Tài liệu Nhân tố chủ quan với việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc mường tỉnh phú thọ hiện nay

  • Số trang: 101 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 85 |
  • Lượt tải: 0
thuvientrithuc1102

Đã đăng 15893 tài liệu

Mô tả:

LUẬN VĂN: Nhân tố chủ quan với việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường tỉnh Phú Thọ hiện nay Mở đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài Đất nước ta có 54 thành phần dân tộc cùng cư trú. Mỗi dân tộc đều có bản sắc riêng của mình được kết tinh với hàng ngàn năm văn hiến. Cùng với dòng chảy của thời gian và những biến động của lịch sử, văn hóa của mỗi dân tộc cũng vận động, biến đổi theo những quy luật nhất định, vừa liên tục, vừa đứt đoạn, vừa độc lập, vừa kế thừa, vừa có sự đan xen những yếu tố mới và cũ để làm nên những nét độc đáo rất riêng của mỗi dân tộc và góp phần tạo nên âm hưởng văn hóa chung của cả cộng đồng người Việt. Ngày nay, xu thế toàn cầu hóa, quốc tế hóa mọi mặt của đời sống xã hội, đã tạo điều kiện cho các quốc gia, dân tộc trên thế giới cơ hội để phát triển kinh tế, nâng cao mức sống và thu nhập, có cơ hội giao lưu và tạo thêm nhiều giá trị văn hóa mới làm giàu thêm bản sắc văn hóa của dân tộc mình. Tuy nhiên, bên cạnh những thời cơ, vận hội của sự phát triển là nguy cơ phân hóa giàu nghèo và sự bất bình đẳng trong hưởng thụ văn hóa. Hơn nữa, các thế lực thù địch vẫn tiến hành âm mưu diễn biến hòa bình, đặc biệt là trên mặt trận văn hóa - tư tưởng, chống lại sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Do vậy, khẳng định hệ giá trị văn hóa dân tộc đang là vấn đề cấp thiết vừa có tính thời sự vừa lâu dài đối với đất nước ta. Đây là vấn đề không mới, rất nhiều văn kiện của Đảng, chính sách của Nhà nước đã đề ra chủ trương, giải pháp cụ thể việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc đặc biệt là vùng văn hóa các dân tộc thiểu số. Tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương năm, (khóa VIII) Đảng chủ trương: Phải tiếp tục cụ thể bằng hệ thống các chính sách mạnh, tạo điều kiện cần thiết để văn hóa các dân tộc thiểu số phát triển trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Trong cộng đồng đa dân tộc, dân tộc Mường chiếm tỷ lệ dân số đông thứ 4 sau các dân tộc Kinh, Tày, Thái, họ cư trú trên vùng địa bàn đồi núi thấp thuộc các tỉnh Hòa Bình, Thanh Hóa, Hà Tây... Đặc biệt với kiểu địa bàn trung du và miền núi như tỉnh Phú Thọ, sự phong phú về cảnh quan, môi trường đã tác động rất lớn đến đời sống văn hóa người Mường ở đây, làm nên một đời sống văn hóa dân gian khá phong phú như lễ hội, trang phục, thơ, ca, tín ngưỡng... đậm tính triết lý nhân sinh. Trước sự tác động và biến đổi của thế giới, có không ít những giá trị văn hóa truyền thống của người Mường chỉ còn tồn tại trong ký ức của những người già. Trong rất nhiều nguyên nhân dẫn tới sự mai một, biến thái, đứt gãy những giá trị văn hóa của các dân tộc thiểu số nói chung, dân tộc Mường nói riêng có nguyên nhân ở sự nhận thức lệch lạc, quản lý yéu kém của một bộ phận cán bộ đảng viên; có nguyên nhân nằm trong chính bản thân những con người, những tầng lớp kế thừa văn hóa của dân tộc ấy... Cho nên, việc bồi dưỡng, nâng cao nhận thức và vai trò lãnh, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân; giáo dục ý thức, tinh thần chủ động giữ gìn, phát huy tinh hoa văn hóa của mỗi tộc người là hết sức cần thiết. Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài: "Nhân tố chủ quan với việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường tỉnh Phú Thọ hiện nay" làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Triết học. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Nghiên cứu về văn hóa và văn hóa dân tộc thiểu số ở nước ta không phải là vấn đề mới, từ trước đến nay có khá nhiều công trình nghiên cứu với tầm cỡ, quy mô và khía cạnh khác nhau. - Các công trình, bài viết dưới góc độ triết học như: Vũ Thị Kim Dung, Cách tiếp cận vấn đề văn hóa theo quan điểm triết học Mác, Tạp chí Triết học, số 1/1998; Vũ Đức Khiển, Văn hóa với tư cách một khái niệm triết học và vấn đề xác định bản sắc văn hóa dân tộc, Tạp chí Triết học, số 6/2000; Nguyễn Huy Hoàng, Văn hóa trong nhận thức duy vật lịch sử của Các Mác, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2000 và Mấy vấn đề triết học văn hóa, Nxb Văn hóa Thông tin, Viện Văn hóa, Hà Nội, 2002. - Các công trình, bài viết về mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển như: Trần Ngọc Hiên, "Văn hóa và phát triển - từ góc nhìn Việt Nam", Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993; Phạm Văn Đồng, "Văn hóa và đổi mới", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994; Phạm Xuân Nam, " Văn hóa vì sự phát triển", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998 - Các công trình bài viết về vai trò của