Tài liệu Nhận diện khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

  • Số trang: 26 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 67 |
  • Lượt tải: 1
thuvientrithuc1102

Đã đăng 15893 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG LÊ THỊ CẨM GIANG NHẬN DIỆN KHẢ NĂNG TỒN TẠI SAI PHẠM TRỌNG YẾU TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM Chuyên ngành: KẾ TOÁN Mã số: 60.34.03.01 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH Đà Nẵng – Năm 2015 Công trình được hoàn thành tại ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG Người hướng dẫn khoa học: TS. ĐƯỜNG NGUYỄN HƯNG Phản biện 1: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai Phản biện 2: PGS.TS. Lê Đức Toàn Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Quản trị kinh doanh họp tại Đại học Đà Nẵng vào ngày 30 tháng 08 năm 2015. Có thể tìm hiểu luận văn tại:  Trung tâm Thông tin-Học liệu, Đại học Đà Nẵng  Thư viện trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nhận diện sai phạm trọng yếu báo cáo tài chính không chỉ là vấn đề kiểm toán viên quan tâm, mà còn là mối quan tâm chung của các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính khác, khi tình trạng công bố thông tin không trung thực đang diễn ra không chỉ ở Việt Nam mà còn trên thế giới. Đã có nhiều phương pháp được xây dựng nhằm giúp nhận diện sai phạm báo cáo tài chính trên thế giới, tuy nhiên, khi áp dụng vào Việt Nam có nhiều điểm chưa phù hợp. Theo đó, tác giả thực hiện đề tài nghiên cứu “Nhận diện khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” với mong muốn xây dựng được một mô hình phù hợp cho Việt Nam, hỗ trợ các kiểm toán viên và các đối tượng quan tâm đánh giá độ tin cậy của các thông tin sử dụng cho việc ra quyết định tài chính. 2. Mục tiêu nghiên cứu - Xây dựng được mô hình nhận diện khả năng tồn tại các sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính thông qua các tỷ số tài chính. 3. Câu hỏi nghiên cứu - Có thể nhận diện khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính thông qua các chỉ số tài chính hay không? - Mô hình xây dựng được dự báo được bao nhiêu phần trăm các trường hợp có và không có khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính? 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính. 2 Phạm vi nghiên cứu + Phạm vi không gian: Các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. + Phạm vi thời gian: giai đoạn 2010 – 2013. 5. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu chủ đạo là nghiên cứu định lượng. 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài - Phân tích về mặt lý luận các nghiên cứu trước đây về việc nhận diện sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính. - Mô hình xây dựng được sẽ hỗ trợ công tác kiểm toán cũng như đánh giá thông tin ra quyết định của các đối tượng quan tâm. 7. Tổng quan tài liệu  Tác giả Trần Thị Giang Tân và cộng sự (2014), “Đánh giá rủi ro gian lận báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại Việt Nam”, Nghiên cứu khoa học [6] Dựa trên nghiên cứu về tam giác gian lận của Cressey (1953), kết hợp với hướng dẫn của VSA 240 [2], nhóm tác giả xây dựng các biến đại diện cho các yếu tố của tam giác gian lận, từ đó chạy mô hình hồi quy logit với mẫu nghiên cứu là 78 công ty niêm yết tại sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh năm 2012. Kết quả nghiên cứu cho thấy khả năng xảy ra gian lận có mối quan hệ có ý nghĩa thống kê với 3 yếu tố về Động cơ/Áp lực, với 1 yếu tố về cơ hội và với 2 yếu tố về thái độ, và khả năng dự báo đúng của mô hình là 83,33% các công ty thuộc mẫu nghiên cứu.  