Tài liệu Người kể chuyện trong truyện ngắn nguyễn ngọc tư

  • Số trang: 117 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 192 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGUYỄN MINH THU NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN Thái Nguyên, năm 2012 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGUYỄN MINH THU NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ Chuyên ngành: Văn học Việt Nam Mã số: 60.22.34 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP Thái Nguyên, năm 2012 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn i LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dƣới sự hƣớng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp. Nội dung đề tài nghiên cứu của luận văn chƣa đƣợc ai công bố trong bất kì công trình nào khác. Thái Nguyên, ngày 23 tháng 8 năm 2012 Tác giả luận văn Nguyễn Minh Thu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ii MỤC LỤC Trang Trang bìa phụ Lời cam đoan ........................................................................................................ i Lời cảm ơn ..........................................................................................................ii Mục lục .............................................................................................................. iii MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 1 NỘI DUNG....................................................................................................... 13 Chương 1. NGƯỜI KỂ CHUYỆN – MỘT PHẠM TRÙ CỦA TỰ SỰ HỌC ... 13 1.1. Ngƣời kể chuyện là một kiểu nhân vật đặc biệt ..................................... 13 1.1.1. Ngƣời kể chuyện với tƣ cách là một sản phẩm hƣ cấu để kể chuyện ... 15 1.1.2. Ngƣời kể chuyện thống nhất nhƣng không đồng nhất với tác giả ... 16 1.2. Các tiêu chí nhận diện ngƣời kể chuyện ................................................. 20 1.2.1. Điểm nhìn kể chuyện ....................................................................... 20 1.2.2. Ngôn ngữ kể chuyện ........................................................................ 24 1.2.3. Giọng điệu kể chuyện ....................................................................... 27 1.3. Vai trò của ngƣời kể chuyện ................................................................... 29 1.3.1. Ngƣời kể chuyện với vai trò tổ chức kết cấu tác phẩm.................... 29 1.3.2. Ngƣời kể chuyện với vai trò dẫn dắt, định hƣớng ngƣời đọc .......... 31 1.3.3. Ngƣời kể chuyện thay mặt tác giả trình bày quan niệm về nghệ thuật, cuộc sống.......................................................................................... 33 Chương 2. NGÔI KỂ VÀ MỘT SỐ LOẠI HÌNH NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ .... 36 2.1. Vấn đề ngôi kể trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ ............................. 36 2.1.1. Khái niệm ngôi kể ............................................................................ 36 2.1.2. Ngƣời kể chuyện ngôi thứ nhất ........................................................ 39 2.1.3. Ngƣời kể chuyện ngôi thứ ba ........................................................... 43 2.1.4. Ngôi kể trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ – những vấn đề cần bàn luận ...................................................................................................... 46 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn iii 2.2. Một số loại hình ngƣời kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ ..... 50 2.2.1. Ngƣời kể chuyện kể theo điểm nhìn hạn chế ................................... 50 2.2.2. Ngƣời kể chuyện kể theo điểm nhìn toàn tri .................................... 55 Chương 3. NGÔN NGỮ, GIỌNG ĐIỆU KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ .................................... 60 3.1. Ngôn ngữ kể chuyện ............................................................................... 60 3.1.1. Một vài đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ ............................................................................... 60 3.1.2. Các thành phần cấu tạo nên ngôn ngữ kể chuyện ............................ 65 3.1.3. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ ngƣời kể chuyện với ngôn ngữ của nhân vật khác ............................................................................................. 81 3.2. Giọng điệu kể chuyện ............................................................................. 84 3.2.1. Giọng điệu xót xa thƣơng cảm với những số phận gặp nhiều bất hạnh trong cuộc sống ................................................................................. 85 3.2.2. Giọng điệu ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của ngƣời dân Nam Bộ . 88 3.2.3. Giọng điệu dân dã mộc mạc, pha chút hài hƣớc nhẹ nhàng ............ 94 3.2.4. Giọng điệu giàu tính triết lí, chiêm nghiệm ..................................... 99 KẾT LUẬN .................................................................................................... 102 TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 105 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1.1. Ý nghĩa lý luận Tự sự học là một bộ môn nghiên cứu liên ngành giàu tiềm năng. Tự sự đã có từ lâu, “có bản thân lịch sử loài ngƣời thì đã có tự sự” (Roland Barthes). Trong lí thuyết tự sự ngƣời kể chuyện đóng vai trò rất quan trọng. Việc xác định, làm rõ nội dung của khái niệm này sẽ giúp chúng ta hiểu đƣợc phƣơng diện chủ thể của tác phẩm tự sự, hiểu tác phẩm đúng đắn, khoa học và sâu sắc hơn. Nếu nhƣ trƣớc đây khi tìm hiểu tác phẩm tự sự ngƣời nghiên cứu thƣờng chú tâm đến thế giới đƣợc kể thì bây giờ họ đã tìm hiểu cách kể của nhà văn. Trƣớc đây, họ quan tâm đến nhân vật, đến tính cách điển hình của nhân vật thì giờ đây họ chú ý cả đến cách thức nhà văn đã hƣ cấu nhân vật đó nhƣ thế nào. Trong văn bản tự sự, ngƣời kể chuyện là một hiện tƣợng lí thuyết khá phức tạp. Trƣớc đây, nếu có đề cập đến vấn đề này thì ngƣời ta cũng thƣờng đồng nhất nó với ngôi kể, quan tâm xem truyện đó đƣợc kể theo “ngôi thứ nhất” hay “ngôi thứ ba”. Nhƣng sự thực thì ngôi kể chẳng qua là một biểu hiện ngữ pháp mang tính ƣớc lệ, khác biệt giữa hai loại ngôi kể này về thực chất chỉ là ở mức độ bộc lộ hay hàm ẩn của ngƣời kể chuyện. Nếu chỉ dừng lại ở việc xem xét ngôi kể thì ta chƣa thể nào khám phá đƣợc nét riêng biệt, độc đáo làm nên sức hấp dẫn của truyện. Với việc lựa chọn đề tài nghiên cứu này, luận văn sẽ xem xét ngƣời kể chuyện từ góc độ ngôi kể, điểm nhìn, ngôn ngữ, giọng điệu để từ đó khẳng định rằng ngƣời kể chuyện không chỉ đơn thuần là ngƣời kể, ngƣời dẫn dắt, tổ chức câu chuyện mà ngƣời kể chuyện còn là ngƣời định giá tƣ tƣởng thẩm mĩ của tác phẩm. 1.2. Ý nghĩa thực tiễn Nghiên cứu ngƣời kể chuyện trong tác phẩm tự sự ta sẽ có đƣợc một công cụ để đi vào phân tích, khám phá tác phẩm của những nhà văn cụ thể, lí Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 2 giải đƣợc một trong những yếu tố làm nên nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của họ. Tác giả mà chúng tôi lựa chọn để nghiên cứu ở đây là Nguyễn Ngọc Tƣ bởi trong những gƣơng mặt tiêu biểu của văn học Việt Nam đƣơng đại, chị nổi lên nhƣ một hiện tƣợng rất đáng chú ý. Chị đã nhận đƣợc nhiều giải thƣởng văn học: Giải nhất cuộc vận động sáng tác văn học tuổi 20 lần II với tác phẩm Ngọn đèn không tắt (2000), giải B giải thƣởng Hội nhà văn Việt Nam với tập truyện ngắn Ngọn đèn không tắt (2001), tặng thƣởng dành cho các tác giả trẻ của Ủy ban toàn quốc liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam cho tập Ngọn đèn không tắt. Và truyện ngắn Cánh đồng bất tận của chị là một trong mƣời truyện hay nhất năm 2005 do báo Văn nghệ bình chọn. Năm 2006, Hội nghị ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam lần thứ 6, khóa VI đã quyết định trao tặng giải thƣởng của Hội nhà văn Việt Nam cho Cánh đồng bất tận. Năm 2008, chị lại đƣợc Hội nhà văn Việt Nam đề cử nhận giải thƣởng văn học ASEAN. Đây cũng là năm đầu tiên Hội nhà văn đề cử trao giải cho một tác giả trẻ dƣới bốn mƣơi tuổi. Đó là niềm vinh dự lớn của nhà văn trẻ Nguyễn Ngọc Tƣ. Có thể nói, Nguyễn Ngọc Tƣ đã chiếm một vị trí quan trọng trong nền văn học Việt Nam đƣơng đại. Khi viết bài May mà có Nguyễn Ngọc Tư đăng trên báo Văn nghệ, nhà văn Dạ Ngân viết “tôi nhớ mãi cảm giác của một ngƣời trong nghề, lại là dân biên tập, tôi nghĩ mình đang tiếp cận một ngôi sao