Tài liệu Nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục tại phiên tòa trong luật tố tụng hình sự việt nam luận văn ths. luật

  • Số trang: 143 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 66 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 39801 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN ĐỨC HÙNG NGUYÊN TẮC XÉT XỬ TRỰC TIẾP, BẰNG LỜI NÓI VÀ LIÊN TỤC TẠI PHIÊN TÒA TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI – 2012 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN ĐỨC HÙNG NGUYÊN TẮC XÉT XỬ TRỰC TIẾP, BẰNG LỜI NÓI VÀ LIÊN TỤC TẠI PHIÊN TÒA TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM Chuyên ngành : Luật Hình sự Mã số : 60 38 40 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN NGỌC CHÍ HÀ NỘI – 2012 MỤC LỤC Trang LỜI CAM ĐOAN DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU…………………………………………………………………...1 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC XÉT XỬ TRỰC TIẾP, BẰNG LỜI NÓI VÀ LIÊN TỤC TẠI PHIÊN TÒA….6 1.1. Khái niệm “xét xử trực tiếp”, “xét xử bằng lời nói” và“xét xử liên tục” tại phiên tòa. ........................................................................................................... 6 1.1.1. Xét xử trực tiếp. ............................................................................................... 6 1.1.2. Xét xử bằng lời nói ........................................................................................ 11 1.1.3. Xét xử liên tục. .............................................................................................. 12 1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục tại phiên tòa………………………………………………………….…....14 1.2.1. Cơ sở lý luận ................................................................................................. 14 1.2.2. Cơ sở thực tiễn. ............................................................................................. 19 1.3. Ý nghĩa của nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục tại phiên tòa phiên tòa .................................................................................................................. 23 1.4. Sơ lược về sự hình thành và phát triển của nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục tại phiên tòa trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam ...................... 25 1.4.1. Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng 8/1945 đến trước khi BLTTHS 1988 có hiệu lực thi hành. ............................................................................................. 25 1.4.2. Giai đoạn từ khi BLTTHS 1988 có hiệu lực thi hành đến nay ....................... 32 1.5. Sự thể hiện của nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục tại phiên tòa trong Pháp luật tố tụng hình sự trên thế giới.............................................. 35 1.5.1.Nguyên tắc xét xử trực tiếp và nguyên tắc xét xử bằng lời nói ....................... 35 1.5.2.Nguyên tắc xét xử liên tục .............................................................................. 40 CHƢƠNG 2: NGUYÊN TẮC XÉT XỬ TRỰC TIẾP, BẰNG LỜI NÓI VÀ LIÊN TỤC TẠI PHIÊN TÒA TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM……………………………………………………………………………….43 2.1. Nội dung, phạm vi và yêu cầu của nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục tại phiên tòa............................................................................................ 43 2.1.1. Nội dung nguyên tắc ...................................................................................... 43 2.1.2. Phạm vi của nguyên tắc ................................................................................. 49 2.1.3. Yêu cầu của nguyên tắc ................................................................................. 54 2.2. Một số nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự có liên quan đến nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục tại phiên tòa ........................................ 56 2.2.1. Nguyên tắc xác định sự thật khách quan của vụ án ....................................... 56 2.2.2. Nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo .......... 58 2.2.3. Nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật ........................................................................................... 60 2.2.4. Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án. ..................................... 62 2.2.5 Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật........................................................................................................................... 63 2.2.6 Nguyên tắc xét xử công khai. ......................................................................... 64 2.2.7. Nguyên tắc tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng hình sự. ....................... 65 2.3. Một số quy định bảo đảm thực hiện nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục tại phiên tòa............................................................................................ 66 2.3.1. Sự có mặt của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng tại phiên tòa .................................................................................................................. 66 2.3.2. Giới hạn của việc xét xử (Điều 196 BLTTHS 2003) ..................................... 68 2.3.3. Biên bản phiên tòa (Điều 200 BLTTHS 2003) .............................................. 69 2.4. Các quy định liên quan đến nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục tại phiên tòa hình sự sơ thẩm và phiên tòa hình sự phúc thẩm ........................... 70 2.4.1. Phiên tòa hình sự sơ thẩm .............................................................................. 70 2.4.2. Phiên tòa hình sự phúc thẩm. ......................................................................... 87 CHƢƠNG 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG, HIỆU QUẢ THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC XÉT XỬ TRỰC TIẾP, BẰNG LỜI NÓI VÀ LIÊN TỤC TẠI PHIÊN TÒA……….92 3.1. Thực trạng thực hiện nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục tại phiên tòa .................................................................................................................. 92 3.1.1.Những kết quả đạt được. ................................................................................ 92 3.1.2. Những hạn chế............................................................................................... 95 3.2. Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc trong việc thực hiện nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục tại phiên tòa. ..................................... 101 3.2.1. Những nguyên nhân về lập pháp luật. ......................................................... 101 3.2.2. Những nguyên nhân về thi hành pháp luật: ................................................. 103 3.3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục tại phiên tòa ... 107 3.3.1. Yêu cầu hoàn thiện nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục tại phiên tòa ................................................................................................................ 107 3.3.2. Một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục tại phiên tòa ................................................. 109 KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự BLTTHS 2003 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 BLTTHS 1989 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1989 CQĐT Cơ quan Điều tra PLTTHS Pháp luật tố tụng hình sự PLHS Pháp luật hình sự HĐXX Hội đồng xét xử TAND Tòa án nhân dân TANDTC Tòa án nhân dân Tố cao TNHS Trách nhiệm hình sự TTHS Tố tụng hình sự TGTT Tham gia tố tụng THTT Tiến hành tố tụng VKSND Viện Kiểm sát nhân dân VKSNDTC Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao XHCN Xã hội chủ nghĩa PHẦN MỞ ĐẦU I. Tính cấp thiết của đề tài Xét xử vụ án tại phiên tòa là giai đoạn quan trọng nhất, là trung tâm của TTHS. Trong giai đoạn này, với sự có mặt đầy đủ nhất của những người THTT và người TGTT, Tòa án sẽ tiến hành cuộc điều tra công khai, trực tiếp xem xét khách quan và đầy đủ nhất các chứng cứ của vụ án, làm sáng tỏ toàn bộ sự thật khách quan của vụ án và ra phán quyết giải quyết vụ án. Các phán quyết của Tòa án là nhân danh nhà nước, trực tiếp thể hiện thái độ của nhà nước đối với từng vụ án cụ thể, góp phần thể hiện bản chất của nhà nước và pháp luật; có hiệu lực pháp lý bắt buộc, tác động rất lớn đến quyền và lợi ích của các đương sự, đặc biệt là bị cáo – người đang là đối tượng của việc buộc tội. Đồng thời, thông qua hoạt động xét xử tại phiên tòa, tất cả những người có mặt tại phiên tòa có thể đánh giá được tính đúng, sai trong hành vi của bị cáo và những người có liên quan đến vụ án, cũng như của Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, người bào chữa.v.v..; nâng cao hiểu biết pháp luật, củng cố lòng tin