Tài liệu Người kể chuyện trong tiểu thuyết vũ trọng phụng ( luận văn ths. văn học )

  • Số trang: 141 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 84 |
  • Lượt tải: 0
nguyetha

Đã đăng 8489 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ----------------------------------------------------- HOÀNG THỊ HẢI YẾN NGƢỜI KỂ CHUYỆN TRONG TIỂU THUYẾT VŨ TRỌNG PHỤNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Lý luận văn học Hà Nội – 2014 1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ----------------------------------------------------- HOÀNG THỊ HẢI YẾN NGƢỜI KỂ CHUYỆN TRONG TIỂU THUYẾT VŨ TRỌNG PHỤNG Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lý luận văn học Mã số:60220120 Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Đoàn Đức Phương Hà Nội - 2014 2 LỜI CẢM ƠN Trước tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến tất cả quý thầy cô đã và đang giảng dạy trong chương trình Cao học môn Ngữ văn Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - những người đã giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học. Tôi xin chân thành cảm ơn PGS. TS. Đoàn Đức Phương – người đã tận tình hướng dẫn cho tôi trong thời gian thực hiện luận văn. Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các Thầy/ Cô đang giảng dạy tại các Khoa của Trường Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thiện luận văn. Sau cùng, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn. Do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luận văn còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý của Thầy/Cô và các anh chị học viên. Hà Nội, ngày 24 tháng 12 năm 2014 Học viên Hoàng Thị Hải Yến 3 MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................... 3 MỤC LỤC ..................................................................................................................... 4 MỞ ĐẦU ........................................................................................................................ 7 2. Lịch sử nghiên cứu .................................................................................................10 2.1. Tình hình nghiên cứu về vấn đề ngƣời kể chuyện .........................................10 2.2. Tình hình nghiên cứu ngƣời kể chuyện trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng 3. Mục đích, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu..........................................................15 3.1. Mục đích ................................................................................................................15 3.2. Đối tượng...............................................................................................................16 3.3. Phạm vi ..................................................................................................................16 4. Phƣơng pháp nghiên cứu ......................................................................................16 5. Cấu trúc luận văn ...................................................................................................17 Chƣơng 1. KHÁI LƢỢC VỀ NGƢỜI KỂ CHUYỆN VÀ TIỂU THUYẾT CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG ......................................................................................18 1.1. Khái lƣợc về ngƣời kể chuyện ...........................................................................18 1.1.1. Khái niệm ...........................................................................................................18 1.1.2. Một số vấn đề liên quan tới người kể chuyện ................................................18 1.2. Tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng......................................................................22 1.2.1. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Vũ Trọng Phụng ...............................22 1.2.1.1. Cuộc đời...........................................................................................................22 1.2.1.2. Sự nghiệp sáng tác .........................................................................................24 1.2.2. Quan điểm sáng tác của nhà văn Vũ Trọng Phụng......................................25 Chƣơng 2 CÁC DẠNG THỨC NGHỆ THUẬT CỦA NGƢỜI KỂ CHUYỆN TRONG TIỂU THUYẾT VŨ TRỌNG PHỤNG .................................................29 2.1. Ngôi kể ...................................................................................................................29 2.1.1. Khái niệm ngôi kể và các dạng thức của ngôi kể ..........................................29 4 2.1.1.1. Khái niệm .........................................................................................................29 2.1.1.2. Các