Tài liệu nghiên cứu khoa học

  • Số trang: 10 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 77 |
  • Lượt tải: 0
xomthong

Tham gia: 05/05/2016

Mô tả:

Nnghieân cöùu khoa hoï c I. ĐẶT VẤN ĐỀ: Từ khi loài người xuất hiện cho đến nay và mãi mãi về sau, sức khoẻ con người được coi là vốn quý vô giá của con người. Thiếu sức khoẻ là thiếu hạnh phúc, thiếu sức sống, thiếu tinh thần sáng suốt và thiếu cả của cải vật chất. Bởi vậy quan tâm và chăm sóc tới sức khoẻ con người chính là quan tâm đến sự phát triển mọi mặt, không chỉ đối với mỗi người, mỗi gia đình mà cả dân tộc, quốc gia và toàn nhân loại. Sức khoẻ của mỗi con người là một yếu tố tạo nên sức mạnh của chính mình, là vốn chính nhất của chính mình, sức khoẻ của nhân dân là một nhân tố tạo nên sức mạnh của cộng đồng, của đất nước, của dân tôc, là nguồn hạnh phúc của giống nòi Việt Nam. Vì vậy Đảng cộng sản Việt Nam luôn đề cao sức khoẻ của con người, sức khoẻ của nhân dân khẳng định "Sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗi con người và toàn xã hội, là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bỏ vệ tổ quốc" (Nghị quyết trung ương 4 khoá VII). Lúc sinh thời Chủ Tịch Hồ Chí Minh nói về nhân tố sức khỏe của nhân dân rất sâu sắc và nhất quán. Năm 1946 Người nói: "Giũ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khoẻ mới thành công". Sự nghiệp gìn giữ và tăng cường sức khoẻ nhân dân, cải tạo thể chất nòi giống Việt Nam được Chủ Tịch Hồ Chí Minh đặt nhiều hy vọng vào thế hệ trẻ Người rất quan tâm đến sự phát triển thể chất, tăng cường sức khoẻ cho thanh niên thiếu nhi. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh thì thế hệ trẻ là tương lai của đất nước, của nòi giống Việt Nam, cần phải phát triển cho các em về tài năng đạo đức và sức khoẻ. điều này đã được Người thể hiện trong thư gửi các em học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam: "Đất nước Việt Nam có được vẽ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được sánh vai với các cường quốc năm châu hay không, đó là nhờ vào công học tập của các cháu". Giáo dục thể chất trong nhà trường là một bộ phận không thể thiếu được của nền giáo dục, nó góp phần đào tạo con người mới, phát triển toàn diện phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc. Mục đích giáo dục của nước ta là: Bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những con người phát triển toàn diện, có sức khoẻ dồi dào, có thể chất cường tráng, có dũng khí kiên cường để kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng một cách đắc lực và có cuộc sống vui tươi lành mạnh. Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 7 đã nêu: "Công tác TDTT cần coi trọng và nâng cao chất lượng trong trường học, tổ chức hướng dẫn và vận động đông đảo nhân dân rèn luyện thân thể hàng ngày, nâng cao chất lượng đào tạo bồi dưỡng VĐV, nâng cao thành tích các môn thể thao". Từ năm 1960 Đảng ta đã chủ tương đào tạo thé hệ trẻ phát triển về đức, trí, thể, mỹ. Nhưng công việc đào tạo này cần phải được tiến hành trong nhà trường, bắt đầu từ lứa tuổi thiếu nhi đến tuổi thanh niên. Nghị quyết hội nghị trung ương