văn hóa trong nền kinh tế thị trường như: Hồ Sĩ Vịnh, "Văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999; Đặng Hữu Toàn, "Vai trò của văn hóa trong sự phát triển lâu bền theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa", Tạp chí Triết học, số 2/1999. - Các công trình nghiên cứu về bản sắc văn hóa dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số Việt Nam như: Đỗ Huy - Trường Lưu, "Bản sắc dân tộc của văn hóa", Viện Văn hóa, 1990; Huy Cận, "Suy nghĩ về bản sắc văn hóa dân tộc", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994; Nguyễn Từ Chi, "Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người", Nxb Văn hóa Dân tộc, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Hà Nội, 2003; Trần Văn Bính (chủ biên), "Văn hóa các dân tộc Tây Bắc - thực trạng và những vấn đề đặt ra", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004; Phan Hữu Dật, "Góp phần nghiên cứu dân tộc học Việt Nam", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004. Những bài viết và công trình nghiên cứu về văn hóa Mường ở Phú Thọ có liên quan trực tiếp đến luận văn như: Nguyễn Dương Bình, “Một vài nét về tình hình xã hội vùng Mường tỉnh Vĩnh Phú trước cách mạng tháng 8”, Dân tộc học, số 4/ 1974; Lê Tượng, “Những yếu tố văn hóa cổ Việt Mường trên đất Vĩnh Phú”, Dân tộc học, số 3/ 1975; Nguyễn Ngọc Thanh, Gia đình và hôn nhân của người Mường ở Tỉnh Phú Thọ, Luận án tiến sỹ khoa học lịch sử, Viện dân tộc học, Hà Nội, 1999; Hà Văn Linh, Tổ chức xã hội cổ truyền và những biến đổi của nó ở người Mường Thanh Sơn - Phú Thọ, Luận án tiến sỹ khoa học lịch sử, Viện dân tộc học, Hà Nội, 2005. Ngoài ra, trong các văn kiện của Đảng cũng nêu rõ vị trí, vai trò và nhiệm vụ của văn hóa trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa hiện nay. Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu vấn đề: "Nhân tố chủ quan với việc giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc Mường tỉnh Phú Thọ hiện nay". 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn * Mục đích: Trên cơ sở làm rõ tính đặc thù của giá trị văn hóa dân tộc Mường, những yêu cầu cấp thiết của việc giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa các dân tộc ít người nói chung và dân tộc Mường nói riêng, luận văn đưa ra những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao vai trò của nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Mường tỉnh Phú Thọ hiện nay. * Nhiệm vụ: Để đạt mục đích đã nêu trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau: - Làm rõ quan điểm mác xít về chủ quan; nhân tố chủ quan; văn hóa; bản sắc văn hóa; bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số. - Chỉ ra vai trò của nhân tố chủ quan với việc giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. - Trình bày những điều kiện nảy sinh và tồn tại của văn hóa Mường; chỉ rõ nét đặc thù của giá trị văn hóa dân tộc Mường tỉnh Phú Thọ. - Tìm hiểu thực trạng và những yêu cầu cấp bách của việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. - Nêu một số phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm nâng cao vai trò nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường ở Phú Thọ hiện nay. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Văn hóa là một lĩnh vực hết sức rộng lớn, bao hàm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần; Phú Thọ là tỉnh có hơn 20 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đa dạng các sắc thái văn hóa ấy, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu, làm rõ vai trò của nhân tố chủ quan với việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Mường tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu * Cơ sở lý luận: Luận văn chủ yếu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam; các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước đã công bố, có nội dung liên quan tới vấn đề mà luận văn đề cập. * Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử để phân tích, lý giải, làm rõ các vấn đề; đồng thời kết hợp nhuần nhuyễn các phương pháp: Lịch sử và lôgíc; phân tích và tổng hợp; quy nạp và diễn dịch... nhằm đạt tới mục đích mà luận văn đã đề ra. 6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn Luận văn góp phần điều tra, nghiên cứu những nét đặc thù của văn hóa dân tộc Mường ở Phú Thọ, từ đó đề xuất một số phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao vai trò của nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường ở Phú Thọ hiện nay. 7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn Luận văn có thể được sử dụng phục vụ cho công tác văn hóa tư tưởng của tỉnh Phú Thọ và làm tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy chuyên ngành: Triết học, Văn hóa... ở các trường chính trị tỉnh hoặc các trường đại học, cao đẳng. 8. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương, 7 tiết. Chương1 Nhân tố chủ quan với việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc 1.1. Nhân tố chủ quan, điều kiện khách quan và bản sắc văn hóa dân tộc 1.1.1. Khái niệm: “nhân tố chủ quan”, “điều kiện khách quan” “Nhân tố chủ quan” và “điều kiện khách quan” là những khái niệm được hỡnh thành và phỏt triển trong quỏ trỡnh nghiờn cứu hoạt động thực tiễn của con người. Đây là những khái niệm chủ yếu khái quát mối quan hệ giữa hoạt động nhận thức và hoạt động cải tạo giới tự nhiên của con người. Trong quá trỡnh hoạt động, tác động và cải tạo giới tự nhiên; con người vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể cải tạo hoàn cảnh. Do vậy, việc xác định cái gỡ là ĐKKQ, cái gỡ là NTCQ chỉ mang tớnh chất tương đối, và nhất thiết phải tỡm hiểu cỏc khỏi niệm liờn quan tới hoạt động của con người, như khái niệm “chủ thể”, “khách thể”, “chủ quan”, “khách quan”. * Về khái niệm: “chủ thể”, “khách thể”: Trong quỏ trỡnh nghiờn cứu, cỏc nhà khoa học đó đưa rất nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về hai phạm trù này: Có quan điểm cho rằng: “Chủ thể là con người (cá nhân hoặc nhóm) tiến hành hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn” [61, tr.92]. Hoặc: “Chủ thể là con người có ý thức, ý chớ, và đối lập với khách thể bên ngoài” [62, tr.192]. Con người với tư cách là chủ thể, là con người thực tiễn, con người hành động, với đặc trưng cơ bản là năng lực hoạt động sáng tạo nhằm cải tạo khách thể (tự nhiên, xó hội) và chỉ trong quỏ trỡnh nhận thức, cải tạo giới tự nhiờn và cải tạo đời sống xó hội thỡ con người mới bộc lộ mỡnh với tư cách là chủ thể của lịch sử. Khi nói tới khái niệm “chủ thể”, V.I.Lênin viết: “Khái niệm ấy (= con người) là khuynh hướng tự mỡnh thực hiện mỡnh, tự cho mỡnh, qua bản thõn mỡnh, một tớnh khỏch quan trong thế giới khỏch quan và tự hoàn thiện (tự thực hiện) mỡnh” [28, tr.288]. Từ các quan niệm đó nờu ở trờn, cú thể hiểu: Chủ thể - đó là con người với những cấp độ khác nhau (cá nhân, nhóm, giai cấp) đó và đang thực hiện một quá trỡnh hoạt động nhằm cải tạo khách thể tương ứng. Với cách hiểu khái niệm “chủ thể” như vậy thỡ chỉ cú thể quan niệm: Khách thể là tất cả những gỡ mà chủ thể hướng vào nhằm nhận thức và cải tạo nó. Như vậy, không phải tất cả hiện thực khách quan đều là khách thể mà chỉ có những hiện thực khách quan mà con người hướng tới nhận thức và cải tạo mới trở thành khách thể; tùy mức độ xác định chủ thể nhận thức, cải tạo thế giới khách quan là ai mới có thể xác định được khách thể tương ứng. Khách thể có thể là những hiện tượng, quá trỡnh thuộc giới tự nhiờn, cũng cú thể là những gỡ do con người tạo ra nhờ hoạt động lao động sản xuất vật chất, là những yếu tố xó hội, những quan hệ kinh tế, quan hệ chớnh trị - xó hội v.v… Khách thể và chủ thể có mối quan hệ mật thiết với nhau, quy định lẫn nhau, mặt này là tiền đề tương tác của mặt kia, và con người chỉ trở thành chủ thể khi hoạt động tác động vào thế giới khỏch quan, biến thế giới khỏch quan ấy thành khỏch thể của quỏ trỡnh hoạt động thực tiễn của mỡnh. Chủ thể nhận thức và cải tạo một cỏch chủ động sáng tạo khách thể theo mục đích của mỡnh; nhưng chính khách thể bị tác động lại quy định chủ thể. Bởi lẽ, khách thể tồn tại độc lập với chủ thể và luôn vận động theo những quy luật vốn có của nó, chỉ khi nào chủ thể nhận thức, hành động phù hợp với quy luật vận động của khách thể, khi đó hoạt động của chủ thể mới đem lại hiệu quả tích cực. * Về khái niệm: “cái chủ quan”, “cái khách quan”: Đây là hai khái niệm nói lên những thuộc tính chung của chủ thể và khách thể được bộc lộ trong quá trỡnh hoạt động thực tiễn của con người. Những thuộc tính, tính chất, yếu tố tồn tại ngoài chủ thể, phụ thuộc vào chủ thể là cái chủ quan; những tính chất, yếu tố tồn tại ngoài chủ thể, không phụ thuộc vào chủ thể là cái khách quan; nhưng giữa cái khách quan và cái chủ quan luôn tồn tại mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại và chuyển hóa lẫn nhau. Vỡ vậy, khi núi về khỏi niệm “cỏi chủ quan” cú học giả cho rằng: “Chủ quan là ý thức của chủ thể” [43, tr.92]. Hoặc: “Chủ quan là những gỡ thuộc về chỉ đạo hoạt động của chủ thể” [43, tr.192]. Chúng tôi đồng ý kiến với quan điểm thứ 2. Tuy nhiên, khi xem xét toàn bộ hoạt động của con người và những sản phẩm của hoạt động đó thỡ thấy rằng: chỳng bao giờ cũng chứa đựng những dấu ấn của cái chủ quan; nhưng không thể coi tất cả những cái mang dấu ấn chủ quan (nhất là những dấu ấn thuộc những sản phẩm nằm ngoài chủ thể) là thuộc về cái chủ quan. Hơn nữa, cái chủ quan cũng không đơn thuần chỉ là ý thức như một số học giả quan niệm, mà cái chủ quan cũn bao gồm cả yếu tố thể lực, yếu tố tinh thần như: tri thức, tỡnh cảm, ý chớ v.v…của con người, và chính cả bản thân hoạt động của họ. Như vậy, có thể nói: cỏi chủ quan là tất cả những gỡ thuộc