dạng thức ngôi kể ....................................................................................29 2.1.2. Ngôi kể trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng ....................................................32 2.1.2.1. Người kể chuyện ở ngôi thứ ba ......................................................................32 2.1.2.2. Người kể chuyện ở ngôi thứ nhất ...................................................................34 2.1.2.3. Sự di chuyển ngôi kể........................................................................................36 2.2. Điểm nhìn..............................................................................................................39 2.2.1. Khái niệm về điểm nhìn và cách phân loại điểm nhìn..................................39 2.2.1.1. Khái niệm .........................................................................................................39 2.2.1.2. Phân loại điểm nhìn ........................................................................................39 2.2.2. Điểm nhìn trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng .......................................41 2.2.2.1. Điểm nhìn toàn tri ...........................................................................................41 2.2.2.2. Điểm nhìn bên ngoài .......................................................................................44 2.2.2.3. Điểm nhìn bên trong........................................................................................46 2.2.2.4. Sự di chuyển hóa điểm nhìn............................................................................50 2.3. Thái độ...................................................................................................................55 2.3.1. Thái độ khách quan ..........................................................................................55 2.3.1.1. Thái độ khách quan với xã hội .......................................................................55 2.3.1.2. Thái độ khách quan với con người.................................................................59 2.3.2.Thái độ chủ quan ...............................................................................................79 Chƣơng 3: PHƢƠNG THỨC KỂ CỦA NGƢỜI KỂ CHUYỆN TRONG TIỂU THUYẾT CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG ........................................................89 3.1 Cách dẫn chuyện ..................................................................................................89 3.1.1. Dẫn dắt thông qua tình huống truyện ..........................................................89 3.1.2. Dẫn dắt thông qua miêu tả những hành động bên ngoài của nhân vật .........103 3.2. Cách trần thuật..................................................................................................109 3.2.1. Luôn gắn câu chuyện với những hiện thực đời sống .................................109 5 3.2.2. Đặt nhân vật trong những phạm vi không gian thời gian rộng lớn ......... 110 3.2.3. Khai thác tối đa những cái bất thường ......................................................... 113 3.2.4. Sử dụng bút pháp phóng đại một cách tối đa .............................................. 116 3.3. Ngôn ngữ............................................................................................................. 117 3.3.1.Ngôn ngữ đối thoại, ngôn ngữ độc thoại....................................................... 117 3.3.2. Ngôn ngữ mang thói quen của nhân vật......................................................122 3.3.3. Ngôn ngữ mang tính hài hước ......................................................................124 3.4. Giọng điệu...........................................................................................................125 3.4.1. Giọng điệu mỉa mai, châm biếm ....................................................................125 3.4.2. Giọng điệu hài hước hóm hỉnh .....................................................................129 3.4.3.Giọng điệu giễu nhại........................................................................................132 KẾT LUẬN ...............................................................................................................134 TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................136 6 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Tiểu thuyết là thể loại văn xuôi có hư cấu, thông qua nhân vật, hoàn cảnh, sự việc để phản ánh bức tranh xã hội rộng lớn và những vấn đề của cuộc sống con người, biểu hiện tính chất tường thuật, tính chất văn xuôi theo những chủ đề nhất định. Lịch sử phát triển của thể loại tiểu thuyết đã để lại cho văn học thế giới