Tài liệu Ngôn ngữ truyền thông xã hội qua phân tích diễn ngôn các ca từ trong bài hát kháng chiến

  • Số trang: 133 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 1989 |
  • Lượt tải: 1
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ------------------------------------- LÊ THỊ PHƯỢNG NGÔN NGỮ TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI QUA PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN CÁC CA TỪ TRONG BÀI HÁT KHÁNG CHIẾN TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ Chuyên ngành: Ngôn ngữ học Hà Nội - 2012 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ------------------------------------- LÊ THỊ PHƯỢNG NGÔN NGỮ TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI QUA PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN CÁC CA TỪ TRONG BÀI HÁT KHÁNG CHIẾN TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ Mã số: 602201 Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đinh Văn Đức Hà Nội – 2012 LỜI CẢM ƠN Tôi xin cảm ơn những chỉ dẫn quý báu của GS.TS. Đinh Văn Đức, Khoa Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQG Hà Nội trong quá trình tôi thực hiện luận văn này. Xin cảm ơn những người thân trong gia đình và bạn bè đã luôn cho tôi sự động viên, khích lệ trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn. Do những hạn chế chủ quan và khách quan khó tránh khỏi trong quá trình nghiên cứu, luận văn này có thể vẫn còn nhiều thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô và bạn bè để có thể hoàn thiện hơn trong những công trình nghiên cứu tiếp theo. Xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, tháng 4 năm 2012 Tác giả luận văn Lê Thị Phượng MỤC LỤC MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 6 1. Lí do chọn đề tài ................................................................................... 6 2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................ 6 3. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................... 6 4. Phạm vi nghiên cứu............................................................................... 7 5. Đóng góp của đề tài .............................................................................. 7 6. Bố cục ................................................................................................... 8 NỘI DUNG .................................................................................................. 10 Chương 1: Những cơ sở lí luận liên quan đến đề tài ..................................... 10 1.1. Các lí thuyết về truyền thông............................................................... 10 1.1.1. Truyền thông là gì? ............................................................................. 10 1.1.2. Thế nào là truyền thông xã hội? .......................................................... 11 1.2. Phân tích diễn ngôn ............................................................................. 12 1.2.1. Những nét chính trong nghiên cứu diễn ngôn ................................. 12 1.2.2. Phân loại diễn ngôn ........................................................................ 17 1.2.3. Phân tích diễn ngôn ........................................................................ 21 1.2.4. Lí thuyết cấu trúc diễn ngôn............................................................ 24 1.2.5. Phân tích cấu trúc diễn ngôn của văn bản ...................................... 27 1.2.6. Phân đoạn diễn ngôn ...................................................................... 28 1.2.7. Chức năng của diễn ngôn .................................................................... 31 1.2.7.1. Chức năng tư tưởng ..................................................................... 33 1.2.7.2. Chức năng liên nhân .................................................................... 33 1.2.7.3. Chức năng văn bản ...................................................................... 34 1.3. Diễn ngôn ca từ trong bài hát Cách mạng ............................................ 35 1.3.1. Giới thiệu sơ bộ các bài hát cách mạng ............................................... 35 1.3.2. Sự giống và khác nhau giữa diễn ngôn ca từ với một số diễn ngôn nghệ thuật khác..................................................................................................... 38 1.4. Tiểu kết ............................................................................................... 41 Chương 2: Kết cấu diễn ngôn trong .............................................................. 42 các ca khúc cách mạng ................................................................................. 