Giaùo vieân thöïc hieän: Voõ Thò Hoàng Trang 1 Nnghieân cöùu khoa hoï c Đảng lâng thứ 8 khoá III chỉ ra nhiệm vụ của công tác giáo dục thế hệ trẻ: "Phải thực hiện tốt việc giáo dục toàn diện (Trí dục, đức dục, mỹ dục, thể dục) cho thanh niên, thiếu nhi..." do đó nghị quyết đề ra nhiệm vụ: "Bắt đầu đưa việc dạy thể dục và một số môn thể thao cần thiết vào chương trình học tập của các trường phổ thông, chuyên nghiệp và đại học". về sự phát triển thể chất của thế hệ trẻ. Đại hội lần thứ 6 (1986) chủ trương: "Mở rộng và nâng cao chất lượng phong trào TDTT quần chúng, từng bước đưa việc rèn luyện thân thể thành thói quen hàng ngày của đông đảo nhân dân, trước hết là thế hệ trẻ. Nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong các trường học. Trong những năm qua, đội ngủ cán bộ giáo viên TDTT trong các trường phổ thông đã được bổ sung từng bước về số lượng, chất lượng và dần được tiêu chuẩn hoá theo các cấp học. Nhưng đại đa số giáo viên TDTT chưa đồng đều về trình độ, vẫn còn giáo viên bán chuyên trách đứng lớp. Việc xây dựng cơ sở vất chất phục vụ giáo dục thể chất, vấn đề này đã được chính phủ, Bộ giáo dục đào tạo, ngành TDTT quan tâm, nhưng vẫn còn thiếu, thiết bị dạy học còn thiếu và chất lượng chưa tốt. Nhưng hiện nay việc sử dụng các thiết bị dạy học vẫn đang còn trong tình trạng khó khăn vì không đảm bảo nên việc giáo dục thể chất trong các trường học vẫn đáng trong tình trạng khó khăn. Từ những điều kiện và khó khăn trên đã làm ảnh hưởng đến chất lượng học tập của học sinh. Vì vậy tôi chọn nghiên cứu với đề tài: "TÌM HIỂU SỰ PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT CỦA HỌC SINH LỚP 10 TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ĐÔNG HÀ THỊ XÃ ĐÔNG HÀ TỈNH QUẢNG TRỊ THEO TIÊU CHUẨN RÈN LUYỆN THÂN THỂ" II. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU: II.1 Mục đích nghiên cứu: Khảo sát đánh giá thực trạng phát triển thể chất của học sinh lớp 10 ban A trường THPT Đông Hà so với tiêu chuẩn rèn luyện thân thể của Bộ giáo dục đào tạo. II.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: 2.1. Nhiệm vụ 1: Tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất của học sinh lớp 10 ban A trường THPT Đông Hà. 2.2. Nhiệm vụ 2: Điều tra và đánh giá sự phát triển thể chất của học sinh lớp 10 ban A trường THPT Đông Hà so với tiêu chuẩn rèn luyện thân thể của Bộ giáo dục đào tạo. Giaùo vieân thöïc hieän: Voõ Thò Hoàng Trang 2 Nnghieân cöùu khoa hoï c III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: Để giải quyết hai nhiệm vụ trên tôi sử dụng các phương pháp sau: III.1 Phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu: - Nghiên cứu các văn bản đã ban hành về chỉ đạo công tác giáo dục thể chất trường học và tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cho học sinh phổ thông các cấp. - Sách tâm lý lứa tuổi. - các tuyển tập nghiên cứu khoa học của ngành TDTT và bộ giáo dục đào tạo về giáo dục thể chất học sinh. III.2 Phương pháp nhân trắc: Để xác định các chỉ số cơ bản về hình thái của học sinh tôi chọn hai chỉ số sau: III.2.1 Đo chiều cao đúng: Chuẩn bị: Trên tường đã kẻ sẵn mốc (cm) và một