những thành tựu rực rỡ: từ những kiệt tác của tiểu thuyết chương hồi đến những tác phẩm hiện thực đồ sộ của tiểu thuyết phương tây; từ những bộ tiểu thuyết sử thi trong văn học Nga đến những mạch văn chương huyền ảo của Mỹ-La tinh, sự phát triển mạnh mẽ của thể loại tiểu thuyết ở Châu Á...Tất cả những điều đó đã tạo nên một diện mạo rất riêng của thể loại tiểu thuyết. Và cũng chính từ đặc điểm mang tính đặc trưng của thể loại tiểu thuyết nên thể loại này càng ngày càng chiếm vị trí ưu thế trong hệ thống các thể loại văn học. Ở Việt Nam, thể loại tiểu thuyết xuất hiện khá muộn, tuy những sáng tác văn xuôi cổ như Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái,Thánh Tông di thảo, truyền kỳ mạn lục ở thế kỉ XVI cũng đã bước đầu đặt nền móng cho thể loại này. Sang thế kỉ XVIII, sự xuất hiện của một số sáng tác tự sự cỡ lớn như Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác, Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ...đặc biệt tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí được coi là tác phẩm tiểu thuyết đầu tiên của Việt Nam có giá trị văn học đặc sắc. Tuy nhiên những tác phẩm này vẫn chủ yếu mang dáng dấp của tiểu thuyết chương hồi. Yếu tố đời tư cũng đã bắt đầu xuất hiện nhưng còn rất ít. Phải đến những năm 30 của thế kỉ XX văn học Việt Nam mới xuất hiện tiểu thuyết với đầy đủ tính chất của tiểu thuyết hiện đại với những sáng tác của những cây bút nổi tiếng trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn, những cây bút thuộc dòng văn học hiện thực phê phán: Ngô Tất Tố, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng. Như vậy việc tìm hiểu người kể chuyện trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng sẽ góp phần tìm hiểu rõ hơn đặc điểm tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX. Vũ Trọng Phụng là một trong những nhà văn mở đầu cho thể loại tiểu thuyết hiện 7 thực Việt Nam viết theo lối tiểu thuyết hiện đại. Ngay từ những sáng tác đầu tay, Vũ Trọng Phụng đã có những đóng góp lớn cho lịch sử phát triển của văn học, đặc biệt là ở thể loại tiểu thuyết phóng sự. Sáng tác của ông không chỉ là sự đổi mới về tư duy mà còn có những cách tân mới mẻ về hình thức nghệ thuật. Với một phong cách sáng tác độc đáo, bằng một thái độ nghiêm túc trong sáng tạo văn học, Vũ Trọng Phụng đã để lại cho nền văn học Việt Nam nhiều tác phẩm tiểu thuyết có giá trị. Người kể chuyện là một yếu tố quan trọng của lý thuyết tự sự học. Trong bộ môn Lý luận văn học, người kể chuyện là một khái niệm khá phức tạp. Trước đây khái niệm này hầu như bị bỏ qua, người ta chỉ nghiên cứu nhân vật, ngôn ngữ, cốt truyện, các biện pháp tu từ..., người kể chuyện trong văn bản biến mất, gần như vô hình hoặc bị đồng nhất với tác giả. Những năm gần đây, sự ý thức về chủ thể của văn học cùng với việc mở rộng tiếp thu các thành tựu lý luận trên thế giới đã có những tác động mạnh mẽ đến ý thức của những người nghiên cứu văn học. Người nghiên cứu không chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu tác phẩm viết về điều gì, ý nghĩa của tác phẩm ra sao; mà yếu tố nghệ thuật kể, trong đó vai trò của người kể cũng như sự tác động của người kể đối với câu chuyện cũng trở thành một vấn đề quan trọng trong việc khám phá tài năng thành công của mỗi tác phẩm. Người kể chuyện không chỉ còn là một yếu tố trong truyện kể mà nó tồn tại với tư cách là một phạm trù – một phương tiện để nhận thức thế giới nghệ thuật, có những đặc điểm riêng, có quy luật phát triển và có mối quan hệ qua lại với các yếu tố khác. Tìm hiểu người kể chuyện trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng không chỉ góp phần bổ sung tài liệu cho chuyên ngành lý luận về vấn đề người kể chuyện trong văn tự sự mà còn góp phần nhìn nhận chính xác hơn về sự phát triển của lịch sử thể loại tiểu thuyết trong nền văn học nước nhà. Vũ Trọng Phụng là một thiên tài xuất sắc của nền văn học Việt Nam. Trong đó nghệ thuật kể chuyện, đặc biệt nghệ thuật xây dựng hình ảnh người kể chuyện là một trong những biệt tài mà nhà văn đã thể hiện trong các tác phẩm của mình. Vũ Trọng Phụng được coi là nhà văn tiên phong trong việc sáng tạo tiểu thuyết Việt 8 Nam hiện đại. Theo nghiên cứu của giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh (Mấy suy nghĩ từ cuộc đời và sự nghiệp của Vũ Trọng Phụng – Bài phát biểu trong lễ kỷ niệm 70 năm ngày mất Vũ Trọng Phụng), Vũ Trọng Phụng viết tiểu thuyết hiện đại khi mà trên văn đàn Việt Nam thể loại này mới bắt đầu khởi phát. Theo như nghiên cứu của giáo sư thì thể loại văn xuôi nghệ thuật ở Việt Nam được viết theo kiểu hiện đại như hiện nay chỉ mới khởi đầu từ truyện ngắn Sống chết mặc bay! của Phạm Duy Tốn, in trên báo Nam Phong tháng 12 năm 1918; Thể loại kịch với tác phẩm Chén thuốc