42 2.1. Cấu trúc tên đề.................................................................................... 42 2.2. Bố cục của ca khúc.............................................................................. 45 2.3. Đặc điểm của câu mở và câu kết ......................................................... 50 2.4. Câu sử dụng thủ pháp so sánh/ví von .................................................. 53 2.5. Phương tiện liên kết ............................................................................ 57 2.6. Kết cấu đảo ......................................................................................... 60 2.7. Cấu trúc lồng ...................................................................................... 62 2.8. Các kiểu quan hệ diễn ngôn ................................................................ 63 2.8.1. Chứng minh ............................................................................... 65 2.8.2. Nhân nhượng ............................................................................. 65 2.8.3. Nhân quả ................................................................................... 66 2.8.4. Liệt kê ........................................................................................ 66 2.8.5. Mục đích .................................................................................... 67 2.8.6. Thời gian ................................................................................... 68 2.9. Nguyên lí song song ............................................................................ 69 2.10. Vị ngữ phụ........................................................................................... 73 2.11. Trạng ngữ ........................................................................................... 75 2.12. Tiểu kết ............................................................................................... 76 Chương 3: Chức năng tác động truyền thông xã hội của các ca khúc cách mạng ...............................................................................................................78 3.1. Chức năng tác động qua các hành động ngôn từ................................. 79 3.1.1. Hành động khẳng định ............................................................... 80 3.1.2. Hành động cầu khiến (mệnh lệnh) .............................................. 81 3.1.3. Hành động hứa hẹn .................................................................... 83 3.1.4. Hành động bày tỏ ....................................................................... 84 3.1.5. Hành động tuyên bố ................................................................... 90 3.2. Chức năng tác động qua các tiểu chức năng ....................................... 91 3.2.1. Tính phiếm định ......................................................................... 91 3.2.2. Kêu gọi/(Tập hợp)...................................................................... 97 3.2.3. Cổ vũ/(Khuyến khích) ................................................................ 98 3.2.4. Ca ngợi ...................................................................................... 98 3.2.5. Cảm xúc ................................................................................... 100 3.2.6. Chất thơ ................................................................................... 102 3.3. Chức năng tác động qua sự phối hợp giữa âm thanh và ngôn từ ....... 104 3.3.1. Âm thanh ................................................................................. 104 3.3.2. Âm và vần................................................................................ 107 3.3.3. Nhịp điệu ................................................................................. 108 3.3.4. Từ ngữ ..................................................................................... 112 3.3.4.1. Chỉ địa danh....................................................................... 114 3.3.4.2. Chỉ sự đoàn kết dân tộc ...................................................... 116 3.3.4.3. Từ biểu thị sự quyết tâm giành thắng lợi ............................ 118 3.3.4.4. Từ biểu thị hi vọng vào một tương lai chói sáng, vào sự trường tồn của non sông Việt Nam ..................................................... 119 3.3.5. Trật tự từ .................................................................................. 121 3.4. Tiểu kết ............................................................................................. 123 KẾT LUẬN................................................................................................ 124 DANH SÁCH TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................. 