cây thước thẳng. Thực hiện: Cho học sinh đứng quay lưng sát vào tường, lưng thăng và đảm bảo bốn điểm chấm, đầu, lưng, mông và gót chân. Kết quả: Được tính từ gót chân lên đỉnh đầu tính bằng (cm). III.2.2 Đo trọng lượng cơ thể: Chuẩn bị: Dùng cân đồng hồ và một ghế cao 40cm. Thực hiện: Cho từng em ngồi lên ghế hai chân đặt song song trên bàn cân và từ từ đứng dậy. Sau khi cân xong ngồi xuống ghế và đi ra ngoài. Kết quả: Tính số cân chỉ trên bàn cân. Tính bằng (kg). III.3 Phương pháp kiểm tra sư phạm: Để xác định đúng các chỉ số về thể lực của học sinh chúng tôi đã sử dụng các test sau. III.3.1 Chạy 80m xuất phát cao: Chuẩn bị: Sân tập, đường chạy, vạch xuất phát, vạch đích, đồng hồ bấm giây. Thực hiện: Học sinh chạy theo nhóm. Mỗi nhóm chạy 2 em. Kết quả: Được tính bằng giây từ khi xuất phát đến khi về đích. III.3.2 Chạy 500m xuất phát cao: Chuẩn bị: Sân tập, đường chạy, vạch xuất phát, vạch đích, đồng hồ bấm giây. Giaùo vieân thöïc hieän: Voõ Thò Hoàng Trang 3 Nnghieân cöùu khoa hoï c Thực hiện: Học sinh chạy theo nhóm. Mỗi lần chạy 4 em. Kết quả: Được tính bằng giây từ khi xuất phát tới khi về đích. III.3.3 Bật xa tại chổ không đà: Chuẩn bị: Hố cát, thước giây. Thực hiện: Cho từng em lần lượt đúng ở mép hố cát bật nhảy ở mép hố không có đà. Mỗi em thực hiện 3 lần. Kết quả: Lấy thành tích lần nhảy cao nhất. Tính bằng (cm). III.4 Phương pháp toán thống kê: Để giải quyết các nhiệm vụ trên chúng tôi sử dụng các công thức tính để xử lý số liệu thu thập được. - Tính tự số trung bình: - Tính phương sai: - Tính độ lệch chuẩn: IV. TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU: IV.1 Thời gian nghiên cứu: Đề tài tiến hành từ tháng 9/2006 đến tháng 5/2007 và được chia làm 3 giai đoạn. IV.1.1 Giai đoạn 1: Từ tháng 9/2006 đến tháng 11/2006 chọn đề tài, xây dựng đề cương. IV.1.2 Giai đọn 2: Từ tháng 12/2006 đến tháng 2/2007 giải quyết nhiệm vụ 1, thu thập số liệu. IV.1.3 Giai đoạn 3: Từ tháng 3/2007 đến tháng 5/2007 giải quyết nhiệm vụ 2, hoàn thành báo cáo chuyên đề khoa học. IV.2 Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 10 A5, A6, A7, A8 trường THPT Đông Hà. IV.3 Số lượng nghiên cứu: 180 em 90 nam, 90 nữ. IV.4 Địa điểm nghiên cứu: Trường THPT Đông Hà. IV.5 Trang thiết bị nghiên cứu: Giaùo vieân thöïc hieän: Voõ Thò Hoàng Trang 4 Nnghieân cöùu khoa hoï c Đồng hồ bấm giây, thước dây, cân đo, sân tập và một số dụng cụ khác có liên quan. V. PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU: V.1 Giải quyết nhiệm vụ 1: Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất của học sinh lớp 10. Vấn đề phát triển sức khoẻ của học sinh là một vấn đề quan trọng cần thiết nhất đối với mỗi xã hội. Đây là công tác hàng đầu của Đảng và nhà nước, ở nước ta từ trước cho đến nay cả trong hoàn cảnh đất nước khó khăn, Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm đến vấn đề này và xem đây như tài sản quốc gia. Về đặc điểm tâm sinh lý, giải phẩu của lứa tuổi học sinh lớp 10: Ở lứa tuổi này các em có đặc điểm nổi bật đó là tỏ ra mình là người lớn, đòi hỏi mọi người xung quanh phải tôn trọng mình, tỏ ra mình là người hiểu biết, các em đã