độc - một thể loại mới toanh mà Vũ Đình Long đã tự lĩnh ấn tiên phong năm 1921, và thơ của phong trào Thơ Mới tiếp sau đó…Còn với thể loại tiểu thuyết thì Tố Tâm được in năm 1925 của Hoàng Ngọc Phách là sự mở đầu (Tố Tâm là tiểu thuyết duy nhất của Hoàng Ngọc Phách được viết xong năm 1922, in lần đầu năm 1925 tại NXB Châu Phương, Hà Nội). Như vậy xét vào thời điểm lúc bấy giờ thì Vũ Trọng Phụng là một trong những nhà văn sớm nhất viết tiểu thuyết theo lối tiểu thuyết hiện đại. Là một trong những nhà văn đi tiên phong cho lối viết tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, nhưng ngay từ những tác phẩm đầu tiên, tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng đã nhanh chóng thu hút được người đọc không chỉ bởi con mắt tinh đời của nhà văn tự sự mà nó còn nhanh chóng thu hút người đọc ở chính lối kể chuyện độc đáo, hóm hỉnh, sắc sảo, mang phong cách riêng của Vũ Trọng Phụng. Tìm hiểu nghệ thuật kể chuyện trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng, trong đó yếu tố người kể chuyện là yếu tố quan trọng, không chỉ giúp người đọc thấy được những đóng góp của nhà văn đối với sự phát triển của thể loại tiểu thuyết trong nền văn học nước nhà mà qua đó còn đánh giá được tài năng, sự nhận thức của nhà văn đối với hiện thực lịch sử xã hội lúc bấy giờ. Như vậy với việc tìm hiểu “người kể chuyện trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng” chúng tôi hy vọng có thể đưa khái niệm người kể chuyện ngày càng gần hơn với bạn đọc văn học Việt Nam trong quá trình nghiên cứu và tiếp nhận tác phẩm; mặt khác qua bài viết này, chúng tôi mong muốn có một góc nhìn chính xác đầy đủ hơn về con người cũng như những đóng góp mà Vũ Trọng Phụng để lại cho nền văn học nước nhà. 9 2. Lịch sử nghiên cứu 2.1. Tình hình nghiên cứu về vấn đề người kể chuyện Là một trong những vấn đề trung tâm của thi pháp văn xuôi hiện đại, là phương diện quan trọng của lý thuyết tự sự, người kể chuyện từ lâu đã thu hút được sự quan tâm đông đảo của các nhà nghiên cứu. Có thể kể tên một số nhà lý luận phương Tây đã dành nhiều tâm huyết cho trần thuật học, tự sự học nói chung và người kể chuyện nói riêng : Genette, Todorov, Lispenski, Lubbock, Barthes, Friendman, Chatman… Genette trong công trình Các phương thức tu từ dựa vào tiêu chí tiêu cự - mối quan hệ giữa thị giác và vật được nhìn thấy, cảm biết, đã đưa ra sự phân loại về người kể chuyện: Thứ nhất là tự sự với tiêu cự bằng không với người kể chuyện biết hết, biết trước, không có khoảng cách nào với sự việc được kể. Thứ hai là tự sự với tiêu cự bên trong, người kể chuyện thông qua nhân vật mà xác lập tiêu cự, sự biết của người kể chuyện ngang với nhân vật. Thứ ba là tự sự với tiêu cự bên ngoài, người kể chuyện xác lập tiêu cự bên ngoài đối với nhân vật và cảnh vật, chỉ miêu tả lời nói và hành động của nhân vật, không miêu tả nội tâm, không phân tích tâm lý cũng không đánh giá chủ quan [23; tr.84]. G.N. Pospelov trong Dẫn luận nghiên cứu văn học đã khẳng định vai trò không thể thiếu của người trần thuật trong tác phẩm tự sự: “Trần thuật tự sự bao giờ cũng được tiến hành từ phía một người nào đó. Trong sử thi, tiểu thuyết, cổ tích, truyện ngắn trực tiếp hay gián tiếp đều có người trần thuật”. Theo Poxpelov có hai kiểu người trần thuật phổ biến là: “Hình thức thứ nhất của miêu tả tự sự là trần thuật từ ngôi thứ ba không nhân vật hóa mà đằng sau là tác giả. Nhưng người trần thuật cũng hoàn toàn có thể xuất hiện trong tác phẩm dưới hình thức một cái tôi nào đó”[77; tr.89]. Đặc biệt trong công trình nghiên cứu này, Poxpelov đã chỉ ra mối quan hệ giữa người kể chuyện với nhân vật và với tác giả. N.Friedman với tác phẩm Điểm nhìn trong tiểu thuyết đã đưa ra cách phân loại cụ thể về người kể chuyện: thứ nhất là “toàn năng biên tập”, với hình thức này người kể chuyện biết tất cả và có khả năng thâm nhập vào câu chuyện dưới dạng những 10 bàn luận chung về cuộc sống; ở hình thức thứ hai là “toàn năng trung tính” thì không có sự can thiệp trực tiếp của người kể chuyện; thứ ba là hình thức trần thuật “tôi là nhân chứng” khi người kể chuyện là một nhân vật trong truyện nhưng chỉ nằm bên lề câu chuyện và biết một phần về các nhân vật; thứ tư là hình thức trần thuật “tôi là vai chính” khi người kể chuyện là nhân vật chính; thứ năm là hình thức trần thuật “toàn năng cục bộ đa bội”, người kể chuyện đứng ngoài và tựa vào điểm nhìn của nhiều nhân vật để kể chuyện; thứ sáu là hình thức trần thuật “toàn năng cục bộ đơn bội” – người kể chuyện đứng bên ngoài và tựa vào điểm nhìn của một nhân vật trong truyện để kể; thứ bảy là hình thức trần thuật theo “mô hình kịch” và thứ tám là trần thuật theo kiểu “camera”. Trong tất cả các hình thức này, người kể chuyện hầu như chỉ khách quan ghi lại