì lối viết phức điệu, một tượng đài tưởng niệm sự thống khổ và lòng can đảm trong thời đại của chúng ta”. Bà là nhà văn đầu tiên của Belarus nhận giải thƣởng này [21]. 1.1.1.2. Sự nghiệp sáng tác Svetlana Alexievich bắt đầu viết từ khi còn học trung học. Sau khi tốt nghiệp ngành báo chí ở trƣờng Đại học Minsk - Belarus (từ 1967 - 1972) bà đã chọn làm việc cho một tờ báo địa phƣơng gần biên giới Ba Lan. Chọn thành phố vùng giáp biên để lập nghiệp ngay từ buổi đầu, nữ phóng viên trẻ đã thể hiện quan điểm chính trị của mình rất rõ ràng đó là không thỏa hiệp và không khoan nhƣợng. Trong nhiều năm làm báo, vào những năm 70 của thế kỉ XX, Alexievich đƣợc tiếp xúc với những ngƣời phụ nữ từng đi qua thế chiến thứ hai, đƣợc nghe những câu chuyện thấm đẫm nƣớc mắt về sự thảm khốc của chiến tranh. Những mẩu chuyện vụn vỡ ban đầu ấy gây cho bà những ấn tƣợng sâu sắc. Bà bắt đầu hành trình của mình, đã gửi hàng trăm bức thƣ, điện tín tới những 11 ngƣời đã từng là nữ chiến binh 20 năm trƣớc, mong có sự phản hồi. Alexievich đã dành ra bảy năm, đi qua hơn 100 thành phố, thị trấn và các khu dân cƣ làng mạc, chuyện trò với hàng nghìn phụ nữ Liên Xô - những ngƣời đã tham gia thế chiến thứ hai. Những câu chuyện của họ đƣợc Alexievich xâu chuỗi, sắp đặt lại và tác phẩm Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ đã ra đời vào năm 1983. Cuốn tiểu thuyết là lời tự bạch của những ngƣời phụ nữ từng đi qua chiến tranh thế giới thứ hai ở nhiều hoàn cảnh khác nhau. Qua đó, một bức tranh sống động nhƣng cũng đầy đau thƣơng, mở màn cho nhiều tác phẩm quan trọng khác sau này của bà đƣợc hé mở. Tác phẩm quan trọng khác là Quan tài kẽm, xuất bản năm 1989 viết về cuộc chiến của Liên Xô tại Afghanistan trong những năm 1979 - 1989 với những thân phận bị lãng quên. Vừa ra đời, tác phẩm gây nên nhiều tranh luận tại Liên Xô vì bị cho là “vu khống” và “tƣởng tƣợng”. Svetlana Alexievich đã phải trải qua nhiều năm để hoàn thành cuốn sách này, trên 500 lần gặp gỡ, phỏng vấn những cựu binh trở về từ cuộc chiến và những ngƣời mẹ của những binh sĩ đã bỏ mạng ở chiến trƣờng. Qua Quan tài kẽm, nhà báo Svetlana Alexievich đã phơi bày lịch sử bi thảm của cuộc chiến, câu chuyện này có điểm giống với cuộc chiến của Mỹ tại Việt Nam - theo lời miêu tả xúc động của Larry Heinemann trong lời giới thiệu cuốn sách. Trong những tác phẩm gây tiếng vang lớn, đƣợc thế giới tôn vinh phải kể đến Tiếng vọng từ Chernobyl xuất bản 1997. Tác phẩm đã phơi bày nỗi kinh hoàng của những ngƣời làm công việc dọn dẹp phóng xạ sau thảm họa hạt nhân Chernobyl ở Ukraine ngày 26/4/1986. Vụ việc này đƣợc coi là vụ tai nạn hạt nhân nghiêm trọng nhất trong lịch sử năng lƣợng hạt nhân thế giới. Vì không có tƣờng chắn nên đám mây bụi phóng xạ tung lên từ nhà máy lan rộng ra nhiều vùng phía tây Liên Xô, Đông và Tây