Tài liệu Nghiên cứu cơ chế bồi lấp cửa sa huỳnh, quảng ngãi và dề xuất giải pháp khắc phục hiện tượng bồi lấp cửa

  • Số trang: 97 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 149 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

LỜI CẢM ƠN XincảmơnTrườngĐạihọcThủyLợivàcácthầycôtrongKhoaKỹthuậtBiểnđãđàotạov àhướngdẫntácgiảtrongsuốtquáquátrìnhhọccaohọc, cánbộthưviệntrongtrườngđãgiúpđỡtácgiảtrongquátrìnhtìmkiếmtàiliệuthựchiệnluậnvăn. Tácgiảluậnvănxinchânthànhcảmơngiáoviênhướngdẫn TS. Trần Thanh Tùng đãtậntìnhchỉbảo, hướngdẫntácgiảvềchuyênmôntrongsuốtquátrìnhnghiêncứu. Tácgiảxinchânthànhcảmơngiađình, bạnvàđồngnghiệpđãnhiệttìnhgiúpđỡđộngviêntácgiảhoànthànhluậnvănnày! HàNội, ngày 27 tháng 05 năm 2013 Tácgiả Đào Hoàng Tùng LỜI CAM ĐOAN Tôixin cam đoanđềtàiluậnvăn: “Nghiêncứucơchếbồilấpcửa Huỳnhvàđềxuấtphươngánkhắcphục” làkếtquảnghiêncứucủatôi. Sa Nhữngkếtquảnghiêncứu, môphỏngkhôngsaochéptừbấtkỳnguồnthông tin nàokhác. Tôixinhoàntoànchịutráchnhiệm, vàchịubấtkỳhìnhthứckỷluậtnàocủaNhàtrườngnếu vi phạm. HàNội, ngày 27 tháng 05 năm 2013 Tácgiả Đào Hoàng Tùng 1 MỞ ĐẦU I. Tính cấp thiết của đề tài 1.1. Vai trò của cửa Sa Huỳnh đối với hoạt động của nghề cá trong khu vực Khu vực ven biển Quảng Ngãi đã và đang phát triển toàn diện trở thành một khu công nghiệp trọng điểm của cả nước, những dự án phát triển kinh tế - xã hội quan trọng của tỉnh và trung ương trong những năm đầu thế kỷ XXI (Nhà máy lọc dầu số một, cụm cảng Dung Quất, thành phố Vạn Tường, bên cạnh đó là khu công tế mở Chu Lai…). Những biến động về môi trường ven biển do xói lở, bồi tụ và bồi lấp có ảnh hưởng rất nhiều đến những dự án phát triển trên và hơn hết, chúng tác động trực tiếp đến đời sống và sản xuất của người dân ven biển tỉnh Quảng Ngãi. Cửa biển Sa Huynh (tỉnh Quảng Ngãi, huyện Đức Phổ) có ý nghĩa kinh tế xã hội rất quan trọng tại khu vực miền Trung và tỉnh Quảng Ngãi trong đó có đầm nước mặn (130 ha). Vùng ven biển Sa Huỳnh không chỉ là nơi nổi tiếng với nghề làm muối và đánh bắt hải sản mà vùng này còn có đầm nước nặn rất phù hợp và lý tưởng cho neo đậu tầu thuyền (hàng năm có hàng ngàn tầu dánh cá ra vào cửa). Năm 2003, toàn huyện có 690 tàu đánh cá, sản lượng khai thác là 31.545 tấn cá, tôm, cua, hải sản khác, diện tích nuôi trồng thủy sản là 75ha, sản lượng nuôi trồng là 431,7 tấn. Năm 2004, sản lượng thủy sản khai thác là 36.300 tấn; năm 2005 tăng lên 42.000 tấn, trong đó xã Phổ Thạnh chiếm 26.463 tấn, xã Phổ Quang 5.071 tấn, còn lại là các xã Phổ Vinh, Phổ Châu, Phổ An. Năm 2005, Đức Phổ có số tàu đánh cá 1.050 chiếc với tổng công suất là 87.195CV, trong đó xã Phổ Thạnh cao tuyệt đối với 671 chiếc có tổng công suất 66.308CV, xã Phổ Quang có 195 chiếc với tổng công suất 8.824CV, còn lại 4 xã khác (Phổ An, Phổ Khánh, Phổ Châu, Phổ Vinh) số tàu đều dưới 100 chiếc và tổng công suất đều dưới 700CV. Với lượng tàu thường xuyên ra vào cảng trên 1.000 chiếc mỗi năm, tạo điều kiện cho nghề biển tại Sa Huỳnh phát triển, nhiều tàu thuyền với công suất lớn trên 90CV đã được cập bến phục vụ cho đánh bắt khơi xa; thúc đẩy hoạt động dịch vụ hầu cần nghề cá, giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho lao động tại địa phương. Trong những năm gần đây, nghề đánh bắt cá xa bờ phát triển rất mạnh, đồng thời số lượng các tầu có công suất lớn cần ra vào cửa cũng nhiều hơn cùng với sự đa 2 dạng về cỡ thuyền, vì vậy, vai trò của cửa biển Sa Huỳnh càng trở nên quan trọng hơn. Theo thống kê của tỉnh Quảng Ngãi, hiện xã có 935 chiếc tàu, trong đó có gần 600 chiếc đánh bắt xa bờ. Tổng sản lượng hải sản thu được trong năm 2012 là gần 38.000 tấn, đạt 102,1% kế hoạch. 