không biết nó sẽ tỏa sáng đến đâu” [46, tr.1]. Gia tài văn học của Nguyễn Ngọc Tƣ gồm cả tạp văn, truyện ngắn và thơ. Những tác phẩm của nhà văn luôn đƣợc bạn đọc trong và ngoài nƣớc mong đợi, đón nhận nồng nhiệt, đặc biệt là truyện ngắn. Theo dõi hành trình truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tƣ, ta nhận thấy truyện ngắn của chị lôi cuốn ngƣời đọc không phải ở cốt truyện tình tiết li kì mà chủ yếu bởi cách kể hấp dẫn, có duyên. Chính vì thế, tìm hiểu nhân vật ngƣời kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ sẽ giúp ta lí giải đƣợc Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 3 phần nào sức hấp dẫn đặc biệt trong các trang truyện của chị, lí giải đƣợc một trong những yếu tố đóng vai trò quan trọng hình thành nên phong cách nghệ thuật đặc sắc của chị. Nhƣ vậy, đề tài “Ngƣời kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ” mà chúng tôi nghiên cứu là một đề tài vừa có ý nghĩa lí luận vừa có ý nghĩa văn học sử. Nó đáp ứng đƣợc những tiêu chí cần thiết đối với đề tài của một luận văn cao học. 2. Lịch sử vấn đề 2.1. Tình hình nghiên cứu về vấn đề người kể chuyện Là một trong những vấn đề trung tâm của thi pháp văn xuôi hiện đại, là phƣơng diện quan trọng của lý thuyết tự sự, ngƣời kể chuyện từ lâu đã thu hút đƣợc sự quan tâm đông đảo của các nhà nghiên cứu. Có thể kể tên một số nhà lý luận phƣơng Tây đã dành nhiều tâm huyết cho trần thuật học, tự sự học nói chung và ngƣời kể chuyện nói riêng là: Genette, Todorov, Lispenski, Lubbock, Barthes, Friendman, Chatman… Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi xin đề cập đến một số ý kiến tiêu biểu: Genette trong công trình Các phương thức tu từ dựa vào tiêu chí tiêu cự mối quan hệ giữa thị giác và vật đƣợc nhìn thấy, cảm biết, đã đƣa ra sự phân loại về ngƣời kể chuyện: Thứ nhất là tự sự với tiêu cự bằng không với ngƣời kể chuyện biết hết, biết trƣớc, không có khoảng cách nào với sự việc đƣợc kể. Thứ hai là tự sự với tiêu cự bên trong: ngƣời kể chuyện thông qua nhân vật mà xác lập tiêu cự, sự biết của ngƣời kể chuyện ngang với nhân vật. Thứ ba là tự sự với tiêu cự bên ngoài: Ngƣời kể chuyện xác lập tiêu cự bên ngoài đối với nhân vật và cảnh vật chỉ miêu tả lời nói và hành động của nhân vật, không miêu tả nội tâm, không phân tích tâm lý cũng không đánh giá chủ quan [Theo 26, tr.84]. Tz. Todorov trong Thi pháp học cấu trúc cũng đã đƣa ra ý kiến khá sâu sắc về ngƣời kể chuyện. Ông khẳng định “ngƣời kể chuyện là yếu tố tích cực Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 4 trong việc kiến tạo thế giới tƣởng tƣợng (…). Không thể có trần thuật thiếu ngƣời kể chuyện”. Từ tƣơng quan về dung lƣợng hiểu biết của ngƣời kể chuyện và nhân vật, nhà nghiên cứu đã chia thành ba hình thức ngƣời kể chuyện: ngƣời kể chuyện lớn hơn nhân vật, ngƣời kể chuyện bằng nhân vật và ngƣời kể chuyện bé hơn nhân vật [Theo 76, tr.126]. Ở hƣớng tiếp cận khác, nhà nghiên cứu ngƣời Anh P. Lubbock trong tác phẩm Nghệ thuật văn xuôi đƣa ra bốn hình thức trần thuật cơ bản: thứ nhất là “toát yếu toàn cảnh”, hình thức trần thuật này có sự hiện diện cảm thấy đƣợc của ngƣời trần thuật biết tất cả. Hình thức trần thuật thứ hai là “ngƣời trần thuật kịch hóa”. Ở hình thức này ngƣời trần thuật đứng ở ngôi một, kể lại câu chuyện từ sự cảm nhận riêng của mình. Hình thức trần thuật thứ ba là “ý thức kịch hóa”. Đặc trƣng của hình thức trần thuật này cho phép miêu tả trực tiếp đời sống tâm lý, những trải nghiệm bên trong của nhân vật. Hình thức trần thuật thứ tƣ là “kịch thực thụ”. Trong hình thức này độc giả chỉ thấy đƣợc hình dáng bề ngoài và các cuộc đối thoại của nhân vật mà không biết gì về đời sống nội tâm. Theo P. Lubbock đây là hình thức trần thuật hoàn hảo nhất [Theo I.P.Ilin – Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỷ XX/ 33, tr.223]. N.Friedman với tác phẩm Điểm nhìn trong tiểu thuyết đã đƣa ra cách phân loại cụ thể về ngƣời kể chuyện. Thứ nhất là „toàn năng biên tập”, với hình thức này ngƣời kể chuyện biết tất cả và có khả năng thâm nhập vào câu chuyện dƣới dạng những bàn luận chung về cuộc sống. Ở hình thức thứ hai là “toàn năng trung tính” thì không có sự can thiệp trực tiếp của ngƣời kể chuyện. Thứ ba là hình thức trần thuật “tôi là nhân