về chủ thể và phụ thuộc vào chủ thể. Trong những hoạt động cụ thể, khi chủ thể tác động lên khách thể và biến đổi nó theo mục đích của mỡnh, khụng phải lỳc nào chủ thể hoạt động cũng dùng tất cả những năng lực, phẩm chất, yếu tố vốn có của mỡnh, mà cú thể chỉ huy động một phần, một bộ phận các yếu tố tạo thành cái chủ quan trong quá trỡnh tương tác với khách thể, cái đó gọi là nhân tố chủ quan. Nói cách khác, nhõn tố chủ quan là những gỡ thuộc về chủ thể, tham gia trực tiếp vào quỏ trỡnh hoạt động của chủ thể, cũng như bản thân hoạt động đó. Do vậy, sẽ là sai lầm nếu đồng nhất nhân tố chủ quan với tất cả các yếu tố tạo thành cái chủ quan, hoặc đồng nhất nhân tố chủ quan với ý thức của chủ thể. Vỡ “yếu tố” là khái niệm chỉ các bộ phận cấu thành sự vật hiện tượng, cũn “nhõn tố” là khỏi niệm chỉ cỏi trực tiếp tham gia vào hoạt động của chủ thể; NTCQ chỉ là một bộ phận của cái chủ quan được chủ thể huy động sử dụng trực tiếp trong quá trỡnh tỏc động lên khách thể cụ thể. Cho nên, nếu đồng nhất nhân tố chủ quan với cái chủ quan, hoặc với ý thức của chủ thể sẽ là khụng đầy đủ và không làm rừ được đặc trưng của nhân tố chủ quan như là những gỡ thuộc về hoạt động của chủ thể, NTCQ không phải là ý thức núi chung của chủ thể, mà là ý thức trực tiếp chỉ đạo hoạt động của chủ thể. Ngoài các yếu tố của chủ thể như năng lực thể chất, ý thức chỉ đạo và định hướng hoạt động thực tiễn, thỡ NTCQ cũn bao hàm cả bản thõn hoạt động đó nữa, nếu thiếu hoạt động của con người thỡ khụng thể thay đổi hiện thực và không thể trở thành NTCQ. Đề cập đến vấn đề này, C.Mác viết: “Tư tưởng căn bản không thể thực hiện được gỡ hết. Muốn thực hiện được tư tưởng cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn” [35, tr.12]. Khái niệm NTCQ cũng không đồng nhất với khái niệm nhân tố con người. Nhân tố con người là tất cả những gỡ thuộc về con người (mọi mặt của con người) trong hoạt động cải tạo thế giới (tự nhiên, xó hội và cả bản thõn con người). NTCQ có phạm vi xem xét hẹp hơn nhân tố con người, vỡ nú chỉ thể hiện vai trũ của chủ thể trong một hoạt động xác định. Cỏc nguyờn lý triết học mỏc xớt chỉ rừ con người vừa là sản phẩm của hoàn cảnh nhưng đồng thời cũng là chủ thể của hoàn cảnh. Do đó, khi đặt trong mối quan hệ chung nhất, đối diện với tự nhiên chúng ta có khái niệm con người. Khi đặt con người trong trạng thái tích cực hoạt động trước một đối tượng cần nhận thức và cải tạo theo mục đích nhất định, lúc đó có khái niệm chủ thể và đối lập với nó là khái niệm khách thể. Về phạm trù cái khách quan, cũng có rất nhiều cách hiểu và quan điểm khác nhau, có ý kiến quy phạm trự khỏch quan về phạm trự vật chất, cú ý kiến cho rằng cỏi khỏch quan bao hàm cả hiện tượng ý thức…Trờn thực tế, muốn khẳng định cái gỡ là khỏch quan phải đặt nó trong mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể. Không thể đồng nhất cái khách quan với hiện thực khách quan hay thế giới vật chất, vỡ chỉ cú những hiện tượng ý thức tồn tại bờn ngoài ý thức và ý chớ của chủ thể, bị chủ thể tỏc động biến đổi, thỡ ý thức ấy đóng vai trũ là khỏch thể. Như vậy, cỏi khỏch quan là tất cả những gỡ tồn tại ngoài chủ thể và khụng phụ thuộc vào ý thức, ý chớ của chủ thể. Cái khách quan bao gồm cả những yếu tố vật chất và yếu tố tinh thần. Nhưng trong hoạt động thực tiễn của chủ thể không phải toàn bộ cái khách quan đều đóng vai trũ là khỏch thể, mà chỉ cú một bộ phận của cỏi khỏch quan tham gia vào hoạt động của chủ thể, trở thành khách thể chịu tác động của chủ thể trong một thời điểm, hoàn cảnh nhất định. Một bộ phận ấy (có thể là những yếu tố vật chất như: môi trường tự nhiên, là quan hệ chính trị- xó hội, hoặc là yếu tố tinh thần như: ý thức xó hội lạc hậu cần cải tạo…). Đó chính là điều kiện khách quan. Khi nói tới khái niệm ĐKKQ, các học giả cũng đưa ra rất nhiều cách tiếp cận khác nhau như: “Là những gỡ tạo nờn một hoàn cảnh hiện thực…”, “Là một phần của cỏi khỏch quan…”, nhưng tất cả những quan điểm đó đều thống nhất cơ bản ở một điểm, đó là: “tồn tại không phụ thuộc vào ý thức, ý chớ của chủ thể và chi phối hoạt động của chủ thể” [56, tr.12]. Có thể nói: ĐKKQ là tổng thể những mặt, những nhân tố tạo nên hoàn cảnh hiện thực.Trong đó chủ thể sống và thực hiện mọi hoạt động ở những thời điểm nhất định. ĐKKQ luôn mang tính cụ thể, bao gồm: những yếu tố vật chất, tinh thần, những quy luật khách quan, những khả năng khách quan (khả năng tiềm ẩn có thể xảy ra trong tương lai). Những yếu tố ấy sẽ là những điều kiện cụ thể tạo nên hoàn cảnh, môi trường, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của chủ thể tại một thời điểm lịch sử nhất định, nó quyết định hoạt động của chủ thể, vỡ những hoạt động của chủ thể chỉ được thực hiện trong những điều kiện nhất định. Việc lựa chọn nắm bắt hoàn cảnh như thế nào sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công