1.2. Các thiệt hại về kinh tế và ảnh hưởng do bồi lấp cửa gây ra đối với các hoạt động trong vùng. Dự án thông cửa biển và xây dựng cảng cá Sa Huỳnh được triển khai từ năm 2002 và hoàn thành năm 2005 - Một trong những cảng lớn và có tầm quan trọng về phát triển kinh tế biển ở khu vực phía Nam tỉnh Quảng Ngãi nhằm giải quyết hiện tượng bồi lấp tại cửa Sa Huỳnh đồng thời phát triển kinh tế - xã hội tại vùng này. Tuy nhiên, dự án xây dựng cụm công trình chưa thể giải quyết triệt để hiện tượng bồi lấp, khiến cho cho việc lưu thông của tầu thuyền qua eo cửa gặp khó khăn. Tại khu neo đậu trú bão tàu cá, diện tích bồi lấp khoảng 1.000 m2, với khối lượng cát bồi lấp khoảng 4.000 m3. Do bị bồi lấp, tim luồng được nạo vét từ dự án trước đã bị biến đổi, dịch chuyển về phía khu dân cư làm cho cụm đá ngầm nằm ở rìa luồng trước đây nay trở thành giữa luồng (cụm đá ngầm ước khoảng 150m3). Tình trạng bồi lấp gây cản trở lớn cho tàu thuyền ra vào luồng, nhiều tàu thuyền thường xuyên bị va vào đá dẫn đến hư hỏng, gây thiệt hại lớn cho tài sản của ngư dân. Luồng vào ngày càng bồi lấp khiến tàu cá công suất trên 90CV không ra vào được kể cả lúc triều cường. Ngoài ra, gió mùa mùa đông – điển hình là gió mùa Đông Bắc đẩy bùn cát từ phía mũi Sa Huỳnh dọc bờ theo hướng Bắc – Nam làm cho bùn cát lấp dần eo cửa. Mặt khác, khi di chuyển qua eo, việc di chuyển chậm kết hợp với gió mùa Đông Bắc đẩy tầu dạt về phía đê chắn sóng (được xây dựng phía Nam cửa) gây ra các hư hỏng cho tầu. Kết thúc năm 2012 đã có trên 5 chiếc tàu cá bị mắc cạn tại cửa biển Sa Huỳnh, trong đó có 3 chiếc bị sóng đánh va vào đập chắn cát đá gây chìm tàu (thiệt hại gần 2 tỷ đồng). Vì vậy, đã có trên 500 chiếc tàu cá của ngư dân trong xã phải neo trú và bán hải sản ở những nơi khác thay vì trở về địa phương. 3 1.3. Quy hoạch khu neo đậu tránh trú bão Sa Huỳnh TheoThông tư của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch khu neo đậu tránh trú báo cho tàu cá đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Các quan điểm về quy hoạch và mục tiêu quy hoạch sẽ được chú trọng đề cập đến trong luận văn này. - Quan điểm quy hoạch: Quy hoạch khu neo đậu tránh trú bão cho tầu cá phải phù hợp với Chiến lược phát triển thuỷ sản Việt Nam đến năm 2020, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đồng thời phải tính đến ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Các khu neo đậu tránh trú bão cho tầu cá được xây dựng thành một hệ thống, trên cơ sở lợi dụng tối đa các địa điểm có điều kiện tự nhiên thuận lợi, gần các ngư trường, vùng biển có tần suất bão cao, phù hợp với tập quán của ngư dân, đảm bảo an toàn cho người và tầu cá, hạn chế mức thấp nhất thiệt hại do bão gây ra. - Mục tiêu quy hoạch: Hoàn chỉnh hệ thống khu neo đậu tránh trú bão cho tầu cá ven biển, đảo, các cửa sông, cửa lạch có điều kiện tự nhiên thuận lợi, đáp ứng nhu cầu neo đậu tránh trú bão và dịch vụ hậu cần cho tầu cá. Tóm lại, hiện tượng bồi lấp tại cửa Sa Huỳnh trở nên ngày càng nghiêm trọng, ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của xã Phổ Thạch mà còn ảnh hưởng đến tỉnh Quảng Ngãi. Luận văn “Nghiên cứu cơ chế bồi lấp cửa biển Sa Huỳnh – Quảng Ngãi và đề xuất giải pháp khắc phục” sẽ giúp hạn chế hiện tượng này. - Phân loại và định hướng tiêu chí xây dựng: Về các khu neo đậu tránh trú bão cấp vùng cần đáp ứng đủ các điều kiện như: gần ngư trường trọng điểm, tập trung tàu cá của nhiều tỉnh; vùng biển có tần suất bão cao; có điều kiện tự nhiên thuận lợi, đảm bảo an toàn cho tàu cá neo đậu tránh trú bão; có khả năng neo đậu được khoảng 800 – 1000 tàu cá các loại trở lên, các loại tàu có công suất đến 1000 CV và