Tác giả Nguyễn Trần Nguyên Trân (2014), “Vận dụng mô hình Beneish nhận diện gian lận trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” [7]. 3 Tác giả này đã áp dụng mô hình nhận diện gian lận của Beneish với 30 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam có sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính năm 2012. Và kết quả nghiên cứu cho thấy, mô hình đã phát hiện được 53,33% (16/30 công ty) trong số các công ty bị phát hiện gian lận báo cáo tài chính.  Điểm nổi bật của luận văn so với hai nghiên cứu trên - Thứ nhất, tác giả có xem xét đến yếu tố sự phù hợp của mô hình xây dựng được đối với đặc thù Việt Nam. - Thứ hai, mô hình xây dựng được không chỉ phục vụ cho công tác kiểm toán của kiểm toán viên, mà còn phục vụ cho các đối tượng sử dụng thông tin báo cáo tài chính khác. Ngoài ra, dữ liệu mẫu của nghiên cứu được xem xét trong một giai đoạn, từ 2010-2013 với các doanh nghiệp niêm yết trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Điều này sẽ giúp mô hình xây dựng được mang tính bao quát và mang tính ứng dụng cao hơn. 8. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm các nội dung chính sau: - Chương 1: Một số vấn đề lý luận về sai phạm trọng yếu và các mô hình nhận diện sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính. - Chương 2: Thực trạng vấn đề sai phạm trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam giai đoạn 2010-2013 - Chương 3: Xây dựng mô hình nhận diện khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam . - Chương 4: Kết luận và kiến nghị. 4 CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SAI PHẠM TRỌNG YẾU VÀ CÁC MÔ HÌNH NHẬN DIỆN SAI PHẠM TRỌNG YẾU TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1.1. TỔNG QUAN VỀ KHẢ NĂNG TỒN TẠI SAI PHẠM TRỌNG YẾU TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1.1.1. Khái niệm sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính Trước khi đi vào nghiên cứu, tác giả sẽ làm rõ hai khái niệm, là khái niệm về sai phạm và khái niệm khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu báo cáo tài chính.  Sai phạm Theo khái niệm của Chuẩn mực kiểm toán hiện hành có hiệu lực từ ngày 1/1/2014 [2], các sai sót trong báo cáo tài chính có thể phát sinh từ gian lận hoặc nhầm lẫn. Tuy nhiên, theo quan điểm cá nhân, tác giả đồng tình với cách sử dụng thuật ngữ của Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam trước đây [1], là sai phạm trên báo cáo tài chính xuất phát từ gian lận và sai sót. Những thuật ngữ này theo tác giả phản ánh đúng bản chất của sai phạm hơn. Do đó, trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng thuật ngữ sai phạm, và tập trung vào sai phạm trọng yếu báo cáo tài chính bao gồm gian lận và sai sót trọng yếu.  Khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu báo cáo tài chính Nghiên cứu về khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính tức là nghiên cứu xem báo cáo tài chính có thể chứa đựng các sai phạm trọng yếu hay là không. Một báo cáo tài chính được coi là khả năng có tồn tại sai phạm trọng yếu trong nghiên cứu này là khi chênh lệch số liệu ở chỉ tiêu lợi nhuận trước và sau kiểm toán lớn hơn 5%. Việc chênh lệch 5 này có thể xuất phát từ nhiều lý do khách quan và chủ quan, nên trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả chỉ cho rằng là có khả năng tồn tại sai phạm, chứ không khẳng định chắc chắn đó là sai phạm. 1.1.2. Các sai phạm trọng yếu thường gặp trên báo cáo tài chính Khảo sát 120 trường hợp về báo cáo tài chính gian lận, Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Hoa Kỳ-ACFE đã thống kê các loại gian lận phổ biến trên báo cáo tài chính bao gồm [5]: a. Che giấu công nợ và chi phí b. Ghi nhận doanh thu không có thật hay khai cao doanh thu c. Định giá sai tài sản d. Ghi nhận sai niên độ e. Không khai báo đầy đủ thông tin 1.2. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CHUNG VỀ SAI PHẠM 1.2.1. Thuyết đại diện 1.2.2. Lý thuyết về phân loại xã hội của Edwin Hardin Sutherland (1883-1950) 1.2.3. Tam giác gian lận của Donald R. Cressey (1919-1987) 1.2.4. Mô hình bàn cân gian lận của D.W. Steve Albrecht 1.2.5. Công trình nghiên cứu của Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Hoa Kỳ (ACFE) 1.3. CÁC MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ SAI PHẠM TRỌNG YẾU TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1.3.1. Mô hình nhận diện sai phạm trọng yếu của Beneish 1.3.2. Mô hình nhận diện gian lận trên báo cáo tài chính của Dr. Obeua S. Persons Tổng hợp từ các nghiên cứu trước đây, Persons đưa ra được 10 biến độc lập được cho là có khả năng nhận diện gian lận trên báo 6 cáo tài chính, bao gồm: TLTA: Tổng nợ trên tổng tài sản NITA: Lợi nhuận ròng trên tổng tài sản RETA: Lợi nhuận giữ lại trên tổng tài sản CATA: Tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản RVTA: Phải thu trên tổng tài sản IVTA: Hàng tồn kho trên tổng tài sản WCTA: Vốn lưu động trên tổng tài sản SATA: Doanh thu trên tổng tài sản LOGTA: Giá trị logarit của giá trị ghi sổ tổng tài sản vào thời điểm cuối năm tài chính. Z-score: Chỉ số đo lường khả năng phá sản của doanh nghiệp. Nghiên cứu này dựa trên mô hình hồi qui logistic, chạy cho hai mô hình: mô hình với mẫu là dữ liệu của 206 công ty năm gian lận (gồm 103 công ty gian lận và 103 công ty không gian lận), và mô hình thứ hai với mẫu là dữ liệu của 200 công ty năm trước năm gian lận (gồm 100 công ty gian lận và 100 công ty không gian lận). Năm gian lận là năm mà gian lận được phát hiện. Biến phụ thuộc Y là biến định tính, nhận hai giá trị: 1 là gian lận và 0 là không gian lận. Kết quả nghiên cứu này cho thấy, so với các công ty không gian lận: + Các công ty gian lận có đòn bẩy tài chính cao hơn; + Các công ty gian lận có vòng quay vốn thấp hơn; + Các công ty gian lận có tỷ trọng tài sản ngắn hạn cao hơn, mà thành phần chủ yếu là các khoản phải thu và hàng tồn kho; + Các công ty gian lận thường có qui mô nhỏ hơn. 7 Bảng 1.3: Kết quả ước lượng mô hình nhận diện gian lận của Dr. Obeua S. Persons [11] 1.3.3. Mô hình nhận diện gian lận của nhóm tác giả Hawariah Dalnial, Amrizah Kamaluddin, Zuraidah Mohd Sanusi, và Khairun Syafiza Khairuddin [9] Nhóm tác giả thực hiện ước lượng hồi quy đa biến với mẫu là 130 báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Malaysia, trong đó 65 báo cáo tài chính gian lận và 65 báo cáo tài chính không có gian lận. Điều kiện về các công ty gian lận và không gian lận tương tự nghiên cứu Persons. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mô hình nhận diện được 85.71% các trường hợp không gian lận, và nhận diện được 55.1% các trường hợp có gian lận báo cáo tài chính. Và mô hình xây dựng được như sau: FFR = 1.008 + 0.945 (Square/Log TD/TE) + 2.049 (Lg REC/REV) – 0.565 (Lg INV/TA) + 1.181 (LgREV/TA) + e Trong đó: FFR: Báo cáo tài chính gian lận TD/TE: Tổng nợ/Tổng vốn chủ sở hữu 8 REC/REV: Phải thu/Doanh thu INV/TA: Hàng tồn kho/Tổng tài sản REV/TA: Doanh thu / Tổng tài sản 1.3.4. Mô hình nhận diện gian lận của Trần Thị Giang Tân và cộng sự [6] Nhóm tác giả sử dụng dữ liệu của 78 doanh nghiệp niêm yết tại Sở giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh năm 2012, bao gồm 39 doanh nghiệp được cho là có gian lận và 39 doanh nghiệp được cho là không gian lận. Kết quả cho thấy, gian lận có mối quan hệ có ý nghĩa thống kê với: - 3 yếu tố về Động cơ/Áp lực bao gồm: SALAR (Tỷ lệ doanh thu trên nợ phải thu), INVTA (tỷ trọng hàng tồn kho trên tổng tài sản), LEV (Đòn cân nợ); - 1 yếu tố về Cơ hội là BIG4 (Kiểm toán viên thuộc Big 4); - 2 yếu tố về Thái độ là AUDREPORT (Ý kiến của kiểm toán viên độc lập về báo cáo tài chính) và RST (Tiền sử gian lận). Phương trình hồi quy xây dựng được có dạng: FRAUD = -2.387 – 0.065 SALAR – 3.446 INVTA + 3.517 LEV + 1.183 BIG4 + 2.259 AUDREPORT + 1.052 RST + ε Mô hình dự báo đúng 83.33% các doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu, và 80% cho 20 doanh nghiệp ngoài mẫu nghiên cứu. TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 Chương này tác giả thống nhất lại cách sử dụng thuật ngữ trong phạm vi nghiên cứu này. Đồng thời tổng hợp các nghiên cứu chung và mô hình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sai phạm trọng yếu báo cáo tài chính, làm cơ sở thực hiện nghiên cứu. 9 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ SAI PHẠM TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010-2013 2.1. TÌNH HÌNH CHÊNH LỆCH SỐ LIỆU TRƯỚC VÀ SAU KIỂM TOÁN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010 – 2013 Tổng hợp nguồn nghiên cứu của tác giả Nguyễn Trần Nguyên Trân [7] cùng với thống kê của trang vietstock.vn cho thấy, các doanh nghiệp phải điều chỉnh số liệu sau kiểm toán chiếm phần lớn trong các doanh nghiệp công bố báo cáo tài chính. Đây là một tỉ lệ đáng báo động về khả năng tồn tại các sai phạm trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam. Hình 2.1. Biểu đồ thể hiện tình hình điều chỉnh số liệu lợi nhuận sau thuế của các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam giai đoạn 2010 – 2013 10 2.2. TỔNG KẾT MỘT SỐ CÁC SAI PHẠM CHỦ YẾU CÁC DOANH NGHIỆP THƯỜNG VI PHẠM GIAI ĐOẠN 2010 – 2013  Không ghi nhận hoặc ghi nhận doanh thu không có thật  Ghi nhận chi phí không đúng kỳ  Chênh lệch ở các khoản trích lập dự phòng, khấu hao  Đánh giá chênh lệch tỷ giá ngoại tệ TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 Chương này tác giả thống kê lại thực trạng tình hình chênh lệch số liệu trước và sau kiểm toán để cho thấy mức độ báo động của việc công bố thông tin và sự lỏng lẻo trong quản lý. Đồng thời thống kê một số các hình thức sai phạm chủ yếu mà các doanh nghiệp đang thực hiện. CHƯƠNG 3 XÂY DỰNG MÔ HÌNH NHẬN DIỆN KHẢ NĂNG TỒN TẠI SAI PHẠM TRỌNG YẾU TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT VIỆT NAM 3.1. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 3.1.1. Các giả thiết và mô hình đề xuất Các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu được xây dựng thông qua khảo sát ý kiến 30 chuyên gia lĩnh vực kế toán kiểm toán, tài chính ngân hàng… trên lãnh thổ Việt Nam, có lồng ghép các biến thuộc nghiên cứu của Persons và nhóm tác giả Malaysia. Việc khảo sát nhằm mục đích để mô hình xây dựng được phù hợp với đặc điểm của Việt Nam. Sau khi thực hiện khảo sát, tác giả sẽ chọn lọc các tỷ số tài chính có trên 50% chọn lựa từ các chuyên gia để đưa vào mô hình nghiên cứu. 11 Bảng 3.4. Đo lường biến độc lập của mô hình đề xuất Loại tỷ số Tỷ số thanh toán Tỷ số cấu trúc tài sản Tỷ số hoạt động Tỷ số đòn bẩy tài chính Tỷ số sinh lợi Qui mô doanh nghiệp Tỷ số tài chính Kí hiệu Tài sản ngắn hạn /Nợ ngắn hạn (Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho) /Nợ ngắn hạn Tài sản ngắn hạn /Tổng tài sản Hàng tồn kho/Tổng tài sản