Âu, Scandinavia, Anh quốc, và đông Hoa Kỳ. Ngoài ra nhiều vùng rộng lớn thuộc Ukraina, Belarus và Nga bị 12 ô nhiễm nghiêm trọng, dẫn tới việc phải sơ tán và tái định cƣ cho hơn 336.000 ngƣời. Khoảng 60-70 bụi phóng xạ đã rơi xuống Belarus - quê hƣơng của nhà văn Svetlana Alexievich. Cuốn sách này trở thành bài học cho mọi ngƣời trên thế giới về cách đối xử với những hậu quả của một thảm họa hạt nhân. Trong sự nghiệp làm báo, bà từng phỏng vấn hàng nghìn nhân chứng trải qua những sự kiện chấn động nhất Liên Xô gồm Thế chiến thứ hai, Chiến tranh Liên Xô - Afghanistan, sự sụp đổ của Liên Xô (1991) và thảm họa hạt nhân Chernobyl (1985). Hầu hết tác phẩm của Alexievich đã đƣợc xuất bản ở nhiều quốc gia, đƣợc ghi nhận nhƣ những biên niên sử bằng văn chƣơng về đất nƣớc, con ngƣời Xô-viết và hậu Xô-viết [23]. 1.1.2. Hành trình sáng tác của Bảo Ninh 1.1.2.1. Tiểu sử Nhà văn Bảo Ninh tên thật là Hoàng Ấu Phƣơng, sinh năm 1952 tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Ông quê gốc ở xã Bảo Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Ông vào bộ đội năm từ 1969, từng chiến đấu ở mặt trận B-3 Tây Nguyên, tại tiểu đoàn 5, trung đoàn 24, sƣ đoàn 10. Năm 1975, ông giải ngũ. Từ năm 1976-1981 học đại học ở Hà Nội, ra trƣờng làm việc ở Viện Khoa học Việt Nam. Từ năm 1984-1986 Bảo Ninh học khoá 2 Trƣờng viết văn Nguyễn Du sau đó có thời gian dài làm việc tại báo Văn nghệ Trẻ. 1.1.2.2. Sự nghiệp sáng tác Bảo Ninh đƣợc độc giả biết đến khi cho ra đời truyện ngắn Trại bảy chú lùn năm 1987. Năm 1991, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh (in lần đầu năm 1987 với tên gọi Thân phận của tình yêu) đƣợc tặng Giải thƣởng Hội Nhà văn Việt Nam và đƣợc đón chào nồng nhiệt. Tác phẩm kể về cuộc đời của ngƣời lính tên Kiên, đan xen hai dòng hồi ức giữa hiện tại và quá khứ về chiến tranh và mối tình với cô bạn học tên Phƣơng. Vừa mới ra đời tác phẩm đã gây một tiếng vang lớn đúng nhƣ nhà văn Nguyên Ngọc đã ca ngợi: 13 "Về mặt nghệ thuật, đó là thành tựu cao nhất của văn học đổi mới". Tuy nhiên, có lẽ vì tác phẩm đề cập đến những vấn đề quá nhạy cảm mà trong hơn 10 năm sau đó nó không đƣợc in lại. Mặc dù vậy, dƣới ánh sáng của công cuộc đổi mới văn học, tác phẩm này vẫn đƣợc yêu thích. Nỗi buồn chiến tranh đƣợc dịch sang tiếng Anh bởi Frank Palmos và Phan Thanh Hảo, xuất bản năm 1994 với nhan đề "The Sorrow of War", đƣợc ca tụng rộng rãi và đƣợc nhiều nhà nghiên cứu phê bình đánh giá là một trong những tiểu thuyết cảm động nhất về chiến tranh. Cuốn tiểu thuyết này đƣợc phổ biến rộng rãi ở phƣơng Tây và là một trong số ít cuốn sách viết về chiến tranh từ quan điểm phía Việt Nam đƣợc xuất bản ở đây. Thông qua tiểu thuyết này, điều mà ngƣời đọc khâm phục là Bảo Ninh đã trình bày quan điểm về chiến tranh và hậu chiến mà không hề lên án phía bên kia. Đến