chứng” khi ngƣời kể chuyện là một nhân vật trong truyện nhƣng chỉ nằm bên lề câu chuyện và biết một phần về các nhân vật. Thứ tƣ là hình thức trần thuật “tôi là vai chính” khi ngƣời kể chuyện là nhân vật chính. Thứ năm là hình thức trần thuật “toàn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 5 năng cục bộ đa bội”, ngƣời kể chuyện đứng ngoài và tựa vào điểm nhìn của nhiều nhân vật để kể chuyện. Thứ sáu là hình thức trần thuật “toàn năng cục bộ đơn bội” – ngƣời kể chuyện đứng bên ngoài và tựa vào điểm nhìn của một nhân vật trong truyện để kể. Thứ bảy là hình thức trần thuật theo “mô hình kịch” và thứ tám là trần thuật theo kiểu “camera”. Trong cả hai hình thức này, ngƣời kể chuyện hầu nhƣ chỉ khách quan ghi lại các sự việc, hiện tƣợng mà không tỏ thái độ chủ quan [Theo I.P.Ilin 33, tr.227]. G.N. Pospelov trong Dẫn luận nghiên cứu văn học đã khẳng định vai trò không thể thiếu của ngƣời trần thuật trong tác phẩm tự sự: “Trần thuật tự sự bao giờ cũng đƣợc tiến hành từ phía một ngƣời nào đó. Trong sử thi, tiểu thuyết, cổ tích, truyện ngắn trực tiếp hay gián tiếp đều có ngƣời trần thuật” [58, tr.88]. Theo Poxpelov có hai kiểu ngƣời trần thuật phổ biến là: “Hình thức thứ nhất của miêu tả tự sự là trần thuật từ ngôi thứ ba không nhân vật hóa mà đằng sau là tác giả. Nhƣng ngƣời trần thuật cũng hoàn toàn có thể xuất hiện trong tác phẩm dƣới hình thức một cái tôi nào đó” [58, tr.89]. Đặc biệt trong công trình nghiên cứu này, Poxpelov đã chỉ ra mối quan hệ giữa ngƣời kể chuyện với nhân vật và với tác giả. Timofiev trong giáo trình Nguyên lý lý luận văn học cũng đã khẳng định việc tự sự ngay từ đầu đã đƣợc gắn chặt với một ngƣời kể chuyện nhất định: “Ngƣời kể chuyện là ngƣời kể cho ta nghe về những nhân vật và biến cố” [73, tr.32]. Ông đặc biệt quan tâm đến ngôn ngữ ngƣời kể chuyện, xem nó là một yếu tố tích cực đem lại cho các nhân vật và các hiện tƣợng trong tác phẩm một màu sắc căn bản, một sự đánh giá căn bản. Ngôn ngữ ngƣời kể chuyện đƣợc cá tính hóa cả về mặt hình thức lẫn mặt ý nghĩa, nó có những đặc điểm riêng phân biệt với ngôn ngữ các nhân vật khác: “Tính độc đáo của ngôn ngữ ngƣời kể chuyện tức là vấn đề ngôn ngữ ngƣời kể chuyện có những đặc điểm cá tính hóa, không hòa lẫn với đặc điểm của các nhân vật đƣợc miêu tả, trái Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 6 lại đƣợc nêu lên một cách riêng biệt, ám chỉ một cá tính ẩn đằng sau nó. Cá tính này mà ta thấy trong ngôn ngữ, dùng những biện pháp ngôn ngữ để tạo nên hình tƣợng của nhân vật, ngƣời nhân danh mình theo quan điểm của mình, quan niệm tất cả các nhân vật và biến cố đƣợc nhắc đến trong tác phẩm” [73, tr.44]. Bên cạnh các nhà nghiên cứu nƣớc ngoài, ở Việt Nam vấn đề ngƣời kể chuyện cũng đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Chúng tôi xin nêu một số nhận định tiêu biểu: Các tác giả trong Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: “Hình tƣợng ƣớc lệ về ngƣời trần thuật trong tác phẩm văn học, chỉ xuất hiện khi nào câu chuyện đƣợc kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm” [28, tr.221]. Nguyễn Thái Hòa trong chuyên luận Những vấn đề thi pháp của truyện đã đề cập đến nhiều vấn đề ngƣời kể chuyện: “ngƣời kể chuyện là nhân tố tạo nên lăng kính đối thoại trong truyện. Ở đây là đối thoại hai chiều giữa ngƣời kể hàm ẩn và ngƣời nghe hàm ẩn. (…) Ông cho rằng ngƣời đọc hàm ẩn hay còn gọi là cái bóng độc giả chính là ngƣời kể tự thân. Tức là ngƣời đọc truyện đầu tiên không ai khác chính là ngƣời kể chuyện. Cuộc đối thoại giữa ngƣời kể hàm ẩn và ngƣời nghe hàm ẩn góp phần hoàn thiện câu chuyện. (…) Nguyễn Thái Hòa còn nêu vấn đề xác định giọng kể của ngƣời kể. Ông cho đây là vấn đề rất quan trọng” [Theo 79]. Phùng Văn Tửu trong chuyên luận Tiểu thuyết Pháp hiện đại tìm tòi, đổi mới nhận định: “nói đến ngƣời kể chuyện là nói đến điểm nhìn đƣợc xác định trong hệ đa phƣơng không gian, thời gian, tâm lý tạo thành góc nhìn. Ngƣời kể chuyện là ai, kể chuyện ngƣời khác hay kể chuyện chính bản thân mình, khoảng cách về không gian từ nơi sự việc xảy ra đến chỗ đứng của ngƣời kể chuyện cũng nhƣ độ lệch thời gian giữa lúc sự việc xảy ra và khi sự việc đƣợc kể lại vẫn thƣờng đƣợc các nhà tiểu thuyết quan tâm từ lâu”. Ông cũng nêu ra một