tàu cá nước ngoài; 4 II. Mục tiêu của luận văn Nghiên cứu nguyên nhân và quy luật của hiện tượng bồi lấp cửa biển Sa Huỳnh, Quảng Ngãi bằng các tư liệu lịch sử và phương pháp mô phỏng. Nội dung của luận văn sẽ đề cập đến các điểm sau: - Khái quát các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình bồi lấp tại cửa Sa Huỳnh, ảnh hưởng của vấn đề này đến phát triển của huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi. - Nghiên cứu, xác định quy luật và nghiên nhân bồi lấp cửa Sa Huỳnh. - Mô hình hoá diễn biến cửa Sa Huỳnh do tác động của sóng và dòng chảy. III. Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu và kết quả đạt được 3.1. Cách tiếp cận - Tiếp cận bằng phương pháp tổng hợp nghiên cứu tài liệu, báo cáo có sãn về cửa biển Sa Huỳnh. - Tiếp cận bằng phương pháp mô hình hoá. 3.2. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện mục tiêu đề ra, các phương pháp và công cụ được sử dụng bao gồm: - Thu thập, xử lý và chỉnh lý số liệu cơ bản phục vụ nghiên cứu. - Phương pháp điều tra phân tích tổng hợp, nguyên nhân hình thành. - Phương pháp phân tích thống kê. - Ứng dụng mô hình toán mô phỏng xác định trường sóng, dòng chảy, bùn cát. - Kế thừa, áp dụng có chọn lọc sản phầm khoa học và công nghệ hiện có trong nước và trên thế giới. 3.3. Kết quả đạt được - Hiểu được quy luật bồi tụ tại cửa biển Sa Huỳnh. - Ứng dụng mô hình mô phỏng dòng chảy dọc bờ và phổ sóng tại khu vực cửa Sa Huỳnh. 5 CHƯƠNG I: TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU I. Giới thiệu về khu vực nghiên cứu Huyện Đức Phổ có bờ biển dài trên 40 Km, có hai cửa biển chính là Mỹ Á và Sa cửa Sa Huỳnh, đồng thời là mối giao thông thuỷ và tụ điểm của nghề cá, nuôi trồng Thuỷ Hải Sản.Vùng cửa biển Sa Huỳnh thuộc địa phận của huyện Đức Phổ, Tỉnh Quảng Ngãi, nằm cách thị xã Quảng Ngãi 60 km về phía Nam. Cửa Sa Huỳnh khác với các cửa biển khác vì cửa không phải là nơi tập trung của các con sông chảy ra biển, nhưng khu vực này lại có đầm Nước mặn (diện tích mặt nước đầm khoảng 130 ha) là nơi neo đậu của hàng trăm tầu thuyền mỗi ngày. Hình 1.1. Bản đồ vùng cửa biển Sa Huỳnh 6 II. Điều kiện tự nhiên Phổ Thạnh là một xã ven biển với ngành kinh tế biển mũi nhọn là ngư nghiệp. Với chiều dài đường bờ khoảng 21 km nối với đầm Nước mặn rộng khoảng 300 ha bằng cửa Sa Huỳnh. Phía Đông và Đông Nam đầm Nước Mặn có dãy núi Thạnh Đức chắn sóng và gió bão. Sát liền với bờ biển là một dải đất hẹp xen lẫn cồn cát kéo dài theo hướng Bắc Nam. Phía Tây và phía Nam là dãy đồi núi dài liên tiếp bao bọc toàn bộ địa giới phái Tây và phía Nam của xã. 2.1. Địa hình địa mạo và đặc điểm địa chất ven biển. Đường bờ biển tỉnh Quảng Ngãi dài 130 km, thuộc địa phận các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Mộ Đức. Bờ biển Quảng Ngãi bị chia cắt bởi các cửa sông và đầm phá ven biển như cửa Sa Cầu, cửa Sa Kỳ, cửa Đại, cửa Lở, cửa Mỹ Á và cửa Sa Huỳnh. Khu vực biển Quảng Ngãi – Bình Định nằm ở phần trung tâm của vùng biển miền Trung Việt Nam. Vùng biển này hoàn toàn không được che chắn do phần lục địa ở đây nhô hẳn ra biển, hơn nữa với độ dốc đáy biển rất lơn, chỉ khoảng 50 km độ sâu của biển đã đạt đến cỡ 100m nên gần như mọi diễn biến xấu như sóng và gió lớn đều bị suy yếu khi tác động trực tiếp lên vùng bờ với cường độ ít bị suy giảm. Địa hình bề mặt đồng bằng khá thoải và thấp dần từ phía Tây sang Đông, tương ứng với độ cao từ 1-30m. Ngoại trừ các vùng biển tương đối cao ở khu vực phía Bắc và phía Nam của Tỉnh. Phần lớn vùng bờ biển Quảng Ngãi đều thấp thuộc bờ vùng đồng bằng hạ lưu của các con sông vừa và nhỏ (với diện tích lưu vực nhỏ hơn 3,500 km2) như sông Trà