hay thất bại trong hoạt động thực tiễn của chủ thể. * Mối quan hệ giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan: Thứ nhất, ĐKKQ quy định vai trũ của NTCQ. Phương pháp luận mác xít luôn khẳng định: ĐKKQ đóng vai trũ quan trọng và quy định NTCQ. Tính quy định của ĐKKQ đối với NTCQ được thể hiện ở chỗ: trong hoạt động thực tiễn, những dự định mà con người đặt ra phải dựa trên cơ sở hiện thực khách quan, nếu chỉ căn cứ vào ý muốn chủ quan, thoỏt ly cơ sở hiện thực thỡ hoạt động của con người sẽ không thể thành công. “Thật ra mục đích của con người là do thế giới khách quan sản sinh ra và lấy thế giới khách quan làm tiền đề” [28, tr.201]. ĐKKQ quy định hoạt động thực tiễn của chủ thể, nó là yếu tố chi phối, quy định phương pháp, cách thức, phương tiện tác động của chủ thể, mọi hoạt động của chủ thể phải phù hợp với thực tiễn khách quan. ĐKKQ quy định sự phát triển của nhân tố khách quan, những phẩm chất, yếu tố của chủ thể phải tương ứng với ĐKKQ mà trong đó chủ thể hoạt động, khi ĐKKQ thay đổi thỡ NTCQ cũng phải thay đổi cho phù hợp với ĐKKQ mới. Thứ hai, NTCQ cú vai trũ tỏc động tích cực đến sự biến đổi của ĐKKQ. NTCQ là những gỡ thuộc về chủ thể, cho nờn NTCQ tuy bị ĐKKQ quy định nhưng nó không thụ động hoàn toàn mà có tính tích cực sáng tạo, tính độc lập tương đối so với ĐKKQ. Vai trũ tớch cực sỏng tạo của NTCQ thể hiện ở chỗ: Trong hoạt động thực tiễn, chủ thể vận dụng sáng tạo cái chủ quan của mỡnh để tỡm hiểu, nhận thức quy luật vận động của cái khách quan, khi cả hai tương thích sẽ tạo nên sự chuyển hóa khả năng thành hiện thực. Với tư cách là chủ thể hoạt động, con người luôn chủ động lựa chọn những khả năng tốt nhất, vừa đáp ứng được nhu cầu, lợi ích của mỡnh vừa khụng đi ngược lại tiến trỡnh phỏt triển của lịch sử. Cỏc quy luật khỏch quan vận động đan xen nhau, nhưng chủ thể hoạt động có khả năng dựa trên cơ sở những nhận thức đúng, phù hợp của mỡnh để điều chỉnh hỡnh thức, trật tự tỏc động của quy luật khách quan, có thể tạo ra những yếu tố làm xuất hiện những quy luật khách quan mới. Trong quỏ trỡnh tỏc động trở lại quy luật khách quan, NTCQ cũng đồng thời tự nâng cao khả năng nhận thức của mỡnh trong quỏ trỡnh biến đổi thế giới khách quan. Tuy nhiên, NTCQ có vai trũ to lớn đến đâu, sức sáng tạo đến thế nào thỡ trong việc xem xột, giải quyết cỏc vấn đề vẫn phải xuất phát từ thực tế khách quan và phải tuân thủ các nguyên tắc khách quan. Hơn nữa, bản thân chủ thể hoạt động cũng là sản phẩm của thế giới khách quan, có nguồn gốc từ thế giới khách quan, toàn bộ cuộc sống, sinh hoạt, lao động, và phát triển của chủ thể đều phản ánh những điều kiện, quy luật của thế giới khỏch quan - Mọi sự cố gắng của chủ thể trong quỏ trỡnh phản ỏnh, nhận thức và cải tạo thế giới cũng là để đáp ứng một cách tốt nhất những mục đích và nhu cầu sống của chính mỡnh (cả vật chất lẫn tinh thần). Nói tóm lại, trong mối quan hệ biện chứng giữa NTCQ và ĐKKQ thỡ ĐKKQ là tính thứ nhất, quy định NTCQ cả về nội dung, phương hướng và tổ chức hoạt động thực tiễn. Nhưng NTCQ không bị động trước hoàn cảnh khách quan mà luôn lấy ĐKKQ là điểm xuất phát, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan. Phát hiện, nắm bắt những khả năng khách quan, tạo ra những tiền đề biến khả năng khách quan thành hiện thực, làm chủ cái khách quan, biến tính tất yếu khách quan thành nội dung hoạt động tự do sáng tạo của mỡnh. Tớnh biện chứng trong mối quan hệ giữa NTCQ và ĐKKQ cũn thể hiện ở chỗ: để đảm bảo tính hiệu quả trong hoạt động thực tiễn thỡ bắt buộc NTCQ phải vận động, phát triển, tự hoàn thiện những phẩm chất, nâng cao nhận thức, khả năng vận dụng, tổ chức hoạt động thực tiễn của mỡnh cho phự hợp với những quy luật vốn cú của thế giới khỏch quan. Bất cứ một sự tựy tiện, chủ quan, duy ý chớ nào cũng sẽ dẫn tới những hành động vi phạm quy luật khách quan, kỡm hóm sự phỏt triển của tự nhiờn, xó hội, con người và của chính bản thân chủ thể đang tham gia hoạt động ấy. Lịch sử xó hội loài người là lịch sử của chính con người. Hành động làm nên lịch sử đầu tiên của con người, đó là những hoạt động lao động cải tạo tự nhiên để đáp ứng và thỏa món những nhu cầu tồn tại của mỡnh. Từ hoạt động lao động cải tạo thế giới tự nhiên đó, mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với xó hội loài người được thiết lập, các quan hệ xó hội của loài người được hỡnh thành (tự nhiờn và khỏch quan). Cựng với tự nhiờn, giống như tự nhiên, xó hội loài người cũng không ngừng vận động và phát triển theo những quy luật nhất định. Trong quá trỡnh đó, cái khách quan và cái chủ quan, những ĐKKQ và NTCQ bao giờ cũng tồn tại trong mối quan hệ thống nhất, biện chứng; trong đó ĐKKQ bao giờ cũng có vai trũ quy định đối với NTCQ. Thực tiễn lịch sử cho thấy, trong quỏ trỡnh hoạt động lao động của con người, chỉ khi nào những quan hệ vật