năm 2005, tiểu thuyết này đƣợc tái bản với nhan đề ban đầu là Thân phận của tình yêu và năm 2006 khi tái bản nó đƣợc trở về với nhan đề thành nổi tiếng: Nỗi buồn chiến tranh. Ngoài ra, Bảo Ninh còn viết một số truyện ngắn về đề tài chiến tranh, nhƣ truyện ngắn Bội phản trong tập Văn Mới do Nhà xuất bản Văn học xuất bản, đƣợc ông gửi gắm nhiều tình cảm và suy nghĩ vào trong các nhân vật. Bên cạnh đó là truyện “Khắc dấu mạn thuyền” hiện đã đƣợc dựng thành phim. 1.2. Nỗi buồn chiến tranh và Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ trong dòng chảy văn học về chiến tranh 1.2.1. Đề tài chiến tranh trong văn học Việt Nam và vị trí của Nỗi buồn chiến tranh 1.2.1.1. Đề tài chiến tranh trong văn học Việt Nam Thế kỷ XX, nƣớc ta bƣớc qua hai cuộc chiến tranh tàn khốc, di chứng để lại ngổn ngang trên mảnh đất quê hƣơng, trên cơ thể con ngƣời. Văn chƣơng 14 là sản phẩm của tinh thần, nó đồng hành cùng con ngƣời và cùng chung vấn nạn của đất nƣớc. Chính vì vậy, có thể xem chiến tranh cách mạng là đề tài chính của các tác phẩm văn học cách mạng. Trong lịch sử hàng nghìn năm chống ngoại xâm có thể nói, ba mƣơi năm gồng mình chiến đấu chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ là quãng thời gian toàn quân, toàn dân ta tiến hành một cuộc chiến tranh lâu dài và khốc liệt nhất. Chiến tranh là đảo lộn mọi gốc rễ của xã hội, làm thay đổi mọi giá trị của dân tộc và thay đổi tâm hồn của cả một thế hệ. Văn học Việt Nam có một truyền thống lâu đời là luôn đề cao ngƣời phụ nữ. Bản chất ngƣời phụ nữ dù thuộc dân tộc nào, thời đại nào cũng đều là những con ngƣời yêu hòa bình. Họ là những con ngƣời với sứ mệnh thiêng liêng và cao cả nhất, đó chính là “nguồn sống” nuôi dƣỡng con ngƣời của các thế hệ nối tiếp nhau. Cho dù là đất nƣớc nào, dân tộc nào, chiến tranh cũng đều đem đến cho ngƣời phụ nữ sự đau khổ, mất mát, hi sinh. Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 phát triển trong hoàn cảnh cả nƣớc chống chọi với bọn đến quốc xâm lăng. Nó trở thành vũ khí tƣ tƣởng chống xâm lƣợc. Nhân vật đƣợc xây dựng trở thành nhân vật lý tƣởng, họ là con ngƣời cộng đồng, con ngƣời tập thể với khát vọng đƣợc phục vụ cho Tổ quốc. Đó là những con ngƣời bình thƣờng nhƣng rất vĩ đại nhƣ anh Nhẫn trong Cỏ non, anh Trỗi trong Sống như anh, Nguyễn Gia Định trong Sống mãi với thủ đô (1961) hay những trinh sát ở Hạ Lào là Lƣơng và Khiêm trong Trước giờ nổ súng (1960), anh hùng Núp trong Đất nước đứng lên… Nhà văn muốn thông qua con ngƣời để thể hiện lịch sử, mọi vấn đề của con ngƣời đều liên quan đến lịch sử, đến quá trình đấu tranh cho dân tộc. Bên cạnh những ngƣời lính anh hùng, các nhân vật nữ cũng trở thành hình tƣợng anh hùng bất khuất. Đó là chị Út Tịch trong Người mẹ cầm súng (Nguyễn Thi), chị Tƣ Hậu trong Một chuyện chép ở bệnh viện, Kan Lịch
- Xem thêm -