của nhân dân đối với sự nghiêm minh của pháp luật, đối với Đảng và nhà nước. Chính vì vậy, Tòa án phải có những phương pháp xét xử khoa học và hợp lý, theo những thủ tục chặt chẽ, để đảm bảo rằng “xét xử phải chính xác, công minh trong việc vận dụng và áp dụng pháp luật… các bản án và quyết định sau khi xét xử của Tòa án không có kẽ hở, gây nghi ngờ về sự thiếu công bằng của pháp luật”. [104, tr.82] Nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục tại phiên tòa quy định những phương pháp mà Tòa án (trực tiếp là HĐXX) có thể sử dụng để thực hiện những nội dung và nhiệm vụ của hoạt động xét xử. Do đó, những nội dung của nguyên tắc này sẽ quyết định đến trình tự, thủ tục xét xử, việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của HĐXX, Kiểm sát viên, bị cáo và những người khác tham gia phiên tòa. Và vì vậy, việc quy định và thực hiện đúng đắn, hợp lý về nguyên tắc này sẽ quyết định đến tính dân chủ, khách quan và chính xác của hoạt động xét xử tại 1 phiên tòa; cũng như việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và nhà nước. Tuy nhiên, các quy định của nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục tại phiên tòa và các quy định có liên quan, cũng như việc thực thi chúng trên thực tiễn vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, vướng mắc. Các quy định về nguyên tắc này (Điều 184 BLTTHS 2003) đã khiến HĐXX có trách nhiệm chính trong việc chứng minh, tích cực nhất trong việc xét hỏi, thẩm tra chứng cứ, không phù hợp với bản chất của chức năng xét xử, yêu cầu khách quan, trung lập và công bằng cần phải có của HĐXX; cũng như làm hạn chế sự chủ động, tích cực của các chủ thể thuộc bên buộc tội và gỡ tội tại phiên tòa. Mặt khác, nguyên tắc xét xử liên tục tại phiên tòa đã làm cho quá trình xét xử nhiều vụ án bị kéo dài một cách không cần thiết. Trong khi đó, tư tưởng “án tại hồ sơ” vẫn còn tồn tại, nhiều HĐXX chưa coi trọng đúng mức, không thực hiện chính xác các quy định và yêu cầu về việc xét hỏi, trực tiếp thẩm tra chứng cứ, điều khiển phiên tòa và lắng nghe ý kiến tranh luận của các bên tại phiên tòa, tác động tiêu cực đến chất lượng và hiệu quả của hoạt động xét xử. Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn của đề tài “Nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục tại phiên tòa trong Luật TTHS Việt Nam” vẫn là một yêu cầu mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc. II. Tình hình nghiên cứu đề tài Hiện nay, về nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục tại phiên tòa vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và đầy đủ, mà chủ yếu nằm rải rác trong nội dung của các giáo trình, sách, các bài nghiên cứu đăng tải trên các báo, tạp chí như: Bình luận Khoa học Bộ luật Tố tụng Hình sự, PGS. TS Võ Khánh Vinh, Nxb Công an nhân dân, năm 2004; Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, năm 2004.v.v… Tuy nhiên, đa số các tài liệu nghiên cứu này mới chỉ đưa ra những nội dung và yêu cầu cơ bản nhất của nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục tại phiên tòa; còn những vấn đề lý luận và thực tiễn của nguyên tắc này vẫn chưa được nghiên cứu và làm sáng tỏ một cách đầy đủ và toàn diện. Do đó, việc tiếp tục 2 nghiên cứu, làm sáng rõ các vấn đề liên quan đến nguyên tắc này là rất cần thiết về cả mặt lý luận và thực tiễn. Chính vì vậy, việc chọn đề tài “Nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục tại phiên tòa trong Luật TTHS Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ luật học là rất có ý nghĩa, có thể phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu khoa học cũng như công tác thực tiễn. III. Mục đích, nhiệm vụ, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 1. Mục đích nghiên cứu - Luận văn sẽ làm sáng tỏ các vấn đề lý luận khoa học liên quan đến nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục tại phiên tòa; - Luận văn sẽ đưa ra những nhận định và đánh giá về thực tiễn thực hiện nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục tại phiên tòa; - Luận văn đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục tại phiên tòa. 2. Nhiệm vụ nghiên cứu Trên cơ sở các vấn đề lý luận và thực tiễn của nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục tại phiên tòa trong Luật TTHS Việt Nam, luận văn sẽ đi sâu làm sáng tỏ các vấn đề sau: - Các vấn đề lý luận chung của nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục tại phiên tòa như: Khái niệm, cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn; ý