chất cần thiết đó phỏt triển chớn muồi, hoặc ớt ra cũng đang trong quá trỡnh hỡnh thành, thỡ khi đó NTCQ mới có cơ sở khách quan để biến những khả năng thành hiện thực, công cuộc cải biến xó hội mới thành cụng. Khi phõn tớch tỡnh thế cỏch mạng ở Nga năm 1917, so sánh tỡnh hỡnh cỏch mạng ở Nga khi đó với những tỡnh thế cỏch mạng trước đó cả ở Nga, ở Đức, và tất cả các thời kỳ cách mạng Phương Tây trước đó. V.I.Lênin đó khẳng định: Cũng là những ĐKKQ giống như thế, cũng là sự khủng hoảng chính trị của tầng lớp trên cùng, quần chúng nhân dân bị áp bức nặng nề, cũng là ý thức muốn vựng lờn làm một cuộc cải biến xó hội… Nhưng các cuộc cách mạng trước đó khụng thể nổ ra là vỡ thiếu đi sự chín muồi của NTCQ, của giai cấp cách mạng, tức là thiếu đi khả năng phát động, tổ chức, tập hợp quần chúng nhân dân tạo sức mạnh tổng hợp của các giai cấp bị trị trong cuộc đấu tranh cách mạng ấy [27, tr. 268]. Như vậy, theo V.I.Lờnin, nếu khụng xuất hiện cỏc tỡnh thế cỏch mạng (ĐKKQ), hoặc nếu không có sự biến đổi chủ quan của giai cấp cách mạng thỡ tỡnh thế cỏch mạng (ĐKKQ) chỉ là khả năng khách quan, mà không thể là hiện thực. Trên thực tế, không phải lúc nào các ĐKKQ cũng tự phỏt (tự nú) hỡnh thành, mà cú lỳc cỏc ĐKKQ cũng phải được xúc tiến, nảy sinh thông qua các hoạt động tích cực của con người. Sự năng động chủ quan của con người phải được đo bằng hiệu quả vật chất chứ không chỉ là trong lý luận hay tư duy. Một vấn đề thực tiễn quan trọng trong nghiên cứu mối quan hệ giữa NTCQ và ĐKKQ là ở chỗ: phát huy vai trũ NTCQ khụng thể tỏch rời những ĐKKQ đang có, không thể hoạt động một cách tùy tiện trước quy luật của TN, của XH. Đó phải là sự biến đổi không ngừng của bản thân chủ thể (từ năng lực, phẩm chất, đạo đức…đến khả năng thiết kế, tổ chức hoạt động thực tiễn…). Khi đó mới thúc đẩy được kinh tế – xó hội phỏt triển, mới cải tạo thế giới khỏch quan thành cụng, mới ngày một nõng cao hơn chất lượng cuộc sống cho con người cả về vật chất lẫn tinh thần, con người (chủ thể hành động) ngày càng hoàn thiện bản thân mỡnh, trang bị cho mỡnh đầy đủ các điều kiện để vươn tới cuộc sống đậm chất người hơn. 1.1.2. Văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc Văn hóa - Cho đến nay, không phải tất cả mọi người đó đồng ý với nhau về định nghĩa. Từ cổ chí kim, trong lịch sử loài người, xuất phát từ cách tiếp cận và nhận thức khác nhau mà hỡnh thành cỏc định nghĩa về văn hóa. Năm 1952, các nhà dân tộc học người Mỹ đó thống kờ được hơn 300 định nghĩa mà các tác giả thuộc nhiều nước khác nhau đó phỏt biểu về văn hóa, các định nghĩa ấy đó khai thỏc vấn đề văn hóa dưới từng góc độ, từng mặt khác nhau, nhưng ở khía cạnh nào đó cũng có sự thống nhất hoặc bổ sung cho nhau trong sự nhận thức về văn hóa. C.Mác và Ph.Ăngghen đó nhỡn nhận văn hóa như là một sản phẩm của lịch sử, là sản phẩm của quá trỡnh lao động cải tạo tự nhiên của các thế hệ người. Do vậy, trỡnh độ phát triển của văn hóa phụ thuộc vào trỡnh độ nhận thức và sức sáng tạo của con người trong quỏ trỡnh hoạt động thực tiễn của họ. Nếu tách văn hóa ra khỏi đời sống của con người và xó hội loài người thỡ văn hóa chẳng cũn ý nghĩa gỡ cả. C.Mỏc cho rằng: “con người sản xuất” là một “thực thể song trùng” thống nhất giữa “cái tự nhiên và cái xó hội”. Trong đó, yếu tố tự nhiên được cấu tạo như một sinh vật và nó vận động theo quy luật sinh học [35, tr.9]. Nhưng điểm khác biệt giữa con người với động vật là ở chỗ con người mang bản chất xó hội. Bản chất của con người thể hiện ra trong mối quan hệ giữa mỗi người với người khác, giữa mỗi người với cộng đồng xó hội và thể hiện trong kết cấu xó hội hiện thực, ở một khụng gian, thời gian xỏc định. Trong luận cương về Phơbách, C.Mác viết: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hũa những quan hệ xó hội” [36, tr.11]. Con người được sinh ra và sống trong giới tự nhiên. Nhưng con người không bị hũa tan hay lệ thuộc vào giới tự nhiờn mà ngày càng tỏch mỡnh ra khỏi giới tự nhiờn và rồi quay lại giới tự nhiờn, cải tạo nú, làm cho nú trở thành giới tự nhiờn thứ hai, giới tự nhiờn của chớnh mỡnh, đồng thời qua đó cải biến chính bản thân mỡnh - Đó chính là văn hóa. C.Mác viết: Cố nhiên, con vật cũng sản xuất…Nhưng súc vật sản xuất cái mà bản thân nó hoặc con nó trực tiếp cần đến; nó sản xuất một cách phiến diện, trong khi con người sản xuất một cách toàn diện; con vật chỉ sản xuất vỡ bị chi phối bởi nhu cầu thể xỏc trực tiếp, cũn con người sản xuất ngay cả khi không bị nhu cầu thể xác ràng buộc, và chỉ khi không bị nhu cầu đó ràng buộc thỡ con người mới sản xuất theo ý nghĩa chân chính của từ đó; Con vật chỉ tái sản xuất ra bản thân nó, cũn con người thỡ tỏi sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiờn [37, tr.137]. Con người là một thực thể có ý thức, sống, hoạt động trên cơ sở hiểu rừ bản thõn, hiểu rừ đối tượng định