tìm hiểu nhiều, biết rộng hơn, ưa hoạt động hơn và hoạt động có nhiều hoài bảo, do qua trình hưng phấn chiếm ưu thế hơn quá trình ức chế nên các em tiếp thu cái mới nhanh, nhưng lại chống chán khi thành công trở nên tự kiêu, tự mãn, sự tự đánh giá cao sẽ gây ảnh hưởng không tốt trong các hoạt động thể chất và tâm hồn các em. Vì vậy khi tiến hành công tác giáo dục thể chất cho học sinh lớp 10 cần phải uốn nắn nhắc nhỡ, chỉ bảo, định hướng và động viên các em hoàn thành tốt nhiệm vụ và kèm theo khen thưởng động viên đúng lúc. Trong quá trình giảng dạy các bài tập thể chất cần phải hình thành động tác thật chính xác, bởi các em tiếp thu kĩ thuật rất nhanh, nội dung giảng dạy cần phải phong phú để duy trì sự hưng phân của các em, khơi dậy tinh thần tập thể qua các cuộc thi đấu. Về giải phẩu sinh lý: Các em ở lứa tuổi này cơ thể phát triển nhanh nhưng chưa hoàn thiện như người lớn. + Hệ xương: Trong giai đoạn này hệ xương của các em lớn lên một cách đột ngột cả về chiều dài và chiều dày. + Hệ cơ: cũng phát triển với tốc độ nhanh nhưng chậm hơn so với hệ xương. Khối lượng và đàn hồi của cơ tăng lên, chủ yếu là cơ dài và cơ nhỏ. Do sự mất cân đối giữa cơ và xương nên các em ở lứa tuổi này khả năng phối hợp vận động bị giảm sút. Thời kì này sức mạnh cơ bắp tăng lên nhưng chưa kèm theo sự phát triển sức bền. Sự không trùng hợp này thường trở thành nguyên nhân căng thẳng cơ bắp quá mức khi tập luyện với lượng vận động lớn, dễ dẫn đến mệt mỏi. + Hệ tuần hoàn: Đang trên đà phát triển, nhịp độ phát triển của tim vượt khả năng chịu đựng của các khoang động mạch vần còn chưa phát triển lắm, bởi vậy khi hoạt động cơ bắp huyết áp tăng lên một cách đáng kể. Giaùo vieân thöïc hieän: Voõ Thò Hoàng Trang 5 Nnghieân cöùu khoa hoï c Do những đặc điểm nêu trên, học sinh lứa tuổi này không nên sử dụng các bài tập có sức mạnh quá mức. Cần lưu ý nguyên tắc tăng dần lượng vận động, tránh tăng đột ngột gây nguy hiểm đến chức năng và sự phát triển của hệ tuần hoàn. + Hệ thần kinh: Mặc dù hệ thần kinh giai đoạn này chỉ có sự biến đổi về chất lượng nhưng chức năng của nó chưa thật sự hoàn chỉnh chưa có khả năng chịu đựng những kích thích mạnh đơn điệu và kéo dài. Lúc này số lượng và độ phức tạp của các đường liên hợp giữa các bộ phận khác nhau của não tăng lên, các trung khu ngôn ngữ, đọc, viết, tiếp tục phát triển, hưng phấn chiểm ưu thế vì vậy học tập của các em dễ tập trung tư tưởng nê thời gian kéo dài hình thức hoạt động đơn điệu sẽ làm thần kinh chống mệt mỏi, dẫn đến sự phân tán chú ý. Hoạt động thần kinh linh hoạt là điều kiện dễ dàng để hình thành phản xạ có điều kiện do vậy nội dung tập luyện phải phong phú, giảng dải và làm mẩu phải có trọng tâm chính xác, đúng lúc, đúng chổ. + Hệ hô hấp: Phổi đang phát triển hoàn thiện, + Hệ máu: Ở lứa tuổi này khối lượng máu tỉ lệ trọng với cơ thể cao hơn người lớn. Cùng với lứa tuổi chỉ số này giảm dần, lượng hồng cầu tăng. Hoạt động cơ bắp làm cho hệ máu có nhiều thay đổi nhất định. Vì vậy trong công tác giáo dục thể chất đòi hỏi các giáo viên thể dục phải chú ý đến yêu tố này để sứp xếp các bài tập cho phù hợp với từng dối