nghĩa pháp lý và ý nghĩa chính trị - xã hội; nội dung, yêu cầu và phạm vi của nguyên tắc. - Nội dung và sự thể hiện, những ưu điểm và hạn chế của nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục tại phiên tòa trong các quy định của PLTTHS Việt Nam; cũng như quá trình áp dụng chúng trong thực tiễn. - Làm rõ nguyên nhân của những hạn chế và vướng mắc trong việc thực hiện nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục tại phiên tòa; đề ra một số kiến nghị nhằm khắc phục các hạn chế và vướng mắc đó, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả thực hiện nguyên tắc này trong hoạt động xét xử vụ án hình sự tại phiên tòa. 3 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Luận văn có đối tượng và phạm vi nghiên cứu như sau: - Các vấn đề lý luận chung về nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục tại phiên tòa. - Tập trung vào các quy định của BLTTHS 2003 về nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục tại phiên tòa, cũng như các quy định khác có liên quan trong thủ tục xét xử hình sự sơ thẩm và xét xử hình sự phúc thẩm. - Thực tiễn áp dụng pháp luật liên quan đến nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục tại phiên tòa trong hoạt động TTHS Việt Nam (từ khi BLTTHS 2003 có hiệu lực cho đến nay). IV. Phƣơng pháp nghiên cứu Để đạt được những mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu nêu trên, luận văn sử dụng các phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học khác như: So sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê, suy luận lôgic.v.v… V. Những điểm mới và ý nghĩa của luận văn 1. Trong nội dung của luận văn có những điểm mới về khoa học nhƣ sau: - Phân tích có hệ thống các quy định của pháp luật có liên quan đến nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục tại phiên tòa trong Luật TTHS Việt Nam. - Phát hiện những đểm chưa phù hợp trong quy định của nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục tại phiên tòa, cũng như các quy định khác có liên quan; từ đó mạnh dạn đưa ra một số kiến nghị về mặt lập pháp và thực thi pháp luật, để nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc thực hiện nguyên tắc này. 2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn: - Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể góp phần làm rõ thêm các quan điểm lý luận khoa học về nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục tại phiên tòa trong Luật TTHS Việt Nam; - Ngoài ra luận văn còn có thể dùng làm tài liệu tham khảo, phục vụ cho việc nghiên cứu và học tập khoa học Luật TTHS. 4 VI. Kết cấu luận văn. Kết cấu của luận văn bao gồm: Lời nói đầu, 03 chương, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, cụ thể như sau: - Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục tại phiên tòa; - Chương 2: Nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục tại phiên tòa trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam - Chương 3: Thực tiễn thực hiện và một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục tại phiên tòa. 5 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC XÉT XỬ TRỰC TIẾP, BẰNG LỜI NÓI VÀ LIÊN TỤC TẠI PHIÊN TÒA 1.1. KHÁI NIỆM “XÉT XỬ TRỰC TIẾP”, “XÉT XỬ BẰNG LỜI NÓI” VÀ “XÉT XỬ LIÊN TỤC” TẠI PHIÊN TÒA 1.1.1. Xét xử trực tiếp Theo Từ điển Tiếng Việt, “trực tiếp” có nghĩa là “có quan hệ thẳng với đối tượng tiếp xúc, không qua khâu trung gian; trái với gián tiếp.” [22, Tr.1349]; còn “đối tượng” có nghĩa là “người, vật, hiện tượng mà con người nhằm vào trong suy nghĩ, hành động.” [22, tr.442]. Từ đó, “trực tiếp” có thể hiểu là cách thức, phương pháp tiến hành một công việc bằng cách tiếp xúc, tác động thẳng vào đối tượng cần nghiên cứu hoặc tạo sự biến đổi, để đạt được những mục đích nhất định, không thông qua các đối tượng và khâu trung gian. Do vậy, “xét xử trực tiếp” có thể hiểu là cách thức, phương pháp tiến hành hoạt động xét xử, theo đó chủ thể thực hiện hoạt động xét xử tiếp xúc và tác động thẳng vào đối tượng của hoạt động xét xử, không thông qua đối tượng và khâu trung gian, nhằm đạt được các mục đích, nhiệm vụ của hoạt động xét xử. Theo quy định tại Điều 127 Hiến pháp năm 1992 và Điều 9 BLTTHS 2003 Tòa án là cơ quan xét xử của nhà nước, là chủ thể duy nhất có quyền thực hiện hoạt động xét xử các vụ án hình sự. Xét xử ở nghĩa chung nhất là “Xem xét và xử các vụ án” [22, tr. 1467]; cụ thể hơn là “hoạt động do Tòa án tiến hành theo pháp luật tố tụng, trong đó Tòa án, sau khi nghiên