các sự việc, hiện tượng mà không tỏ thái độ chủ quan [33; tr.227].. Timofiev trong giáo trình Nguyên lý lý luận văn học cũng đã khẳng định việc tự sự ngay từ đầu đã được gắn chặt với một người kể chuyện nhất định: “Người kể chuyện là người kể cho ta nghe về những nhân vật và biến cố” [86; tr.32]. Ông đặc biệt quan tâm đến ngôn ngữ người kể chuyện, xem nó là một yếu tố tích cực đem lại cho các nhân vật và các hiện tượng trong tác phẩm một màu sắc căn bản, một sự đánh giá căn bản. Ngôn ngữ người kể chuyện được cá tính hóa cả về mặt hình thức lẫn mặt ý nghĩa, nó có những đặc điểm riêng phân biệt với ngôn ngữ các nhân vật khác: “Tính độc đáo của ngôn ngữ người kể chuyện tức là vấn đề ngôn ngữ người kể chuyện có những đặc điểm cá tính hóa, không hòa lẫn với đặc điểm của các nhân vật được miêu tả, trái lại được nêu lên một cách riêng biệt, ám chỉ một cá tính ẩn đằng sau nó. Cá tính này mà ta thấy trong ngôn ngữ, dùng những biện pháp ngôn ngữ để tạo nên hình tượng của nhân vật, người nhân danh mình theo quan điểm của mình, quan niệm tất cả các nhân vật và biến cố được nhắc đến trong tác phẩm”. [86;tr.44]. Bên cạnh các nhà nghiên cứu nước ngoài, ở Việt Nam vấn đề người kể chuyện cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Nguyễn Thái Hòa trong chuyên luận Những vấn đề thi pháp của truyện đã đề cập đến nhiều vấn đề người kể chuyện: 11 người kể chuyện là nhân tố tạo nên lăng kính đối thoại trong truyện. Ở đây là đối thoại hai chiều giữa người kể hàm ẩn và người nghe hàm ẩn. (…) Ông cho rằng người đọc hàm ẩn hay còn gọi là cái bóng độc giả chính là người kể tự thân. Tức là người đọc truyện đầu tiên không ai khác chính là người kể chuyện. Cuộc đối thoại giữa người kể hàm ẩn và người nghe hàm ẩn góp phần hoàn thiện câu chuyện. (…) Nguyễn Thái Hòa còn nêu vấn đề xác định giọng kể của người kể. Ông cho đây là vấn đề rất quan trọng [Theo 31]. Phùng Văn Tửu trong chuyên luận Tiểu thuyết Pháp hiện đại tìm tòi, đổi mới nhận định: “nói đến người kể chuyện là nói đến điểm nhìn được xác định trong hệ đa phương không gian, thời gian, tâm lý tạo thành góc nhìn. Người kể chuyện là ai, kể chuyện người khác hay kể chuyện chính bản thân mình, khoảng cách về không gian từ nơi sự việc xảy ra đến chỗ đứng của người kể chuyện cũng như độ lệch thời gian giữa lúc sự việc xảy ra và khi sự việc được kể lại vẫn thường được các nhà tiểu thuyết quan tâm từ lâu”. Ông cũng nêu ra một số loại người kể chuyện: “một dạng phổ biến của tiểu thuyết truyền thống là người kể chuyện giấu mặt, coi như đứng ở một ví trị nào đấy trong không gian, thời gian, bao quát hết mọi diễn biển của câu chuyện và thuật lại với chúng ta. Chuyện được kể ở ngôi thứ 3 số ít… Một dạng phổ biến khác của tiểu thuyết là lối kể chuyện ở ngôi thứ nhất với người kể chuyện xưng tôi” [89, tr.207]. Trong công trình Tự sự học – Một số vấn đề lý luận và lịch sử Trần Đình Sử chủ biên, vấn đề người kể chuyện đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Từ những vấn đề mang tính cụ thể như Phương thức tự sự chủ yếu của sử thi Đăm Săn của Đỗ Hồng Kì; Về mô hình tự sự truyện Kiều của Trần Đình Sử; Hình tượng người trần thuật trong tác phẩm Người tình của Trần Huyền Sâm; Nghệ thuật tự sự của Ngô Tất Tố trong Tắt đèn của Trần Đăng Xuyền; Một số hình thức tự sự trong Đi tìm thời gian đã mất của Marcel Proust của Đào Duy Hiệp... đến những vấn đề mang tính khái quát như Vấn đề người kể chuyện trong thi pháp tự sự hiện đại của Đỗ Hải Phong; Sự phát triển nghệ thuật tự sự ở Việt Nam – một vài hiện tượng đáng lưu ý của Đặng Anh Đào; Vấn đề kể chuyện trong truyện ngắn đương đại của Bùi 12 Việt Thắng; Về tiểu thuyết sử dụng ngôi thứ nhất trong văn học phương Tây thế kỉ XVIII của Lê Nguyên Cẩn [64]..., hầu hết các bài nghiên cứu ít nhiều cũng đã bàn đến những khía cạnh liên quan tới vấn đề người kể chuyện. Ngoài các bài viết, công trình nghiên cứu trên ta còn bắt gặp một số ý kiến khái quát về người kể chuyện trong một số bài báo, một số chuyên luận như: Người kể chuyện trong văn xuôi của Lê Phong Tuyết, Người kể chuyện trong văn xuôi quốc ngữ đầu thế kỉ XX của Trần Văn Trọng, Hình tượng nhân vật người kể chuyện trong truyện Lỗ Tấn của Lương Duy Thứ, Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại của Đặng Anh Đào… Như vậy vấn đề lý thuyết người kể chuyện đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu ở nhiều nước khác nhau. Nhìn chung các nhà nghiên cứu đều thống nhất ở chỗ khẳng định vai trò không thể thiếu của người kể chuyện trong tác phẩm tự sự, khẳng định người kể chuyện là người đứng ra để kể lại câu chuyện, người môi giới giữa tác phẩm với bạn đọc và là người thay mặt tác giả phát biểu những tư tưởng, quan điểm về con người, cuộc sống. Người kể chuyện là một trong