126 DANH MỤC TƯ LIỆU TRÍCH DẪN........................................................ 130 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Trong những năm gần đây, hướng nghiên cứu ngôn ngữ truyền thông xã hội đã thu được nhiều kết quả đáng kể, giúp chúng ta hiểu được sâu hơn bản chất của ngôn ngữ với tư cách là công cụ tương tác xã hội và liên nhân. Ngôn ngữ truyền thông xã hội là một hướng nghiên cứu được nhiều người quan tâm. Tuy nhiên, trong Việt ngữ học, việc nghiên cứu này chưa nhiều và chưa sâu. Trước thời điểm hiện tại, các nhà nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt chủ yếu bàn đến ngôn ngữ truyền thông xã hội một cách toàn diện, tổng thể. Chính điều này đã thôi thúc chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu một cách sâu sắc hơn: Ngôn ngữ truyền thông xã hội qua phân tích diễn ngôn ca từ trong bài hát kháng chiến. Việc nghiên cứu vấn đề này góp phần chỉ ra sự thể hiện đa dạng, phong phú của ngôn ngữ truyền thông xã hội, đáp ứng nhu cầu và phù hợp với xu thế phát triển của ngành ngôn ngữ học hiện nay. Đây là một hướng đi mới, có thể phát hiện ra nhiều điều mới mẻ, lí thú, góp phần tìm hiểu những vấn đề về ngôn ngữ truyền thông xã hội. 2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích của luận văn là tìm hiểu “ngôn ngữ truyền thông xã hội qua phân tích diễn ngôn các ca từ trong bài hát kháng chiến”. Với mục đích như trên, chúng tôi đặt cho mình những nhiệm vụ như sau: a. Khảo cứu cấu trúc, chức năng và các tiểu chức năng của diễn ngôn ca từ trong bài hát Cách mạng giai đoạn 1945 - 1975. b. Phân tích, miêu tả các chức năng: tư tưởng, liên nhân, văn bản của diễn ngôn ca từ trong bài hát Cách mạng giai đoạn 1945 - 1975. c. Khảo cứu chức năng tác động truyền thông xã hội của diễn ngôn ca từ trong bài hát Kháng chiến giai đoạn 1945 - 1975. 3. Phương pháp nghiên cứu Luận văn tiến hành nghiên cứu dựa trên quan điểm ngữ pháp chức năng và ngữ dụng học. Nghiên cứu phát ngôn trong hoạt động hành chức của nó hay trong một ngữ cảnh và ngôn cảnh cụ thể. Trong quá trình nghiên cứu luận văn, chúng tôi có sử dụng phương pháp miêu tả và các thủ pháp: phân tích nghĩa, phân tích ngữ cảnh, mô hình hóa, thống kê,… Chúng tôi nghiên cứu theo phương pháp đi từ cụ thể đến khái quát, từ phân tích đến tổng hợp, từ hình thức đến nội dung, từ cấu trúc đến ý nghĩa, từ phương tiện đến mục đích, để tìm ra những đặc điểm về ngữ dụng cũng như các chức năng tác động xã hội thông qua tư liệu đã được khảo sát. 4. Phạm vi nghiên cứu Nguồn tư liệu được lấy từ những bài hát kháng chiến nổi bật nhất của một số nhạc sĩ tiêu biểu trong giai đoạn từ 1944 – 1975, trong đó có 50 bài hát hay được chọn lọc từ Tuyển tập “Những bài hát hay dùng trong các Hội diễn văn nghệ” của nhiều tác giả - Nhạc sĩ Cù Minh Nhật tuyển soạn, NXB Âm nhạc, Hà Nội, 2007. Ngoài ra, nguồn tư liệu còn được lấy từ một số bài hát kháng chiến khác cũng trong giai đoạn này ở nhiều website. 5. Đóng góp của đề tài Chúng tôi tin tưởng rằng, công trình nghiên cứu của chúng tôi sẽ có ý nghĩa cả về lí luận và thực tiễn. Về lí luận, luận văn hi vọng góp phần làm rõ thêm khái niệm truyền thông nói chung và truyền thông xã hội nói riêng; giới thiệu một số đặc điểm chung nhất của các bài hát kháng chiến. Mặt khác, luận văn cũng quan tâm sâu hơn các chức năng của diễn ngôn thông qua tư liệu được khảo sát: chức năng tư tưởng, chức năng liên nhân và chức năng văn bản - những vấn đề mà xưa nay đã đề cập đến nhưng chưa được lí giải đầy đủ; từ đó góp phần vào việc hoàn thiện các kết quả nghiên cứu về ngôn ngữ truyền thông xã hội nói chung và chức năng tác động xã hội của các ca từ trong bài hát kháng chiến nói riêng. Về thực tiễn, những kết quả nghiên cứu của luận văn có thể góp phần giải quyết nhiều vấn đề về cách sử dụng tiếng Việt và là cơ sở để biên soạn nội dung, xác định phương pháp dạy tiếng Việt cho người nước ngoài học tiếng Việt. Đặc biệt, trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa như hiện nay, kết quả nghiên cứu của luận văn cũng góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chức năng sử dụng của các ca từ khi nhạc sĩ sáng tác nhạc phẩm mới kèm theo thông điệp muốn gửi đến thính giả; từ đó thuận lợi hơn trong việc giao tiếp và thể hiện mục đích giao tiếp của mình. Tóm lại, việc lựa chọn ngôn ngữ truyền thông xã hội làm đối tượng nghiên cứu không phải là vấn đề hoàn toàn mới mẻ. Cái mới của luận văn là tìm hiểu vấn đề ấy thông qua phân tích diễn ngôn các ca từ trong bài hát kháng chiến và những vấn đề xung quanh nó. 6. Bố cục Phần mở đầu