tượng. Giáo dục thể chất là một môn rất dễ nhưng cũng rất khó nên nó đòi hỏi phải có sự kết hợp đặc biệt về chất. Những đặc điểm giải phẩu sinh lý và tâm lý của từng cá thể trên cơ sở đó có thể đạt thnàh tích thể thao. Ngoài ra sự phát triển thể chất của học sinh phụ thuộc vào nhiều yếu tố thự nhiên và xã hội trong đó điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội là điều kiện có tính chất một nhân tố chuyên môn để điều chỉnh hợp lý sự phát triển thể chất của con người cho tương ứng với những yêu cầu mà xã hội đề ra cho nó là có một vai trò đặc biệt. Các xu hướng phát triển thể chất được tiến hành một cách có ý thức, có tính chủ đích và mức độ của sự phát triển đó và cả năng lực vận động những kĩ năng kĩ xảo hình thành và hoàn thiện trong cả cuộc sống của con người cũng đều phụ thuộc trực tiếp vào bản thân việc giá dục thể chất. Trên đây là phần tóm lược tất cả những đặc điểm tâm sinh lý, giải phẩu của các em học sinh có liên quan đến các vấn đề, đề tài nghiên cứu, là cơ sở quan trọng để chúng tôi tìm hiểu, điều tra và đánh gia thực trạng phát triển thể chất của học sinh trường THPT Đông Hà. V.2 Giải quyết nhiệm vụ 2: Đánh giá sự phát triển thể chất của học sinh lớp 10 A5,A6, A7, A8 trường THPT Đông Hà so với tiêu chuẩn rèn luyện thân thể. Giaùo vieân thöïc hieän: Voõ Thò Hoàng Trang 6 Nnghieân cöùu khoa hoï c Để đánh giá nhiệm vụ này tôi đã tiến hành khảo sát các chỉ số về hình thái và thể lực của 180 em học sinh . V.2.1 Đánh giá sự phát triển các chỉ số hình thái của học sinh tôi tiến hành khảo sát hai chỉ số chiều cao và cân nặng. Qua điều tra khảo sát tôi thấy học sinh lớp 10 nam, nữ trường THPT Đông Hà so với chiều cao đứng và cân nặng của người Việt Nam cùng lứa tuổi năm 1998 có sự thay đổi về chiều cao và cân nặng. Ở nữ lớp 10: X chiều cao điều tra so với hằng số sinh học người Việt Nam năm 1998 tăng trọng khoảng 8,48 cm đến 8,55cm. X Cân nặng điều tra so với hằng số sinh học người Việt Nam năm 1998 tăng trọng khoảng 2,09kg đến 2,54kg. Ở nam lớp 10: X chiều cao điều tra so với hằng số sinh học người Việt Nam năm 1998 tăng trọng khoảng 8,91cm đến 9,48cm. X cân nặng điều tra so với hằng số dinh học người Việt Nam năm 1998 tăng trọng khoảng 3kg đến 3,03 kg. Điều này thể hiện sự phát triển hình thể các em tương đối tốt và đó cũng là sự phát triển hợp lý với tuổi dậy thì của các em. Hơn nữa trong giai đoạn hiện nay nền kinh tế nước ta nói chung và thị xã Đông Hà nói riêng đang trên đà phát triển và ảnh hưởng trực tiép đén sức khoẻ và thể hình của các em. V.2.2 Điếu tra các chỉ số thể lựccủa học sinh lớp 10 trường THPT Đông Hà so với tiêu chuẩn rèn luyện thân thể. So sánh kết quả X kiểm tra và X tiêu chuẩn rèn luyện thân thể thì thể lực của các em phát triển tương đối nhan. đặc biệt là phát triển các tố chất về sức nhanh và sức mạnh. Trong 3 nội dung kiểm tra của cả nam và nữ thì có 2 nội dung đạt loại giỏi và một nội dung đạt loại khá. Sức mạnh và sức nhanh của các em phát triển tương đối tốt điều này thể hiện các em có môi trường giáo dục tốt và được chăm sóc đầy đủ nên các em có khả năng phát triển các tố chất nhanh và mạnh. Bên cạnh