Tài liệu Nghiên cứu hiệu ứng truyền dẫn của tỷ giá erpt vào lạm phát ở việt nam trước và sau khi gia nhập wto (2000-2011)

  • Số trang: 72 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 70 |
  • Lượt tải: 1
sakura

Đã đăng 11429 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ------------------ VÕ THỊ THANH TRÚC NGHIÊN CỨU HIỆU ỨNG TRUYỀN DẪN CỦA TỶ GIÁ ERPT VÀO LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRƯỚC VÀ SAU KHI GIA NHẬP WTO (2000 – 2011) LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ \ TP. HỒ CHÍ MINH – năm 2012 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ------------------ VÕ THỊ THANH TRÚC NGHIÊN CỨU HIỆU ỨNG TRUYỀN DẪN CỦA TỶ GIÁ ERPT VÀO LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRƯỚC VÀ SAU KHI GIA NHẬP WTO (2000 – 2011) Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng Mã số: 60340201 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO TP. HỒ CHÍ MINH – năm 2012 LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành chương trình cáo học và luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô trường Đại học Kinh Tế Tp.HCM, bạn bè, gia đình và đồng nghiệp. Trước hết, tôi xin chân thành gởi lời cám ơn đến TS Nguyễn Khắc Quốc Bảo – người đã rất tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn các anh chị em đồng nghiệp CTCP Acecook Việt Nam đã hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này. Tôi xin cám ơn đến gia đình, bạn bè đã bên tôi và động viên tôi trong suốt quá trình học cao học. TP. Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 10 năm 2012 Học viên Võ Thị Thanh Trúc LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi với sự giúp đỡ của Thầy hướng dẫn; số liệu thống kê là trung thực, nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn này chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào cho tới thời điểm này. Tp.HCM, ngày 26 tháng 10 năm 2012 Tác giả Võ Thị Thanh Trúc DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT - ADF: Augmented Dickey – Fuller - CPI: Chỉ số giá tiêu dùng - DLCPI_sa: Sai phân bậc 1 của chỉ số giá tiêu dùng sau khi hiệu chỉnh mùa vụ và lấy logarithm - DLIMP_sa: Sai phân bậc 1 của chỉ số giá nhập khẩu sau khi hiệu chỉnh mùa vụ và lấy logarithm - DLNEER_sa: Sai phân bậc 1 của tỷ giá hối đoái danh nghĩa hiệu lực đa phương sau khi hiệu chỉnh mùa vụ và lấy logarithm - DLM2_sa: Sai phân bậc 1 của cung tiền M2 sau khi hiệu chỉnh mùa vụ và lấy logarithm - DLPPI_sa: Sai phân bậc 1 của chỉ số giá sản xuất sau khi hiệu chỉnh mùa vụ và lấy logarithm - DLOIL_sa: Sai phân bậc 1 của giá dầu sau khi hiệu chỉnh mùa vụ và lấy logarithm - ERPT: Exchange rate pass-through : Sự truyền dẫn của tỷ giá hối đoái - GSO: Tổng cục thống kê Việt Nam - HP: Hodrick – Prescott - IMP: Chỉ số giá nhập khẩu - NHNN: Ngân hàng nhà nước - NEER: Tỷ giá hối đoái danh nghĩa hiệu lực đa phương - M2: Cung tiền mở rộng - GAP (Output Gap): Khe hở sản lượng - GDP (Gross Domestic Products): Tổng sản lượng quốc gia - VAR: Vector Autorgressive Model - Worldbank: Ngân hàng Thế giới - WTO: Tổ chức thương mại Thế giới DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU Bảng 2.1: Cơ chế truyền dẫn tỷ giá thông qua kênh trực tiếp .................................... 5 Bảng 3.1: Bảng giả thuyết mức độ truyền dẫn của tỷ giá hối đoái tới lạm phát Việt Nam qua 2 giai đoạn – Trước và sau khi gia nhập WTO .................................. 19 Bảng 4.1: Độ trễ tối ưu cho mô hình VAR của giai đoạn 1 ....................................... 21 Bảng 4.2 : Độ trễ tối ưu cho mô hình VAR của giai đoạn 2 ..................................... 22 DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ Hình 4.1: Kết quả phản ứng xung khi có cú shock OIL ............................................ 