Tài liệu Nhà văn vũ hạnh lí luận, phê bình, nghiên cứu, sáng tác

  • Số trang: 183 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 158 |
  • Lượt tải: 1
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

Purchase from http://www.axommsoft.com to remove limitations of demo. 1 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Xã hội đô thị miền Nam giai đoạn 1954 - 1975 chứng kiến rất nhiều biến động lớn. Với âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta để thực hiện một xã hội thực dân kiểu mới, Mỹ đã đổ quân ồ ạt vào miền Nam, cùng với đô la, gái điếm tràn ngập. Miền Nam quay cuồng trong cơn lốc Mỹ. Tất cả tạo nên một đời sống bất an, hoảng hốt trong xã hội. Người ta cảm giác có một sự phá sản về tinh thần mà không có cách nào cứu vãn được đang hiện hữu và ám ảnh ngày đêm. Mặc dù người Mỹ dùng nhiều biện pháp, cả kinh tế và chính trị để cố gắng tái ổn định xã hội nhưng vẫn không hiệu quả. Những mâu thuẫn xã hội ngày càng trở nên sâu sắc. Đây là lí do dẫn đến những cuộc đấu tranh đòi tự do, cơm áo, đòi dân chủ, dân sinh, dân quyền, đấu tranh bảo vệ văn hóa dân tộc ngày càng phát triển. Sự thay đổi về đời sống chính trị, kinh tế là cơ sở dẫn đến những thay đổi trong ý thức con người. Cùng với đời sống Mỹ thì tâm lí Mỹ, văn hóa Mỹ xuất hiện khắp mọi nơi. Các ấn phẩm văn hoá phương Tây tràn ngập miền Nam, từ các biệt thự sang trọng cho đến những “mảnh chiếu” ở vỉa hè. Những triết thuyết khác hoàn TRIAL VERSION toàn với ý thức hệ truyền thống cũng góp mặt trên những giá sách và trong các cuộc tranh luận văn chương. Các ấn phẩm hữu hình và vô hình ấy đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống vật chất và tinh thần của người dân ở đô thị miền Nam. Trước thực trạng đó, những người có lòng yêu nước, có tinh thần dân tộc, trân trọng vẻ đẹp văn hoá… không thể khoanh tay dứng nhìn. Và như một tất yếu, từ trong đời sống sục sôi của quần chúng, Phong trào Bảo vệ văn hoá dân tộc được hình thành và ngày càng phát triển. Ngày 9/10/1966, tại hội trường Quốc gia âm nhạc, 112 - Nguyễn Du - Sài Gòn, Ban chấp hành Trung ương Lực lượng Bảo vệ văn hoá dân tộc đã chính thức ra mắt “trước đông đảo thành phần các giới đến dự...”. Lực lượng lấy tạp chí (sau đổi thành Nguyệt san) Tin Văn làm cơ quan ngôn luận, do Vũ Hạnh làm Tổng biên tập. Nội dung, đường lối, phương thức hoạt động của Lực lượng hết sức rõ ràng: “Nhấn mạnh đến các phẩm chất tiêu biểu của nền văn hoá Việt Nam, nhiệm vụ cụ thể mà Lực lượng phải thực hiện, kêu gọi phát huy một niềm tự hào limitations dân tộc chính đáng, dựa vào sức mạnh và sự Purchase from http://www.axommsoft.com to remove of demo. tự vệ của giống nòi trong cơn sóng to gió lớn đang đe doạ cuộc đời dân tộc”. Lực lượng khẳng định quyết tâm “trên lập trường dân tộc, những gì phù hợp với văn hoá dân tộc, tất phải được đón nhận, những gì phá hoại, tất phải được bài trừ” [442, 22]. Purchase from http://www.axommsoft.com to remove limitations of demo. 2 Sự lớn mạnh của Phong trào Bảo vệ văn hoá dân tộc đã ghi nhận sự trưởng thành của những cây bút như Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi, Vũ Hạnh, Lữ Phương, Nguyễn Trọng Văn, Nguyễn Ngọc Lương, Nguyễn Văn Xuân, Tô Nguyệt Đình, Tường Linh, Trần Cao Bằng, Trương Đình Cử, Lê Nhân Phủ… Những tên tuổi này đã có những đóng góp đáng kể vào việc xây dựng một cơ sở lí luận và tạo sự ảnh hưởng sâu rộng đến tình hình văn học; đồng thời họ đã góp phần không nhỏ vào việc đấu tranh chống lại khuynh hướng văn học đồi truỵ, làm sống dậy ngọn lửa đấu tranh giải phóng dân tộc ở các đô thị miền Nam. Phong trào Bảo vệ văn hoá Dân tộc thực sự trở thành một làn sóng văn hóa thâm nhập vào đời sống xã hội và ảnh hưởng đến các sáng tác văn chương. Và Vũ Hạnh chính là cái tên sáng giá nhất. Vũ Hạnh (tên thật là Nguyễn Đức Dũng) sinh năm 1926, tại Quảng Nam. Ông vừa là nhà văn, nhà thơ, nhà báo, vừa là nhà nghiên cứu, phê bình văn học. Người ta biết đến Vũ Hạnh không chỉ với các bút danh như Cô Phương Thảo, Nguyên Phủ, Minh Hữu, Hoàng Thành Kì…, làm việc không mệt mỏi trên lĩnh vực văn học nghệ thuật, mà còn biết đến ông như một nhà cách mạng giàu lòng yêu nước, dũng cảm, khôn khéo hoạt động trong lòng địch. TRIAL VERSION Vốn sinh trưởng trong một gia đình trí thức Nho học, từ nhỏ Vũ Hạnh đã say mê văn học. Trong thời gian ra Huế học tập, ông đã từng có thơ đăng trên báo Sông Hương khi mới 18 tuổi. Trước cách mạng tháng 8 - 1945, Vũ Hạnh đã từng hoạt động trong phong trào Việt Minh. Sau ngày toàn quốc kháng chiến, ông phụ trách ban kịch tuyên truyền kháng chiến. Từ 1946 - 1954, ông vừa hoạt động nghệ thuật phục vụ cách mạng vừa dạy học tại quê nhà (trường trung học Thăng Bình). Sau ngày hoà bình lập lại 1954, ông không tập kết ra Bắc mà ở lại quê nhà hoạt động. Năm 1955, ông bị chính quyền Mỹ Diệm bắt giam. Giữa năm 1956, ông được trả tự do. Vũ Hạnh vào Sài Gòn và hoạt động rất hăng hái trên mặt trận văn học, nghệ thuật và báo chí. Năm 1960, ông gia nhập Mặt trận Dân tộc và Giải phóng miền Nam Việt Nam. Trong giai goạn này, ông được giao nhiệm vụ hoạt động công khai đấu tranh chống văn hoá nô dịch, đồi truỵ của địch ở vùng Sài Gòn - Gia Định. Trong 10 năm hoạt động, Vũ Hạnh đã bị bắt giam năm lần, nhưng ông vẫn luôn giữ vững tinh thần, mưu trí, dũng cảm, kiênlimitations trì trong đấu tranh vì mục tiêu cách mạng. Purchase from http://www.axommsoft.com to remove of demo. Ông từng được bầu làm Tổng biên tập tạp chí Tin văn, cơ quan ngôn luận của Lực luợng Bảo vệ Văn hoá Dân tộc. Tờ báo đã được các tầng lớp thanh niên học sinh, Purchase from http://www.axommsoft.com to remove limitations of demo. 3 sinh viên đón chào nhiệt liệt. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ông được bầu làm Tổng thư ký Hội văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh. Trong quá trình đấu tranh gian khổ ấy, Vũ Hạnh không chỉ nổi tiếng với những sáng tác như Người chủ tiệm, Một giấc chiêm bao, Thưa biết rồi ạ! (kịch); Vượt thác (tập truyện ngắn, 1963), Chất ngọc (tập truyện ngắn, 1964), Ngôi trường đi xuống (tập truyện, 1966), Lửa rừng (tiểu thuyết, 1966), Con chó hào hùng (truyện, 1973), Cô gái Xa Niêng (truyện, 1973), Những người còn lại (truyện, 1974) …, mà ông còn nổi tiếng với các tiểu luận Đọc lại Truyện Kiều (1960), Tìm hiểu văn nghệ (1970), Người Việt cao quý (1965, bút hiệu A. Pazzi, nghĩa là bất di bất dịch, không thay đổi lập trường)… Vũ Hạnh thực sự là một tên tuổi đặc biệt. Trong những cuộc đối thoại văn chương, trong sự tranh luận về văn hóa dân tộc, trong việc điểm xuyết công trình có giá trị, nhà văn xuất hiện với một sự cần mẫn và gan dạ hiếm có. Chính điều đó làm cho đời sống văn nghệ miền Nam có thêm một sức sống mới. Sau bao nhiêu ồn ào, người ta lại được nhìn thấy ở trong nhà văn này một chính kiến, một tư thế tiếp cận nghệ thuật ở một tầm cao văn hóa.VERSION Chính bởi thế, ngày hôm nay, trên đường tìm lại TRIAL những giá trị văn học của dân tộc, ta không thể không nhắc đến Vũ Hạnh. Thực hiện đề tài này, luận án hướng tới các mục đích sau: - Trước hết là để hiểu và tổng kết một cách toàn diện các thành tựu văn học của Vũ Hạnh về tất cả các mặt lí luận, phê bình, nghiên cứu và sáng tác văn học. - Qua nghiên cứu di sản văn học của Vũ Hạnh, chúng tôi có điều kiện để hiểu rõ hơn về Phong trào Bảo vệ văn hóa dân tộc nói riêng và văn học ở đô thị miền Nam giai đoạn 1954 - 1975 nói chung. - Hiện nay, chúng ta đang xây dựng một nền văn học tiên tiến, hiện đại thì việc nghiên cứu toàn diện về Vũ Hạnh không những có ý nghĩa với lí luận, phê bình, nghiên cứu văn học mà phần nào còn có ý nghĩa đối với việc sáng tác và giảng dạy văn học ở phổ thông và đại học hiện nay. 2. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng của luận án là những công trình lí luận, nghiên cứu, phê bình, biên khảo và những tác phẩm văntohọc của Vũ Hạnh. Cácofquan điểm, nhận định, đánh giá Purchase from http://www.axommsoft.com remove limitations demo. và sáng tác văn học của ông từ 1975 trở về trước, là đối tượng chính của luận án. 2.1. Sách báo hữu quan về lí luận văn học của Vũ Hạnh Purchase from http://www.axommsoft.com to remove limitations of demo. 4 - Tìm hiểu văn nghệ, Trí Đăng xuất bản, Sài Gòn, năm 1970 (bản sử dụng nghiên cứu); các bài trong Tìm hiểu văn nghệ xuất hiện lần đầu là Chín điểm trong văn nghệ, TC Tin Văn, Sài Gòn, năm 1966, các số 1, 2, 4, 5, 11. - Người Việt cao quý (bản dịch của Hồng Cúc), Khai Trí xuất bản, Sài Gòn, năm 1965. 2.2. Sách báo phê bình văn học của Vũ Hạnh - Hoàn cảnh sáng tác và điều kiện sống hiện thời của văn nghệ sĩ, tạp chí Bách khoa thời đại, Sài Gòn, số 120, ngày 01/01/1962, trang 33-50. - Mười năm cầm bút (hồi kí), tạp chí Bách khoa thời đại, Sài Gòn, các số 241, 242, 243, tháng 1,2/1967. - Một hiện tượng lạ, “Sáu tầng mây biếc” của Phan Đào, tạp chí Bách khoa thời đại, Sài Gòn, số 323, ra ngày 15/6/1970. - Văn hoá và mạo hoá, tạp chí Bách khoa thời đại, số 350, 351, 8/1971. - Bàn về con đường của Từ Thức, tạp chí Bách khoa thời đại, Sài Gòn, số 65, ra ngày 15/9/1959. - Viễn tượng văn nghệ miền VERSION Nam, tạp chí Bách khoa thời đại, Sài Gòn, số 88, TRIAL ra ngày 01/9/1960. - Một vài nhận xét về tình hình văn chương và báo chí năm 1959, tạp chí Bách khoa thời đại, số 73, ra ngày 15/01/1960. - Tình hình văn nghệ trong năm 1960, tạp chí Bách khoa thời đại, Sài Gòn, số 97, ra ngày 15/01/1961. - Tiểu thuyết trong năm 1961, tạp chí Bách khoa thời đại, Sài Gòn, số 121, ra ngày 15/01/1962. - Sinh hoạt văn học 1963 có gì lạ? tạp chí Bách khoa thời đại, Sài Gòn, số 169, ra ngày 15/1/1964. - Vài nhận xét về Đề cương văn hoá của GS. Phạm Đình Ái, tạp chí Bách khoa thời đại, Sài Gòn, số 178, ra ngày 01/6/1964. - Nhận định về những mâu thuẫn trong quyển “Lược khảo văn học I” của Nguyễn Văn Trung, tạp chí Bách khoa thời đại, Sài Gòn, số 179, ra ngày 15/6/1964. - Chu Tử và tác phẩm,tohiện tượnglimitations sách bán chạy của Chu Tử trong năm 1963 Purchase from http://www.axommsoft.com remove of demo. có ý nghĩa gì? phụ trang tạp chí Tin văn, số 13, 15/12/1966. Ngoài ra còn hơn hai mươi bài phê bình có giá trị như: Phê bình Người yêu tôi khóc của Thế Viên (1959); Thi nhân Việt Nam hiện đại của Phạm Thanh (1959); Purchase from http://www.axommsoft.com to remove limitations of demo. 5 Trăng treo đầu súng của Tường Linh (1959); Đêm không hết của Nguyễn Phúc (1959); Siu cô nương của Mặc Đỗ (1959); Dì Mơ của Đỗ Thúc Vịnh (1959); Kí thác của Bình Nguyên Lộc (1960); Men chiều của Nguyễn Thị Vinh (1960); Những người áo trắng của Nhật Tiến (1960; Viết và đọc tiểu thuyết của Nhất Linh (1962); Thành Cát Tư Hãn của Vũ Khắc Khoan (1962); Kỉ niệm văn thi sĩ hiện đại của Bàng Bá Lân (1962); Mùa ảo ảnh của Đỗ Thúc Vịnh (1963); Chim quyên xuống đất của Sơn Nam (1963); Người viễn khách thứ mười của Nghiêm Xuân Hồng (1963); Hình bóng cũ của Sơn Nam (1964)... 2.3. Sách báo nghiên cứu văn học của Vũ Hạnh - Đọc lại Truyện Kiều, Cảo Thơm xuất bản, Sài Gòn, 1966. - Tính chất phi thường trong con người bình thường Thuý Kiều, tạp chí Bách khoa thời đại, Sài Gòn, số 329, ra ngày 15/9/1970. - Khách viễn phương, người là ai?, tạp chí Bách khoa thời đại, số 381, 15/11/1972. - Hai nàng Thuý Kiều, tạp chí Bách khoa thời đại, số 381, 15/11/1972. - Điểm sách “Kim tiền” củaVERSION Vi Huyền Đắc, tạp chí Bách khoa thời đại, Sài TRIAL Gòn, số 77, ra ngày 15/3/1960. 2.4. Các sáng tác văn học - Tiểu thuyết đường rừng, NXB Văn học, năm 2007 (bản nghiên cứu chính) và bản do Văn nghệ TpHCM xb, gồm các tiểu thuyết Lửa rừng (1960) và Cô gái Xa Niêng (1973). - Con chó hào hùng, xuất hiện lần đầu năm 1973 nhưng không tìm được bản này, vì vậy, luận án sử dụng cuốn Con chó hào hùng (tái bản), NXB Phụ nữ, 2007. - Tiếng hú trên đỉnh non Chà Hóc, đăng tải lần đầu trên tuần báo Thiếu nhi năm 1967, sau này mới được Nhà xuất bản Trẻ - thành phố Hồ Chí Minh in thành sách, năm 1989. - Tính sổ cuộc đời (tên đầu tiên đăng trên nhật báo Tin sáng những năm 1970 - 1971 là Cú đấm) nhưng chúng tôi không có bản này, luận án sử dụng cuốn do NXB Tổng hợp Nghĩa Bình (tái bản), năm 1990. - Chất ngọc (tuyển truyện ngắn),limitations NXB trẻ of TPdemo. HCM, năm 2011 (tài liệu sử Purchase from http://www.axommsoft.com to remove dụng để nghiên cứu). - Ngôi trường lý tưởng (trích Ngôi trường đi xuống), tạp chí Bách khoa thời đại, Sài Gòn, số 229, số ra ngày 15/7/1966. Purchase from http://www.axommsoft.com to remove limitations of demo. 6 - Đại lộ nối dài, khởi đăng từ Tin văn số 1 đến số 7, năm 1966. - Ba ông giáo mới (truyện ngắn), tạp chí Tin Văn, Sài Gòn, số 12, số ra ngày 30/11/1966, trang 35-40. - Một chuyện bể dâu (trích Ngôi trường đi xuống), tạp chí Bách khoa thời đại, Sài Gòn, số 237, ra ngày 15/11/1966, trang 54-65. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu Thực hiện đề tài này, luận án hướng tới giải quyết các nhiệm vụ cơ bản sau đây: - Tìm hiểu những vấn đề cơ bản trong quan điểm lí luận văn học của Vũ Hạnh để nhìn nhận, so sánh và đánh giá những điểm mạnh, yếu trong nhận thức lí luận của ông. - Tìm hiểu những vấn đề về phê bình văn học, chúng tôi khái quát sự nghiệp của tác giả và xác định những đặc sắc trong nghệ thuật phê bình. - Đánh giá đúng mức những sách báo nghiên cứu di sản văn học cổ điển và đầu thế kỉ XX của Vũ Hạnh. - Tìm hiểu nội dung và giá trị nghệ thuật trong các sáng tác của Vũ Hạnh nhằm đánh giá được những cống hiến của ông cho nền văn học hiện đại. 4. Phương pháp nghiên cứu TRIAL VERSION Luận án vận dụng quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm cơ sở cho hoạt động nghiên cứu. Việc nhìn nhận, đánh giá tác giả Vũ Hạnh thuộc khuynh hướng văn học yêu nước ở đô thị miền Nam trong dòng chảy chung của văn học dân tộc sẽ được nhìn nhận một cách toàn diện. Xác định như vậy, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: 4.1. Phương pháp lịch sử Đây là một phương pháp nghiên cứu vừa có tính thực tiễn vừa có có giá trị phương pháp luận. Sự hình thành phát triển văn nghiệp của Vũ Hạnh đều chịu tác động sâu sắc của những biến cố lịch sử. Nghiên cứu các hiện tượng văn học ở trong quá khứ, nhất là văn học đô thị miền Nam 1954-1975 nếu không đứng trên quan điểm lịch sử thì chúng ta rất dễ sa vào tư tưởng phiến diện, lạc hậu. Cho nên, coi trọng quan điểm lịch sử cũng là để chúng ta đảm bảo nguyên tắc nhận thức đối tượng theo hướng khoa học, hiện đại. Đánh giá toàn diện nền văn học quá khứ trên quan điểm lịch sử sẽ tạo điều kiện cho chúng tôi cólimitations cái nhìn biện chứng và đầy đủ nhất về lí luận Purchase from http://www.axommsoft.com to remove of demo. - phê bình văn học của Vũ Hạnh trong hệ tư tưởng văn nghệ ở miền Nam 1954-1975. 4.2. Phương pháp nghiên cứu hệ thống - cấu trúc Văn học miền Nam và văn nghiệp của Vũ Hạnh là một hệ thống cấu trúc gồm Purchase from http://www.axommsoft.com to remove limitations of demo. 7 nhiều phương diện, nhiều yếu tố có mối liên hệ phức tạp và luôn biến động. Việc tìm hiểu Vũ Hạnh như một hệ thống - cấu trúc có nghĩa là phải thấy văn nghiệp của ông bao gồm nhiều bộ phận: lí luận, phê bình, nghiên cứu và sáng tác văn học. Các bộ phận ấy không độc lập mà lại hoàn toàn có thể được chia thành những yếu tố nhỏ hơn như phê bình văn học lại có thể tách thành phê bình truyện, thơ, kịch; hoặc nghiên cứu văn học có thể chia thành nghiên cứu văn học cổ điển và văn học đầu thế kỉ. Cho nên, việc hệ thống hóa lại những quan điểm và tư tưởng thẩm mĩ sẽ là một công việc vô cùng ý nghĩa đối với người nghiên cứu nói riêng và đối với việc định vị giá trị của văn học miền Nam nói chung. 4.3. Phương pháp văn hóa học Đây là một phương pháp quan trọng mà chúng tôi sử dụng để nghiên cứu dòng văn học này. Văn hóa là một lĩnh vực vô cùng rộng lớn và việc đặt lí luận - phê bình văn học của Vũ Hạnh trong bối cảnh văn hóa - xã hội miền Nam có một ý nghĩa vô cùng quan trọng. Phương pháp này sẽ cho chúng ta thấy sự phát triển của văn hóa tư tưởng trong sự tiếp biến và ảnh hưởng, trong sự đa tạp và thừa hưởng của các hệ tư tưởng chính thống và phi chính thống, trong sự phồn tạp của các kiểu phong tục, các TRIAL VERSION kiểu lối sống, các kiểu diễn xướng văn hóa... tất cả sẽ được nhìn nhận trong sự sinh động vốn có của nó. Tuy nhiên, việc xác định phương pháp nghiên cứu văn hóa học còn có một ý nghĩa lớn là xác định tính chân thực và tính chất dân tộc của văn hóa văn nghệ miền Nam trên quan điểm và những giá trị dân tộc - hiện đại. 4.4. Các thao tác phân tích, so sánh, phân loại... Phân tích là một thao tác cơ bản của khoa nghiên cứu văn học. Những vấn đề văn học sử và lí luận văn học sẽ thiếu sáng tỏ nếu không được phân tích cụ thể. So sánh, phân loại… cũng vậy. Nhà văn Vũ Hạnh là một tác giả lớn và đa dạng, nên khi nghiên cứu cần phải có sự phân tích, đối chiếu… thì mới thấy hết những nét tiêu biểu, độc đáo của tác giả. 5. Đóng góp mới của luận án Lần đầu tiên nghiên cứu Vũ Hạnh một cách toàn diện và có hệ thống, luận án đã có những đóng góp sau: to remove limitations of demo. Purchase from http://www.axommsoft.com - Trình bày và lí giải những vấn đề cơ bản trong các công trình lí luận văn nghệ của Vũ Hạnh. Purchase from http://www.axommsoft.com to remove limitations of demo. 8 - Khái quát và hệ thống lại những đóng góp về phê bình văn học từ nội dung đến phong cách của Vũ Hạnh. - Phân tích nội dung và giá trị trong việc nghiên cứu di sản văn học cổ điển và văn học đầu thế kỉ XX của Vũ Hạnh. - Phân tích và lí giải những đặc điểm trong sáng tác của Vũ Hạnh. 6. Cấu trúc của luận án Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận án gồm năm chương: Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về Vũ Hạnh Chương 2: Lí luận văn học Chương 3: Phê bình văn học Chương 4: Nghiên cứu văn học Chương 5: Sáng tác văn học TRIAL VERSION Purchase from http://www.axommsoft.com to remove limitations of demo. Purchase from http://www.axommsoft.com to remove limitations of demo. 9 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VŨ HẠNH Trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt nên việc nghiên cứu nhà văn Vũ Hạnh trước năm 1975 có sự phân biệt ra thành tình hình nghiên cứu ở miền Bắc và ở miền Nam; tình hình nghiên cứu trên cả nước sau khi thống nhất. Việc định hướng như vậy giúp cho ta có cái nhìn toàn diện, từ đó xác định được hướng tiếp cận của luận án. Khảo sát tình hình nghiên cứu đề tài, chúng tôi chia thành các phần cơ bản sau: 1.1. Tình hình nghiên cứu ở miền Bắc trước 1975 Trước hết, thiết tưởng cũng nên điểm qua tình hình nghiên cứu của các tác giả ở miền Bắc về văn học ở đô thị miền Nam giai đoạn 1954 - 1975, vì nó là hậu thuẫn cho việc nghiên cứu tác giả Vũ Hạnh. Tình hình kinh tế, chính trị miền Nam đã tác động sâu sắc đến đời sống chính trị và xã hội, văn hóa và văn nghệ. Hoạt động nghệ thuật có những bước chuyển dữ dội trong khoảng mấy mươi năm. Nhiều người đã nhận thấy các triết lí văn nghệ truyền thống phương Đông không còn phù hợp với cách nhìn của con người ngày nay nữa. Sự suy thoái ấy khiến một số người cảm thấy tiếc nuối và xót xa. Bởi vì, TRIAL những tư tưởng thay thế không cóVERSION vẻ gì là tích cực hơn mà dường như càng khiến cho đời sống nghệ thuật trở nên u ám, mờ mịt hơn. Nhiều người thấy tương lai phía trước giống như một ảo ảnh mịt mờ mà người ra không biết đi đâu, về đâu. Trong giai đoạn ấy, khi nói về văn học miền Nam, nhiều học giả miền Bắc đã có những đánh giá khá nghiêm túc: Nguyễn Văn Hoàn với Chung quanh về Phạm Quỳnh, Ngô Đức Kế và Truyện Kiều ở miền Nam (Văn học, số 7/1964); Hà Mậu Nhai Những độc tố trong thứ văn học phục vụ chiến tranh tâm lí của Mĩ và tay sai ở miền Nam (Văn học, số 7/1966)…Nguyễn Đức Đàn với Những diễn biến mới trong văn học miền Nam vùng tạm bị chiếm những năm gần đây (Văn học, số 7/1969); Bùi Công Hùng Một thứ văn học vì mục đích đồng tiền (Văn học, số 3/1969); Phan Đắc Lập Đồi trụy, một trong những đặc điểm của văn học thực dân mới ở miền Nam Việt Nam (Văn học số 4/1974)… Trong các học giả miền Bắc nhận định về sách báo và đời sống văn học ở đô thị miền Nam, Thạch Phương đã để lại những nhận định khá khách quan về đời sống Purchase from http://www.axommsoft.com limitations văn nghệ, đặc biệt là khi nóitovềremove Lữ Phương. Trong of Lữdemo. Phương với văn học yêu nước và tiến bộ vùng đô thị miền Nam (Văn học số 6/1973)… nhà nghiên cứu thấy Lữ Phương đã tuyên chiến với những tác phẩm văn nghệ phản dân tộc, đi ngược lại ước Purchase from http://www.axommsoft.com to remove limitations of demo. 10 mơ, khát vọng của công chúng, chúng không chỉ là những cặn bã mà còn là độc dược, không chỉ rẻ tiền mà còn dịch bệnh... [294, 52]. Nhưng người đi trước Lữ Phương và tạo được ấn tượng đậm nét trong đời sống văn nghệ ở đô thị miền Nam chính là Vũ Hạnh. Ở nhà văn này, nhiều người đã có những đánh giá tích cực, thiện chí ngay từ những ngày đầu khởi nghiệp của ông. Khi nhận định về tác giả Vũ Hạnh, các nhà nghiên cứu văn học miền Bắc đã nhìn ông bằng cái nhìn khách quan nhưng cũng đầy khích lệ. Đa số họ đều thấy giữa “rừng văn nghệ” miền Nam vẫn có những “cây to” vươn cao lên đón ánh sáng mặt trời, mặc dù dưới chân nó là “đêm tối và bùn lầy nhơ nhớp”. Vũ Hạnh được các học giả miền Bắc xem như một cây bút hiếm hoi đã dám nói lên tiếng nói thẳng thắn đánh thẳng vào “xã hội” văn nghệ đô thị miền Nam. Khi viết cuốn Lịch sử văn học Việt Nam, tập 6, Nxb Giáo dục, nhóm nghiên cứu của Đại học Sư phạm Hà Nội gồm Huỳnh Lý, Lê Hoài Nam… đã có những đánh giá khách quan về tác phẩm Bút máu của Vũ Hạnh. Các ý kiến thống nhất cho rằng đây là tác phẩm tiến bộ, đã tạo dựng được không gian dã sử và thể hiện được trách nhiệm lớn lao của người cầm bút. Lương Sinh ở trong tác phẩm thực sự là một bi kịch của kẻ đánh mất mình. TRIAL VERSION Nhưng có thể nói, người đầu tiên nhận thấy sự khoẻ khoắn của ngòi bút Vũ Hạnh là Đặng Thai Mai. Ngay từ những bài đầu tiên trong sự nghệp, nhà phê bình đã dành được cảm tình đặc biệt của ông. Trên tạp chí Văn học, số 7, 1962, khi nhà nghiên cứu tìm hiểu về Văn học miền Nam dưới chế độ Mỹ - Diệm, đã dành cho Cô Phương Thảo sự lưu ý đặc biệt (Cô Phương Thảo: Ngọn cỏ thơm cô độc ở phương Nam; ở đây, tác giả tưởng bút danh này là một người nữ). Ông viết: “Cô Phương Thảo hình như là một ngòi bút phê bình được tín nhiệm của một số độc giả Sài Gòn. Cô… đã chú ý nhiều hơn về tình hình tác phẩm tiểu thuyết, thơ, kịch, truyện nhi đồng…” [193, 11]. Theo Đặng Thai Mai, Cô… là một trong những cây bút phê bình có chất lượng đầu tiên ở miền Nam này. Về phần văn học trên báo chí, sau khi kiểm điểm qua tình hình văn học theo lối biên khảo, tác giả đã lưu ý độc giả về sự phát triển của tờ Phụ nữ Diễn đàn, về tình trạng “sống dở, chết dở” của tờ này, sự “thoát xác” của tờ kia, sự xuất hiện và biến đi “như một chuỗi cười tắt vìlimitations bỗng nghẹn Purchase from http://www.axommsoft.com to vụt remove of ngào” demo.của tờ Vui Sống…[193, 12]. Với bài Một vài nhận xét về tình hình văn chương và báo chí 1959, Vũ Hạnh đã giới thiệu gần như tổng thể cái diện mạo âm u và trì trệ của sự phát triển của văn học miền Nam trong năm vừa qua. Đặng Thai Mai cho rằng Vũ Hạnh đã nêu rõ sự thất bại Purchase from http://www.axommsoft.com to remove limitations of demo. 11 của “chủ trương văn nghệ phi không gian và thời gian, văn nghệ hũ nút tối tăm, lập dị”. Ông còn nhận thấy tác giả của Một vài nhận xét về tình hình văn nghệ năm 1959 đã đánh giá khá xác đáng sự “thành công” của các tờ báo văn nghệ khác “chỉ là những sự thành công của một… phương thức thương mại mà thôi” [193, 12]. Qua sự tổng kết của Vũ Hạnh, Đặng Thai Mai đã nhận được xu hướng rệu rã của nền văn học miền Nam. Ông dựa vào ý của nhà văn để tổng kết thêm một lần nữa: Nói đến văn học trên báo chí, tác giả của bài Tình hình văn học năm 60 cũng chả thấy gì sáng sủa hơn: Cuộc sống “bấp bênh” của báo chí, “tâm lý ăn xổi ở thì” của người văn nghệ, mối liên hệ bị đứt đoạn giữa người viết và người đọc… là những lý do làm cho “phần đông ngòi bút chỉ biết phiêu lưu trong cõi sống cá nhân bẩn chật, cố tình quên các vấn đề thực tế một cách đại cương, để tự dối mình” [193, 18]. Sau hai năm, cũng trên tạp chí Văn học, số 7 (1964), Đặng Thai Mai khi đi tìm Lối thoát của văn học công khai vùng Mỹ kiểm soát ở miền Nam, lại xác nhận Vũ Hạnh “là nhà bình luận khá nghiêm túc” [195, 1]. Ông giới thiệu, đây là một người tổng kết có bản lĩnh và đi đầu trong các vấn đề văn học: “Người tìm hiểu văn học miền Nam lại có dịp gặp Cô Phương Thảo dưới một bài tổng kết nhan đề Sinh TRIAL VERSION hoạt văn học 1963 có gì lạ?” [195, 4]. Đặng Thai Mai thấy, Vũ Hạnh đã tinh tế nhận ra cái “khua động ồn ào giả tạo” của văn học đầu năm dường như để cho hợp với bao chuyển biến chính trị rồi nó lại lắng xuống và “tiêu điều” hơn trước. Cả phê bình lẫn sáng tác đều nhuốm màu ảm đạm. Tác giả nhấn mạnh, “thì cũng là bấy nhiêu nhận định của Cô Phương Thảo và các bạn đồng nghiệp ba bốn năm về trước. Cái đặc biệt chỉ là nhận xét của Cô lần này lại chán chường hơn mà thôi” [195, 100]. Như thế, ông đã xác nhận tính chân thực của ngòi bút Vũ Hạnh. Đặng Thai Mai còn nhận thấy trong cách phê bình, Vũ Hạnh đã bộc lộ thái độ khách quan khá rõ mà trong thời điểm đó, ít có cây