Phần nội dung Chương 1: Cơ sở lí luận liên quan đến đề tài 1.1. Các lí thuyết về truyền thông 1.2. Phân tích diễn ngôn 1.3. Diễn ngôn ca từ trong bài hát Cách mạng 1.4. Tiểu kết Chương 2: Kết cấu diễn ngôn của ca khúc cách mạng 2.1. Cấu trúc tên đề 2.2. Bố cục một ca khúc 2.3. Đặc điểm của câu mở và câu kết 2.4. Thủ pháp so sánh/ví von 2.5. Phương tiện liên kết 2.6. Kết cấu đảo 2.7. Cấu trúc lồng 2.8. Các kiểu quan hệ diễn ngôn 2.9. Nguyên lí song song 2.10. Vị ngữ phụ 2.11. Trạng ngữ 2.12. Tiểu kết Chương 3: Chức năng tác động truyền thông xã hội của ca khúc cách mạng 3.1. Chức năng tác động qua các hành động ngôn từ 3.2. Chức năng tác động qua các tiểu chức năng 3.3. Chức năng tác động qua sự phối hợp giữa âm thanh và ngôn từ 3.4. Tiểu kết Phần kết luận Danh mục tài liệu tham khảo Danh mục nguồn tư liệu trích dẫn NỘI DUNG Chương 1: Những cơ sở lí luận liên quan đến đề tài 1.1. Các lí thuyết về truyền thông 1.1.1. Truyền thông là gì? Truyền thông (communication) là quá trình chia sẻ thông tin. Truyền thông là một kiểu tương tác xã hội trong đó ít nhất có hai tác nhân tương tác lẫn nhau, chia sẻ các quy tắc và tín hiệu chung. Ở dạng đơn giản, thông tin được truyền từ người gửi tới người nhận. Ở dạng phức tạp hơn, các thông tin trao đổi liên kết người gửi và người nhận. Phát triển truyền thông là phát triển các quá trình tạo khả năng để một người hiểu những gì người khác nói (ra hiệu, hay viết), nắm bắt ý nghĩa của các thanh âm và biểu tượng, và học được cú pháp của ngôn ngữ. Truyền thông thường gồm ba phần chính: nội dung, hình thức, và mục tiêu. Nội dung truyền thông bao gồm các hành động trình bày kinh nghiệm, hiểu biết, đưa ra lời khuyên hay mệnh lệnh, hoặc câu hỏi. Các hành động này được thể hiện qua nhiều hình thức như động tác, bài viết, bài phát biểu, hay bản tin truyền hình. Mục tiêu có thể là cá nhân khác hay tổ chức khác, thậm chí là chính người/tổ chức gửi đi thông tin. Theo một tư liệu trên http://d3.violet.vn/uploads/previews/301/1933063/preview.swf có nhiều cách định nghĩa lĩnh vực truyền thông, trong đó có truyền thông không bằng lời, truyền thông bằng lời và truyền thông biểu tượng. Truyền thông không lời thực hiện thông qua biểu hiện trên nét mặt và điệu bộ. Khoảng 93% “ý nghĩa biểu cảm” mà chúng ta cảm nhận được từ người khác là qua nét mặt và tông giọng. Khi bạn ngồi yên lặng trong góc phòng, mặc cho mọi người xung quanh nói hay làm gì thì cũng đang gửi những tín hiệu truyền thông không bằng lời cho những người xung quanh (cho dù vô tình hay cố ý). 7% còn lại là từ những lời nói mà chúng ta nghe được. Truyền thông bằng lời được thực hiện khi chúng ta truyền đạt thông điệp bằng ngôn từ tới người khác. Truyền thông biểu tượng là những thứ chúng ta đã định sẵn một ý nghĩa và thể hiện một ý tưởng nhất định ví dụ như quốc huy của một quốc gia. Quá trình truyền thông luôn diễn ra một cách liên tục. Hội thoại giữa các cá nhân thường xuất hiện theo cặp hoặc từng nhóm với quy mô khác nhau. Quy mô của nhóm tham gia thường tác động tới bản chất của cuộc hội thoại. Truyền thông trong nhóm nhỏ thường diễn ra giữa ba đến mười hai cá nhân và khác biệt với trao đổi qua lại giữa các nhóm lớn hơn như công ty hay cộng đồng. Hình thức truyền thông này được hình thành từ một cặp hay nhiều hơn, thông thường được đề cập tới như một mô hình tâm lý học trong đó thông điệp được truyền từ người gửi đến người nhận qua một kênh thông tin. Ở cấp độ lớn nhất, truyền thông đại chúng chuyển các thông điệp tới một lượng rất lớn các cá nhân trong cộng đồng thông qua các phương tiện thông tin đại chúng. Văn thơ, nhạc, kịch, báo chí… đều thuộc về truyền thông đại chúng. 1.1.2. Thế nào là truyền thông xã hội? Trước đây hay bây giờ con người đều có nhu cầu truyền tải thông điệp đến một nhóm lớn các đối tượng tiếp nhận. Chỉ có điều phương tiện truyền tải thông tin của ngày xưa và bây giờ có chút khác biệt. Hiện nay, con người đã biết dùng những phương tiện thông tin hiện đại cho nhiều mục tiêu, được thể hiện theo kiểu mới – đó là sử dụng những sản phẩm truyền thông (tin, bài, hình ảnh, video clips…) do người dùng tạo ra và xuất bản trên Internet thông qua các mạng xã hội hay các diễn đàn, các blog… Các tin, bài này được cộng đồng mạng chia sẻ và phản hồi (bình luận) nên luôn có tính đối thoại. Đây là một xu hướng truyền thông mới khác hẳn với truyền thông đại chúng trước đây. Đây là hình thức truyền thông dựa vào các tương tác xã hội của cộng đồng những người sử dụng Internet. Người dùng Internet ngày nay dễ dàng tiếp cận và tương tác với nhau thông qua các diễn đàn (forum), thông qua chia sẻ hình ảnh, video clip... và đặc biệt là