cứu một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ các tình tiết của vụ án, tiến hành giải quyết và xử lý vụ án bằng việc ra bản án và các quyết định cần thiết có liên quan.” [43, tr. 418] Như vậy, xét xử hình sự là hoạt động áp dụng pháp luật của Tòa án, nhằm giải quyết vụ án hình sự, bao gồm hai nội dung cơ bản: (1) Tòa án phải xác định chính xác các sự kiện, tình tiết thực tế đã xảy ra của vụ án hình sự; (2) Trên cơ sơ đó, Tòa án phải độc lập, khách quan dựa 6 vào các quy định của pháp luật, đánh giá về mặt pháp lý đối với những sự kiện, tình tiết của vụ án, để xác định các vấn đề cần thiết cho việc giải quyết vụ án như: có hay không có hành vi phạm tội? ai là người thực hiện hành vi phạm tội; lỗi, tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.v..v… Nếu Tòa án kết luận bị cáo là người có tội, thì Tòa án phải quyết định áp dụng các hình thức TNHS phù hợp, tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội, theo đúng các quy định của PLHS và PLTTHS. Các bản án của Tòa án có tính chất là những phán quyết cuối cùng, có hiệu lực bắt buộc chung đối với bị cáo và các chủ thể khác có liên quan, cũng như toàn xã hội, trực tiếp thể hiện thái độ của nhà nước đối với vụ án. Hoạt động xét xử “không phải chỉ đơn thuần áp dụng pháp luật mà trước khi áp dụng pháp luật phải xác định được sự kiện. Sự kiện đó xảy ra như thế nào trong quan hệ khách quan thì phải xác định đúng như vậy. ” [12, tr.66, 67] Xác định được sự thật khách quan của vụ án là một nội dung và mục đích quan trọng của hoạt động xét xử. Chỉ có dựa vào sự thật khách quan của vụ án, Tòa án mới có thể đưa ra được những đánh giá pháp lý chính xác và toàn diện về các tình tiết của vụ án, cũng như hành vi của bị cáo và các chủ thể khác, lấy đó làm căn cứ ra bản án hoặc quyết định giải quyết vụ án.“Một phiên tòa công minh là một phiên tòa đào mãi đến chân lý khách quan - Chân lý chính xác, phù hợp với các yếu tố hiện thực của thực tế khách quan!” [57, tr.25] Tuy nhiên, khi xét xử vụ án tại phiên tòa, các tình tiết của vụ án không phải đang diễn ra một cách hiện hữu, để HĐXX và những người tham gia phiên tòa có thể trực tiếp xem xét, đánh giá mà sự việc phạm tội đã xảy ra trong quá khứ. Do đó, “Tòa án trong phiên tòa xét xử muốn tuyên án đối với bị cáo nào đó về tội danh cụ thể được quy định trong BLHS mà họ đã phạm thì phải có những tài liệu được thu thập theo đúng trình tự và thủ tục mà pháp luật quy định để chứng minh.” [110, tr. 75] Những tài liệu, thông tin làm căn cứ xác định các tình tiết của vụ án hình sự được gọi là chứng cứ. “Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi 7 phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án.” (Điều 64 BLTTHS 2003) Xét về bản chất chứng cứ là những thông tin chính xác, phản ánh đúng đắn về các tình tiết thực tế đã diễn ra của vụ án, làm sáng tỏ các vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự. Chứng cứ luôn được phản ánh và lưu giữ trong những nguồn nhất định, đó là: Vật chứng; lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; kết luận giám định; biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác (Điều 64 BLTTHS 2003). Những nguồn chứng cứ trên là nơi chứa đựng những thông tin có thật, có liên quan đến vụ án hình sự,“từ đó có thể tìm ra đối tượng được chủ thể sử dụng để chứng minh” [99, tr.49]. Nói một cách khác, chứng cứ là nội dung phản ánh sự việc và hiện tượng của vụ án, còn nguồn chứng cứ là hình thức chứa đựng các nội dung đó.“Do đó, nếu không tìm được nguồn chứng cứ sẽ không thể có chứng cứ giải thích, làm sáng tỏ các tình tiết và diễn biến của vụ án, kéo theo hậu quả là các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ đưa ra những kết luận không đúng, không chính xác và không đầy đủ đối với vụ án hình sự.” [100] Để xác định được các tình tiết của vụ án và ra phán quyết giải quyết vụ án, Tòa án phải kiểm tra, đánh giá và sử dụng các chứng cứ. Do đó, đối tượng mà hoạt động xét xử cần hướng tới để xác định các tình tiết của vụ án hình sự và ra phán quyết giải quyết vụ án là các chứng cứ, được lưu giữ, phản ánh trong các nguồn của chứng cứ. Cho nên, xét xử trực có nghĩa là Tòa án phải trực tiếp xem xét, kiểm tra các chứng cứ của vụ án như: trực tiếp nghe lời khai của bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng; trực tiếp xem xét vật chứng; trực tiếp xem xét hiện trường hoặc địa điểm có liên quan đến vụ án; trực tiếp xem xét kết luận giám định và biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác. Bên