đó sức bền và sư khéo léo của các em phát triển ở mức khá. Như vậy điều kiện môi về trường, kinh tế, xã hội là nhân tố đảm bảo sự phát triển thể chất và thể lực của các em. Qua kết quả chất lượng thể chất từng nội dung cụ thể của nam và nữ: - Ở nam học sinh lớp 10: + Nội dung chạy 80m số lượng người đạt tiêu chuẩn chiếm tỉ lệ 90% trong đó có 46,7% khá giỏi, đặc biệt riêng loại giỏi chiếm 16,7% Giaùo vieân thöïc hieän: Voõ Thò Hoàng Trang 7 Nnghieân cöùu khoa hoï c + Nội dung bật xa số lượng người đạt tiêu chuẩn chiếm tỉ lệ 96,7% trong đó có 56,7% đạt loại khá giỏi. Riêng loại giỏi chiếm 36,7%. + Nội cung chạy 500m số lượng người đạt tiêu chuẩn chiếm tỉ lệ 86,7% trong đó có 16,7% đạt loại khá giỏi. - Ở nữ học sinh lớp 10: + Nội dung chạy 80m số lượng người đạt tiêu chuẩn chiếm tỉ lệ 98% trong đó có 50% khá giỏi, đặc biệt riêng loại giỏi chiếm 16,7% + Nội dung bật xa số lượng người đạt tiêu chuẩn chiếm tỉ lệ 90% trong đó có 40% đạt loại khá giỏi. Riêng loại giỏi chiếm 30%. + Nội cung chạy 500m số lượng người đạt tiêu chuẩn chiếm tỉ lệ 80% trong đó có 28% đạt loại khá giỏi. Như vậy, trong từng nội dung kết quả học sinh đạt được khá tốt ở nội dung chạy nhanh và bật xa, còn kết quả chạy bền chỉ đạt ở mức trung bình khá. Do các em ở thị xã có điều kiện để phát triển sức nhanh và sức bật còn chạy bền do điều kiện cơ sở vất chất ở thị xã không có cơ hội cho các em tập luyện tốt môn này. Cộng vào đó các em đang ở tuổi dậy thì thì phát triển sức nhanh và sức mạnh tốt hơn các môn khác nên kết quả đạt được như trên. VI. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ: VI.1 Kết luận: Từ kết quả nghiên cứu trên cho phép tôi đi đến kết luận: Các chỉ số hình thái, chiều cao, cân nặng của học sinh lớp 10 trường THPT Đông Hà đã có một bước cải thện so với giá trị của hằng số sinh học Việt Nam năm 1998. Các tố chất thể lực của các em phát triển ở mức khá nhưng không đồng đều. Bên cạnh một số em đạt khá giỏi còn một số em chưa đạt tiêu chuẩn so với tiêu chuẩn rèn luyện thân thể năm 1998 của Bộ giáo dục đào tạo. Các yếu tố về môi trường và điều kiện kinh tế xã hội thuận lợi tạo điều kiện cho các em phát triển về thể chất cũmg như thể lực. Đặc biệt là sức nhanh và sức mạnh của các em phát triển tương đối tôt. VI.2 Kiến nghị: Cần trang bị cơ sở vật chất cho công tác giáo dục thể chất. Cần tuyên truyền thông tin về tác dụng của giáo dục thể chất cho phụ huynh học sinh. Tăng cường và bổ sung thêm cán bộ giáo viên chuyên trách về giáo dục thể chất. Đội ngủ giáo viên cần phải nâng cao trình độ chuyên nghiệp vụ. Giaùo vieân thöïc hieän: Voõ Thò Hoàng Trang 8 Nnghieân cöùu khoa hoï c VII. TÀI LIỆU THAM KHẢO: SỞ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO QUẢNG TRỊ TRƯỜNG THPT ĐÔNG HÀ NGHIEÂN CÖÙU KHOA HOÏC Tên đề tài: "TÌM HIỂU SỰ PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT CỦA HỌC SINH LỚP 10 TRƯỜNG THPT ĐÔNG HÀ THỊ XÃ ĐÔNG HÀ TỈNH QUẢNG TRỊ" Giaùo vieân thöïc hieän: Voõ Thò Hoàng Trang 9 Nnghieân cöùu khoa hoï c Ngöôøi thöïc hieän Voõ Thò Hoàng Giaùo vieân theå duï c ĐÔNG HÀ NĂM 2007 Giaùo vieân thöïc hieän: Voõ Thò Hoàng Trang 10
- Xem thêm -