Bồng, sông Trà Khúc, sông Vệ, sông Trà Câu. Trầm tích bề mặt có nguồn gốc rất đa dạng từ nguồn gốc sông, nguồn gốc biển đến hỗn hợp sông – biển – đầm lầy. Vùng ven biển Quảng Ngãi còn có kiểu địa hình thấp đặc trưng, đó là dạng đầm lầy cửa sông đang bị bồi lấp (Liman) và các đầm phá ven biển (Lagoon). - Lớp 1: cát hạt thô – trung bình, màu xám vàng, lớp bão hoà nước chặt vừa. Cát lớp này có cường độ chịu tải cao, ít biến dạng, có thể dùng làm nền móng công trình; tuy nhiên, lớp cát này dễ bị rửa trôi vì đây là lớp đất rời, mức độ thẩm thấu 7 cao. Lớp này phân bố rộng khắp trên diện tích vùng và lộ ngay trên bề mặt địa hình. Khi xây dựng công trình cần phải có giải pháp móng thích hợp. - Lớp 2: Đá Granit, màu xám đen, xám trắng, cấu tạo khối, kiến trúc hạt thô, nứt nẻ mạnh, đá cứng và rắn. Đá có cấu tạo khối, kiến trúc hạt thô, bị nứt nẻ mạnh. Các khe nứt theo khảo sát có độ rộng ngang từ 5 – 10mm. Lớp đá này phân bố rộng khắp trên vùng và nằm sát dưới lớp cát có độ sâu 6.5m. - Lớp 3: Đá Granit, màu xám đen, xám trắng, lớp đá này có cấu tạo khối, kiến trúc hạt thô, rắn chắc. Lớp này cũng phân bố rộng khắp và nằm liền kề lớp 2 ở độ sâu 9 – 11m. Đá lớp này có cường độ kháng nén cao, ít biến dạng và có thể làm nền móng vững chắc cho công trình. 2.2. Đặc điểm về khí hậu, khí tượng Khí hậu vùng nghiên cứu nằm trong vùng Duyên hải miền Trung mang đặc tính chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa và đồng thời chịu ảnh hưởng của khí hậu vùng sườn núi phía Đông cao nguyên Kon Tum. Vùng chịu ảnh hưởng luân phiên của nhiều luồng không khí có nguồn gốc khác nhau tràn tới. Tuỳ thuộc vào vị trí địa lý và điều kiện địa hình khác nhau, nên ở mỗi địa phương ảnh hưởng của không khí gây ra cũng khác nhau. Những đặc trưng cơ bản của điều kiện khí hậu ven biển Quảng Ngãi, gồm: 2.2.1. Chế độ nhiệt. Nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất không xuống dưới 21 độ C, nhiệt độ thấp nhất không dưới 12 – 13 độ C ở đồng bằng. Chênh lệch nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất và lạnh nhất chỉ còn vào khoảng 7 – 8 độ C. Đặc điểm nổi bật trong chế độ nhiệt của khu vực là có nền nhiệt độ khá cao với nhiệt độ trung bình năm là 25.7 độ C. Chênh lệch nhiệt độ trung bình giữa các năm rất nhỏ, chỉ khoảng 1 – 2 độ C, chênh lệch nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất khoảng 7 – 8 độ C trong đó tháng nóng nhất là tháng VI, VII và lạnh nhất là tháng XII, I. Trong đó, nhiệt độ cao nhất tới 41.6 độ C (tháng VI năm 1994 tại Hoài Nhơn) và nhiệt độ thất nhất tới 12.4 độ C (tháng I năm 1993 tại Quảng Ngãi) 8 Bảng 1.1: Nhiệt độ không khí (độ C) tháng và năm tại trạm Quảng Ngãi và Hoài Nhơn: Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII TB Năm Trạm Quảng Ngãi TB 21.6 22.5 24.3 26.6 28.4 28.9 28.8 28.6 27.2 25.6 23.9 21.9 25.7 Max 30.4 35.3 35.2 38.7 38.6 40.5 38.1 38.6 37.6 34.5 32.4 30.2 40.5 Min 12.4 14.1 15.9 18.9 21.4 22.4 22.0 21.1 21.7 17.1 16.4 13.8 12.4 Trạm Hoài Nhơn TB 22.2 23.3 24.9 27.0 28.5 28.8 28.8 28.8 27.2 25.8 24.4 22.6 26.0 Max 33.0 34.5 36.8 38.3 41.6 40.2 39.1 38.6 36.1 34.9 31.1 30.1 41.6 Min 13.2 15.4 14.2 18.8 22.4 22.1 22.9 21.8 21.7 19.4 16.2 14.9 13.2 Hàng năm, tại vùng cửa Sa Huỳnh nói riêng và tỉnh Quảng Ngãi nói chung, mặt trời đi qua thiên đỉnh hai lần, lần thứ nhất vào khoảng cuối tháng IV đến đầu tháng V; lần thứ hai vào trung tuần tháng VIII. Lượng bức xạ tổng cộng thực tế phổ biến từ 130 – 150 kcal/cm2/năm, lượng bức xạ phân bố không đều theo các tháng và tất yếu dẫn đến phân bố không đều theo mùa. Lượng bức xạ tổng cộng mùa khô (từ tháng I – tháng VII) chiếm 70 – 75%, mùa mưa (từ tháng