họ có thể kết nối với nhau thông qua các mạng xã hội như Facebook, Linkedin... Như vậy, hoạt động hướng tới cộng đồng như những đối tượng đích cần được tác động để làm thay đổi thái độ, hành vi theo hướng có lợi cho xã hội thì được gọi là truyền thông xã hội. Truyền thông là các phương tiện truyền tải thông tin. Xã hội là mục đích của truyền thông. Ngôn ngữ là một phương tiện truyền thông tuyệt vời. Ngôn ngữ trong các bài văn, bài thơ, bài ca (đặc biệt là các bài ca Cách mạng) được sử dụng một cách đặc biệt có hiệu quả trong việc truyền tải thông điệp đến người tiếp nhận, làm thay đổi thái độ, hành vi của các cá nhân trong cộng đồng. Luận văn này của chúng tôi tiến hành phân tích diễn ngôn các ca từ trong bài hát Cách mạng giai đoạn 1945 – 1975 cũng là để thấy rõ hơn vai trò của ngôn ngữ trong truyền thông xã hội. 1.2. Phân tích diễn ngôn 1.2.1. Những nét chính trong nghiên cứu diễn ngôn Quan niệm về diễn ngôn được giới thiệu ở ta sớm nhất trong lĩnh vực ngôn ngữ học. Có thể kể đến các công trình: Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt của Trần Ngọc Thêm (1985); Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản của Diệp Quang Ban (1998, 2009), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2 của Đỗ Hữu Châu (2001), Dụng học Việt ngữ của Nguyễn Thiện Giáp (2000), Phân tích diễn ngôn – một số vấn đề lí luận và phương pháp của Nguyễn Hoà (2003), Từ điển tu từ – phong cách – thi pháp học của Nguyễn Thái Hoà (2005),… Bên cạnh những công trình biên khảo nói trên, cũng có một số công trình nghiên cứu về diễn ngôn của nước ngoài được dịch sang tiếng Việt, chẳng hạn: Dụng học, một số dẫn luận nghiên cứu ngôn ngữ của George Yule (Hồng Nhâm, Trúc Thanh, Ái Nguyên dịch, 1997); Dẫn nhập phân tích diễn ngôn của David Nunan (Hồ Mỹ Huyền, Trúc Thanh dịch, 1998); Phân tích diễn ngôn của Gillian Brown, George Yule (Trần Thuần dịch, 2002), Dẫn luận ngữ pháp chức năng của Mak Halliday (Hoàng Văn Vân dịch, 2004)… các công trình này tập trung vào mấy điểm sau: diễn ngôn là gì, đặc điểm và chức năng của diễn ngôn, các vấn đề về ngữ cảnh và ý nghĩa diễn ngôn, cấu trúc thông tin của diễn ngôn, bản chất quy chiếu trong diễn ngôn, các đường hướng phân tích diễn ngôn… Cũng có thể kể đến các bài viết: “Phân tích diễn ngôn phê phán là gì?” (tạp chí Ngôn ngữ, 2 -2005), “Khía cạnh văn hoá của phân tích diễn ngôn” (tạp chí Ngôn ngữ, 12 -2005), “Thực hành phân tích diễn ngôn bài Lá rụng” (tạp chí Ngôn ngữ, 2 – 2009), “Một vài dạng cấu trúc nhân quả khó nhận biết trong diễn ngôn nghệ thuật ngôn từ” (tạp chí Ngôn ngữ số 4 – 2009)… Chúng tôi thấy có ít nhất năm nhóm quan niệm về diễn ngôn trong ngôn ngữ học. Nhóm thứ nhất sử dụng khái niệm diễn ngôn (discourse) và văn bản (text) đồng nghĩa với nhau, hoặc phân biệt hai khái niệm này bằng cách đính kèm chúng vào một trong hai dạng tồn tại của ngôn ngữ. Nhóm thứ hai cho rằng diễn ngôn thuộc đơn vị của ngữ nghĩa, còn văn bản thuộc đơn vị của ngữ pháp. Nhóm thứ ba quan niệm diễn ngôn chịu sự phán xét của dụng học, còn văn bản trở thành đối tượng của ngôn ngữ học văn bản. Nhóm thứ tư đề nghị nên sử dụng tên gọi diễn ngôn để chỉ quá trình giao tiếp, sự kiện giao tiếp có tính chỉnh thể và có mục đích; còn thuật ngữ văn bản dùng để chỉ sản phẩm của quá trình giao tiếp, sự kiện giao tiếp ấy. Nhóm thứ năm gồm chức năng luận chủ trương đặt diễn ngôn vào ngữ cảnh văn hoá xã hội, và cấu trúc luận thiên về mô tả cấu trúc độc lập của diễn ngôn. Quan niệm về diễn ngôn cũng đã được giới thiệu trong khoa học văn học, song còn ở tình trạng tản mạn, hoặc chủ yếu ở dạng thực hành phân tích. Có thể kể đến các công trình: Chủ nghĩa cấu trúc và văn học của Trịnh Bá Đĩnh (2002); Sự đỏng đảnh của phương pháp do Đỗ Lai Thuý biên soạn và giới thiệu (2004); Văn học hậu hiện đại thế giới, những vấn đề lí thuyết, Lại Nguyên Ân, Đoàn Tử Huyến tổ chức biên soạn (2003); Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỉ 20, Đào Tuấn Ảnh, Trần Hồng Vân, Lại Nguyên Ân dịch (2003); Logic học về các thể loại văn học của Kate Hamburger, Vũ Hoàng Địch và Trần Ngọc Vương dịch (2004); Tác phẩm như là quá trình của Trương Đăng Dung (2007); Thi pháp văn xuôi, Dẫn luận về văn chương kì ảo của Tzevan Todorov, Đặng Anh Đào, Lê Hồng Sâm dịch (2003, 2007); Bản mệnh của lí thuyết của Antoine Compagnon, Đặng Anh Đào, Lê Hồng Sâm dịch (2006); Nhập môn Foucault của L.A. Fillingham, M. Susser, Nguyễn Tuệ Đan, Tôn Thất Huy dịch (2006); Thi học và ngữ học của Jakobson, Trần Duy Châu biên khảo (2008); Lý luận – phê bình văn học thế giới thế kỉ XX, tập 1, 2, Lộc Phương Thuỷ chủ biên (2007); Mấy vấn đề phê bình và lí thuyết văn