những yếu tố quan trọng để phân biệt tác phẩm tự sự với tác phẩm thơ, trữ tình và kịch... Lý thuyết về người kể chuyện là một vấn đề lý thú nhưng cũng khá phức tạp. Những bài nghiên cứu, các bài viết của các tác giả trong và ngoài nước là những tư liệu quý để chúng tôi có thể tham khảo phục vụ nghiên cứu về đề tài: Người kể chuyện trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng. 2.2. Tình hình nghiên cứu người kể chuyện trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng Vũ Trọng Phụng là một hiện tượng văn học khá đặc biệt trong nền văn học nước nhà. Mặc dù với tuổi đời không nhiều nhưng ở nhà văn này có một sức sáng tạo đến kỳ lạ. Sinh thời nhà văn đã để lại cho đời nhiều sáng tác với nhiều thể loại khác nhau, trong đó thể loại tiểu thuyết được đánh giá là thể loại mà Vũ Trọng Phụng có nhiều đóng góp nhất cho sự phát triển của văn học nước nhà. Tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng không chỉ mới mẻ về nội dung mà còn có nhiều cách tân về nghệ thuật, về hình thức kể chuyện. Hình ảnh người kể chuyện được nhà văn xây dựng như một yếu tố nghệ thuật độc đáo làm lên những thành công lớn trong các tác phẩm của nhà 13 văn. Tuy nhiên trong lịch sử nghiên cứu văn học Vũ Trọng Phụng, các nhà nghiên cứu hầu như chưa đặt ra vấn đề này. Khảo cứu các công trình nghiên cứu, các bài viết về Vũ Trọng Phụng có thể thấy các nhà nghiên cứu hầu như chỉ chú ý đến việc nghiên cứu, khám phá nội dung tư tưởng trong các sáng tác của nhà văn Vũ Trọng Phụng : Đinh Trí Dũng với bài Sự thể hiện con người tha hóa trong các tiểu thuyết hiện thực của Vũ Trọng Phụng; Nguyễn Đăng Mạnh với bài Tiểu thuyết Số đỏ và tài nghệ của Vũ Trọng Phụng; Trần Đăng Suyền với bài Vũ Trọng Phụng; Hoàng Thiếu Sơn với bài Trúng số độc đắc – tác phẩm tuyệt mệnh của Vũ Trọng Phụng; Đinh Trí Dũng với Nhân vật tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng; Phan Cự Đệ với bài Vấn đề điển hình hóa trong các tiểu thuyết hiện thực phê phán; Nguyễn Hoài Thanh với bài Tìm hiểu thế giới nhân vật trong phóng sự của Vũ Trọng Phụng....Các sáng tác tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng đều đã được các nhà nghiên cứu bình luận đánh giá và xem xét khá kỹ lưỡng như : Đọc lại Giông tố của Vũ Trọng Phụng của Nguyễn Đăng Mạnh, Trào phúng của Vũ Trọng Phụng trong Số đỏ của Hoàng Ngọc Hiến, Làm đĩ cuốn sách có trách nhiệm và đầy nhân đạo của Hoàng Thiếu Sơn.... Có thể nói rằng gần như các nhà nghiên cứu đã khai thác, phân tích khá nhuần nhuyễn các bộ tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng. Tuy nhiên, vấn đề người kể chuyện trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng thì gần như mới chỉ được nhắc thoáng qua trong một vài công trình nghiên cứu. Trong cuốn Thi pháp tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng, tác giả Nguyễn Thành đã đi vào phát hiện những yếu tố thuộc về ngôi kể, ngôn ngữ, giọng điệu, cũng đã có những hướng tiếp cận mới trong cách tìm hiểu nghệ thuật kể chuyện của nhà văn Vũ Trọng Phụng. Tuy nhiên ở cuốn sách này yếu tố người kể chuyện mới chỉ được xem là một yếu tố tạo nên nghệ thuật kể chuyện trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng. Trong cuốn Nhân vật tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng của tác giả Đinh Trí Dũng (do NXB Khoa học Xã hội - Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây phát hành) cũng đã đề cập tới một số vấn đề liên quan tới người kể chuyện như : quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng, một số biện pháp nghệ thuật chủ yếu trong xây dựng nhân vật. Trong 14 bài viết này, Đinh Trí Dũng đã thể hiện được thái độ cũng như quan niệm nghệ thuật của nhà văn Vũ Trọng Phụng đối với xã hội và con người, đồng thời cũng cho thấy một số phương diện nghệ thuật thuộc người kể chuyện như yếu tố ngôn ngữ đối thoại, ngôn ngữ độc thoại. Ngoài ra một số bài viết như Trào phúng của Vũ Trọng Phụng trong Số đỏ của Hoàng Ngọc Hiến, Những lớp sóng ngôn từ trong Số đỏ của Vũ Trọng Phụng tác giả Đỗ Đức Hiểu...cũng đã bước đầu khai thác yếu tố người kể chuyện trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng. Có thể nói trong quá trình nghiên cứu về Vũ Trọng Phụng, các bài viết ít hoặc nhiều cũng đã đề cập tới phạm trù nghiên cứu người kể chuyện. Tuy nhiên các bài viết này mới chỉ dừng lại ở việc khai thác người kể chuyện như một yếu tố trong nghệ thuật kể chuyện mà chưa xem xét nó như một phạm trù nghệ thuật. Việc đặt ra vấn đề người kể chuyện và nghiên cứu nó như một phạm trù quan trọng sẽ tạo nên một phương diện lý thú trong việc khám phá và thưởng thức những giá trị văn học trong các sáng tác tiểu thuyết của nhà văn. Trên cơ sở của những khái niệm thuộc chuyên ngành tự sự học cùng với việc tham khảo