bút tiến bộ nào ở miền Nam đạt được. Ông viết: “Ngay với sáng tác, Cô Phương Thảo đã muốn thấy trong sự phát triển của báo chí những ngày loạn quân loạn quan một “triệu chứng đáng mừng”, nhưng Cô dường như… lại thất vọng hơn trước” [195, 100]. Đặng Thai Mai còn chỉ rõ: Trong bài viết của mình, to Côremove Phươnglimitations Thảo lí giảiofvấn đề chính trị, xã hội, với một Purchase from http://www.axommsoft.com demo. cái nhìn khá khoa học. Purchase from http://www.axommsoft.com to remove limitations of demo. 12 Ngoài những bài viết của các tác giả ở trên, hoạt động nghiên cứu, phê bình về văn học ở đô thị miền Nam khá phong phú, nhưng riêng tác giả Vũ Hạnh, chúng tôi chưa thấy có thêm sự khái quát nào đáng kể. 1.2. Tình hình nghiên cứu ở miền Nam trước 1975 Cũng cần lưu ý trước tiên rằng, trong sự phát triển của ý thức dân tộc, nhiều học giả miền Nam đã thể hiện quan điểm nghệ thuật tiến bộ khá rõ. Thời điểm đó không chỉ có Vũ Hạnh mà còn có Nguyễn Hiến lê, Nguyễn Ngọc Lương, Viễn Phương… Mỗi học giả đều thể hiện cách nhận thức đa dạng về đời sống nhưng nhìn chung đều hướng tới dân tộc tính. Trên Tin văn số 5, 1966, Hoàng Hà có bài “Bảo tồn và phát huy văn nghệ dân tộc là trách nhiệm của tất cả chúng ta”. Ông cho rằng thái độ đó có thể được xem như “hoa thơm đẩy lùi cỏ dại”, “từ vài tác phẩm văn chương lành mạnh, vài sáng tác nghệ thuật hương xa, vài mẩu phê bình tiến bộ hiện diện lẻ loi, bướng bỉnh trước bão táp vùi dập của văn nghệ ngoại lai, đồi trụy đến nay, trên văn đàn, trên sân khấu nghệ thuật, trên sách báo, hiện tượng văn nghệ dân tộc đã trở thành một thực tại phổ cập. Sinh hoạt văn nghệ thành thị miền Nam đang hít thở luồng gió mới hươngTRIAL sắc củaVERSION hoa thơm...” [224, 109]. Bài viết đã nhận thức rất rõ vai trò của người nghệ sĩ. Văn nghệ và những người hoạt động văn nghệ cần phải có bổn phận phát huy giá trị tâm hồn và truyền thống tinh thần của dân tộc, đẩy lùi sức phá hoại tàn tệ của văn nghệ ngoại lai, đồi trụy. Tác giả nhận thức được rằng “Văn nghệ, sinh hoạt tinh thần tác động sâu xa vào tâm hồn con người, bài trừ ảnh hưởng đầu độc, phá hoại của văn nghệ đồi trụy ngoại lai phải là một công việc thực thi cách mạng đầy cương quyết và nhẫn nại. Vả lại, văn nghệ đồi trụy ngoại lai vẫn tồn tại như một thế lực hiển nhiên, hằng ngày đang gây tai ương, thảm họa, thì ý hướng xây dựng một nền văn nghệ dân tộc sẽ chỉ là ảo tưởng nếu như không đặt sự bài trừ, phản kháng là nhiệm vụ hàng đầu. Một vườn hoa văn nghệ dân tộc đang thành hình giữa rừng cỏ dại, tiếp tục khai quang quét sạch cỏ độc” [224, 178]. Tư tưởng tiến bộ trong văn học miền Nam đã được nhiều nhà văn vun đắp, xây dựng. Từ những người coi văn nghệ là vũ khí như Lữ Phương, Nguyễn Trọng Văn đến những tác giả vừa sáng tác vừalimitations phê bình như Đoàn Thêm, Nguyễn Ngu Í, từ Purchase from http://www.axommsoft.com to remove of demo. những người vừa biểu diễn vừa sáng tác như Vũ Khắc Khoan, Nghiêm Xuân Hồng... đều nói về ý thức dân tộc với một niềm tin tha thiết. Trong bối cảnh đó, Vũ Hạnh xuất hiện như một điểm sáng tư tưởng. Đánh giá Purchase from http://www.axommsoft.com to remove limitations of demo. 13 về tác giả này, nhiều nhà nghiên cứu miền Nam đã thể hiện một thái độ chân thành, thẳng thắn. Đa số đều cho rằng: Vũ Hạnh là một cây viết nhiệt tình và giàu nghị lực. Từ những năm 1958 - 1964, ông liên tục xuất hiện trên tạp chí Bách khoa thời đại với những bút danh khác nhau: Ngoài Vũ Hạnh, Minh Hữu chủ yếu ở phần sáng tác, còn có Cô Phương Thảo, Nguyên Phủ chuyên về phê bình. Nhà văn đã thực sự để lại ấn tượng đậm nét trong tư tưởng của người đọc đô thị miền Nam. Suốt những năm 1960 - 1965, người miền Nam đã trở nên quen thuộc với những bài phê bình mạnh mẽ, sắc sảo và kịp thời của ông. Cho nên, hồi tưởng lại khi còn viết bài phê bình cho Bách khoa, Vũ Hạnh bày tỏ: “Một số nhà văn dù bị những sự phê phán có ít thiện cảm của tôi vẫn bày tỏ sự niềm nở, tín nhiệm làm tôi rất xúc động… có những độc giả ở tận bên Pháp gửi lời về thăm sức khoẻ, mong cho tôi được mạnh giỏi để mà… phê bình” [93, 88]. Điều đó chứng tỏ những bài viết của tác giả có chất lượng và tạo được uy tín sâu rộng trong lòng người đọc và giới cầm bút. Tuy nhiên những ý kiến nhận định về ông còn lại không nhiều, bởi chúng chỉ ở dạng thư từ hoặc tản mác trên các tạp chí bị đình bản thường xuyên, cho đến giờ hầu như không thể tìm lại được. Nhìn chung, những nhận xét về Vũ Hạnh ở miền Bắc và miền Nam, ngoài những TRIAL VERSION người cùng chí hướng, còn có sự khác nhau về thái độ, lập trường, tư tưởng. Nhưng dù ít, dù nhiều, các nhà nghiên cứu đã thấy được những đặc điểm cơ bản trong cây bút lí luận, phê bình Vũ Hạnh. Ở đây, trước hết, để cho thật sự khách quan, chúng tôi xin điểm qua ý kiến của những người ít nhiều đã phản đối Vũ Hạnh hoặc chí ít cũng từng bị ông phê bình. Đầu tiên phải kể đến Phạm Thanh. Bài nhận định về Thi nhân Việt Nam hiện đại (của Phạm Thanh) đã khiến cho người bị phê bình “tái mặt” và phải bày tỏ đôi lời phân trần ngay sau đó. Ông Phạm Thanh nhận rằng, từ khi Thi nhân Việt Nam hiện đại được phát hành tới nay, “tôi đã nhận được nhiều sự chỉ giáo của các bậc chí giả có tâm với văn nghệ nước nhà … và lại được ông Nguyên Phủ đọc tới và đặc biệt phê bình”. Ông Phạm Thanh cũng thành thực “tôi xin ghi nhận tất cả các ý kiến của ông Nguyên Phủ tuy ông đã đọc sách của tôi qua một ống kính riêng của ông” [340, 59]. Tác giả của Thi nhân Việt Nam hiện đại cố thanh minh một cách yếu ớt, “tôi cũng biết trước trong sự lựa to chọn của tôilimitations có sự lầm of lẫn, nên khi soạn tập sách này tôi Purchase from http://www.axommsoft.com remove demo. đã nhờ một số văn hữu lựa chọn giúp và cho tôi tài liệu về các thi nhân... Riêng về thi sĩ Quách Thoại,… “thật tình tôi không hề có ý xúc phạm tới hương hồn của thi sĩ, nhất là làm tổn thương tới danh dự của nhà thơ đã khuất”. Còn về ảnh của các nhà Purchase from http://www.axommsoft.com to remove limitations of demo. 14 thơ mà Vũ Hạnh gọi là những ảnh xưa vẽ lại “lam nham, gớm ghiếc”, Phạm Thanh cũng phải nhận hoàn toàn lỗi về mình. Ông cũng cố lý giải về việc lấy bài diễn thuyết đầy khiếm khuyết của ông Vũ Đức Trinh làm “điểm tựa”: “Nếu ông Nguyên Phủ buộc tôi đã có dã tâm dùng bài đó làm một tấm mộc che đỡ cho những