số loại ngƣời kể chuyện: “một dạng phổ biến của tiểu thuyết truyền thống Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 7 là ngƣời kể chuyện giấu mặt, coi nhƣ đứng ở một ví trị nào đấy trong không gian, thời gian, bao quát hết mọi diễn biển của câu chuyện và thuật lại với chúng ta. Chuyện đƣợc kể ở ngôi thứ 3 số ít… một dạng phổ biến khác của tiểu thuyết là lối kể chuyện ở ngôi thứ nhất với ngƣời kể chuyện xƣng tôi” [89, tr.207]. Trong công trình Tự sự học – Một số vấn đề lý luận và lịch sử Trần Đình Sử chủ biên, vấn đề ngƣời kể chuyện đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Từ những vấn đề mang tính cụ thể nhƣ Phương thức tự sự chủ yếu của Sử thi Đam San của Đỗ Hồng Kì; Về mô hình tự sự truyện Kiều của Trần Đình Sử; Hình tượng người trần thuật trong tác phẩm Người tình của Trần Huyền Sâm; Nghệ thuật tự sự của Ngô Tất Tố trong Tắt đèn của Trần Đăng Xuyền; Một số hình thức tự sự trong Đi tìm thời gian đã mất của Marcel Proust của Đào Duy Hiệp... đến những vấn đề mang tính khái quát nhƣ Vấn đề người kể chuyện trong thi pháp tự sự hiện đại của Đỗ Hải Phong; Sự phát triển nghệ thuật tự sự ở Việt Nam – một vài hiện tượng đáng lưu ý của Đặng Anh Đào; Vấn đề kể chuyện trong truyện ngắn đương đại của Bùi Việt Thắng; Về tiểu thuyết sử dụng ngôi thứ nhất trong văn học phương Tây thế kỉ XVIII của Lê Nguyên Cẩn… [63]. Ngoài các bài viết, công trình nghiên cứu trên ta còn bắt gặp một số ý kiến khái quát về ngƣời kể chuyện trong một số bài báo, một số chuyên luận nhƣ: Người kể chuyện trong văn xuôi của Lê Phong Tuyết; Hình tượng nhân vật người kể chuyện trong truyện Lỗ Tấn của Lƣơng Duy Thứ; Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại của Đặng Anh Đào… Nhƣ vậy vấn đề lý thuyết ngƣời kể chuyện đã thu hút đƣợc sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên nhiều nƣớc khác nhau. Điểm chung của các ý kiến là ở chỗ khẳng định vai trò không thể thiếu của ngƣời kể chuyện trong tác phẩm tự sự, khẳng định ngƣời kể chuyện là ngƣời đứng ra để kể lại câu chuyện, ngƣời môi giới giữa tác phẩm với bạn đọc và là ngƣời thay mặt tác Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 8 giả phát biểu những tƣ tƣởng, quan điểm về con ngƣời, cuộc sống. Ngƣời kể chuyện là một trong những yếu tố quan trọng để phân biệt tác phẩm tự sự với tác phẩm thơ, trữ tình và kịch. Lý thuyết về ngƣời kể chuyện là phức tạp cho nên trong suốt thế kỉ qua các nhà nghiên cứu, lý luận, phê bình từ nhiều khuynh hƣớng đã tiếp cận vấn đề này một cách khác nhau nhƣng cho đến nay nó vẫn đòi hỏi cần phải tiếp tục tìm hiểu, xem xét. Những ý kiến của những ngƣời đi trƣớc thực sự là những gợi ý vô cùng quý báu giúp đỡ chúng tôi trong quá trình thực hiện luận văn này. 2.2. Tình hình nghiên cứu về người kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư Nguyễn Ngọc Tƣ là một trong những cây bút trẻ giàu tài năng đã và đang khẳng định vị trí của mình trong đời sống văn học đƣơng đại. Tác phẩm của chị trong đó có truyện ngắn luôn gây đƣợc sự chú ý đối với bạn đọc nói chung cũng nhƣ giới nghiên cứu phê bình văn học nói riêng bởi phong cách ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ của chị. Về tình hình nghiên cứu ngƣời kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ ta thấy có một số điểm đáng lƣu ý: Trƣớc hết, phần lớn các ý kiến chƣa đi vào xem xét nhân vật ngƣời kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ một cách riêng biệt và toàn diện mà mới chỉ ra một số bình diện liên quan đến nhân vật ngƣời kể chuyện. Nhà văn Nguyễn Quang Sáng – Tổng thƣ kí hội nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, trƣởng ban chung khảo cuộc thi sáng tác văn học tuổi 20 lần thứ II năm 2000 nhận thấy một trong những yếu tố làm nên sức hấp dẫn của truyện ngắn Ngọn đèn không tắt chính là ngôn ngữ kể chuyện: “Tập truyện ngắn Ngọn đèn không tắt của Nguyễn Ngọc Tƣ có truyện Ngọn đèn không tắt là truyện ngắn nổi bật nhất. Với giọng văn mộc mạc bình dị, với ngôn ngữ đời thƣờng đã tạo nên một không khí rất tự nhiên về màu sắc, hƣơng vị của mảnh đất cuối cùng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 9 Tổ Quốc – mũi Cà Mau của những con ngƣời mà cha ông là ngƣời tứ xứ về mũi đất của rừng, của sông nƣớc, của biển cả đã