IX – tháng XII) chỉ chiếm từ 25 – 30%. Bức xạ tổng cộng vụ Đông Xuân chiếm 41%, còn vụ Hè Thu chiếm 59%. Bảng 1.2: Bức xạ tổng cộng thực tế tháng và năm (Kcal/cm2) Tháng Địa điểm 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm Sơn Tây 7.2 9.5 11.6 13.8 15.2 13.1 14.4 13.3 11.9 8.7 5.9 4.7 129 Trà Bồng 7.4 9.3 11.2 13.9 15.1 13.0 14.6 13.6 12.7 8.2 6.8 4.7 131 Minh Long 7.2 10.1 12.9 14.0 15.2 13.4 14.9 12.6 12.5 9.3 7.2 4.9 134 Ba Tơ 7.3 10.2 13.1 14.1 15.6 13.5 15.0 12.8 12.6 9.7 7.4 4.9 136 9 Tháng Địa điểm 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm Châu Ô 8.0 10.1 12.7 15.2 17.1 16.3 16.7 14.1 13.2 10.2 6.8 5.9 146 Quảng Ngãi 7.8 9.8 12.4 15.6 17.4 16.3 16.5 14.2 13.3 10.5 7.4 6.2 147 Sa Huỳnh 8.7 10.4 13.6 16.5 17.6 16.4 16.8 14.3 13.4 11.2 7.8 6.7 153 Lý Sơn 8.8 10.6 14.1 16.5 17.4 16.4 16.9 14.0 13.5 11.0 8.2 7.4 155 Nền nhiệt độ trung bình năm cao, từ 250 – 260c, tổng nhiệt độ hàng năm khoảng 8,500 – 9,0000c. Tháng I có nhiệt độ trung bình thấp nhất (21 độ c) và tháng VII – VIII có nhiệt độ trung bình cao nhất (27 – 28 độ c). Số giờ nắng trung bình năm từ 2,200 – 2,500 giờ và khu vực cửa Sa Huỳnh có số giờ nắng cao nhất lên tới 2,700 giờ/năm. 2.2.2. Chế độ mưa Mưa trong khu vực bắt đầu tháng IX, trùng với thời gian hoạt động của bão và áp thấp nhiệt đới và kết thúc vào đầu tháng XII. Biến trình mưa trong khu vực thuộc loại biến trình của vùng nhiệt đới gió mùa: chênh lệch lượng mưa giữa mùa mưa và mùa khô rất lớn. Lượng mưa lớn nhất trong năm vào tháng XI với lượng mưa trên 600 mm; lượng mưa nhỏ nhất trong năm vào tháng III hoặc IV với lượng mưa nhỏ hơn 50 mm. Hoàn lưu gió mùa cùng với địa hình đã tạo nên chế độ mưa mang nét đặc trưng riêng của tỉnh Quảng Ngãi và vùng cửa Sa Huỳnh. Lượng mưa trung bình năm kha lớn (hơn 2,000 mm) và biến động mạnh từ năm này sang năm khác, năm 1989 lượng mưa đo được tại trạm Hoài Nhơn chỉ đạt 1188 mm, năm 1979 lượng mưa đo được là 5679 mm. Lượng mưa trong các tháng mùa mưa và khi có bão thường lớn hơn 150 mm/ngày và đặc biệt có nhiều ngày mưa lớn hơn 250 mm xuất hiện trong tháng X, XI (lượng mưa 524 mm được đo vào ngày 8/10/1967 tại Quảng Ngãi). Bảng 1.3: Lượng mưa trung bình nhiều năm (mm) 10 Trạm Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Cả năm Trà Bồng 103 39 41 73 244 237 220 214 315 812 818 376 3492 Sơn Hà 81 33 33 69 198 207 168 169 318 658 703 287 2924 Sơn Giang 106 45 50 81 209 199 155 182 301 766 950 437 3481 Minh Long 142 51 68 55 216 166 129 205 385 700 885 555 3557 Ba Tơ 132 66 60 87 194 180 107 158 301 827 945 569 3626 Giá Vực 69 23 32 82 188 160 111 104 345 852 931 452 3349 Trà Khúc 97 32 33 36 97 96 67 125 311 632 555 274 2355 129 51 40 37 74 86 77 123 300 603 547 273 2340 An Chi 105 41 40 46 97 102 76 105 287 654 619 299 2471 Mộ Đức 76 26 21 38 75 68 39 74 261 570 427 238 1913 Đức Phổ 55 14 19 26 52 57 21 48 246 557 514 212 1821 Sa Huỳnh 53 3 3 6 73 90 25 42 223 458 311 120 1407 Lý Sơn 121 58 83 79 134 74 64 87 391 573 418 272 2354 Quảng Ngãi Lượng mưa hàng năm của vùng ven biển tỉnh Quảng Ngãi tương đối thấp so với các khu vực sườn núi phía Tây. Lượng mưa trung bình năm tại Đức Phổ khoảng 1,600mm; trong khi đó, lượng mưa ở khu vực sườn núi phía Tây khá lớn, có thời điểm lượng mưa đạt tới khoảng 2,300 mm tại Sơn Giang, 2,800 mm tại Ba Tơ, 2,500 mm tại Giá Vực. Mùa mưa tập trung trong các tháng từ tháng X đến tháng XI. 2.2.3. Chế độ khí áp và gió. Áp suất không khí (khí áp) trung bình nhiều năm của tỉnh Quảng Ngãi là 1009.3mb. Từ tháng X đến tháng III năm sau khí áp đạt giá trị cao hơn trung bình năm và đạt mức cao nhất vào tháng I (1015.4mb). Trong thời gian