thiếu sót của tập Thi nhân Việt Nam hiện đại, tôi không dám trách, nhưng riêng về phần tôi, thực tâm tôi không bao giờ có ý ấy”. Cuối cùng, ông Phạm Thanh thừa nhận sai lầm của mình, rằng: “Tôi xin một lần nữa cám ơn ông Nguyên Phủ đã lưu ý tới tập sách thiếu sót của tôi… và tôi xin nhận tất cả những điều ông đã nêu ra” [340, 60]. Sau bài điểm sách Vài kỉ niệm về mấy văn, thi sĩ hiện đại của Bàng Bá Lân, Cô Phương Thảo (Vũ Hạnh) cũng nhận được mấy lời phân trần từ tác giả của nó. Ở bài viết này, tác giả cũng nhận là có gay gắt đối với thi sĩ, nhưng điều đó là cần thiết. Bàng Bá Lân tỏ ra khá bực bội khi nhận được những lời không mấy cảm tình của Cô Phương Thảo. Ông viết trong tạp chí Bách khoa số 143: “Cô Phương Thảo đã có nhã ý dành cho cuốn Vài kỉ niệm về mấy văn, thi sĩ hiện đại của tôi vừa phát hành những tám trang giấy đặc. Việc đó chứng tỏ cô đã để nhiều thì giờ đọc kĩ cuốn sách mới ra và dành cho nó rất nhiều sốtTRIAL sắng”.VERSION Ông trách Vũ Hạnh đã bỏ hết những lời khen và dụng tâm nhặt toàn những khuyết điểm đó đây, đem cắt xén, chắp vá lại cho thêm nặng nề, “cốt để tuyên bố rằng tôi muốn “ đào huyệt chôn gấp” các văn, thi sĩ, đồng thời để khỏi bị che lấp!”. Ông thanh minh, “tôi… viết sách giới thiệu các bạn ấy, mà tất cả đều dở hết (theo như Cô Phương Thảo đã nói), thì sao còn xứng gọi là văn, thi sĩ?” Về nhan đề sách, Bàng Bá Lân cũng cho Vũ Hạnh cố tình bới móc để nói xấu ông, bởi “Cô đã bỏ ra gần trọn một cột báo để bẻ về mấy chữ ấy, chỉ cốt để hạ bút viết rằng Kỉ niệm văn, thi sĩ hiện đại là một nghi nghĩa, nói lên một sự giản ước về lỗi đi ngược lại tinh thần tiếng nói dân tộc…” [150, 120]. Không bằng lòng về những gì Vũ Hạnh đã viết, Bàng Bá Lân còn phê bình lại văn phạm của ông nữa. Bàng Bá Lân cho rằng Vũ Hạnh đã lạm dụng ngôn từ “bừa bãi”, thiếu chính xác và thiếu logic. Sau đó, ông phủ nhận sự ép buộc của Vũ Hạnh đã dành cho ông: “Cô Phương Thảo đã đả kích lối phê bình dựa vào quen biết của tôi, cho rằng quan điểm ấy đã rút lui vào một thời khoảng hiện đại, giữa những biên giới quốc gia chật hẹp” và mỉa mai kết limitations luận: “Ở đây, không khéo lại thêm một quan Purchase from http://www.axommsoft.com to remove of demo. điểm phê bình mới mẻ, tạm gọi là Quan điểm phê bình gia tộc! Vô tình hay cố ý, Cô Phương Thảo đã quên hẳn cái dụng ý của tôi ở ngay đầu sách” [150, 120]. Ông cũng thanh minh việc đặt Nguyễn Nhược Pháp và Nguyễn Hiến Lê lên đầu không phải vì Purchase from http://www.axommsoft.com to remove limitations of demo. 15 hai vị đó đã khen ngợi tác giả nhiều mà thực là vì chân tài của các vị… Khi nói về Vũ Hoàng Chương, Vũ Hạnh “vô tình hay cố ý - đã trích sai cả những lời tôi nói”: “Về Vũ Hoàng Chương, họ Bàng phát giác thêm cho chúng ta thấy rõ tác giả của Mây và Say đã bị “thiếu” thuốc phiện tàn phá thế nào”; họ Vũ “là kẻ thất vọng vì tình nên phải đi sâu vào truỵ lạc, phải nghiện ngập nặng làm cho tàn tạ như kẻ chết nửa vời…”. Ông cho Vũ Hạnh đã thêm bớt vào phần trích dẫn vì ông không nói chữ “thiếu” bao giờ. Từ đó Bàng Bá Lân nặng lời phủ nhận quan điểm của Vũ Hạnh, cho ông là kẻ đi chụp mũ người khác: “Bây giờ tôi đã hiểu quá rõ Cô Phương Thảo… Tôi tưởng không cần phải biện bạch dài dòng mà chỉ xin nói văn tắt rằng: Về sự khiêm tốn, xin để công luận thẩm bình; còn điểm sở trường về thơ xin trả lại Cô, tôi không dám nhận” [150, 123]. Sự phản ứng của Bàng Bá Lân thực tế không làm mất đi niềm tin của độc giả đối với Vũ Hạnh mà còn tạo nên sự chú ý trong dư luận. Cuộc tranh cãi này chỉ có tính chất cục bộ, cá nhân hơn là phê bình quan điểm phê bình theo đúng nghĩa của nó. Từ khi xuất hiện trên lĩnh vực phê bình vào năm 1959, Vũ Hạnh đã tự ghi tên mình vào danh sách những TRIAL cây bútVERSION phê bình tiêu biểu cho tinh thần tiến bộ của thời đại mới. Dù lời khen nhiều và chê cũng lắm, nhưng càng ngày, vị thế của ngòi bút Vũ Hạnh càng được khẳng định. Trong buổi hội thảo về vấn đề Cải thiện giáo dục và bài trừ ấn loát phẩm đầu độc thanh thiếu nhi (1965), Vũ Hạnh đã được Nguyễn Ngu Í giới thiệu trang trọng: “Ông Vũ Hạnh, nhà giáo, nhà văn và cũng là nhà báo, đã dõng dạc phanh phui những nỗi khó khăn, cùng đề nghị những biện pháp… để bài trừ ấn loát phẩm đồi truỵ, xây dựng lại tinh thần thanh thiếu nhi đã nhiễm độc quá nhiều” [130, 84]. Từ 1960 đến 1972, trừ những năm bị giam cầm (1967 - 1970), Vũ Hạnh vẫn được các nghiệp đoàn, trung tâm Văn Bút, các tạp chí Sài Gòn nổi tiếng mời nói chuyện và tham gia thuyết trình… điều đó cho thấy uy tín của nhà văn ngày càng rộng lớn. Trong giới văn nghệ, Vũ Hạnh đã có một chỗ ngồi vững vàng. Chính đây là cơ sở thuận lợi để ông hoạt động cách mạng bằng ngòi bút sắc nhọn của mình. Người ủng hộ tư tưởng của Vũ Hạnh nhiều nhất và là người kế tục ông chiến đấu chống lại văn học nô dịch, suy đồi, chính là Lữ of Phương. Purchase from http://www.axommsoft.com to remove limitations demo.Lữ Phương coi Vũ Hạnh như một bậc đàn anh trong văn giới, một người “mở đường đáng tin cậy”, chiến đấu không khoan nhượng cho lý tưởng của mình. Ở nhiều bài viết, Lữ Phương bày tỏ thái độ ủng hộ nhiệt tình đối với quan điểm của Vũ Hạnh. Trong bài Hiện tượng thoát ly Purchase from http://www.axommsoft.com to remove limitations of demo. 16 thực tại trong chín năm văn học Ngô triều (Tin Văn, 1966), Lữ Phương giới thiệu sự xuất hiện thường xuyên của Vũ Hạnh là một sự “cần mẫn” và “gan dạ”, theo sát “hành trình tàn tạ” của văn học miền Nam 1954 - 1975: “Không cuối năm nào chúng ta không nghe thấy nhà văn Vũ Hạnh than phiền về tình trạng nghèo nàn của đời sống văn nghệ trên tạp chí Bách khoa” [269, 26]. Còn khi đọc Đứa con của nàng Kiều, Lữ Phương cho rằng khi tìm hiểu đoạn Kim Kiều tái hợp: “Từ một cái nhìn độc đáo, ông Vũ Hạnh đã khám phá thấy nơi cuộc sum họp này cái bạo tàn của một ý thức phong kiến, chà đạp con người đến bước đường cùng” [270, 20]. Tác giả Lữ Phương đã thực sự thích thú với những kiến giải bất ngờ, sâu sắc mà Vũ Hạnh đã đưa ra. Cũng vẫn Lữ Phương trên Bách khoa số 230 (1966), có bài Về một thái độ văn học, đã lên tiếng bênh vực cho quan điểm của Vũ Hạnh nhằm đả phá luận điệu “văn học chủ quan tuyệt đối” của ông Viên Linh khi ông này “nhảy xổ” vào cuộc tranh luận của ông Vũ Hạnh và ông Trần Thanh Hiệp với tác phong của một kẻ “không màng đến liêm