dày công khai phá, đã đứng lên khởi nghĩa” [60, tr.1]. Với Dạ Ngân, khi đọc tác phẩm Nguyễn Ngọc Tƣ bắt đầu từ tập truyện Ngọn đèn không tắt nhà văn cho rằng: “Chính cái chuyện lấy tên tập lại không thấy thích bằng những chuyện về cảnh ngộ, những thân phận, những mảnh đời thƣờng nhật, nó cho thấy tác giả có thể dài hơi về kiểu nhân vật này, tất cả đƣợc diễn tả bằng thứ ngôn ngữ Nam bộ lấp lánh và một giọng văn dung dị, đặc biệt ấm” [46]. Trong bài viết Bất tận với Nguyễn Ngọc Tư, nhà phê bình Văn Công Hùng cho rằng: “…cái làm nên Nguyễn Ngọc Tƣ còn là ngôn ngữ. Nguyễn Ngọc Tƣ đã thiết lập cho mình một hệ thống ngôn ngữ đặc chất Nam Bộ nhƣng không dị mọ ăn theo mà tung tẩy, thăng hoa trong từng ngữ cảnh cụ thể” [95]. Nhà văn Nguyễn Viện nhận định: “Với Cánh đồng bất tận, Nguyễn Ngọc Tƣ đã chứng tỏ cô thực sự là một nhà văn với tất cả tính chuyên nghiệp trong cách viết và ngôn ngữ sử dụng” [65]. Nhà nghiên cứu Huỳnh Nhƣ Phƣơng chọn Cánh đồng bất tận là tác phẩm hay nhất năm 2005 vì nó kết hợp đƣợc các phƣơng diện: “Một là, nó vừa là chuyện con ngƣời. Hai, nó rất gần gũi với những vấn đề thời sự hiện nay mà cũng không xa lạ với những vấn đề vĩnh cửu. Ba, nó vừa dữ dội, bạo liệt vừa rất mềm mại đầy nữ tính. Thứ tƣ, ngôn ngữ của nó vừa thể hiện đƣợc cái văn phong Nam Bộ đồng thời có sự trong sáng, phong phú của văn chƣơng tiếng Việt” [65]. Ngoài các ý kiến chỉ ra một số bình diện liên quan đến nhân vật ngƣời kể chuyện cũng đã có ý kiến trực tiếp bàn về ngƣời kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ. Đoàn Ánh Dƣơng khi nhận xét truyện Cánh đồng bất tận cho rằng: “dựa và sự vận động của tâm lý nhân vật, hành trình khám phá tác phẩm là sự bóc tách từ bình diện ngôn ngữ trần thuật đến bình diện những tri nhận, ẩn ức đã lắng đọng thành các biểu tƣợng ám ảnh đời sống nội tâm nhân Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 10 vật. [12, tr.97]. Ở một đoạn khác Đoàn Ánh Dƣơng viết: “Để có một giọng văn chân thật, một mặt nhƣ đã nói, tác giả rời chuyển ngôi kể từ ngƣời kể chuyện sang nhân vật chính, cho nhân vật nói bằng ngôn ngữ cảm xúc, suy tƣởng. Mặt khác, đẩy ngôn ngữ đối thoại, ngôn ngữ nhân vật khác lọc qua lăng kính tâm lý của nhân vật chính, đƣa nó vào trƣờng cảm nhận của nhân vật chính. Nhân vật tôi, vì vậy là ngƣời biết hết, hiểu hết, cảm hết, những gì mình nói ra. Hơn thế, sự kể vừa nhƣ kết quả của những tác động bên ngoài (những câu hỏi của Sƣơng), vừa nhƣ sự thúc bách nội cảm, tức nhu cầu muốn phơi trải để đƣợc nhẹ lòng trƣớc không khí ngột ngạt bao bọc bởi cảm giác một sự báo ứng đang dần tới, thứ ngôn ngữ tự nói với mình ấy là yếu tố cơ bản tạo nên tính chân chất của văn phong Ngọc Tƣ” [12, tr.104]. Đến đây, tác giả Đoàn Ánh Dƣơng đã chú ý việc “ai kể chuyện” để tạo nên sức hấp dẫn của tác phẩm. Từ sự phân tích trên có thể thấy, mặc dù truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ đã đƣợc giới nghiên cứu phê bình trao đổi, nhận xét, đánh giá làm sáng tỏ trên nhiều phƣơng diện nhƣng phƣơng diện ngƣời kể chuyện thì chƣa đƣợc khảo sát một cách tỉ mỉ, hệ thống, chƣa thực sự trở thành đối tƣợng nghiên cứu độc lập của một công trình nào. Phần lớn các nhà nghiên cứu chỉ mới bàn đến vấn đề này một cách khái quát qua một ý kiến ngắn, một bài báo, một mục trong chuyên luận. Tuy nhiên, những ý kiến này vẫn là những gợi ý, những định hƣớng quý giá giúp chúng tôi tiếp tục đi sâu nghiên cứu một cách tƣơng đối toàn diện, có hệ thống về vấn đề này. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu Trong khuôn khổ một luận văn cao học, chúng tôi không có điều kiện khảo sát toàn bộ sáng tác trong sự nghiệp văn chƣơng của nhà văn Nguyễn Ngọc Tƣ mà chỉ giới hạn việc nghiên cứu ở thể loại truyện ngắn. Đối tƣợng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 11 nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu ngƣời kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ. 