Phải thu /Tổng tài sản Vòng quay khoản phải thu Vòng quay hàng tồn kho Doanh thu thuần /Tổng tài sản TSNH/NNH (TSNHHTK) /NNH TSNH/TTS HTK/TTS PT/TTS DTT/PT GVHB/HTK DTT/TTS Tổng nợ/ Tổng tài sản Lợi nhuận ròng/Doanh thu thuần Giá trị logarit của tổng tài sản thời điểm cuối năm tài chính Dấu kỳ vọng + + + - TN/TTS + LN/DTT - QUI MÔ - Ủy ban chứng khoán Hoa Kỳ khi nhận định về báo cáo tài chính gian lận (1987) có nêu rằng: “Báo cáo tài chính gian lận thường liên quan đến các công ty gặp khó khăn về tài chính”[11]. Kinney và McDaniel (1989, p.74) cũng cho rằng: “Các nhà quản lý của các công ty trong tình trạng tài chính yếu kém có nhiều khả năng sẽ nỗ lực “làm đẹp” báo cáo tài chính để che giấu những khó khăn tạm thời”[11]. Ngoài ra, các nghiên cứu khác như nghiên cứu của Kreutzfeldt và Wallace (1986), St.Piere và Anderson (1984), Simunic (1980) [11] cũng cho kết luận tương tự, rằng các doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính thì khả năng báo cáo tài chính chứa đựng các sai phạm tăng lên, thể hiện thông qua các tỷ số tài chính. Tác giả nhận thấy có cơ sở để đưa ra giả thuyết tương tự trong điều kiện Việt Nam. Theo đó, tác giả xây dựng các giả thuyết cho mô hình như sau: 12  Tỷ số thanh toán - Giả thuyết H1: Khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính có quan hệ ngược chiều với tỷ số Tài sản ngắn hạn/Nợ ngắn hạn (TSNH/NNH). - Giả thuyết H2: Khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính có quan hệ ngược chiều với tỷ số Tài sản ngắn hạn không bao gồm Hàng tồn kho/Nợ ngắn hạn ((TSNH- HTK) /NNH).  Tỷ số cấu trúc tài sản - Giả thuyết H3: Khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính có quan hệ cùng chiều với tỷ số Tài sản ngắn hạn/Tổng tài sản (TSNH/TTS). - Giả thuyết H4: Khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính có quan hệ cùng chiều với tỷ số Phải thu/Tổng tài sản (PT/TTS). - Giả thuyết H5: Khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính có quan hệ cùng chiều với tỷ số Hàng tồn kho/Tổng tài sản (HTK/TTS).  Tỷ số hoạt động - Giả thuyết H6: Khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính có quan hệ ngược chiều với tỷ số Doanh thu thuần/Phải thu (DTT/PT). Giả thuyết H7: Khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính có quan hệ ngược chiều với tỷ số Giá vốn hàng bán/Hàng tồn kho (GVHB/HTK). - Giả thuyết H8: Khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính có quan hệ ngược chiều với tỷ số Doanh thu thuần/Tổng tài sản (DTT/TTS). 13  Tỷ số đòn bẩy tài chính Giả thuyết H9: Khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính có quan hệ cùng chiều với đòn bẩy tài chính (TN/TTS).  Tỷ số sinh lợi Giả thuyết H10: Khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính có quan hệ ngược chiều với tỷ suất sinh lợi trên doanh thu (LN/DTT).  Qui mô doanh nghiệp Giả thuyết H11: Khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu báo cáo tài chính có quan hệ ngược chiều với qui mô doanh nghiệp (Log TTS).  Mô hình dự kiến Nghiên cứu này sử dụng mô hình hồi qui logistic nhị thức. Phương trình hồi quy của mô hình có dạng: loge [ ] = β0 + β1(TSNH/NNH) + β2((TSNH-HTK)/NNH) + β3(TSNH/TTS) + β4(HTK/TTS) + β5(PT/TTS) + β6(DTT/PT) + β7(GVHB/HTK) + β8(DTT/TTS) + β9(TN/TTS) + β10(LN/DTT) + β11(LOG(TTS)) Hay trình bày một cách khác: e Bo  iXi P (Y=1) = 1  e Bo  iXi (i: 1-> 11) Trong đó, P (Y=1) là xác suất xảy ra sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính. 3.1.2. Đo lường các biến của mô hình a. Đo lường biến phụ thuộc Kí hiệu biến phụ thuộc: KNSP: khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu báo cáo tài chính. 