học của Nguyễn Hưng Quốc (2007); Những huyền thoại của R. Barthes, Phùng Văn Tửu dịch (2008); Hoàn cảnh hậu hiện đại của Jean-François Lyotard (2008), Ngân Xuyên dịch; Những vấn đề lý luận văn học phương Tây hiện đại, Tự sự học kinh điển, Trần Huyền Sâm biên soạn, giới thiệu (2009)… Gần đây, xuất hiện thêm nhiều bài viết giới thiệu quan điểm diễn ngôn của Foucault, hoặc vận dụng quan điểm của Foucault, và của trần thuật học…lí giải một hiện tượng văn học cụ thể, như: “Những bậc tiên phong của tư duy hậu hiện đại” (tạp chí Nghiên cứu văn học, số 5 -2008), “Vị thế của văn học trong sân chơi văn hoá trên tiến trình lịch sử” (tạp chí Nghiên cứu văn học, 7 – 2009) “Dịch và lí thuyết dịch như một hệ hình lí luận, phê bình mới” (tạp chí Nghiên cứu văn học, 12 – 2009), “Chủ nghĩa hậu hiện đại như một hệ hình thế giới quan” (tạp chí Văn hoá Nghệ An, 4 – 2009); Diễn ngôn về tính dục trong văn xuôi hư cấu Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến 1945 của Trần Văn Toàn (in trong Nghiên cứu văn học Việt Nam, những khả năng và thách thức, Nxb. Thế giới, 2009), Về diễn ngôn tiểu thuyết Việt Nam đương đại (tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, 3 – 2010), Tính chất nước đôi của chủ thể hậu thuộc địa trong Vu khống của Linda Lê (tạp chí Văn học nước ngoài số 3 – 2010), Tính chất nước đôi và mầm mống phá huỷ nhãn quan thực dân về Việt Nam tính trong bộ phim Đông Dương (http://www.tienve.org)… (***) Chúng tôi sử dụng khái niệm diễn ngôn để chỉ ngôn ngữ trong hoạt động, ngôn ngữ được sử dụng trong ngữ cảnh văn hoá – xã hội. Cũng cần nói rõ thêm là chúng tôi dùng tên gọi diễn ngôn để chỉ ngôn ngữ trong tính sinh động của nó, chứ không phải đề cập đến ngôn ngữ đã tách khỏi ngữ cảnh phát ngôn, hoặc những mẫu văn bản đã được trừu tượng hoá, cái văn bản tách khỏi tư duy của chủ thể phát ngôn, của hệ tư tưởng và hoàn cảnh xã hội. Diễn ngôn hành chức trong một ngữ cảnh văn hoá – xã hội cụ thể. Diễn ngôn được tạo ra, sử dụng và được giải mã ra sao phụ thuộc vào ngữ cảnh văn hóa xã hội, vào một cộng đồng ngôn ngữ cụ thể. Qua diễn ngôn có thể khảo sát được mối quan hệ liên nhân và các định chế, quy ước phát ngôn, chẳng hạn qua tấu, một loại diễn ngôn do thần tử tạo lập, trình bày sự việc, ý kiến lên vua. Qua ngôn ngữ chúng ta còn thấy được kinh nghiệm của chính chúng ta về thế giới khách quan, ngôn ngữ phản ánh khoảng cách quyền lực và mức độ phụ thuộc của người sử dụng ngôn ngữ đối với một tổ chức, định chế nào đó, và đối với hệ thống văn hoá tri thức của cả một xã hội. Trở lại ví dụ chiếu, cáo, dụ, hịch, mệnh… chúng ta thấy chúng chẳng những thể hiện rõ địa vị, quyền lực của chủ thể phát ngôn, mà cả cương vị xã hội của người tiếp nhận diễn ngôn đó. Chính văn hoá và các chuẩn mực của văn hoá đã quy định việc dùng ngôn ngữ, chi phối việc tạo dựng diễn ngôn, cách thức mã hoá – giải mã thông điệp. Ngôn ngữ chi phối quá trình tư duy của con người, đồng thời qua ngôn ngữ quá trình tư duy đó được hiện hữu. Đề cập đến diễn ngôn, trước hết, chúng tôi muốn nói đến văn bản ở góc độ dụng học, và ngữ nghĩa học. Chúng tôi cũng xem xét diễn ngôn từ lí thuyết trò chơi, đồng nhất diễn ngôn với “trò chơi ngôn ngữ”, và chính ở đây chúng ta cần khảo sát các yếu tố như người phát, người nhận, mã, thông điệp, vật quy chiếu, ngữ cảnh…Cấu trúc mỗi văn bản có thể thống hợp trong nó nhiều diễn ngôn, mỗi diễn ngôn cũng có thể gồm nhiều phát ngôn. Các phát ngôn này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, được hợp thức hoá, chính thống hoá theo những quy tắc nhất định. Các quy tắc mã hoá diễn ngôn cùng các điều kiện giải mã diễn ngôn do cộng đồng quy ước, do chủ thể sáng tạo và chủ thể tiếp nhận thoả thuận với nhau. Cộng đồng văn hoá – xã hội cụ thể nào đó có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận một phát ngôn thuộc về một kiểu diễn ngôn nhất định, có thể quy định “những điều không được nói ra” và “những cách để nói” về chúng, có thể quy định “không chỉ những gì phải được nói ra để được nghe mà cả những gì phải được nghe để có thể nói”, có thể trao thẩm quyền được nói cho một chủ thể duy nhất nào đó, lại có thể tạo ra uy quyền cho một số loại phát ngôn nhất định. Diễn ngôn có thể tạo lập tri thức nhất định về một thời đại, một con người, sự kiện nào đó. Người phát ngôn và cả người diễn giải nó có thể sử dụng diễn ngôn để duy trì quyền lực, tái sinh các quyền lực. Thiên đô chiếu (1010) của Lý Thái Tổ dùng để hợp thức hoá sự kiện rời đô về Đại La. Thiện vị chiếu (1226) có ý nghĩa hợp thức hóa một cuộc chính biến, một sự chuyển nhượng quyền lực từ tay một dòng họ này sang tay một dòng họ khác…Công việc phân