sỉ”. Lữ Phương đề cao thái độ khách quan trong văn nghệ và tư tưởng văn nghệ dân tộc của Vũ Hạnh, đồng thời lên án luận điệu “văn nghệ chủ quan tuyệt đối” của ông Viên Linh.VERSION Ông Viên Linh chẳng biết những chữ “nội dung TRIAL dân tộc cụ thể ” của Vũ Hạnh có ý nghĩa gì. Thật ra các ông Trần Thanh Hiệp và Vũ Hạnh không lấy các chữ “dân tộc” hoặc “dân tộc cụ thể” để hạn định các sáng tác một cách hẹp hòi như ông Viên Linh lo lắng…” Ông Vũ Hạnh chỉ bàn rằng “không có một nội dung dân tộc cụ thể, mọi sự đổi mới cũng sớm trở thành trừu tượng, mâu thuẫn và xa dân tộc” (Tin Sách số 44, 1966). Lữ Phương thấy, quan niệm của ông Vũ Hạnh đã bị ông Viên Linh từ chối hoàn toàn với luận điệu của một kẻ “chủ quan cô độc”. Trên tuần báo Nghệ thuật, số 27, 4/1966, ông Viên Linh coi quan niệm của Vũ Hạnh như một thứ quan niệm “hạ lưu” dám theo đòi lý tưởng nghệ thuật cao sang. Nhan đề bài viết Anh lùn cạnh nhà thờ Đức bà chứng thực cho điều đó. Chính quan niệm này đã khiến ông Viên Linh gọi người “mang cái khách quan ra nhận định một sáng tác văn nghệ” là “một thế hệ ngu muội”, để chất vấn: “Ông Vũ Hạnh… vai trò của một người tự nhận phê bình văn học, cộng tác thường xuyên của một tạp chí đã làm được gì trước những tài năng chưa xuất hiện, hay chỉ sốngto vào những limitations tài năng đã of có?” [273, 66]. Purchase from http://www.axommsoft.com remove demo. Với tư tưởng phủ nhận hoàn toàn sự thực khách quan để đi vào một thứ văn nghệ “hũ nút, tối tăm”, ông Viên Linh cố bác bỏ cho được xu hướng văn nghệ gắn liền với sự thực ở đời và được chỉ đạo bởi tư tưởng nghệ thuật của ông Vũ Hạnh. Lữ Purchase from http://www.axommsoft.com to remove limitations of demo. 17 Phương phê phán ông Viên Linh: Mọi phủ nhận phê bình khách quan nơi độc giả “chỉ là thái độ của những con chồn chê nho xanh của La Fontaine!” [273, 70]. Từ 1967, Lữ Phương chuyển ra hoạt động văn nghệ ở vùng giải phóng, ta không còn có dịp gặp ông trên các tạp chí Sài Gòn nữa. Vũ Hạnh thời điểm đó cũng bị bắt giam, tạp chí Tin Văn bị đình bản. Năm 1970, Vũ Hạnh được trả tự do, ngay sau đó ông đã xuất hiện lại trên Bách khoa, số 319 (15/4/1970) với bài Nghĩ về một số hiện tượng trong sinh hoạt văn nghệ hiện nay. Người đọc vẫn chú ý đến ông, những kẻ bồi bút vẫn xem Vũ Hạnh như một cái gai trong mắt. Tuy nhiên, những bài công kích trực tiếp thì chúng tôi chưa thấy. Nhưng nhiều người vẫn thấy ở Vũ Hạnh có một nhiệt tâm đáng quý, một ý thức nghệ thuật đáng được trân trọng. Đáng chú nhất là ý kiến của Nguyễn Mộng Giác trong Bách khoa (1972). Khi Nhìn lại mười lăm năm văn học miền Nam với một cái nhìn u hoài, nhà nghiên cứu đã thấy rõ văn nghệ ngày càng xuống cấp trầm trọng. Ông thấy, Vũ Hạnh là một người tinh tế và có tầm bao quát, đã nhận ra sự suy tàn đó: “Ngay trên tờ Bách khoa này, ông Vũ Hạnh đã ghi nhận sự thoái trào bi đát ấy: Đó là cái hiện trạng vănTRIAL nghệ cốVERSION tình thoát ly thực tại, giả vờ không biết sự thực. Những đề tài mới mẻ tân kì chỉ là lối trốn nhiệm màu, hay là tủi nhục, của người cầm bút…” Nguyễn Mộng Giác cho rằng, tuy nhận định của Vũ Hạnh “có chút gay gắt bi quan, nhưng khuynh hướng quay lưng với thực tại mất chủ quyền và tự do trước mắt trong giới cầm bút là có thật” [44, 47]. Nhà phê bình xác nhận cái chân thực trong ngòi bút của Vũ Hạnh tuy có lạnh lùng nhưng sáng suốt. Những nhận định như thế về một ngòi bút thiên Cộng ở miền Nam không nhiều. Như vậy, ý kiến của các nhà nghiên cứu có sự khác nhau khá rõ ràng. Những cây bút trái lập trường với Vũ Hạnh tuy có phản đối và phần nhiều sa vào phê phán chủ quan; các cây bút tương đồng quan điểm hoặc trung lập thì chủ yếu đề cao Vũ Hạnh: Một ngòi bút khách quan, quyết liệt và có tầm khái quát cao. Tuy nhiên, hầu hết ý kiến chỉ mới dừng lại ở việc điểm diện, và thiên về đánh giá về tinh thần nghiên cứu phục vụ cách mạng mà thiếu hẳn những nhận định khách quan về giá trị nghệ thuật. 1.3. Tình hình nghiên cứu trong cả nước sau 1975 Sau năm 1975, các nhà nghiên cứu có điều of kiện để nhìn nhận lại các vấn đề Purchase from http://www.axommsoft.com to remove limitations demo. một cách toàn diện, thoả đáng hơn. Tuy nhiên, trước năm 1990, những đánh giá về các nhà văn ở đô thị miền Nam trong dòng văn học hoạt động công khai vẫn còn rất dè dặt, thậm chí khắt khe. Nhìn chung, các học giả khi bàn về miền Nam đều thể Purchase from http://www.axommsoft.com to remove limitations of demo. 18 hiện cái nhìn thiếu thiện cảm và một quan điểm phê phán rõ ràng. Một số học giả gần đây đã có quan điểm tích cực hơn, họ nhìn nhận văn học đô thị miền Nam như một bộ phận văn học cần phải được nhận thức trở lại và gạn lấy những nét sáng tươi. Có thể kể đến các công trình như Trần Hữu Tá với Văn hóa văn nghệ miền Nam thời Mỹ Ngụy (1977); Trần Trọng Đăng Đàn với Văn học thực dân mới Mỹ ở miền Nam năm 1954 - 1975, tập 2 (1991) và Văn hóa văn nghệ miền Nam, năm 2000; Trường Lưu với Văn hóa văn nghệ một thời hai trận tuyến (2001). Tìm hiểu về Văn học thực dân mới Mỹ ở miền Nam những năm 1954 - 1975, Trần Trọng Đăng Đàn thấy rằng: Loại hình văn học phục vụ chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam chủ yếu thuộc ba khuynh hướng: Văn học phục vụ chính trị phản động; văn học nhằm đồi trụy hóa con người và văn học chạy theo thị hiếu thẩm mĩ tầm thường của xã hội tiêu thụ… Tác giả đã tổng kết có hệ thống sáng tác văn học theo quan điểm thực dân mới Mỹ và cho rằng đó thực sự là một thiết chế phản động, cần phải loại trừ. Nó chống lại, phủ nhận đời sống cách mạng miền Bắc và đi ngược lại nguyện vọng chung của dân tộc [30, 114-156]. Nhà nghiên cứu đã lên án gay gắt và chỉ ra những tác hại cụ thể của văn VERSION học thực dân mới. Điều đó tái khẳng định tính phi TRIAL nhân bản và kêu gọi mọi người cần có cái nhìn cảnh giác đối với dòng văn học này. Tác giả Trường Lưu khi tìm hiểu Văn hóa nghệ thuật một thời hai trận tuyến (2001) đã có những đánh giá cởi mở về Những thăng trầm của phong trào văn học yêu nước ở đô thị Sài Gòn trước 1975. Ông cho rằng: Trong những năm đầu… một số tác phẩm có giá trị hiện thực nhất định vẫn lọt lưỡi kéo kiểm duyệt để xuất hiện… “trong thời gian này có những tác phẩm đáng chú ý như Chiếc áo thiên thanh (Lê Vĩnh Hòa), Sắc lụa trữ la (Viễn Phương), Bút máu (Vũ Hạnh), Bát cơm bát máu (Mặc