14  Lựa chọn các doanh nghiệp có báo cáo tài chính khả năng có tồn tại sai phạm trọng yếu (Phụ lục 03) Doanh nghiệp được lựa chọn khi thỏa mãn tiêu chí: chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế trước và sau kiểm toán của doanh nghiệp đó chênh lệch ≥ 5% trong năm sai phạm.  Lựa chọn các doanh nghiệp có báo cáo tài chính khả năng không tồn tại sai phạm trọng yếu (Phụ lục 04) Các doanh nghiệp thuộc mẫu đối ứng được chọn khi thỏa mãn hai tiêu chí: - Chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế trước và sau kiểm toán bằng nhau, hoặc chênh lệch nhau dưới 5%. - Cùng ngành nghề, qui mô doanh nghiệp và năm báo cáo. Trong đó, các doanh nghiệp được xem là tương đồng nhau về qui mô khi chênh lệch giá trị Tổng tài sản cuối kỳ năm báo cáo ≤ 20%.  Mã hóa giá trị của biến phụ thuộc - 0: khả năng không tồn tại sai phạm trọng yếu báo cáo tài chính. - 1: khả năng có tồn tại sai phạm trọng yếu báo cáo tài chính. b. Đo lường biến độc lập Biến độc lập bao gồm mười biến tỷ số tài chính và biến qui mô doanh nghiệp như đã mô tả ở phần trên. Dữ liệu của các biến độc lập được thu thập từ báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, cụ thể là Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả kinh doanh giai đoạn 2010-2013. Nguồn thu thập là từ website stox.vn, s.cafef.vn và cophieu68.vn. 3.1.3. Chọn mẫu Kết quả chọn mẫu trình bày ở bảng sau: 15 Bảng 3.7. Kết quả chọn mẫu Giải thích Số lượng mẫu có chênh lệch lợi nhuận trước thuế ≥ 5% giai đoạn 2010-2013 Trừ: - Không tìm thấy dữ liệu hoặc dữ liệu không đầy đủ; - Các doanh nghiệp thuộc dịch vụ tài chính, bảo hiểm.... - Các doanh nghiệp không tìm thấy doanh nghiệp tương đương hoặc doanh nghiệp tương đương không tìm thấy dữ liệu, dữ liệu không đầy đủ. Cộng: Các doanh nghiệp tương đương Tổng số lượng doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu Số lượng mẫu 105 40 65 130 3.2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.2.1. Thống kê mô tả các biến mô hình Kết quả thống kê mô tả các biến trong mẫu cho thấy dữ liệu của các biến thu thập được bước đầu khá phù hợp với giả thuyết đã đặt ra. 3.2.2. Mối quan hệ tương quan giữa các biến trong mô hình Thực hiện kiểm định sự tương quan giữa các biến trong mô hình trên, tác giả đưa ra một số các nhận xét:  Tương quan giữa biến phụ thuộc và 11 biến độc lập: Ma trận hệ số tương quan cho thấy, các biến giải thích được liệt kê trên (biến độc lập) đa số có quan hệ tương quan chặt chẽ với biến phụ thuộc KNSP. Đồng thời, giá trị Sig. (2 –tailed) đối với các hệ số tương quan đơn giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập đều khá nhỏ, đảm bảo các hệ số tương quan tổng thể có ý nghĩa thống kê ở mức 5% hoặc 1%. Riêng biến PT/TTS và biến qui mô doanh nghiệp, sự tương quan giữa hai biến độc lập này với biến phụ thuộc không có ý nghĩa thống kê, thể hiện ở giá trị Sig. (2-tailed) > 0.05.  Tương quan giữa 11 biến độc lập với nhau Nhìn chung, kết quả kiểm định tương quan giữa các biến độc 16 lập trong mô hình với nhau cho thấy, phần lớn các biến độc lập không tương quan nhau, thể hiện ở giá trị Sig. (2-tailed) lớn hơn 0.05, tức hệ số tương quan không có ý nghĩa thống kê. Riêng hai biến thuộc nhóm tỷ số khả năng thanh toán bao gồm biến TSNH/NNH và biến (TSNH-HTK)/NNH, hệ số tương quan tuyến tính giữa hai biến này khá cao (0.602) thể hiện mối quan hệ tương quan tuyến tính chặt chẽ giữa hai yếu tố này, khả năng xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến cao giữa hai biến này khi thực hiện chạy mô hình nghiên cứu. 3.2.3. Kết quả