này, vùng chịu ảnh hưởng của hệ thống hoàn lưu cao áp cực đới và khí áp cao nhất xuất hiện khi không khí lạnh xâm nhập sâu xuống phía Nam. Theo thống kê, khí cáp cao nhất tuyệt đối đạt giá trị 1026.5mb vào ngày 22.02.1938. Từ tháng IV đến tháng IX khí áp đạt giá trị thấp hơn giá trị trung bình năm và đạt mức thấp nhất vào tháng VIII là 1003.5mb, thời gian này đồng thời là thời kỳ hoạt động mạnh và thường xuyên của các hệ thống áp thấp của vùng nhiệt đới ảnh 11 hưởng đến vùng cửa Sa Huỳnh nói riêng và tỉnh Quảng Ngãi nói chung. Khí áp thấp nhất xuất hiện khi có bão ảnh hưởng trực tiếp đến Quảng Ngãi đo được là 980mb vào tháng VIII năm 1957. Vùng ven biển tỉnh Quảng Ngãi chịu ảnh hưởng mạnh của chế độ hoàn lưu gió mùa và ảnh hưởng của địa hình sườn núi ven biển. Trong khu vực có hai mùa gió chính: - Mùa đông (từ tháng X năm trước đến tháng II năm sau), thời gian này trùng với thời gian hoạt động của hệ thống gió mùa Đông Bắc. Gió mùa Đông Bắc với tốc độ cao, thường gây ra sóng lớn có tác động mạnh đến với diễn biến xói lở - bồi tụ vùng ven bờ. - Mùa hè (từ cuối tháng IV đến hết tháng IX) trùng với thời gian hoạt động của hệ thống gió mùa Tây Nam. So với thời kỳ mùa Đông thì cường độ gió mùa hè có phần ôn hoà hơn. Về tốc độ gió lưu vực ven biển tỉnh Quảng Ngãi: tốc độ gió < 0.1m/s chiếm 50% tổng thời gian trong năm, tốc độ gió từ 0.1 – 3.9 m/s chiếm 45%; Phần còn lại là gió lớn gây ra do bão và gió mùa Đông Bắc từ tháng I đến tháng III. Tốc độ gió ngoài khơi có thể lớn hơn 25% so với vùng ven biển. Tốc độ gió cực đại lên tới 40m/s trong bão (thống kê tại cơn bão Hester đổ bộ vào Quảng Ngãi năm 1971). 2.2.4. Bão và áp thấp nhiệt đới. Bão và áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào bờ thường gây ra gió mạnh, mưa lớn, nước biển dâng cao, sóng lớn có thể gây ra ngập lụt và cùng một số thiên tai khác cho vùng đồng bằng tại sườn núi và vùng ven biển. Tại Quảng Ngãi, bão và áp thấp nhiệt đới thường đổ bộ vào bờ từ tháng VII đến tháng XI. Diễn biến bão vào bờ khá phức tạp qua các năm, có năm bão đến sớm hoặc muộn, có những năm hoàn toàn không có bão. Trong cơn bão mạnh nhất (theo thống kê năm 1971 – cơn bão Hester) đổ bộ trực tiếp vào tỉnh Quảng Ngãi có gió giật trên cấp 12, tốc độ gió đo được là 40m/s. Theo thống kê, trong vòng 40 – 50 năm trở lại đây, có khoảng 45 cơn bão và áp thấp nhiệt đới có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến vùng ven biển Quảng Ngãi. Bảng 1.4. Thống kê danh sách các trận bão đổ bộ vào khu vực bờ biển Tỉnh Quảng Ngãi 12 Vị trí đổ bộ Năm Tên cơn bão Thời gian đổ bộ Kinh độ W gió Vĩ độ mạnh Pmin nhất (mb) (m/s) 1971 Hester (7134) 23 – X Quảng Ngãi 40 Elsie (7218) 4 - IX Quảng ngãi 31 Flossie (7217) 16 – XI Nam Quảng Ngãi 18 8–X Nam Quảng Ngãi 23 Faye 7427 4 - XI Quảng Ngãi 26 Hester 15 – XI Phú Yên (Phú Khánh) 14 1975 Helen 4 – XI Bình Định 13 1977 Dinah - 7712 14/IX Quy Nhơn – Tuy Hoà 20 30/VI - 1/VII Nghĩa Bình – Phú Khánh 19 15/IX Quảng Nam – Đà Nẵng 17 ATNĐ 3/XI Phú Khanh 16 1979 Sarah - 7919 14/X Quảng Nam – Phú Khánh 16 Ruth - 8105 15/IX Quảng Ngãi – Bình Định 19 Cary 2/XI Quảng Ngãi – Phú Khánh 16 Fabian 14/X Quảng Ngãi – Thanh Hoá 16 ATNĐ 31/X Quảng Ngãi – Đà Nẵng 15 1982 Hope - 8216 7/IX Quảng Ngãi – Đà Nẵng 17 1984 Warren 1/XI Quảng Ngãi 34 ATNĐ 15/IX Quảng Nam – Quảng Ngãi 15 Cecil - 8521 15/X Quảng Ngãi – Quảng Bình 34 22/X Quảng Ngãi 24 11/XI Quảng Ngãi – Bình Định 20 19/XI Quảng Ngãi – Phú Khánh 20 1972 1973 Opal 1974 Shirley 1978 ATNĐ 1980 1981 1985 Georgia 1986 8622 Herbert 1987 Naury - 13 Vị trí đổ bộ Năm Tên cơn bão Thời gian đổ bộ Kinh độ W gió Vĩ độ mạnh Pmin nhất (mb) (m/s) ATNĐ 