tích diễn ngôn văn học sẽ rơi trở lại địa hạt phân tích ngữ pháp văn bản đơn thuần nếu không xét đến sự đọc, cách đọc của người tiếp nhận mà chỉ tính đến các hình thức, cấu trúc khép kín của văn bản. Cái khó của nghiên cứu diễn ngôn ở chỗ phải mô tả được một tổng thể các yếu tố văn hóa – xã hội chi phối đến việc thiết lập và sự hiểu diễn ngôn. Sự miêu tả cần được tiến hành song song với việc giải thích diễn ngôn đã được kiến tạo thế nào, vì sao nó lại tồn tại và hoạt động như thế. Do các phát ngôn trong một diễn ngôn không chỉ bện kết với nhau theo tư tưởng, quan niệm của người phát mà còn liên kết theo các chức năng của chúng cho nên nghiên cứu diễn ngôn không thể chỉ dừng lại ở chức năng giao tiếp của diễn ngôn mà còn cần chú ý đến khía cạnh tư tưởng và quan hệ quyền thế được thể hiện trong diễn ngôn, hoặc chi phối đến sự kiến tạo diễn ngôn. Diễn ngôn không chỉ dựng lại diện mạo thế giới mà còn tạo lập cách nhìn mới thế giới, tạo ra thế giới mới, ở nó chứa đựng cả vô thức lịch sử lẫn tiềm thức, ý thức của chủ thể sáng tạo ra nó. (Có tham khảo chuyên luận “Bước đầu nhận diện diễn ngôn, diễn ngôn văn học, diễn ngôn thơ” của Trần Thiện Khanh 3/2010) 1.2.2. Phân loại diễn ngôn Có nhiều cách phân loại diễn ngôn. Tham khảo chuyên luận “Bước đầu nhận diện diễn ngôn, diễn ngôn văn học, diễn ngôn thơ” của Trần Thiện Khanh 3/2010), chúng tôi thử điểm qua một vài cách phân loại, cùng đặc điểm của một số loại diễn ngôn. a/ Dựa vào dạng tồn tại của ngôn ngữ có thể chia diễn ngôn thành hai loại lớn: diễn ngôn nói và diễn ngôn viết. b/ Dựa vào các lĩnh vực tri thức có thể chia diễn ngôn ra thành các loại: diễn ngôn văn học, diễn ngôn khoa học, diễn ngôn tôn giáo, diễn ngôn đạo đức, diễn ngôn kinh tế, diễn ngôn chính trị, diễn ngôn báo chí, diễn ngôn hành chính, diễn ngôn hội thoại đời thường, diễn ngôn nghệ thuật, diễn ngôn phi nghệ thuật, diễn ngôn pháp lí, diễn ngôn quân sự… Diễn ngôn chính trị bao giờ cũng chịu sự chi phối rất mạnh của quan hệ quyền thế, của tôn ti trật tự; ở nó, chủ thể - cá nhân không tồn tại, bản sắc cá nhân cũng bị thủ tiêu, chỉ có các vai xã hội, và các hình thức phát ngôn nhân danh chiếm giữ vai trò chủ đạo. Diễn ngôn chính trị có mục đích tạo ra hiệu lực xã hội, hiệu lực chỉ đạo và điều hành, nó chịu sự chi phối của sức mạnh tập thể, cộng đồng, các phát ngôn của nó đầy ắp tư tưởng hệ, đầy ắp những dấu vết của chiến lược, sách lược. Diễn ngôn chính trị tạo ra tri thức và áp đặt tri thức qua vai xã hội. Diễn ngôn khoa học có tính đối thoại còn mạnh hơn cả diễn ngôn chính trị. Ở phát ngôn khoa học, người nhận và người phát có quyền bình đẳng trước tri thức. Ở phát ngôn chính trị, người nhận ít có cơ hội bình đẳng, tri thức được truyền đi(50) hơn là được kiểm chứng. Diễn ngôn khoa học coi trọng trò chơi biện giải lôgíc để hợp thức hoá tri thức, chưa bao giờ nó thoát khỏi sự thử thách của sự thật, diễn ngôn chính trị hợp thức hoá tri thức hoặc giành quyền quyết đáp mọi sự thể qua trò chơi nhân danh. Giá trị của phát ngôn khoa học do quan hệ quy chiếu của nó tạo ra, hiệu lực của phát ngôn chính trị do vai phát ngôn quyết định. Diễn ngôn pháp luật kiến tạo quyền lực và hiệu lực xã hội qua trò chơi quy phạm hoá các quy tắc xử sự chung; những quy tắc này thường xuất hiện dưới dạng những xác ngôn; ở đây cách nói mập mờ, nước đôi hoàn toàn vắng mặt, hoặc nếu có thì phải điều chỉnh lại… c/ Dựa vào nội dung phát ngôn có thể chia diễn ngôn thành các loại: diễn ngôn kì ảo, diễn ngôn về tính dục, diễn ngôn về con người, diễn ngôn về bệnh điên, diễn ngôn phù thuật, diễn ngôn hiện thực, diễn ngôn hậu thực dân… Diễn ngôn phù thuật kiến tạo một cách nhìn đầy bí ẩn về vũ trụ và con người; quyền lực mạnh mẽ và hiệu quả tâm linh của loại diễn ngôn này được nói đến qua các lá bùa của thầy pháp, thầy phù thuỷ; diễn ngôn phù thuật có chức năng tạo niềm tin, củng cố niềm tin, nó được sử dụng và kiến tạo như một mã tâm linh, một kí hiệu văn hoá; các tài cấm kị, cầu ước, bệnh tật, trấn yểm… đã và đang trở thành “mồi” cho nó. Diễn ngôn về bệnh điên có sức mạnh gạt ra khỏi đời sống một loại người nào đó, chủ thể của nó trước tiên giành được quyền nói về bệnh điên, sau nữa và trên cơ sở đó giành được quyền phân loại con người, quyền định nghĩa về những kẻ không bình thường, họ có thẩm quyền soi một thứ ánh sáng lên chứng bệnh mà họ cần diễn giải, cũng chính họ chông trừng những người điên, và đặt ra những cách đối xử đặc biệt nào đó đối với chứng điên. Diễn ngôn về tính dục kiến tạo một cách lí giải con người nhằm giành quyền không chế chính con người so với các khoa học khác; diễn ngôn tính dục có thể truyền dẫn các quan hệ quyền lực nào đó đang ngự trị trong xã hội, song không phải vì thế mà nó đã thoát khỏi sức mạnh chi phối của bản năng, diễn ngôn tính dục bao giờ cũng tiềm tại một sức mạnh chống cự lại cái chết, nó được đồng nhất với sự sống. Diễn ngôn hiện thực và diễn ngôn tượng trưng khác nhau ở chỗ: một bên dựa vào ưu thế của hoán dụ, còn một bên dành quyền ưu tiên cho ẩn dụ; diễn ngôn hiện thực tạo ra ảo ảnh dối lừa rằng nó đang nói về thế giới ở bên ngoài văn bản, nhưng thực ra nó có các quy tắc, quy ước riêng của mình; diễn ngôn tượng trưng luôn chứng tỏ rằng nó chỉ nói về bản thân mình, nó có khả năng tạo ra một hình ảnh mới, một cách nói về hiện thực. d/ Dựa vào thể loại, có thể chia diễn ngôn báo chí thành diễn ngôn tin tức, diễn ngôn quảng cáo, diễn ngôn phóng sự điều tra, diễn ngôn tường thuật; có thể phân loại diễn ngôn văn học thành diễn ngôn tự sự, diễn ngôn thơ, diễn ngôn phê bình hoặc diễn ngôn hội thoại đời thành diễn ngôn phỏng vấn, xin lỗi, giới thiệu, chào hỏi… Diễn ngôn xin lỗi chịu sự chi phối của quyền lực thể diện, tập quán, và quan hệ quyền lực giữa người nói và người nghe, ở đây cả mức độ tương thân giữa họ cũng có ảnh hưởng quan trọng đến chiến lược và cấu trúc của lời xin lỗi. Diễn ngôn quảng cáo có tham vọng giành lấy một lượng người tiêu dùng nào đó, nó định hướng sự tiêu dùng bằng cách ngụy tạo thông tin và phân phối thông tin; sự kiến tạo và hoạt động thực tiễn của diễn ngôn quảng cáo chịu sự chi phối của quyền lực của cải, của các phương tiện truyền thông; diễn ngôn quảng cáo giao dịch cả chính nó và sản phẩm mà nó tạo ra. e/ Dựa vào cấp độ của diễn ngôn có thể chia diễn ngôn thành: diễn ngôn và siêu diễn ngôn. Khổng Tử sáng lập ra siêu diễn ngôn Nho giáo, Thích ca Mâu ni (Siddharta Gautama) sáng lập ra siêu diễn ngôn Phật giáo, Freud sáng lập siêu diễn ngôn phân tâm học, Ann Radcliffe sáng tạo ra diễn ngôn tiểu thuyết kinh dị(52), Bakhtin tạo ra diễn ngôn đa thanh phức điệu. Chủ thể của các siêu ngôn không chỉ khai phá ra một loại diễn ngôn mới, một ngôn ngữ mới mà còn mở ra một con đường mới, mở ra các bước đi tạo ra các diễn ngôn khác. Các siêu diễn ngôn luôn tạo ra sau nó vô số các diễn ngôn đồng dạng, đồng chất với nó. f/ Dựa vào chủ thể diễn ngôn có thể chia diễn ngôn thành: diễn ngôn của cá nhân và diễn ngôn của tập thể, diễn ngôn có nhu cầu có tên “tác giả” và diễn ngôn không có nhu cầu có “tác giả”, diễn ngôn văn học nữ giới… Diễn ngôn bài giảng của giáo viên có quyền thế hơn hẳn diễn ngôn của học sinh; sự không cần bằng này được đánh dấu bằng những cơ hội không cân bằng giữa giáo viên và học sinh trong việc chỉ ra đề tài, sự luân phiên lượt lời; thí dụ giáo viên đặt ra một câu hỏi mà mình biết sẵn câu trả lời, một hoặc vài học sinh được yêu cầu phải trả lời câu hỏi đó, sau đó giáo viên sẽ đánh giá câu trả lời của học sinh, như vậy sự hợp thức hóa ở đây phần lớn do giáo viên quyết định. Diễn ngôn của bác sĩ đối với diễn ngôn của bệnh nhân cũng tồn tại sự bất bình đằng đó, ví dụ ở Mỹ, có thời kì bác sĩ độc quyền về y dược liệu, và cũng chỉ có họ mới được tiếp xúc với y học, cho nên diễn ngôn của bác sĩ có sức mạnh ngang với những “câu thần chú của các vị thần”, dĩ nhiên đặt trong hệ thống ngôn ngữ ấy, các bệnh nhân sẽ trở thành những kẻ ngốc chẳng biết gì. So với diễn ngôn cá nhân, diễn ngôn tập thể có tính phi sở hữu, phi cá nhân, có thể tìm thấy kiểu loại diễn ngôn này ở các văn bản thời trung đại, ở lời của dàn đồng ca trong kịch cổ đại. g/ Dựa vào cấu trúc có thể xác định diễn ngôn độc lập và diễn ngôn phụ thuộc; diễn ngôn nguồn, diễn ngôn phụ trợ và diễn ngôn bao chứa; diễn ngôn của người kể chuyện và diễn ngôn của nhân vật; diễn ngôn liên tục và diễn ngôn gián đoạn… Diễn ngôn văn học độc lập so với diễn ngôn khoa học; diễn ngôn về tính dục, diễn ngôn về đạo đức có thể nằm trong loại diễn ngôn văn học. Diễn ngôn phê bình bao chứa diễn ngôn chú thích, diễn ngôn trích dẫn. Diễn ngôn bình luận bóng đá phần lớn không có tính liên tục, nhưng diễn ngôn văn học lại tạo ra một mạch liên kết rõ rệt. Văn bản Chí Phèo có diễn ngôn của người kể ở ngôi thứ ba, diễn ngôn của nhân vật Chí Phèo, diễn ngôn của Bá Kiến, diễn ngôn của bà cô Thị Nở… Diễn ngôn của các vai có giá trị và hiệu lực khác hẳn so với diễn ngôn của người kể. h/ Dựa vào chức năng của ngôn ngữ (D. Nunan) có thể chia diễn ngôn thành hai loại: diễn ngôn giao dịch và diễn ngôn liên nhân. Diễn ngôn giao dịch được tạo lập khi người phát và người nhận quan tâm đến đến sự trao đổi thông tin và dịch vụ, ví dụ diễn ngôn chỉ đường của cảnh sát, diễn ngôn hướng dẫn sử dụng thuốc của bác sĩ... Diễn ngôn liên nhân được hình thành
- Xem thêm -