ước lượng mô hình nghiên cứu Thực hiện hồi quy Binary logistic trên phần mềm SPSS, phương pháp đưa biến độc lập vào mô hình là phương pháp Enter. Trong phần kiểm định tự tương quan, kết quả cho thấy hai biến TSNH/NNH và biến (TSNH-HTK)/NNH có sự tương quan khá cao, dễ dẫn đến hiện tượng đa cộng tuyến khi chạy mô hình. Để giảm thiểu tình trạng này, tác giả thực hiện chạy thử 3 mô hình như sau: - Mô hình 1: Chạy mô hình với các biến bao gồm biến phụ thuộc và 11 biến độc lập như ban đầu (không loại biến). - Mô hình 2: Chạy mô hình với các biến bao gồm biến phụ thuộc và 10 biến độc lập (loại biến TSNH/NNH). - Mô hình 3: Chạy mô hình với các biến bao gồm biến phụ thuộc và 10 biến độc lập (loại biến (TSNH-HTK)/NNH). Kết quả chạy lần lượt 3 mô hình cho thấy, mô hình 3 cho kết quả tốt nhất, thể hiện ở giá trị -2 log likelihood khá thấp và tỷ lệ % khả năng nhận diện sai phạm trọng yếu báo cáo tài chính cao hơn hai trường hợp còn lại. Cụ thể, kết quả chạy mô hình 3 được thể hiện trong các bảng sau: 17 Bảng 3.10: Omnibus Tests of Model Coefficients Chi-square Step 1 Df Sig. Step 45.731 10 .000 Block 45.731 10 .000 Model 45.731 10 .000 Bảng 3.11: Model Summary Step -2 Log likelihood 1 34.487 Cox & Snell R Square Nagelkerke R Square .297 .395 Bảng 3.12: Classification Tablea Predicted KNSP Observed Step 1 KNSP Percentage Khả năng Correct không sai Khả năng phạm sai phạm 52 13 80.0 Khả năng không sai phạm Khả năng sai phạm 14 51 78.5 Overall Percentage a. The cut value is .500 79.2 Bảng 3.13: Variables in the Equation B Step 1a S.E. Wald df Sig. Exp(B) TSNH/NNH -.022 .246 .008 1 .928 0.978 TSNH/TTS 3.555 1.453 5.982 1 .014 34.988 HTK/TTS 1.140 1.708 .446 1 .504 3.127 PT/TTS .177 1.930 .008 1 .927 1.193 DTT/PT -.007 .029 .062 1 .803 .993 GVHB/HTK -.058 .024 5.728 1 .117 0.944 -1.343 .363 13.728 1 .000 .261 TN/TTS 3.186 1.344 5.619 1 .018 24.189 LN/DTT -2.446 1.119 4.782 1 .029 .087 QUIMO -.381 .466 .669 1 .414 .683 DTT/TTS Constant 1.726 5.542 .097 1 .755 5.618 a. Variable(s) entered on step 1: TSNH/NNH, TSNH/TTS, HTK/TTS, PT/TTS, DTT/PT, GVHB/HTK, DTT/TTS, TN/TTS, LN/DTT, QUIMO. 18 3.3. PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Kết quả kiểm định giả thuyết về độ phù hợp tổng quát ở Bảng 3.10 có mức ý nghĩa quan sát Sig. = 0.000 nên ta an toàn bác bỏ giả thuyết H0 là: βTSNH/NNH = βTSNH/TTS = βHTK/TTS = βPT/TTS = βDTT/PT = βGVHB/HTK = βDTT/TTS = βTN/TTS = βLN/DTT = βQUIMO =0. Ở Bảng 3.11, giá trị -2LL = 34.487 không cao lắm, thể hiện một độ phù hợp khá ổn của mô hình tổng thể. Bảng 3.12 cho thấy khả năng dự đoán đúng của mô hình là 52/65 trường hợp báo cáo tài chính có khả năng không sai phạm trọng yếu (chiếm 80.0%), và 51/65 trường hợp báo cáo tài chính khả năng có sai phạm trọng yếu (chiếm 78.5%). Tỷ lệ dự đoán đúng của toàn bộ mô hình là 79.2%. Bảng 3.13, kiểm định Wald về ý nghĩa của các hệ số hồi quy tổng thể của 10 biến độc lập, ta thấy: - Các biến TSNH/NNH, HTK/TTS, PT/TTS, DTT/PT, GVHB/HTK và biến Qui mô Log (TTS) có giá trị Sig. > 0.05, nên ta chấp nhận giả thuyết H0: βTSNH/NNH = βHTK/TTS = βPT/TTS = βDTT/PT = βGVHB/HTK = βQUIMO = 0 Như vậy, có thể kết luận các biến TSNH/NNH, HTK/TTS, PT/TTS, DTT/PT, GVHB/HTK và biến Qui mô Log (TTS) không ảnh hưởng đến khả năng tồn tại sai phạm trọng yếu trên báo cáo tài chính. - Các biến còn lại bao gồm biến TSNH/TTS, DTT/TTS, TN/TTS, LN/DTT có giá trị Sig. < 0.05, nên ta an toàn bác bỏ các giả thuyết H0, chấp nhận các giả thuyết H1, tức là: βTSNH/TTS ≠ βDTT/TTS ≠ βTN/TTS ≠ ΒLN/DTT ≠ 0. Như vậy, các tỷ số tài chính này có ảnh hưởng đến khả năng
- Xem thêm -