tác động, từ đó tự chịu trách nhiệm về mục tiêu, thái độ, hành vi, phương hướng tác động đến đối tượng. Sự tự ý thức của con người được thể hiện rừ nột trong đời sống tinh thần, trong sáng tạo nghệ thuật, họ sản xuất và xây dựng “theo các quy luật cái đẹp” [38, tr.137], điều đó thể hiện rừ đầu óc chiến lược, năng lực phân tích, tổng kết, dự báo, gắn với tầm nhỡn và nhón quan văn hóa của chủ thể hành động. Trong thế giới tự nhiên chỉ có duy nhất con người sống và hoạt động với tư cách là chủ thể của bản thõn mỡnh, làm chủ giới tự nhiờn, hũa vào giới tự nhiờn nguyờn sơ, để tạo nên một “thiên nhiên thứ hai” nhằm thỏa món những nhu cầu, ham muốn chinh phục tự nhiờn, xó hội …của bản thõn con người - Đó là văn hóa. C.Mác cho rằng, xét đến cùng, văn hóa có nguồn gốc từ lao động. Bởi lẽ, mọi hoạt động sáng tạo của con người nhằm cải biến tự nhiên và xó hội đều bắt đầu từ lao động. Chính lao động đó sỏng tạo ra con người và xó hội loài người, làm cho con người ngày càng thoát ra khỏi bản năng động vật, tiến dần đến trỡnh độ trưởng thành về nhân cách, trỡnh độ trưởng thành về văn hóa của mỗi cá nhân. Trong quỏ trỡnh lao động, con người đó in dấu mỡnh vào trong từng khõu, từng yếu tố, từng mặt, từng bộ phận…của thành quả lao động, làm cho tự nhiên tự hiện hỡnh trong hoạt động của con người. C.Mác viết: “…Bằng thực tiễn, bằng con đường cách mạng; họ sẽ làm cho “tồn tại” của mỡnh phự hợp với bản chất của mỡnh” [38, tr.507]. Như vậy, theo C.Mác, văn hóa được hỡnh thành và phỏt triển trờn cơ sở sự hỡnh thành và phát triển con người. Thước đo của sự tiến bộ và phát triển này chính là mức độ hỡnh thành và phỏt triển bản chất người trong quá trỡnh con người chinh phục và biến đổi tự nhiên, trong mối quan hệ giữa con người với cộng đồng, mà bao trùm là quan hệ giữa đời sống tinh thần và không gian sống vật chất của con người và của xó hội loài người. Nếu môi trường đầu tiên cho con người sự hỡnh thành và phỏt triển, quyết định sự tồn tại của con người là sản xuất vật chất, thỡ mụi trường thứ hai cho con người bộc lộ, phát huy những năng lực và bản chất người trong các hoạt động sống, đó chính là sản xuất văn hóa. Quan niệm của V.I.Lênin về văn hóa khá rộng và bao quát. Từ cách tiếp cận hỡnh thỏi kinh tế - xó hội, V.I.Lờnin cho rằng: Sự phỏt triển của văn hóa gắn liền với sự phỏt triển của cỏc hỡnh thỏi kinh tế - xó hội, mỗi một hỡnh thỏi kinh tế - xó hội cú một nền văn hóa tinh thần đặc trưng (như một giá trị lịch sử), khi hỡnh thỏi kinh tế - xó hội thay đổi, thỡ nền văn hóa tương ứng với nó cũng có sự thay đổi nhất định. Đây không có nghĩa là sự đứt đoạn hay đoạn tuyệt với các giá trị văn hóa truyền thống, mà trong quá trỡnh chuyển húa, nền văn hóa mới luôn kế thừa những di sản, thành tựu của nền văn hóa trước đó, đồng thời bổ sung những yếu tố mới phù hợp với những đặc điểm và quan hệ của hỡnh thỏi kinh tế – xó hội mới. V.I.Lờnin khẳng định: Ở đâu có hoạt động của con người thỡ ở đó có văn hóa và văn hóa không chỉ dừng lại ở văn hóa tinh thần mà cũn bao hàm cả văn hóa vật chất. Người coi văn hóa là phương tiện quan trọng nhất trong tất cả cỏc loại hỡnh hoạt động của con người và là kết quả của quá trỡnh hoạt động đó. Vỡ vậy, trong quỏ trỡnh xõy dựng nền văn hóa mới, V.I.Lênin nhấn mạnh nguyên tắc tính đảng, tính nhân dân, tính dân tộc, tính nhân loại trong văn hóa, cách mạng văn hóa, trước hết là cách mạng trong trí tuệ, trong ý thức của quần chỳng. Người khẳng định: hoạt động văn hóa và sản phẩm văn hóa phải là “của” nhân dân, chứ không phải “cho” nhân dân. Người viết: “Chủ nghĩa xó hội được xây dựng không phải bằng mệnh lệnh từ trên. Tinh thần của nó xa lạ với bộ máy nhà nước quan liêu; Chủ nghĩa xó hội sinh động, sáng tạo, tức là sáng tạo của chính quần chúng” [26, tr.464]. Sáng kiến của Người đó khơi dậy tiềm năng, tính chủ động sáng tạo của quần chúng nhân dân, mở ra hướng đi và nhiệm vụ mới cho cách mạng vô sản - cách mạng văn hóa. Đó là cuộc cách mạng giải phóng triệt để con người và xó hội loài người khỏi những áp bức bất công cả trong lao động cũng như trong mọi hoạt động sáng tạo của họ. Theo V.I. Lênin, muốn xây dựng một nền văn hóa mới, nền văn hóa vô sản có khả năng phát triển toàn diện năng lực và bản chất người, cần phải kế thừa có phê phán các giá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại, đồng thời phát triển nó lên một tầm cao mới, mang đậm chất liệu văn hóa và bản chất người. Người nói rằng: Nền văn hóa vô sản không phải từ trên trời rơi xuống, nó không phải là do những người tự cho mỡnh là chuyờn gia về văn hóa vô sản bịa đặt ra… văn hóa vô sản phải là sự phát triển hợp quy luật của vốn kiến thức mà loài người đó tạo ra dưới ách áp bức của xó hội Tư bản, địa chủ và của xó hội quan liờu [26, tr.402]. Người cũng chỉ ra rằng, chỉ có xây dựng thành công CNXH, CNCS thỡ con người mới có điều