Thu), Hương rừng Cà Mau (Sơn Nam), Gió thu (Nam Giao)…” [181, 74-75]. Về sau các sáng tác đã phong phú hơn và có được những vị trí nhất định trên văn đàn công khai. Nhà nghiên cứu đã nhìn nhận văn học yêu nước với một ý thức cầu thị và có những nhận định bao quát các hoạt động của dòng văn học. Một số đoạn ông nhắc đến Vũ Hạnh như một người có vai trò quan trọng, đã thể hiện một quan điểm dân tộc mạnh mẽ, quyết liệt trong việc làm trong sạch đời sống văn nghệ miền Nam. Trường Lưu cũng đánh giá cao sự ra đời của chí Tin văn. Ông viết: “Lần Purchase from http://www.axommsoft.com to remove limitations oftạp demo. đầu tiên, giữa Sài Gòn, hơn 10 năm dưới quyền thống trị của bọn tay sai, một cơ quan ngôn luận mang nội dung dân tộc, lành mạnh phát hành công khai, đối lập với chủ trương dùng văn hóa để nô dịch nhân dân. Những bài phê bình lên án nghiêm khắc Purchase from http://www.axommsoft.com to remove limitations of demo. 19 những tên cầm bút vô liêm sỉ như Chu Tử, Thanh Nam, Lê Xuyên… đã có nhiều tiếng vang, Ngụy quyền phải ra lệnh tịch thu các tiểu thuyết đó” [181, 85-86]. Có thể thấy, quan điểm của Trường Lưu đã có tác dụng tích cực, góp phần giúp cho các nhà nghiên cứu có thêm niềm tin để nhận thức lại những giá trị của dòng văn học ở đô thị miền Nam 1954-1975 vốn vẫn chưa được tìm hiểu nhiều. Nhưng đáng kể nhất là công trình nghiên cứu về văn học đô thị miền Nam của Trần Hữu Tá. Trong luận án PTS. Khuynh hướng văn học yêu nước tiến bộ trong các thành thị miền Nam giai đoạn 1954 - 1975 (1994), Trần Hữu Tá đã đánh giá khá toàn diện về khuynh hướng văn học ấy, trong đó ông cũng có những nhận định nghiêm túc về sự nghiệp phê bình của Vũ Hạnh. Ở phần lí luận phê bình, tuy Trần Hữu Tá đã xác nhận Vũ Hạnh là một cây bút mở đường tiêu biểu nhưng ông chưa đánh giá được đầy đủ những cống hiến của Vũ Hạnh trong những năm 1959 - 1964. Ông cũng không phân định rõ vai trò và khả năng chiến đấu của cây bút tiến bộ này trong lòng địch với các tác giả trong vùng giải phóng, do đó những công trình của Vũ Hạnh không được chú ý đúng mức. Ta dễ nhận ra rằng, khi Vũ Hạnh phải viết dưới sự kiểm duyệt gắt gao của chính quyền, thì Viễn Phương, Lữ Phương (năm 1967 ra vùng giải phóng), TRIAL VERSION được viết tự do và thoải mái. Sự khác nhau về môi trường hoạt động làm cho quan điểm nghệ thuật không được cởi mở. Cho nên, nghiên cứu Vũ Hạnh cần phải nhìn ở một tương quan khác, với một nhãn quan khác. Nhưng, Trần Hữu Tá đã ghi nhận được những đóng góp quý báu của Vũ Hạnh cho khuynh hướng văn học yêu nước. Trên mảnh đất lí luận miền Nam, Vũ Hạnh “nổi trội hơn cả”. Tác phẩm Tìm hiểu văn nghệ “có nội dung trình bày gọn và rõ, cách diễn đạt trong sáng và giàu tính hình tượng, do đó dễ phổ cập đến đông đảo người đọc nhất là học sinh, sinh viên”. Tác phẩm cũng đã phê phán một cách trực diện những “loại sách võ hiệp ma quái, những truyện tình dâm ô, những tác phẩm làm dáng trí thức bằng cách vay mượn các triết thuyết phương Tây” [320, 143-144]. Trần Hữu Tá thấy, dưới các bút danh khác nhau, Vũ Hạnh đã có những bài phê bình xác đáng, đặc biệt là những bài tổng kết tình hình văn học Sài Gòn hàng năm một cách sâu sắc và dũng cảm [326, 136]. Mục tiêu phê bình của Vũ Hạnh nhất quán ở phương diện bảo vệtovăn hoá dân tộc và of đạodemo. đức truyền thống, phê phán Purchase from http://www.axommsoft.com remove limitations nghiêm khắc các khuynh hướng văn học phi nhân bản, phản dân tộc như đồi truỵ, lai căng, vong bản, “phê phán bọn con buôn văn nghệ và những văn nghệ sĩ bất lương” [320, 136-137]. Purchase from http://www.axommsoft.com to remove limitations of demo. 20 Trần Hữu Tá cũng nhận định trong các công trình nghiên cứu văn học ở miền Nam, Đọc lại Truyện Kiều (1966) có một vị trí đặc biệt. Ông viết: tác phẩm đã “thể hiện một cách cảm thụ tài hoa và một sự đánh giá đúng đắn tác phẩm cổ điển này của dân tộc” [112, 2024]. Có thể thấy, nhà nghiên cứu đã tìm hiểu kĩ công trình này của Vũ Hạnh và có những nhận định sắc nét. Trong Từ điển tác gia văn học Việt nam thế kỉ XX do Trần Mạnh Thường chủ biên, Trần Hữu Tá cũng nhận định khái quát về Vũ Hạnh: “Trong hoàn cảnh bị Mỹ Nguỵ o ép, khủng bố dữ dội, ông vẫn viết đều đặn. Nhiều bài viết của ông trên các tập san, tạp chí văn nghệ xuất bản ở Sài Gòn đã kịp thời và khéo léo phê phán những tác phẩm độc hại, những khuynh hướng nghệ thuật suy đồi, những hiện tượng văn hoá phản khoa học, phản dân tộc. Trong lĩnh vực phê bình, Vũ Hạnh có phong cách dân tộc độc đáo, nhận xét tinh tế, phê phán sắc sảo… dưới ánh sáng của đường lối chống Mĩ giải phóng miền Nam của Đảng ta, ông đã góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chống lại âm mưu, thủ đoạn nham hiểm, độc ác của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai trong lĩnh vực văn hoá tư tưởng” [384, 1252]. Còn khi tìm hiểu sáng tác văn học của Vũ Hạnh, Trần Hữu Tá đã thừa nhận: TRIAL VERSION “Lửa rừng mang âm hưởng hùng tráng, ngợi ca tinh thần đấu tranh quật cường vì độc lập tự do của người dân lao động Tây Nguyên. Mượn xưa nói nay, nhà văn qua đó để động viên nhân dân chống Mĩ” [112, 2024]. Nhận định này cho thấy tác giả đánh giá cao giá trị tuyên truyền của tác phẩm. Lửa rừng thực sự đã thắp lên một ngọn đuốc để soi sáng con đường tranh đấu của đồng bào Tây Nguyên. Tuy nhiên, cũng trong nhận định của mình, Trần Hữu Tá đã không chú ý nhiều đến giá trị thẩm mĩ mà tác phẩm có thể tạo ra. Nghiên cứu Thi pháp Truyện Kiều, Trần Đình Sử đã nhận thấy sự sắc sảo và tinh tế của Vũ Hạnh trong Đọc lại Truyện Kiều. Nhà nghiên cứu viết: “Vũ Hạnh trong công trình Đọc lại Truyện Kiều (1966) đã phân tích sâu sắc, tinh tế nội dung xã hội cũng như phẩm chất thiên tài của nghệ thuật Truyện Kiều. Đặc biệt ông khám phá những tình ý ẩn kín dưới dạng vô thức bộc lộ qua những chỗ có vẻ “sơ ý” hay “lỡ tay”… chứng tỏ sự sáng tạo mới mẻ của Nguyễn Du” [317, 20]. Nhìn chung, một số nhận định của các tác giảofmiền Nam và miền Bắc đã nhận Purchase from http://www.axommsoft.com to remove limitations demo. thấy tính sắc sảo, tinh tế và khả năng khái quát cao ở cây bút này. Nhưng, cũng có không ít tác giả đánh giá các công trình của Vũ Hạnh một cách khái quát, nhưng chủ yếu vẫn đánh giá ý nghĩa xã hội nhiều hơn là giá trị văn học. Trong các nhận định
- Xem thêm -