24 Hình 4.2: Kết quả phản ứng xung khi có cú shock GAP......................................... .. 25 Hình 4.3: Kết quả phản ứng xung khi có cú shock chính sách tiền tệ ....................... 26 Hình 4.4: Kết quả phản ứng xung khi có cú shock tỷ giá (Neer) .............................. 27 Hình 4.5: Kết quả phản ứng xung khi có cú shock chỉ số giá nhập khẩu (IMP) ....... 29 Hình 4.6: Kết quả phản ứng khi có cú shock chỉ số giá sản xuất (PPI)...................... 29 1 1. Giới thiệu (Introduction) Lý do chọn đề tài: Ngày 11-1-2007, Việt Nam trở thành thành viên 150 của tổ chức Thương mại thế giới WTO. Việc hội nhập kinh tế toàn cầu này đã tác động mạnh mẽ đến sự ổn định của kinh tế vĩ mô, cụ thể là lạm phát và tỷ giá. Rủi thay trong bước đầu hội nhập nền kinh tế toàn cầu, Việt Nam phải đương đầu với những tình huống diễn biến xấu của nền kinh tế thế giới đến hai lần, cụ thể lần thứ nhất là năm 2007 khi giá cả thị trường thế giới tăng cao, đặc biệt là giá dầu; lần thứ hai là cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Kết quả của sự chống chọi là trong nửa đầu năm 2008, nền kinh tế nước ta phải đối phó với tình trạng lạm phát cao – gần 23% và tỷ giá giai đoạn 2007-2009 liên tục được điều chỉnh. Như vậy giữa việc mở cửa nền kinh tế với chính sách tỷ giá và tình hình lạm phát tại Việt Nam có mối quan hệ với nhau hay không? Nếu giữa chúng có mối quan hệ với nhau thì mức độ đó là mạnh hay yếu? Tỷ giá và lạm phát có quan hệ với nhau như thế nào? Khi mức độ mở cửa của nền kinh tế càng lớn thì ảnh hưởng của sự thay đổi tỷ giá lên lạm phát sẽ cao hơn không? Đây là vấn đề mà nhiều nhà chính sách và nhà kinh tế đặc biệt quan tâm. Để trả lời cho các câu hỏi trên, tác giả đã chọn đề tài: “Nghiên cứu hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá ERPT vào lạm phát ở Việt Nam trước và sau khi gia nhập WTO (2000 – 2011)” làm đề tài nghiên cứu. Tính cấp thiết của đề tài: Lạm phát là một hiện tượng kinh tế gắn liền với sự tồn tại của các nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường. Lạm phát cao đã tác động đến nhiều mặt của đời sống Kinh tế - Xã hội, làm chao đảo cuộc sống của dân chúng. Việc chống lạm phát cũng là nhiệm vụ thường trực của các quốc gia. 1 1 Theo Mai Thị Thanh Xuân, 2008. Tác động của lạm phát đến đời sống của người có thu nhập thấp ở Việt Nam hiện nay. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế - Luật 24 (2008) 102-113, trang 1. 2 Vì vậy việc nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái đối với lạm phát thông qua mức tác động của tỷ giá hối đoái vào các chỉ số giá (cụ thể: chỉ số giá nhập khẩu, chỉ số giá sản xuất, chỉ số giá tiêu dùng) được quan tâm và thực hiện bởi nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới. Việc xác định mức độ truyền dẫn tỷ giá của một quốc gia sẽ cho chúng ta biết mức tác động của cú sốc tỷ giá hối đoái vào tỷ lệ lạm phát của quốc gia đó. Từ đó quốc gia đó có chính sách điều hành tiền tệ và tỷ giá hối đoái thích hợp.2 Tại Việt Nam cũng có khá nhiều bài nghiên cứu đã nghiên cứu về ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái đến lạm phát trong những năm gần đây với nhiều bài mang tính định tính. Ngoài ra cũng có khá nhiều bài nghiên cứu định lượng mức độ tác động của tỷ giá hối đoái vào các chỉ số giá tại Việt Nam. Sau khi gia nhập WTO tình hình lạm phát tại Việt Nam tăng mạnh, chính sách tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn, mức độ biến động của tiền đồng Việt Nam ngày càng cao, người dân hoang mang với ảnh hưởng nền kinh tế mở cửa. Do đó việc nghiên cứu đánh giá có hay không sự ảnh hưởng của việc gia nhập WTO vào mối quan