một số tài liệu có liên quan, với bài viết “Người kể chuyện trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng”, chúng tôi hi vọng góp một tiếng nói khẳng định tài năng Vũ Trọng Phụng trong nền văn học nước nhà, đồng thời góp phần tạo nên những nhìn nhận chính xác về sự phát triển của thể loại tiểu thuyết trong nền văn học dân tộc mà Vũ Trọng Phụng là người có những đóng góp không nhỏ trong việc tạo dựng sự phát triển ấy. 3. Mục đích, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu 3.1. Mục đích Vấn đề người kể chuyện là một trong những vấn đề trung tâm của thi pháp văn xuôi hiện đại, giáo sư Lê Ngọc Trà viết: “ Chủ thể tường thuật là một mặt của vấn đề tác giả trong văn học. Nghiên cứu vấn đề người kể chuyện vừa tạo điều kiện để nhận thức quá trình cá thể hoá và cá nhân hoá trong sáng tạo văn học, vừa mở ra cách tiếp cận với sự thể hiện của ý thức nghệ thuật, với cái nhìn của nhà văn trong tác phẩm” [90; tr.155]. Nghiên cứu người kể chuyện trong tác phẩm Vũ Trọng 15 Phụng nhằm tìm hiểu các dạng thức chủ thể kể chuyện, các phương thức kể của người kể chuyện trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng. Nghiên cứu “Người kể chuyện” về phương diện lí luận, vừa ứng dụng phân tích tác phẩm vừa khẳng định tài năng Vũ Trọng Phụng trong việc kế thừa và cách tân cách thức kể chuyện trong văn xuôi tự sự. 3.2. Đối tượng Theo tài liệu của Nguyễn Đăng Mạnh( trong tuyển tập 1 Vũ Trọng Phụng), Vũ Trọng Phụng có tất cả chín bộ tiểu thuyết: Dứt tình (1934), Giông tố (1936), Số đỏ (1936), Vỡ đê (1936), Làm đĩ (1936), Lấy nhau vì tình (1937), Quý Phái (đăng dở trên báo Đông Dương tập chí), Trúng số độc đắc (1938), Người tù được tha (truyện vừa – di cảo) Trong phạm vi của luận văn, đối tượng mà chúng tôi hướng đến nghiên cứu là người kể chuyện trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng. 3.3. Phạm vi Trong khuôn khổ luận văn cao học, chúng tôi không có điều kiện tập trung vào tất cả các sáng tác của Vũ Trọng Phụng mà chỉ giới hạn trong phạm vi nghiên cứu của thể loại tiểu thuyết. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu Để giải quyết vấn đề nghiên cứu, luận văn kết hợp một số phương pháp nghiên cứu sau : - Phương pháp phân tích, tổng hợp - Phương pháp so sánh - Phương pháp lịch sử - xã hội - Lý thuyết tự sự học Các phương pháp nghiên cứu này không tách rời nhau mà hài hòa với nhau, bổ sung cho nhau trong quá trình tìm hiểu người kể chuyện trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng. 16 5. Cấu trúc luận văn Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, luận văn bao gồm các chương như sau: Chương 1: Khái lược về người kể chuyện và tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng. Chương 2: Các dạng thức nghệ thuật của người kể chuyện trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng Chương 3: Phương thức kể của người kể chuyện trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng. 17 Chƣơng 1 KHÁI LƢỢC VỀ NGƢỜI KỂ CHUYỆN VÀ TIỂU THUYẾT CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG 1.1. Khái lƣợc về ngƣời kể chuyện 1.1.1. Khái niệm Thuật ngữ người kể chuyện có từ năm 1490 (Latinh: narrator) nhưng lý luận về nó phải đến thế kỉ XX mới phát triển. Đây là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đề cập đến. Nhưng đến nay khái niệm người kể chuyện vẫn chưa được các nhà nghiên cứu thống nhất hoàn toàn. Ở mặt nội hàm cũng có những cách hiểu khác nhau. Có nhà nghiên cứu gọi là “người trần thuật”, người khác gọi là “người kể chuyện”. Có người lại cho rằng hai khái niệm này là khác nhau. Trong luận văn này chúng tôi xem đây là những khái niệm đồng nghĩa. Theo Lê Bá Hán: “Người kể chuyện là hình tượng ước lệ về người trần thuật trong tác phẩm văn học, chỉ xuất hiện khi câu chuyện được kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm. Đó có thể là hình tượng của chính tác giả ngoài đời, có thể là một nhân vật đặc biệt do tác giả sáng tạo ra, có thể là một người biết câu chuyện nào đó. Một tác phẩm có thể có một hay nhiều người kể chuyện” [75; tr.221]. Cùng quan niệm trên, giáo sư Lê Ngọc Trà viết : “ Người kể chuyện là thuật ngữ chỉ nhân vật đóng vai trò là chủ thể của lời kể chuyện, là người đứng ra kể trong tác phẩm văn học” [90; tr.153]. Như vậy, căn cứ vào cách hiểu của các nhà nghiên cứu có thể thống nhất về cách hiểu người kể chuyện như sau: người kể chuyện hay còn gọi là người trần thuật là một nhân vật được hư cấu hoặc có thật; văn bản tự sự được thể hiện thông qua hành vi ngôn ngữ mà anh ta tạo thành; người trần thuật thực hiện nhiệm vụ trần thuật, truyền đạt, chỉ dẫn, bình luận... những vấn đề được mô tả hoặc bình luận trong tác phẩm. 1.1.2. Một số vấn đề liên quan tới người kể chuyện Không phải trong bất kỳ tác