cạnh đó, với vai trò và vị trí của chức năng xét xử là “người trọng tài công minh”, “người bảo vệ công lý”, Tòa án còn phải tạo điều kiện cho những 8 người tham gia phiên tòa thực hiện các quyền tố tụng (quyền đưa ra và trình bày chứng cứ, tài liệu và đồ vật; đưa ra ý kiến và yêu cầu). Do đó, xét xử trực tiếp còn có nghĩa Tòa án phải trực tiếp lắng nghe và xem xét các ý kiến và yêu cầu của những người tham gia phiên tòa, để có được những “dữ kiện” cần thiết, giúp Tòa án xác định đúng và đầy đủ các tình tiết, cũng như các vấn đề khác của vụ án. Trên cơ sở kết quả của việc trực tiếp kiểm tra các chứng cứ và trực tiếp lắng nghe, đánh giá các ý kiến, yêu cầu của những tham gia phiên tòa, Tòa án xác định các tình tiết của vụ án; đánh giá tính chất pháp lý của các tình tiết của vụ án, hành vi của bị cáo và những có liên quan trong vụ án, để ra phán quyết giải quyết vụ án theo đúng sự thật khách quan của vụ án và các quy định của pháp luật. Do đó, phán quyết của Tòa án chỉ có thể căn cứ vào các chứng cứ và ý kiến đã được Tòa án trực tiếp xem xét tại phiên tòa. Nếu Tòa án căn cứ vào các chứng cứ và ý kiến chưa được trực tiếp xem xét tại phiên tòa, để ra phán quyết giải quyết vụ án, thì tức là Tòa án đã không thực hiện đúng những những nội dung và yêu cầu của phương pháp xét xử trực tiếp. Quá trình giải quyết vụ án hình sự trải qua nhiều giai đoạn và do nhiều cơ quan tiến hành (khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án). Mỗi một gia đoạn có những nhiệm vụ và yêu cầu riêng, phù hợp với chức năng của từng cơ quan. Trong các giai đoạn khởi tố, điều tra và truy tố, CQĐT và VKSND tiến hành thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ, xây dựng và tập hợp chúng trong hồ sơ vụ án. Đồng thời, các cơ quan này cũng đã đưa ra những nhận định và kết luận về các chứng cứ và các tình tiết của vụ án. Tuy nhiên, chúng là kết quả của hoạt động thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ của CQĐT và VKSND, không phải là kết quả của hoạt động xét xử của Tòa án. Do đó, nếu Tòa án chỉ căn cứ vào kết quả đó để xét xử và ra phán quyết giải quyết vụ án, thì sẽ không phải là xét xử trực tiếp mà là hình thức xét xử gián tiếp, thông qua đối tượng trung gian là hồ sơ vụ án và khâu trung gian là giai đoạn điều tra và truy tố. Từ những phân tích trên, có thể thấy xét xử trực tiếp là phương pháp xét xử có nhiều khác biệt, thậm chí đối lập với phương pháp xét xử bút lục. Theo Từ Điển 9 luật học xét xử bút lục là:“Thủ tục xét xử đặc biệt có thể đuợc áp dụng ở cấp phúc thẩm, theo đó giải quyết những vụ án đơn giản, rõ ràng, ít nghiêm trọng (bị cáo đề nghị giảm án, xin được hưởng án treo, hoặc xin giảm mức bồi thường…) được tiến hành căn cứ vào hồ sơ vụ án mà không cần phải mở phiên tòa. Tác dụng của thủ tục xét xử bút lục là đẩy nhanh tiến độ xét xử, hạn chế tình trạng án tồn đọng.” [109, tr.873] Phương pháp, cách thức xét xử bút lục đã và đang tồn tại trong PLTTHS Việt Nam như: tại thủ tục rút gọn ở cấp phúc thẩm (thông tư số 19 – TATC ngày 02/10/1974 của TANDTC); thủ tục xét xử phúc thẩm đối với quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị; thủ tục xét xử giám đốc thẩm và xét xử tái thẩm (BLTTHS 1989 và BLTTHS 2003). Sự khác biệt và đối lập của phương pháp xét xử bút lục so với xét xử trực tiếp là rất rõ nét: (1) Tòa án không phải trực tiếp xác định các tình tiết của vụ án bằng cách trực tiếp và bằng lời nói kiểm tra các chứng cứ. Do đó, phiên tòa không bao gồm các thủ tục xét hỏi và tranh luận, mà được tiến hành dưới hình thức một phiên họp không công khai của HĐXX; Tòa án xác định các tình tiết, các vấn đề của vụ án và ra phán quyết giải quyết vụ án trên cơ sở các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án; (2) Việc những người TGTT tham gia phiên tòa không phải là bắt buộc. Tòa án chỉ triệu tập họ khi xét thấy cần thiết và khi họ vắng mặt, Tòa án vẫn có thể tiến hành xét xử, ngay cả khi không có bất kỳ người TGTT nào có mặt. Mỗi phương pháp xét xử trên đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định. Nếu xét xử trực tiếp bảo đảm được tính công khai, dân chủ và toàn diện cao của hoạt động xét xử; thì xét xử bút lục thường diễn ra không công khai, quyền tham gia phiên tòa, đưa ra và trình bày chứng cứ, ý kiến và yêu cầu của những người TGTT bị hạn chế; Nếu xét xử trực tiếp rất phức tạp, kéo dài quá trình giải quyết vụ án, thì xét xử bút lục lại đơn giản, đẩy nhanh quá trình giải quyết v ụ án. Căn cứ vào những phân tích trên, chúng tôi đưa ra nội dung của khái niệm về xét xử trực tiếp tại phiên tòa như sau: “Xét xử trực tiếp tại phiên tòa là phương pháp, cách thức tiến hành hoạt động xét xử được quy định trong Luật TTHS, theo đó Tòa án phải xác định các tình tiết của vụ án bằng cách trực tiếp kiểm tra các 10 chứng và lắng nghe ý kiến của những người tham gia phiên tòa. Bản án của Tòa án chỉ được dựa trên các chứng cứ và ý kiến đã được trực tiếp xem xét tại phiên tòa.” 1.1.2. Xét xử bằng lời nói “Lời nói” là một người bạn đồng hành không thể thiếu của con người, gắn liền với con người và xã hội loài người từ thủa bình minh của nhân loại cho đến nay. Theo Từ điển Tiếng Việt, “lời nói” là “những gì con người nói trong một hoàn cảnh giao tiếp cụ thể”; “sản phẩm cụ thể của hoạt động ngôn ngữ, trong mối quan hệ đối lập với ngôn ngữ.” [22, tr.756]; còn ngôn ngữ học định nghĩa lời nói là “những chuỗi âm thanh khác nhau nhằm truyền đạt những thông tin cụ thể” mà mỗi thành viên trong cộng đồng phát ra trong giao tiếp. [70, tr.147] “Lời nói” là hình thức và phương tiện giao tiếp bằng ngôn ngữ nói của con người, giúp con người có thể bày tỏ nhận thức, tư tưởng, ý chí và nguyện vọng với người khác; đồng thời, tiếp nhận được các thông tin đó từ người khác, giúp người nói và người nghe có thể giao tiếp với nhau. Thông thường hình thức giao tiếp bằng lời nói là hình thức giao tiếp trực tiếp giữa người nói và người nghe (người nói và người nghe phải tiếp xúc với nhau, có thể luân phiên trong vai trò của người nói và người nghe), được tiến hành bằng cách thức đối đáp, nghe, trình bày và phản hồi thông tin giữa người nói và người nghe (hỏi – đáp, tranh luận…). Do đó, “xét xử bằng lời nói” được hiểu là các thành viên HĐXX (chủ thể thực hiện hoạt động xét xử) sử dụng “lời nói” làm phương tiện, phương pháp của hoạt động xét xử. Thông qua hoạt động giao tiếp bằng lời nói tại phiên tòa, HĐXX phải thực hiện những nội dung của hoat động xét xử, đó là: xem xét, đánh giá các chứng cứ, xác định các tình tiết của vụ án; đánh giá tính chất phát lý đối với hành vi của bị cáo và những người TGTT; cũng như ra phán quyết giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Xét xử bằng lời nói là cách thức để xét xử trực tiếp. Tòa án không thể trực tiếp kiểm tra các chứng cứ, nếu không trực tiếp nghe lời trình bày của bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan 11 đến vụ án, người làm chứng, người giám định về các chứng cứ và các tình tiết của vụ án. Mặt khác, chỉ bằng lời nói, những người tham gia phiên tòa mới có thể trực tiếp trình bày chính xác và đầy đủ nhất về những tình tiết vụ án; những nhận xét, đánh giá của họ về các chứng cứ và đưa ra các yêu cầu; cũng như trực tiếp tranh luận với nhau, làm sáng tỏ những tình tiết của vụ án tại phiên tòa. Thông qua đó, HĐXX sẽ có những thông tin cần thiết, để kiểm tra, đánh giá đầy đủ nhất về các chứng cứ, xác định chính xác các tình tiết của vụ án và giải quyết vụ án một cách chính xác và toàn diện. Từ những phân tích nêu trên, có thể đưa ra nội dung khái niệm “xét xử bằng lời nói tại phiên tòa” như sau: “Xét xử bằng lời nói tại phiên tòa là cách thức, phương pháp tiến hành hoạt động xét xử được quy định trong Luật TTHS mà theo đó, Tòa án sử dụng lời nói làm phương tiện để trực tiếp xem xét, kiểm tra các chứng cứ, xác định các tình tiết của vụ án và ra phán quyết giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.” 1.1.3. Xét xử liên tục “Liên tục” có nghĩa là: “nối tiếp nhau thành một quá trình không bị gián đoạn.” [22, tr.733] Từ đó, “liên tục” có thể hiểu là cách thức, phương pháp tiến hành một công việc mà các hoạt động diễn ra nối tiếp nhau theo một trình tự nhất định, không bị gián đoạn, từ khi bắt đầu đến khi kết thúc công việc đó. Do vậy, “xét xử liên tục tại phiên tòa” có nghĩa là Tòa án tiến hành các hoạt động xét xử tại phiên tòa đối với một vụ án mà không bị gián đoạn, từ khi bắt đầu đến khi kết thúc việc xét xử. BLTTHS 2003 quy định hoạt động xét xử của Tòa án tại phiên tòa bao gồm nhiều hoạt động và theo những trình tự, thủ tục rất chặt chẽ: Mở đầu là thủ tục bắt đầu phiên tòa, tiếp đến là thủ tục xét hỏi, rồi đến thủ tục tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng, sau đó là nghị án và cuối cùng là tuyên án. Mỗi thủ tục trên lại bao gồm nhiều hoạt động cụ thể như: Chủ tọa phiên tòa đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử, thư ký Tòa án báo cáo danh sách những người được triệu tập đã có mặt, chủ tọa 12 phiên tòa kiểm tra căn cước của những người đó và giải thích cho họ biết quyền và nghĩa vụ tại phiên tòa;.v.v… Do đó, “xét xử liên tục tại phiên tòa” là khi đã bắt đầu xét xử một vụ án, Tòa án phải thực hiện các hoạt động xét xử đối với vụ án đó liên tục, từ khi bắt đầu phiên tòa đến khi tuyên án. Việc nghị án cũng là hoạt động xét xử nên cũng phải được tiến hành liên tục và nối tiếp ngay sau khi bị cáo nói lời sau cùng. Vì Tòa án, trực tiếp là HĐXX phải liên tục xét xử đối với một vụ án nên các thành viên HĐXX phải giải quyết dứt điểm từng vụ án, khi chưa giải quyết xong vụ án đang giải quyết, thì họ không được tham gia tố tụng đối với vụ án khác. Họ chỉ có thể tiến hành xét xử đối với vụ án khác, khi vụ án đang giải quyết được giải quyết xong theo quy định của pháp luật. Có như vậy, hoạt động xét xử của Tòa án mới đảm bảo được tính liên tục, không bị ngắt quãng hay gián đoạn. Tuy nhiên, hoạt động xét xử vụ án hình sự là quá trình rất phức tạp, nhất là đối với các vụ án lớn, có nhiều vấn đề cần chứng minh, số lượng bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đông.v.v.. Đối với các vụ án này, để thực hiện chính xác và đầy đủ các thủ tục xét xử theo quy định của pháp luật, cũng như làm sáng tỏ tất cả các tình tiết của vụ án cần một thời gian xét xử dài, có thể là nhiều ngày, đến cả tuần hoặc lâu hơn. Do đó, các thành viên HĐXX và những người tham gia phiên tòa cần có thời gian nghỉ ngơi theo quy luật sinh học (nghỉ trưa, nghỉ qua đêm..) và quy định của pháp luật (ngày thứ bảy, chủ nhật, ngày lễ hoặc vì một lý do khách quan khác.v.v…). Vì vậy, tính liên tục trong hoạt động xét xử không thể mang ý nghĩa tuyệt đối mà phải loại trừ sự gián đoạn trong những khoảng thời gian nêu trên. Tại phiên tòa, các thành viên HĐXX phải trực tiếp kiểm tra, đánh giá các chứng cứ, xác định chính xác các tình tiết của vụ án và tính chất pháp lý trong hành vi của bị cáo và những người có liên quan đến vụ án. Mỗi một hoạt động, thủ tục tố tụng tại phiên tòa đều có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng trong việc chứng minh sự thật khách quan của vụ án. Các thành viên HĐXX chỉ có thể có được những nhận định, đánh giá chính xác và toàn diện về các chứng cứ, xác định đúng đắn các tình tiết của vụ án, khi họ chứng kiến và nắm bắt đầy đủ mọi diễn biến tại phiên tòa. Nếu 13 vì một lý do nào đó, các thành viên HĐXX không chứng kiến, không nắm bắt được một hoặc một số diễn biến của phiên tòa, thì đều có nguy cơ dẫn đến việc họ có những nhận định, đánh giá không đúng hoặc không đầy đủ về các chứng cứ, xác định không chính xác các tình tiết của vụ án, dẫn đến sai lầm trong việc ra phán quyết giải quyết vụ án. Do đó, Thẩm phán và Hội thẩm phải liên tục có mặt và nắm bắt đầy đủ mọi diễn biến tại phiên tòa. Chỉ khi đó, họ mới có đầy đủ các dữ liệu cần thiết, để xác định chính xác và toàn diện sự thật khách quan của vụ án và ra phán quyết giải quyết vụ án một cách đúng đắn. Do đó, xét xử liên tục còn có nghĩa là sự tham gia tố tụng liên tục của các thành viên HĐXX tại phiên tòa. Chính vì vậy, theo chúng tôi khái niệm “xét xử liên tục tại phiên tòa” có những nội dung sau: “Xét xử liên tục tại phiên tòa là cách thức, phương pháp của hoạt động xét xử được quy định trong Luật TTHS mà theo đó, Tòa án phải liên tục tiến hành các thủ tục tố tụng tại phiên tòa, từ khi bắt đầu đến khi xét xử xong đối với từng vụ án, trừ thời gian nghỉ theo quy định của pháp luật. Các thành viên HĐXX phải tham gia xét xử liên tục, phải xét xử xong một vụ án mới có thể tham gia tố tụng đối với vụ án khác.” 1.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGUYÊN TẮC XÉT XỬ TRỰC TIẾP, BẰNG LỜI NÓI VÀ LIÊN TỤC TẠI PHIÊN TÒA 1.2.1. Cơ sở lý luận Trong các quốc gia dân chủ, văn minh và tiến bộ, quyền con người, những“ giá trị nhân văn cao quý và thiêng liêng đối với mỗi con người, mỗi quốc gia và cộng đồng nhân loại…” [35, tr. 5, 6] phải được tôn trọng và bảo vệ đầy đủ. Hoạt động xét xử của Tòa án là một cơ chế bảo vệ quyền con người hữu hiệu và quan trọng nhất. Bởi vì, Tòa án là biểu hiện thiêng liêng của công lý, sự bình đẳng và công bằng xã hội, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của con người.“Tòa án là nơi đầu tiên và trước nhất mà người dân trong cậy để giữ gìn quyền con người”. [17]. Hoạt động xét xử của Tòa án là trung tâm, có vai trò quyết định trong toàn bộ quá trình TTHS. Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền tuyên bố một người là có 14
- Xem thêm -