hệ giữa tỷ giá và lạm phát là vấn đề cấp thiết để các nhà hoạch định chính sách có những chính sách điều hành tiền tệ và tỷ giá hối đoái thích hợp để vừa thúc đẩy nền kinh tế hội nhập thế giới vừa quản lý tốt tỷ lệ lạm phát. Mục tiêu nghiên cứu: Thông qua việc nghiên cứu sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái ERPT vào lạm phát ở Việt Nam trong 2 giai đoạn trước & sau khi gia nhập WTO bằng phương pháp VAR (Vector Autoregressive Model), tác giả sẽ rút ra những đặc tính ERPT vào lạm phát. Từ đó có thể đưa ra những cơ sở đầy đủ khi dự báo về lạm phát và những chính sách tiền tệ phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam. Việc xác định ERPT chính xác sẽ giúp Ngân hàng trung ương hiểu được mức ảnh hưởng, cường 2 Theo Choudhri và Hakura (2001), “Exchange Rate Pass-Through to Domestic Prices: Does the Inflationary Environment Matter?” 3 độ và thời gian của bất kỳ cú sốc tỷ giá hối đoái thay đổi trong lạm phát. Do đó, ngân hàng trung ương, có thể ban hành chính sách tiền tệ thích hợp để giữ lạm phát tại Việt Nam theo mục tiêu đề ra. Phạm vi nghiên cứu Tác giả tập trung nghiên cứu vào giá nhập khẩu, giá sản xuất và giá tiêu dùng trong nước. Từ đó xác định mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và lạm phát ở Việt Nam. Nói cách khác, bài nghiên cứu hiệu ứng trung chuyển tác động của tỉ giá chính là độ co dãn của giá trong nước so với tỉ giá thông qua hai khía cạnh: (1) có thể nghiên cứu mối tương quan giữa giá hàng nhập khẩu và tỉ giá; (2) mối quan tâm đặc biệt là tác động của tỉ giá đến mức giá chung (chẳng hạn được biểu hiện thông qua chỉ số giá sản xuất – PPI và chỉ số giá tiêu dùng – CPI). Kiểm định mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và giá tiêu dùng ở Việt Nam trong giai đoạn có sự thay đổi trong tự do thương mại. Dựa vào sự khác nhau về tự do thương mại, chia thành 2 giai đoạn nghiên cứu: giai đoạn trước và giai đoạn sau khi gia nhập WTO để phân tích tầm quan trọng của tự do thương mại và lạm phát khi có ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái gọi là Exchange rate pass through (ERPT). Tỷ giá hối đoái và tỷ lệ lạm phát trong nước có tương quan 2 chiều qua lại với nhau: tỷ giá hối đoái ảnh hưởng lên các biến số trong nước, và sự tác động của các biến số trong nước lên tỷ giá hối đoái. Bài nghiên cứu giới hạn nghiên cứu ở việc tỷ giá hối đoái thay đổi đã gây ảnh hưởng lên giá cả các hàng hóa trong nước. Phương pháp nghiên cứu Cũng như McCarthy (2000), Hahn (2003) và Faruqee (2006), nghiên cứu ở các nước phát triển, cụ thể là các quốc gia tại Châu Âu, Ito & Sato (2006) cho các nước Đông Á, Belaisch (2003) cho Brazil, và Leigh & Rossi (2002) cho Turkey, trong bài nghiên cứu này tác giả cũng sử dụng mô hình VAR (Vector Autoregressive Model) để nghiên cứu ERPT tại Việt Nam. Thứ nhất: đo lường mức độ truyền dẫn của tỷ giá hối đoái vào các chỉ số giá (chỉ số giá nhập khẩu, chỉ số giá sản xuất, chỉ số giá tiêu dùng) của Việt Nam ở 2 giai 4 đoạn: giai đoạn trước khi Việt Nam gia nhập WTO (từ năm 2000 – 2006) và giai đoạn sau khi Việt Nam gia nhập WTO (từ năm 2007 – 2011). Thứ 2: Phân rã phương sai (Variance decomposition) để xác định tầm quan trọng của cú sốc từ các biến đến sự gia tăng lạm phát tại Việt Nam trong 2 giai đoạn trước và sau khi gia nhập WTO. Thứ 3: So sánh kết quả mức độ ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái vào các chỉ số giá và sự tác động của các cú sốc đến lạm phát trong 2 giai đoạn trước và sau khi gia nhập WTO. Bố cục luận văn: Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn được chia ra thành 3 phần: - Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây về sự truyền dẫn tỷ giá hoái đối và lạm phát - Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu - Nội dung và kết quả nghiên cứu 5 2. Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây (literature review) 2.1. Lý thuyết truyền dẫn tỷ giá hối đoái: Truyền dẫn tỷ giá hối đoái (Exchange rate pass through): Theo Olivei (2002) ERPT như phần trăm giá nhập khẩu thay đổi khi tỷ giá hối đoái danh nghĩa thay đổi 1%. Theo Lian (2006) và Nkunde Mwase (2006) sử dụng một định nghĩa rộng hơn, ERPT là sự phản ánh những thay đổi của giá cả trong nước để đáp ứng 1% trong thay đổi tỷ giá, với giá cả trong nước là giá nhập khẩu, giá sản xuất và giá tiêu dùng. Trong luận văn này tác giả nghiên cứu hiệu ứng trung chuyển tác động của tỉ giá ERPT như là mức % thay đổi giá trong nước tính bằng đồng tiền của nước nhập khẩu khi tỉ giá tiền tệ giữa các đối tác thương mại thay đổi 1%, với chỉ số giá trong nước bao gồm chỉ số giá nhập khẩu, chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá tiêu dùng. Nếu tỉ giá hối đoái thay đổi 1% làm giá cả trong nước thay đổi 1% thì sự truyền dẫn được gọi là “hoàn toàn” (complete pass – through). Nếu tỷ giá hối đoái thay đổi 1% nhưng giá cả trong nước thay đổi nhỏ hơn 1% thì sự truyền dẫn đó được gọi là “không hoàn toàn” (incomplete pass – through). 3 Cơ chế truyền dẫn tỷ giá: theo Nicoleta (2007), những thay đổi trong tỷ giá hối đoái có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ lạm phát thông qua kênh trực tiếp và kênh gián tiếp. Kênh trực tiếp có thể được nhìn thấy thông qua các cú sốc tỷ giá như một sự phá giá tiền tệ. Điều này làm cho các hàng hoá tiêu dùng nhập khẩu và nguyên liệu thô trở nên đắt hơn. Sau đó dẫn đến chi phí sản xuất cao hơn và kết quả là, giá tiêu dùng cao hơn. Bảng 2.1: Cơ chế truyền dẫn tỷ giá thông qua kênh trực tiếp Nguồn: Nicoleta (2007) 3 Theo Th.S Bạch Thị Phương Thảo, “Truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào các chỉ số giá tại Việt Nam giai đoạn 2001 – 2011”, (2011) 6 Các kênh gián tiếp cho rằng sự mất giá của đồng nội tệ làm cho hàng hóa trong nước rẻ hơn và do đó, nhu cầu của đất nước này tăng xuất khẩu. Điều này sẽ kích thích làm tăng cầu lao động, tiền lương và tổng cầu, và kết quả là, có thể dẫn đến lạm phát. Điều này chỉ có thể xảy ra trong dài hạn do độ ì của giá trong ngắn hạn. 2.2. Các nghiên cứu đối với các nước phát triển McCarthy (2000) đã kiểm định sự chuyển giá của tỷ giá hối đoái và giá nhập khẩu vào lạm phát ở một số nền kinh tế công nghiệp hóa bằng mô hình VAR trong giai đoạn từ 1976 – 1998. Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự truyền dẫn của tỷ giá hối đoái vào lạm phát. Tỷ giá hối đoái ảnh hưởng mạnh nhất lên chỉ số giá nhập khẩu và ít ảnh hưởng lên chỉ số giá tiêu dùng. Ngoài ra phản ứng xung đẩy cho thấy tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng không đáng kể đến lạm phát giá cả trong nước trong khi giá nhập khẩu có tác động mạnh mẽ hơn. Hahn (2003) đã sử dụng mô hình VAR để nghiên cứu tác động chuyển dịch của cú sốc bên ngoài, tức là cú sốc giá dầu, tỷ giá hối đoái và giá hàng hóa nhập khẩu phi dầu mỏ đến lạm phát khu vực sử dụng đồng Euro thông qua các chỉ số giá (chỉ số giá hàng nhập khẩu, chỉ số giá sản xuất, chỉ số giá tiêu dùng). Kết quả của bài nghiên cứu cho thấy cú sốc giá hàng nhập khẩu phi dầu mỏ ảnh hưởng mạnh và nhanh nhất đến các chỉ số giá, kế tiếp là cú sốc tỷ giá hối đoái và sau cùng là cú sốc giá dầu. Kích cỡ và độ lớn tác động chuyển dịch của những cú sốc giảm dần từ chỉ số giá nhập khẩu, đến chỉ số giá sản xuất và cuối cùng là chỉ số giá tiêu dùng. Choudri & Hakura (2006) đã sử dụng số liệu của 71 nước phát triển và mới nổi trong giai đoạn 1979 – 2000 để kiểm chứng mức độ của sự phá giá lên lạm phát. Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ truyền dẫn của tỷ giá lên lạm phát mạnh hay yếu phụ thuộc vào mức độ lạm phát ban đầu của quốc gia. Đối với những nước có mức độ làm phát ban đầu cao thì cú sốc tiền tệ có xu hướng kéo dài hơn và mức truyền dẫn của tỷ giá hối đối sẽ cao hơn, ngược lại sự truyền dẫn yếu đối với nước có mức lạm phát ban đầu thấp và sự truyền dẫn sẽ cao đối với nước có mức lạm phát ban đầu cao. 7 2.3. Các nghiên cứu đối với các nước đang phát triển Takatoshi Ito & Kiyotaka Sato (2007) cũng sử dụng mô hình VAR để nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái lên giá cả trong nước ở các nền kinh tế Đông Á. Đặc biệt là sự tương tác giữa chính sách tiền tệ và những thay đổi tỷ giá hối đoái. Trong các nền kinh tế bị khủng hoảng, mức độ ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái lên giá cả hàng hoá nhập khẩu là rất cao nhưng tỷ giá tác động lên chỉ số giá tiêu dùng lại thấp. Ngoài ra, kết quả còn chỉ ra rằng chính sách tiền tệ là một yếu tố quan trọng làm cho tình hình lạm phát xấu hơn trong thời kì khủng hoảng tiền tệ. Michele Ca’ Zorzi, Elke Hahn & Marcelo Sánchez (2007) nghiên cứu sự ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá tại 3 nền kinh tế công nghiệp cũng như 3 khu vực kinh tế mới nổi trên thế giới, bao gồm Châu Á (Trung Quốc, Nam Hàn, Singapore, Đài Loàn và Hồng Kông), Trung và Đông Âu (Cộng Hòa Séc, Hungary, Poland) cộng thêm Thổ Nhĩ Kỳ và Mỹ Latin (Argentina, Chile và Mexico). Bằng việc tiến hành kiểm định thông qua mô hình VAR và ứng dụng phân rã Cholesky, bài nghiên cứu đã chứng minh rằng ERPT tác động đến cả chỉ số CPI và giá nhập khẩu với độ tin cậy đáng kể. Mức độ truyền dẫn của tỷ giá hối đoái vào lạm phát và sự mở cửa là có tương quan cùng chiều nhưng ở mức độ yếu. Ngoài ra bài nghiên cứu còn phủ định lập luận ERPT trong nền kinh tế "đang phát triển" thì luôn cao hơn so với nền kinh tế "phát triển". 2.4. Các nghiên cứu trong giai đoạn khác nhau về mức độ mở cửa của quốc gia Yếu tố quyết định quan trọng khác của ERPT từ một quan điểm lý thuyết là mức độ mở cửa thương mại của một quốc gia. Hầu hết các kết nối tức thì giữa 2 biến là cùng chiều: Quốc gia càng mở cửa giao thương, sự biến động tỷ giá hối đoái chuyển dịch vào CPI thông qua giá nhập khẩu càng nhiều. Tuy nhiên, bức tranh trở nên phức tạp hơn khi tác giả đưa vào nghiên cứu rằng lạm phát có thể tương quan ngược chiều với sự mở cửa, như thực nghiệm phát hiện bởi Romer (1993). 8 Amitrano.A & cộng sự (1997) đã nghiên cứu thực nghiệm về sự chuyển dịch cho từng khu vực, từng quốc gia. Từ đó giải thích tại sao lạm phát không tăng tốc ở các nước công nghiệp sau khi có sự sụt giảm tỷ giá lớn vào năm 1992 - 1993. Mức độ truyền dẫn của tỷ giá hối đoái đến lạm phát được cho là phụ thuộc vào mức độ mở cửa của đất nước, về năng lực chưa sử dụng trong và ngoài nước, về giá dầu và tiền lương, tài chính và chính sách tiền tệ của đất nước sau phá giá. David Romer (1993) nghiên cứu mẫu dữ liệu là 114 nước từ năm 1973 (sau hội nghị Bretton Woods). Kết quả cho thấy mối quan hệ giữa mở cửa và lạm phát sẽ mạnh hơn trong các quốc gia có chính trị bất ổn và ngân hàng trung ương ít độc lập. Ngoài ra việc mở rộng chính sách tiền tệ không được dự đoán trước sẽ làm cho tỷ giá hối đoái thực sụt giảm và trên thực tế những thiệt hại của sự sụt giảm này sẽ lớn hơn trong nền kinh tế mở cửa nhiều hơn. Niloufer Sohrabji (2011) xem xét sự ảnh hưởng của tỷ giá lên giá tiêu dùng ở Ấn Độ trong 3 giai đoạn 1975 -1986, 1992-1998 và 1999-2010. Bằng cách sử dụng phương pháp phân tích hồi quy đa biến, tác giả kiểm tra tầm quan trọng của việc tự do thương mại và chính sách tiền tệ đối với ERPT. Tự do thương mại làm tăng ERPT và môi trường kiểm soát lạm phát chặt chẽ hơn thì làm giảm ERPT. Cũng phù hợp với các nghiên cứu trước đây ở Ấn Độ và các nền kinh tế đang phát triển khác, bài nghiên cứu này cũng cho thấy ERPT không hoàn toàn. Kết quả phân tích VAR cho thấy tầm quan trọng giá dầu và khe hở sản lượng. Trong thời gian gần đây tầm quan trọng của giá dầu giảm, trong khi tầm quan trọng của khe hở sản lượng lại tăng lên. Mặc dù yếu tố lãi suất giai đoạn những năm 1990 là yếu tố ảnh hưởng đến sự biến động giá lớn thứ 2, thì trong những năm gần đây nó trở nên ít quan trọng hơn. Nguyên nhân giai đoạn này có sự thay đổi lớn trong chính sách tiền tệ, đó là thiết lập lạm phát mục tiêu.  Bài học: Tự do thương mại làm tăng ERPT và môi trường kiểm soát lạm phát chặt chẽ hơn thì làm giảm ERPT. 9 2.5. Các nghiên cứu trong giai đoạn khủng hoảng Borensztein và De Gregorio (1999) đã nghiên cứu tác động của sự phá giá đến lạm phát sau khủng hoảng. Mẫu nghiên cứu được thực hiện với 49 trường hợp khủng hoảng tiền tệ của 26 nước trên thế giới. Kết quả cho thấy không có sự dịch chuyển hoàn toàn từ phá giá sang lạm phát sau khủng hoảng. Sau khủng hoảng và phá giá, lạm phát tăng và đạt đỉnh ở giai đoạn giữa 12 và 18 tháng sau khủng hoảng và dần trở về mức lạm phát trước khủng hoảng. Các nhân tố ảnh hưởng đến lạm phát trong nghiên cứu này được xác định là độ lệch của yếu tố đầu ra so với xu hướng, mức độ định giá cao tỷ giá ban đầu, và chủ yếu là tỷ lệ ban đầu của lạm phát. Kết quả của nghiên cứu giải thích tiến trình của lạm phát sau khủng hoảng tiền tệ, ngoại trừ các cuộc khủng hoảng EMS năm 1992 với mức ảnh hưởng thấp. Baig và Goldfajn (1999) sử dụng phân tích VAR cho các quốc gia gặp khủng hoảng ở Châu Á, để đánh giá phản ứng đẩy đến cú sốc tiền tệ và thị trường chứng khoán. Kết quả cho thấy có mức truyền dẫn đáng kể của tỷ giá hối đoái vào lạm phát. Tương quan chéo giữa các quốc gia về tiền tệ và thị trường vốn thì lớn và đáng kể. 2.6. Các nghiên cứu ERPT tại Việt Nam: Một nghiên cứu của IMF (2006) sử dụng số liệu quý từ năm 2001 – 2006. Kết quả nghiên cứu cho thấy cú sốc cung tiền, lạm phát kì vọng và khe hở sản lượng ảnh hưởng mạnh đến lạm phát tại Việt Nam, trong khi cú sốc giá dầu và tỷ giá lại ảnh hưởng yếu đến lạm phát và có giá trị không đáng kể. Nguyễn Đình Minh Anh, Trần Mai Anh, Võ Trí Thành (2010) đã ước tính mức truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào lạm phát ở Việt Nam từ tháng 1.2003 đến tháng 3.2009 bằng việc sử dụng mô hình hồi quy (VAR). Kết quả cho thấy mức truyền dẫn là 0,07 với độ trễ 2 tháng kể từ cú sốc tỷ giá. Tác động này được loại bỏ hoàn toàn trong tháng thứ ba. So với một số nước đang phát triển khác, mức truyền dẫn của tỷ giá vào lạm phát ở Việt Nam có mức độ vừa phải. Nghiên cứu cũng tìm thấy rằng lạm phát cao ở Việt Nam trong những năm 2008 – 2009 chủ yếu là do việc mở rộng cung tiền. Vì vậy nhóm tác giả đưa ra giải pháp để kiểm soát lạm 10 phát là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) cần phải quản lý cung tiền. Khi cung tiền được kiểm soát một cách hiệu quả sẽ giúp kiểm soát biến động tỷ giá hối đoái và như vậy sẽ không gây ra lạm phát. Ngoài ra, lãi suất tiền đồng cũng là một trong những công cụ mạnh mẽ để kiểm soát lạm phát. Võ Văn Minh (2009) đã đo lường mức độ và thời gian của ERPT, từ đó đánh giá tác động của những thay đổi trong tỷ giá hối đoái đối với lạm phát, và khuyến nghị các chính sách phù hợp từ các kết quả nghiên cứu. Trong bài báo này, tác giả sử dụng các xét nghiệm khác nhau thực nghiệm bao gồm kiểm định Augmented Dickey-Fuller, kiểm định Hodrick & Prescott, và kiểm định đáp ứng xung. Thông qua kết quả kiểm định, tác giả thấy rằng mức truyền dẫn của tỷ giá hối đoái (ERPT) của Việt Nam là không hoàn toàn, ERPT trong năm đầu tiên là 0,61 mức độ trung bình so với các nền kinh tế tương tự khác. Mức truyền dẫn tỷ giá lên chỉ số giá nhập khẩu là lớn nhất với độ trễ từ 5 đến 7 tháng do cần có khoảng thời gian để điều chỉnh hợp đồng thương mại nước ngoài của các công ty. Tuy nhiên, tác động của tỷ giá hối đoái đối với giá tiêu dùng giữ quán tính khoảng 10 tháng sau cú sốc tỷ giá hối đoái. Trong năm đầu, 1% mất giá của đồng tiền sẽ làm tăng chỉ số giá tiêu dùng CPI là 0.08%, và nếu phản ứng tiêu cực của giá tiêu dùng được lấy ra thì 1% mất giá sẽ làm tăng chỉ số giá tiêu dùng là 0.16%. Sau 15 tháng, các tác động của một cú sốc tỷ giá hối đoái trên giá nhập khẩu và giá tiêu dùng được loại bỏ hoàn toàn. Nguyễn Thị Thu Hằng, Nguyễn Đức Thành (2010) nghiên cứu ước lượng dựa trên mô hình điều chỉnh sai số VECM (Vector Error correction Model) với 12 biến được tính theo tháng của CPI, sản lượng công nghiệp, cung tiền M2, tín dụng, lãi suất, tỷ giá, chỉ số giá bán của người sản xuất, thâm hụt ngân sách, giá trị giao dịch trên thị trường chứng khoán, chỉ số giá nhập khẩu, giá dầu và giá gạo quốc tế cho giai đoạn 2000 – 2010. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: (1) Ký ức dai dẳng về lạm phát trong quá khứ và sự kỳ vọng lạm phát trong tương lai sẽ quyết định mức lạm phát thực tế tại Việt Nam; (2) Lạm phát có nguyên nhân chủ yếu từ yếu tố nội địa hơn là từ các yếu tố thế giới. Giá thế giới có ảnh hưởng lên giá sản xuất và 11 phải mất vài tháng thì nó mới có tác dụng lên giá tiêu dùng; (3) Khuyến khích tăng trưởng kinh tế thông qua gia tăng năng suất lao động và tăng sản lượng có tác động tích cực trong kiểm soát lạm phát dài hạn; (4) Công cụ tiền tệ ở Việt Nam không hoàn toàn là một công cụ phản ứng nhanh và hiệu quả; (5) Việc phá giá có tác động đáng kể làm tăng áp lực lạm phát; (6) Không thấy tác động rõ ràng của thâm hụt ngân sách đối với lạm phát. Bạch Thị Phương Thảo (2011) nghiên cứu sự truyền dẫn của tỷ giá vào các chỉ số giá Việt Nam từ năm 2001 – 2011 thông qua mô hình hồi qui VAR. Do lạm phát tăng cao và độ phụ thuộc vào hàng nhập khẩu lớn của Việt Nam mà mức độ ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái lên các chỉ số giá ngày càng cao, đặc biệt là đối với chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá tiêu dùng. Mức tác động của cú sốc tỷ giá hối đoái lên chỉ số giá nhập khẩu là dương và có độ trễ sau 1 quý, với mức tác động lớn nhất sau khoảng 14 tháng là độ lớn 0.77. Mức tác động của cú sốc tỷ giá lên giá sản xuất cũng dương và có độ trễ 4 tháng, với mức tác động lớn nhất sau 14 tháng là độ lớn 0.73. Mức tác động của cú sốc tỷ giá lên giá tiêu dùng là thấp nhất với độ lớn 0.39 sau 15 tháng. Mức cung tiền M2, sự gia tăng của chỉ số giá sản xuất và ảnh hưởng của cú sốc tỷ giá hối đoái đến chỉ số giá tiêu dùng là 3 nguyên nhân quan trọng nhất khiến lạm phát Việt Nam tăng trong thời gian 2001 – 2011. 12 3. Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu: 3.1. Mô hình nghiên cứu : - Nghiên cứu định lượng với dữ liệu của mẫu cố định và xây dựng mô hình hồi quy đa biến VAR để xem xét ảnh hưởng của các nhân tố đến lạm phát đối với các mẫu đó. Ứng dụng mô hình nghiên cứu trước đây giới thiệu bởi McCarthy (2000) and Hahn (2003), Takatoshi Ito & Kiyotaka Sato (2007), Niloufer Sohrabji (2011), tác giả sẽ tiến hành nghiên cứu định lượng với dữ liệu của mẫu cố định và xây dựng mô hình hồi quy đa biến VAR để xem xét ảnh hưởng của các nhân tố đến lạm phát đối với các mẫu đó. 3.1.1. - Mô hình VAR ( Vector Autoregressive model) Mô hình Var được Christopher H. Sims đề xuất lần đầu tiên vào năm 1980. Mô hình này được cấu tạo với các biến số đã tính độ trễ (autoregressive), trong đó các biến số đều đóng vai trò như nhau, đều là biến nội sinh. - Mô hình rút gọn Var trong bài nghiên cứu này cũng như những mô hình nghiên cứu trước đây giới thiệu bởi McCathy năm 2000, Hahn năm 2003 và Takatoshi Ito & Kiyotaka Sato năm 2007: Trong đó: Yt đại diện cho chuỗi dừng các biến nội sinh, c là véc tơ hằng số, Фi biểu thị cho các ma trận của hệ số hồi quy εt là các nhiễu trắng. 