phẩm văn học nào cũng có người kể chuyện. Trong kịch, sự đánh giá quan sát của các nhân vật và các sự việc được lồng vào ngôn ngữ, 18 thái độ và hoạt động của nhân vật (trực tiếp thể hiện trên sân khấu). Bởi vậy trong kịch không có sự xuất hiện của người kể chuyện hoặc nếu có nó chỉ được lồng ghép khi người kể chuyện chính là một nhân vật trong truyện. Trong thơ trữ tình, tâm tư tình cảm của nhà thơ được bộc lộ trực tiếp dưới hình thức tự bộc lộ chứ không phải hình thức câu chuyện kể về người khác nên cũng không có yếu tố người kể chuyện. Trong tác phẩm tự sự, nhà văn trình bày, tái hiện và sáng tạo hiện thực thông qua một người kể chuyện. Trong tác phẩm tự sự, câu chuyện chỉ được kể ra thông qua người kể chuyện. Nếu không có người kể chuyện thì hiện thực sáng tạo không được tái diễn. Người kể chuyện trong tác phẩm tự sự là một nhân vật đặc biệt trong truyện. Nó vừa mang tính chất của một nhân vật, vừa mang tính chất của người kể chuyện. Tz.Todorov tuyên bố: “ Người kể chuyện không nói như các nhân vật tham thoại khác mà kể chuyện. Như vậy, kết hợp đồng thời trong mình cả nhân vật và người kể (...) nhân vật mà nhân danh nó cuốn sách được kể có một vị thế hoàn toàn đặc biệt…” [65; tr.117]. L.I.Timofiev cũng chỉ ra rằng: “Người kể chuyện bắt tất cả các đặc điểm ngôn ngữ của nhân vật mà họ nhắc tới phải lệ thuộc vào mình ngay cả khi người kể chuyện cho nhân vật một sự độc lập đầy đủ về mặt ngôn ngữ” [86, tr.82]. Trong tác phẩm tự sự, người kể chuyện dù xuất hiện trực tiếp hay không trực tiếp trong tác phẩm bao giờ người đọc cũng thấy câu chuyện được triển khai thông qua cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ của người kể chuyện. Và tất cả các chi tiết, các nhân vật, các hành động đều được kể lại có sự chi phối của người kể. Người kể chuyện chính là một sáng tạo độc đáo của nhà văn. Trong cuộc sống thực tế, người kể chuyện là con người bằng xương bằng thịt có điệu bộ, có tính cách, có quan điểm, thái độ. Người kể chuyện thực tế có thể điều chỉnh câu chuyện kể thông qua thái độ của người nghe. Trong văn bản nghệ thuật, người kể chuyện lại mang tính cố định trong văn bản. Người kể không thể thêm bớt hay thay đổi mà phải đảm bảo mục đích truyền đạt của tác giả. Nếu người nghe thực tế trong đời sống là người thụ động lắng nghe câu chuyện thì người đọc văn bản lại là người cùng người kể chuyện phát huy mọi kiến thức và sự tưởng tượng để tham gia đồng 19 sáng tạo cùng người kể chuyện. Người kể chuyện có vai trò dẫn dắt, nói rõ hơn, các chi tiết, các sự kiện giúp người đọc cảm nhận được bản chất của vấn đề. Trong tác phẩm tự sự, người kể chuyện đóng vai trò quyết định, là người sắp đặt, môi giới, gợi mở giữa câu chuyện trong tác phẩm với người đọc, người kể chuyện phải chọn cho mình một chỗ đứng thích hợp. Từ chỗ đứng, người kể chuyện có điểm nhìn, cách kể đối với câu chuyện sao cho hữu ích theo ý đồ sáng tạo của tác giả. Điều đó không chỉ đem lại vai trò mà còn làm nên gương mặt cụ thể của người kể chuyện. Người kể chuyện trong tác phẩm tự sự có thể xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: người kể chuyện kể chuyện theo kiểu “khách quan hóa” với ngôi kể thứ ba (vô nhân xưng); người kể chuyện cũng có thể kể chuyện theo kiểu “chủ quan hóa” với ngôi kể thứ nhất (lộ diện). Kể chuyện kiểu “khách quan hóa” với ngôi kể thứ ba, chủ thể hoàn toàn ở ngoài cốt truyện, không thuộc vào thế giới của các nhân vật trong truyện, mà chỉ thực hiện nhiệm vụ theo dõi nhân vật, dẫn dắt, đứng sau hành động để quan sát và kể lại, không trực tiếp tham gia vào sự kiện, biến cố truyện. Do tính chất hướng ngoại của nhân vật nên điểm nhìn của chủ thể kể chuyện hầu hết là từ bên ngoài. Chủ thể kể chuyện xuất hiện ở ngôi thứ ba luôn có một vị trí tốt nhất để theo dõi dẫn dắt nhân vật. Nhân vật ít có những cơ hội để phát biểu, suy ngẫm hoặc hồi tưởng. Chủ thể kể chuyện chi phối toàn bộ tác phẩm từ lời dẫn chuyện, cách kể, cách tả đến cả lời trữ tình ngoại đề. Người kể chuyện có thể thêm bớt ít nhiều lời kể về nhân vật, sự kiện, biến cố mà không ảnh hưởng đến cốt truyện. Ngược lại, kể chuyện kiểu “chủ quan hóa” với ngôi kể thứ nhất “xưng tôi” thì chủ thể kể chuyện lại chủ động thực hiện nhiệm vụ dẫn chuyện, có thể tự đứng ra kể chuyện mình, kể chuyện người khác, hoặc cùng tham gia kể chuyện với các nhân vật, hoặc chủ động ủy quyền cho nhân vật tự kể. Chủ thể kể chuyện được cá thể hóa. “Tôi” chủ thể kể chuyện là một trong các nhân vât của truyện, là người bình luận từ bên trong, đồng thời cũng là người tham gia sự việc đang diễn ra. Điểm nhìn của chủ thể kể chuyện hầu hết hướng nội do tính chất hướng nội của nhân vật. Ở vị trí điểm nhìn này, nhân vật được soi rọi từ bên trong, chủ thể kể dễ dàng tái hiện sinh 20
- Xem thêm -