kiện thể hiện đầy đủ năng lực sáng tạo, trỡnh độ làm chủ của mỡnh trước tự nhiờn, xó hội và ngay cả trước bản thân mỡnh. Từ đó, con người và xó hội loài người mới có điều kiện xây dựng và phát triển sự công bằng, bỡnh đẳng, tự do cho bản thân, các tiêu chí: chân, thiện, mỹ…mới được xác lập và hoàn thiện, hoạt động sáng tạo của con người mới có đầy đủ điều kiện đạt tới trỡnh độ nhân văn đích thực. Cũng như các bậc tiền bối của chủ nghĩa Mác, quan niệm về văn hóa của nhà văn hóa lớn Hồ Chí Minh cũng rất rộng; xuất phát từ chủ nghĩa yêu nước, từ truyền thống văn hiến ngàn đời của dõn tộc Việt Nam, với tầm nhỡn bao quỏt, Người đưa ra khái niệm về văn hóa như sau: Vỡ lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đó sản sinh ra nhằm thớch ứng những nhu cầu đời sống và đũi hỏi của sự sinh tồn [39, tr.431]. Quan điểm trên của Người đó khỏi quỏt được nội dung rộng nhất của phạm trù văn hóa. Chỉ ra văn hóa không chỉ bao hàm các hoạt động tinh thần của con người mà cũn bao hàm trong đó cả những hoạt động vật chất. Người cũng chỉ ra nguồn gốc sâu xa của văn hóa đó chính là nhu cầu sinh tồn của con người, với tư cách là chủ thể hoạt động của đời sống xó hội. Nú biểu hiện sự thống nhất của yếu tố tự nhiờn, yếu tố xó hội trong con người, biểu hiện khả năng và sức sáng tạo của con người. Nghĩa văn hóa mà nhà văn hóa lớn Hồ Chí Minh đề cập được trải rộng trên cả hai lĩnh vực văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, nhưng việc phân định hai lĩnh vực văn hóa như trên chỉ có tính chất tương đối, vỡ trờn thực tế mỗi kết quả của hoạt động lao động của con người đều bao hàm trong đó cả hai giá trị vật chất và tinh thần. Là người anh hùng giải phóng dân tộc, là Danh nhân văn hóa thế giới. Trong hoạt động văn hóa Hồ Chí Minh rất chú ý đến con người. Trong hành động cách mạng cũng như trong đối nhân xử thế Người luôn hết lũng hết sức phục vụ nhõn dõn, yờu kớnh nhõn dõn, tụn trọng quyền làm chủ của nhõn dõn, Người biến tỡnh cảm đó thành phương châm sống của chính mỡnh một cỏch rất tự nhiờn, ở mọi lỳc, mọi nơi. Khi cũn hoạt động ở Pháp người đó kịch liệt lờn ỏn chớnh sỏch ngu dõn của chủ nghĩa thực dõn đối với nhân dân các nước thuộc địa; để thực hiện mong muốn của mỡnh, ngay sau khi nước nhà giành được độc lập, Người đó chủ trương và thực hiện đồng thời chiến dịch chống giặc đói và chiến dịch chống giặc dốt. Người cho rằng: văn hóa là tinh hoa của dân tộc, văn hóa phải góp phần khẳng định vị thế của dân tộc và một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Cho nên: “Phải triệt để tẩy trừ mọi di tích thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch của văn hóa đế quốc. Đồng thời phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc và hấp thụ những cái mới của văn hóa tiến bộ thế giới, để xây dựng một nền văn hóa Việt Nam có tính chất dân tộc, khoa học và đại chúng” [40, tr.173]. Quan điểm coi trọng truyền thống văn hóa dân tộc, giữ gỡn những tinh hoa, những yếu tố tớch cực trong kho tàng văn hóa của cha ông cũng nói rừ quan điểm bảo tồn bản sắc văn hóa của Danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh; Những điều mà Người nói, Người viết rất giản dị, mộc mạc, nhưng mang ý nghĩa giỏo dục và nhõn văn sâu sắc: cái gỡ cũ mà xấu thỡ phải bỏ…cỏi gỡ cũ mà khụng xấu, nhưng phiền phức thỡ phải sửa đổi lại cho hợp lý…cái gỡ cũ mà tốt, thỡ phải phỏt triển thờm…Người cũng nhấn mạnh nguyên tắc kế thừa và phát triển trong quan điểm về bảo tồn văn hóa; văn hóa phải thoát khỏi mọi biểu hiện kỳ thị chủng tộc, tránh xu hướng độc tôn, tránh phục cổ một cách máy móc, kế thừa phải đi đôi với sự tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa nhân loại. Đồng thời, trong quá trỡnh giao lưu quốc tế, đũi hỏi mỗi quốc gia phải nghiờn cứu kỹ, toàn diện văn hóa của các dân tộc khác, học lấy những gỡ tốt đẹp, làm giàu hơn cho văn hóa của chính mỡnh, cú như thế văn hóa Việt Nam mới thật có tinh thần thuần túy Việt Nam, mới đủ sức mạnh “soi đường cho quốc dân đi”. Hồ Chí Minh đó để lại cho chúng ta một di sản tư tưởng vô cùng to lớn trong nhiều lĩnh vực, mà văn hóa là một trong những lĩnh vực ấy. Những quan điểm của Người về văn hóa, về giữ gỡn, bảo tồn văn hóa dân tộc đó trở thành phương châm hành động của Đảng, của Nhà nước, của Nhân dân ta, đặc biệt là các nhà văn hóa. Thấm nhuần lý luận Mỏc – Lờnin, tư tưởng Hồ Chí Minh; Đảng và Nhà nước ta đó cú sự đổi mới nhận thức về văn hóa trên mọi phương diện. Nghị quyết bốn Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII); và đặc biệt, đến nghị quyết Trung ương năm (khóa VIII) đó đề cập đến toàn bộ các vấn đề văn hóa liên quan đến quốc tế dân sinh, đến xây dựng đời sống tinh thần cho con người. Trong năm quan điểm chỉ đạo cơ bản của nghị quyết, quan điểm thứ nhất đó khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xó hội,
- Xem thêm -