3.2 Phạm vi nghiên cứu Để có thể đáp ứng yêu cầu đặt ra là nghiên cứu ngƣời kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ, luận văn tập trung chủ yếu khảo sát trên 6 tập truyện ngắn: Ngọn đèn không tắt; Giao thừa; Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư; Cánh đồng bất tận; Gió lẻ và 9 câu chuyện khác; Khói trời lộng lẫy. 4. Mục đích nghiên cứu Tìm hiểu nhân vật ngƣời kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ sẽ giúp chúng ta lí giải đƣợc phần nào tài năng nghệ thuật, lí giải đƣợc một trong những yếu tố quan trọng hình thành nên phong cách nghệ thuật đặc sắc của chị và đánh giá đƣợc khả năng tự sự mà Nguyễn Ngọc Tƣ đã đem đến cho văn xuôi Việt Nam đƣơng đại. 5. Nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu 5.1. Nhiệm vụ nghiên cứu Trƣớc hết, luận văn tìm hiểu những vấn đề lý thuyết chung về ngƣời kể chuyện. Đó là những vấn đề: khái niệm ngƣời kể chuyện, vai trò của ngƣời kể chuyện trong tác phẩm tự sự, các tiêu chí nhận diện ngƣời kể chuyện, mối quan hệ giữa ngƣời kể chuyện với tác giả, với nhân vật… Trên cơ sở những lý thuyết chung đó, luận văn đi sâu vào nghiên cứu ngƣời kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ – chỉ ra ngôi kể và một số loại hình ngƣời kể chuyện, một số đặc điểm về ngôn ngữ, giọng điệu của ngƣời kể chuyện. 5.2. Phương pháp nghiên cứu Để giải quyết những nhiệm vụ trên, luận văn sử dụng kết hợp một số phƣơng pháp nghiên cứu sau: - Phƣơng pháp hệ thống - Phƣơng pháp loại hình Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 12 - Phƣơng pháp phân tích tác phẩm - Phƣơng pháp so sánh, đối chiếu Các phƣơng pháp nghiên cứu này không tách rời nhau mà hài hòa với nhau, bổ sung cho nhau. Trong đó chúng tôi đặc biệt quan tâm đến phƣơng pháp hệ thống và phƣơng pháp loại hình. Đây là phƣơng pháp quán xuyến toàn bộ tiến hành luận văn. 6. Đóng góp của luận văn - Luận văn xác định nội hàm khái niệm ngƣời kể chuyện một cách tƣơng đối nhất quán và hệ thống để có thể sử dụng khái niệm này nhƣ một yếu tố cơ bản trong việc xem xét cấu trúc của tác phẩm tự sự. - Vận dụng khái niệm ngƣời kể chuyện để xem xét một trong những nét đặc sắc của văn phong Nguyễn Ngọc Tƣ, đồng thời khẳng định những khả năng tự sự mà nhà văn này đem đến cho văn xuôi Việt Nam đƣơng đại. Có thể nói trong luận văn của chúng tôi vấn đề ngƣời kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ đã đƣợc khảo sát tỉ mỉ, hệ thống, thực sự trở thành đối tƣợng nghiên cứu chuyên biệt, độc lập. 7. Cấu trúc của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc cấu trúc thành ba chƣơng: Chương 1: Ngƣời kể chuyện – một phạm trù của tự sự học Chương 2: Ngôi kể và một số loại hình ngƣời kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ Chương 3: Ngôn ngữ và giọng điệu kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 13 NỘI DUNG Chương 1 NGƯỜI KỂ CHUYỆN – MỘT PHẠM TRÙ CỦA TỰ SỰ HỌC 1.1. Người kể chuyện là một kiểu nhân vật đặc biệt Ngƣời kể chuyện tồn tại ngay từ khi có văn học, điều đó có nghĩa là có tác phẩm thì phải có ngƣời kể chuyện. Thuật ngữ ngƣời kể chuyện có từ năm 1490 (Latinh: narrator) nhƣng lý luận về nó phải đến thế kỷ XX mới phát triển. Đây là vấn đề đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đề cập đến. Nhƣng cho đến nay, khái niệm ngƣời kể chuyện vẫn chƣa đƣợc các nhà lý luận văn học thống nhất hoàn toàn. Ở mặt nội hàm khái niệm cũng có những cách hiểu khác nhau, có nhà nghiên cứu gọi là “ngƣời trần thuật”, ngƣời khác lại gọi là “ngƣời kể chuyện”, có ngƣời cho rằng hai khái niệm này là khác nhau. Trong luận văn này chúng tôi xem đây là những khái niệm đồng nghĩa. Về mặt nội hàm khái niệm cũng có nhiều cách hiểu khác nhau. Theo các tác giả trong từ điển Wikipedia thì “một câu chuyện hay phải có một ngƣời kể chuyện xác định rõ và kiên định (…). Ngƣời kể chuyện là một thực thể đơn nhất (single entity) và giới hạn. Ngƣời kể chuyện không thể truyền đạt bất cứ điều gì mà anh ta không đối mặt với nó” [17]. Với W. Kayser, ngƣời trần thuật là một khái niệm mang tính chất rất hình thức: “ngƣời trần thuật – đó là một hình hài đƣợc sáng tạo ra, thuộc về toàn bộ chỉnh thể tác phẩm văn học. Ở nghệ thuật kể, không bao giờ ngƣời trần thuật là vị tác giả đã hay chƣa nổi danh, nhƣng là cái vai mà tác giả bịa ra và chấp nhận” [33, tr.245]. Còn đối với Todorov thì ngƣời kể chuyện không chỉ là ngƣời kể mà còn là ngƣời định giá: “ngƣời kể chuyện là một nhân tố chủ động trong việc kiến tạo thế giới hƣ cấu. Chính ngƣời kể chuyện là hiện thân của những khuynh mang tính xét đoán và đánh giá” [24, tr.490]. Các nhà nghiên cứu trong nƣớc cũng đƣa ra Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 14 các cách hiểu không giống nhau về khái niệm ngƣời kể chuyện. Trong Từ điển văn học (bộ mới), sau khi nêu định nghĩa ngắn gọn ngƣời kể chuyện là: “thuật ngữ chỉ nhân vật đóng vai trò chủ thể của lời kể chuyện, là ngƣời đứng ra kể trong tác phẩm văn học”, GS.TS Lê Ngọc Trà đƣa ra những hình thức khác nhau của chủ thể này: vô nhân xƣng và ngƣời kể chuyện xƣng danh tôi, chúng tôi. Theo các tác giả trong Từ điển thuật ngữ văn học thì ngƣời kể chuyện là “hình tƣợng ƣớc lệ về ngƣời trần thuật trong tác phẩm văn học, chỉ xuất hiện khi nào câu chuyện đƣợc kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm” [28, tr.221]. Lê Phong Tuyết trong bài viết Người kể chuyện trong văn xuôi sau khi nêu lên những vấn đề ngƣời kể chuyện ở Việt Nam, ngƣời kể chuyện trong văn học phƣơng Tây đã đi đến định nghĩa: “Ngƣời kể chuyện đƣợc định nghĩa một cách đơn giản và thống nhất: ngƣời kể chuyện là ngƣời kể lại câu chuyện” [79, tr.126]. Không phải trong bất kì tác phẩm văn học nào cũng có nhân vật ngƣời kể chuyện. Trong kịch, sự quan sát, đánh giá các nhân vật và sự việc chủ yếu đƣợc lồng vào ngôn ngữ, thái độ và hoạt động của nhân vật (trực tiếp thể hiện trên sân khấu). Bởi thế, không thấy sự xuất hiện của ngƣời kể chuyện trong kịch. Trong thơ trữ tình, tâm tƣ tình cảm của nhà thơ đƣợc bộc lộ trực tiếp dƣới hình thức tự bộc lộ chứ không phải dƣới hình thức câu chuyện kể về ngƣời khác. Trong tác phẩm tự sự nhà văn trình bày, tái hiện một cách sáng tạo thế giới hiện thực thông qua lời kể, lời miêu tả… của một ngƣời trần thuật nào đó. Pospelop khắng định: “Ngƣời trần thuật là một loại ngƣời môi giới giữa các hiện tƣợng đƣợc miêu tả và ngƣời nghe (ngƣời đọc), là ngƣời chứng kiến và cắt nghĩa sự việc xảy ra” [58, tr.88]. Ngƣời kể chuyện là một nhân vật nhƣng là một kiểu nhân vật đặc biệt, nó có những đặc điểm khác so với các nhân vật khác trong tác phẩm. Tz.Todorov tuyên bố: “Ngƣời kể chuyện không nói nhƣ các nhân vật tham thoại khác mà kể chuyện. Nhƣ vậy, kết hợp đồng thời trong mình cả nhân vật và ngƣời kể, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 15 nhân vật mà nhân danh nó cuốn sách đƣợc kể có một vị thế hoàn toàn đặc biệt…” [64, tr.117]. Điều đó có nghĩa là ngƣời kể chuyện không chỉ là một nhân vật tham gia trong tác phẩm mà còn đảm nhiệm chức năng tổ chức kết cấu tác phẩm, tổ chức các nhân vật khác. L.I.Timofeev chỉ ra rằng: “Ngƣời kể chuyện bắt tất cả các đặc điểm ngôn ngữ của nhân vật mà họ nhắc tới phải lệ thuộc vào mình ngay cả khi ngƣời kể chuyện cho nhân vật một sự độc lập đầy đủ về mặt ngôn ngữ” [73, tr.32]. Khi đọc xong một tác phẩm tự sự, ngoài những nhân vật đƣợc miêu tả thì ngƣời đọc chúng ta vẫn cảm nhận thấy có một nhân vật đặc biệt đang quan sát, ghi chép, phân tích về chúng, về mọi sự việc, đó là ngƣời kể chuyện. Có thể nói, trong bất cứ truyện kể nào cũng mang dấu ấn, cũng thể hiện cách nhìn, cách cảm, phƣơng thức tƣ duy, năng lực trí tuệ của nhân vật đặc biệt này. Kế thừa và tổng hợp những định nghĩa, cách hiểu trên, chúng tôi bƣớc đầu đi vào xác lập những vấn đề chung về ngƣời kể chuyện thông qua sự phân biệt nó với ngƣời kể chuyện trong đời sống thực tế, với nhân vật và với tác giả. 1.1.1. Người kể chuyện với tư cách là một sản phẩm hư cấu để kể chuyện Trong cuộc sống hàng ngày, kể chuyện, giao tiếp, đối thoại là hoạt động không thể thiếu của con ngƣời bởi chỉ có thông qua hoạt động kể chuyện con ngƣời mới có thể hiểu đƣợc con ngƣời, sự vật và hiện tƣợng quanh mình. Nếu nhƣ trong tình huống truyện kể ngoài đời khi đối diện ta có một ngƣời kể chuyện bằng xƣơng, bằng thịt, có hình hài, giọng nói, điệu bộ, một ngƣời mà ta có thể nhìn thấy và nghe họ nói thì đến ngƣời kể chuyện nghệ thuật tất cả những yếu tố hữu hình này đều đƣợc chuyển vào trong văn bản thông qua hệ thống thủ pháp nghệ thuật. Ngƣời kể chuyện trong tác phẩm văn học là sản phẩm của sự sáng tạo nghệ thuật, một sản phẩm từ sự hƣ cấu của nhà văn. Điểm khác biệt giữa ngƣời kể chuyện thực tế với ngƣời kể chuyện trong tác phẩm nghệ thuật là ngƣời kể chuyện thực tế có thể điều chỉnh câu chuyện kể Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Xem thêm -