3.1.2. - Mục đích sử dụng mô hình Var Phân tích cơ chế truyền tải sốc thông qua hàm phản ứng xung (impulse response function – IRF). Từ đó nghiên cứu sự phản ứng của các biến còn lại với 1 biến của mô hình trong trường hợp có sốc xảy ra. 13 - Sử dụng phân rã Cholesky để sắp xếp thứ tự các biến trong mô hình VAR. Các biến sắp xếp trước được giả định sẽ gây tác động lên các biến xếp sau nó, nhưng các biến sau không gây tác động lên các biến trước nó. Từ đó chúng ta xác định những cú sốc về mặt cấu trúc và tính mức độ ảnh hưởng của những cú sốc về mặt cấu trúc đối với các biến số kinh tế vĩ mô khác lên tỷ lệ lạm phát trong nước thông qua phân tích VAR. - Ngoài ra phương pháp VAR giúp chúng ta xác định sự chuyển dịch tỷ giá hối đoái vào một tập hợp giá cả trong nước cùng với chuỗi giá cả từ giá nhập khẩu hoặc giá sản xuất đến giá tiêu dùng. 3.1.3. - Ưu điểm sử dụng VAR: Mô hình VAR không cần phân biệt/ giả định biến nào là biến ngoại sinh, biến nào là biến nội sinh vì tất cả các biến trong mô hình VAR đều là biến nội sinh. - Mô hình có độ tin cậy của dự báo tốt hơn các phương trình khác. 3.1.4. Hạn chế khi sử dụng VAR: - Mô hình VAR không thích ứng với phân tích chính sách. - Khó khăn trong việc chọn độ trễ cho mô hình và số mẫu quan sát cần đưa vào mô hình. Người ta tính ra rằng với k biến số và p độ trễ thì cần k2p số quan sát. Ví dụ: nếu mô hình có 3 biến, độ trễ là 8 thì phải có 32*8 = 72 quan sát. - Yêu cầu của mô hình VAR thì tất cả các biến trong mô hình phải dừng. Nếu không dừng thì phải tính sai phân. Nhưng nếu một chuỗi gồm biến dừng và biến không dừng thì việc lấy sai phân sẽ gặp khó khăn. Ngoài ra, việc biến đổi sai phân để các biến dừng có thể làm sai lệch giá trị thực của số liệu. - Khi phân tích hàm phản ứng xung để biết khi có cú sốc của một biến thì các biến còn lại phản ứng như thế nào. Việc sử dụng hàm phản ứng xung để phân tích cơ chế truyền tải sốc yêu cầu phải qui định thứ tự tác động của các biến. Với cách sắp xếp vị trí khác nhau của các biến trong mô hình để 14 thực hiện hàm phản ứng xung thì sẽ cho ra kết quả khác nhau. Do đó người ta thường dựa vào lý thuyết kinh tế để đưa ra thứ tự sắp xếp các biến phù hợp. 3.2. Thiết lập mô hình: - Biến số vào mô hình VAR: chỉ số giá dầu oil, khe hở sản lượng GAP, cung tiền M2, tỷ giá hối đoái danh nghĩa hiệu dụng NEER, chỉ số giá trong nước (bao gồm chỉ số giá nhập khẩu IMP, chỉ số giá sản xuất PPI và chỉ số tiêu dùng CPI). Chúng ta thiết lập mô hình VAR với 5 biến nội sinh như sau: xt = (∆oilt, gapt, ∆mt, ∆neert,∆pt) - oilt : giá dầu; - gapt : khe hở sản lượng(chênh lệch sản lượng); - mt : cung tiền ( tiền cơ sở hay M2); - neert : tỷ giá hối đoái danh nghĩa hiệu dụng; - pt : giá trong nước; -  : đại diện cho toán tử sai phân bậc 1 Mục đích nghiên cứu của tác giả là xem xét ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái và những cú sốc kinh tế vĩ mô khác lên giá cả trong nước và sự tương tác giữa các biến. Nhìn chung, đối với những cú sốc về mặt cấu trúc, chúng ta sử dụng phân tích của Cholesky về ma trận Ω, ma trận phương sai – hiệp phương sai của mô hình VAR theo mức độ ảnh hưởng giảm dần. Mối quan hệ giữa mô hình VAR theo mức độ ảnh hưởng của các biến giảm dần (ut) và sự thay đổi cấu trúc (εt) có thể được viết như sau:
- Xem thêm -