10/X Quảng Ngãi 24 1988 ATNĐ 15/X Quảng Ngãi – Phú Khánh 16 Skip - 8829 12/XI Quảng Ngãi – Đà Nẵng 28 Ceil - 8904 24/V Quảng Ngãi – Đà Nẵng 26 Dan - 8926 23/VII Quảng Ngãi 18 1992 Angela - 9220 17/X Quy Nhơn – Quảng Ngãi 20 1993 Kyle - 9325 23/XI 14 106 18 Vein - 9519 26/X 13,5 108,9 19 Zack - 9521 1/XI Nam Quảng Ngãi 1989 1995 40 Nam Quảng Ngãi – Nam thị 1997 Pritza - 9271 25/IX 1998 Faith - 9815 14/VII 12,9 109,4 24 1999 Elvis - 9921 20/X 17,4 106,6 24 2001 Kajiki - 0124 10/XII 14 –16 108 -110 20 Chantu - 0405 12/VI 14,2 ATNĐ 18 - 19/IX 15 –16 3/XI Đi dọc bờ biển Quảng Ngãi 2004 2005 Kaitak - 0521 xã Tam Kỳ 107 107,7 – 108,7 28 22 17 18 2.3. Đặc điểm về thuỷ, hải văn 2.3.1. Thuỷ hải văn và động lực ven bờ. a. Thuỷ triều. Bờ biển Tỉnh Quảng Ngãi trải dài trên năm huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Mộ Đức và Đức Phổ. Các con sông lớn của tỉnh đểu đổ ra biển theo các cửa sông chính như sông Trà Bồng đổ ra cửa Sa Cần; sông Trà Khúc đổ ra cửa Cổ Luỹ; sông Vệ đổ ra cửa Đức Lợi và sông Trà Câu đổ ra cửa Mỹ Á. 14 Tại cửa Sa Cần, chế độ bán nhật triều và nhật triều cân bằng nhau, trung bình mỗi tháng có ½ số ngày thể hiện chế độ nhật triều. Từ phía Bắc xuống phía Nam có chế độ thuỷ triều thay đổi phức tạp. Vùng cửa Mỹ Á và cửa Sa Huỳnh chịu ảnh hưởng chủ yếu của loại triều hỗn hợp, giữa nhật triều không đều và bán nhật triều không đều với độ lớn thuỷ triều trung bình chỉ từ 97 đến 122cm. Hướng dòng triều chủ đạo vào mùa Đông là hướng Tây Bắc, sau đến hướng Bắc với tốc độ trung bình là 30cm/s; tốc độ lớn nhất là 70cm/s. Trong mùa hè, hướng chủ đạo là Đông Nam, sau đó đến hướng Nam và Tây Bắc, tốc độ trung bình là 30cm/s, lớn nhất là 65cm/s. Những ngày nhật triều, thời gian triều lên trung bình từ 14 - 15 giờ, dài nhất lên đến 18 giờ, ngắn nhất là 12 giờ. Thời gian triều xuống 9 - 10 giờ, dài nhất 15 giờ, ngắn nhất 9 giờ. Những ngày bán nhật triều, thời gian triều lên mỗi lần thường 6 - 7 giờ. Thời gian triều xuống lần thứ nhất 3 - 4 giờ, lần thứ hai 6 - 7 giờ. Thời gian triều xuống ngắn nhất là 2 giờ, dài nhất là 9 giờ. Bảng 1.5: Đặc trưng mực nước nhiều năm Trạm (cách 5 6 7 8 1 2 3 4 9 10 11 12 TB -3 -13 -22 -26 -26 -30 -34 -24 4 38 22 21 -26 -32 -44 -41 -43 -49 -48 -43 -24 1 -62 -4 -49 20 10 -6 -4 68 92 50 68 -3 -12 -20 -23 -23 -27 -30 -21 2 33 40 18 -7 -23 -29 -39 -36 -37 -43 -41 -37 -21 0 10 -5 -43 16 8 -6 -5 60 66 44 60 3 -4 -10 -14 -14 -17 -19 -12 9 36 34 22 1 biển) Sa Kỳ (0,8km) Nă Tháng m -7 TB (min) TB (max) TB Cổ Lũy (0,9km) 8 -11 -17 -8 33 TB (min) TB (max) Đức Lợi TB 7 -11 -15 -8 28 15 Trạm (cách Tháng 1 2 3 4 -13 -18 -26 -15 14 1 5 6 7 8 9 10 12 -24 -25 -30 -28 -35 -12 7 8 3 -30 3 58 46 61 biển) (3,5km) Nă 11 m TB (min) TB (max) 12 -3 -7 0 32 61 b. Nước dâng. Nước dâng do bão: nguyên nhân do gió dồn nước mặt và do thay đổi khí áp trong bão hoặc áp thấp nhiệt đới. Khu vực ven biển Quảng Ngãi là vùng nước sâu, đáy có độ dốc lớn, nên nước dâng do bão quan trắc có trị số 1.6 m. Nước dâng do gió mùa: vùng ven biển Quảng Ngãi chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gây ra nước dâng trong mùa Đông. Hiệu ứng nước dâng do gió mùa không lớn như trong bão, nhưng diễn ra trong thời gian dài hơn. Vùng biển Quảng Ngãi chịu ảnh hưởng của bão và áp thấp chủ yếu vào trong tháng IX – tháng XI; đồng thời vào cuối mùa bão cũng là thời kỳ gió mùa hoạt động mạnh nhất. Vì vậy, nước dâng lớn nhất ven biển Quảng Ngãi thường là tổ hợp của bão, áp thấp nhiệt đới và gió mùa gây ra. 2.3.2. Sóng biển. Quảng Ngãi có thềm lục địa tương đối hẹp; vùng biển ven bờ nằm bên vùng nước sâu, nên sóng có điều kiện phát triển mạnh, với chế độ sóng như sau: Sóng ngoài khơi trong mùa Đông gồm các hướng sóng chính là Đông Bắc – Bắc. Trong mùa Hè, hướng sóng chính là Đông Nam – Nam Đông Nam. Ngoài ra, vùng còn chịu ảnh hưởng mạnh của sóng lừng. Theo số liệu nghiên cứu trường sóng ngoài khơi vùng biển cửa Mỹ Á của công ty KBR của Astralia từ vệ tinh, tại vị trí 15o N và 109.5o E, cách Mỹ Á 60km về phía Đông Bắc, ở độ sâu 200m với liệt số liệu liên tục trong 10 năm (1996 – 2005) cho thấy chiều cao sóng có nghĩa từ 0.5 – 1.5m. Ngoài ra, theo số liệu sóng thực đo trong vòng 2 ngày từ ngày 22/3/2005 đến ngày 23/3/2005 do Viện Khoa Học Thủy Lợi Việt Nam đo đạc theo hợp đồng ký kết với Công ty KBR, tại điểm đo 16 có tọa độ 14o50’ N; 109o00’ E (tại cửa Mỹ Á) cho thấy, chiều cao sóng truyền vào trong cửa có chiều cao trung bình 0.425 m. Hình 1.2. Vị trí điểm đo sóng và trích sóng. Bảng 1.6: Bảng thống kê sóng tại cửa Mỹ Á Thời gian Chiều cao sóng Hs(m) Chu kỳ sóng(s) Hướng sóng(độ) 22/3/2005 2:49 PM 0.6032 6.49 45 22/3/2005 3:49 PM 0.4153 5.88 45 22/3/2005 4:49 PM 0.4951 5.74 45 22/3/2005 5:49 PM 0.4449 6.15 45 22/3/2005 6:49 PM 0.4512 4.89 45 22/3/2005 7:49 PM 0.5547 4.38 45 22/3/2005 8:49 PM 0.5545 6.64 45 17 Thời gian Chiều cao sóng Hs(m) Chu kỳ sóng(s) Hướng sóng(độ) 22/3/2005 9:49 PM 0.5547 6.01 45 22/3/2005 10:49 PM 0.4169 6.28 45 22/3/2005 11:49 PM 0.4222 4.77 45 23/3/2005 12:49 AM 0.4849 6.31 45 23/3/2005 1:49 AM 0.5845 6 45 23/3/2005 2:49 AM 0.4846 5.59 45 23/3/2005 3:49 AM 0.3899 6.02 45 23/3/2005 4:49 AM 0.392 5.71 45 23/3/2005 5:49 AM 0.3033 5.63 45 23/3/2005 6:49 AM 0.4768 6 45 23/3/2005 7:49 AM 0.4257 6.1 45 23/3/2005 8:49 AM 0.3857 5.82 45 23/3/2005 9:49 AM 0.2941 5.55 45 23/3/2005 10:49 AM 0.3913 6.61 45 23/3/2005 11:49 AM 0.2902 5.37 45 23/3/2005 12:49 PM 0.2759 5.68 45 23/3/2005 1:49 PM 0.3243 5.82 45 23/3/2005 2:49 PM 0.3613 5.87 45 23/3/2005 3:49 PM 0.265 5.8 45 23/3/2005 4:49 PM 0.4415 6.65 45 Dải ven bờ chịu ảnh hưởng của hiện tượng sóng khúc xạ do ma sát đáy, nên ở ven bờ hướng sóng thay đổi so với ngoài khơi. Hơn nữa, do thềm lục địa ven biển Quảng Ngãi hẹp, biển có độ sâu lớn đê chắn sóngm theo đà gió dài nên sóng có điều kiện phát triển mạnh, nhất là vào thời kỳ gió mùa Đông Bắc. Cường độ sóng hoạt động trong mùa Đông mạnh mẽ hơn rất nhiều so với thời gian mùa Hè. Do mùa bão xảy ra chủ yếu trong tháng X – tháng XI, nên sóng lớn trong bão có thể quan sát thấy các hướng Bắc, Đông Bắc và Đông. 18 Bảng 1.7: Giá trị độ cao và chu kỳ sóng có nghĩa lớn nhất tại các khu vực Địa điểm Đặc trưng Góc sóng sóng N NE E SE S 6.6 5 3.6 3.6 5.7 T1/3 11.5 9.8 8.4 8.4 10.6 H1/3 2.99 7.71 1.8 - - 03/1999) T1/3 8 6.7 5.8 - - Lý Sơn H1/3 8.5 5.5 3.6 3.6 6.7 T1/3 10.6 8.9 7.5 7.5 9.6 Lý Sơn (Sóng tính từ gió tại độ sâu 26m, H1/3 1985-2004) Dung Quất (Sóng đo tại độ sâu 26m, 10/1998 – (Sóng tính từ gió cho vùng biển ngoài khơi) Dòng chảy ven biển Quảng Ngãi nằm trong hoàn lưu dòng chảy chung vùng biển Tây Đông, hệ thống dòng chảy phát sinh và chịu sự chi phối chính của hai hệ thống gió mùa: Gió mùa Đông Bắc – thời kỳ mùa Đông; và Gió mùa Tây Nam – thời kỳ mùa Hè. Dòng chảy ở đới ven bờ còn chịu sự chi phối của lũ từ trong sông chảy ra biển, địa hình cục bộ ven biển và độ sâu đáy biển nông ven bờ. Cấu trúc dòng chảy ở vùng biển ven bờ khá phức tạp, gồm hai thành phần chính: gồm dòng chảy tuần hoàn và phi tuần hoàn; Dòng triều chủ yếu là dòng nhật triều không đều; tốc đạ nhỏ nhất từ 10 – 15 cm/s. Dòng triều có tác dụng triệt tiêu các thành phần dòng dư nếu chảy ngược hướng và cùng cộng hưởng làm tăng tốc độ nếu chảy cùng hướng với dòng dư. Dòng ven bờ do sóng là khá lớn, hướng thịnh hành là hướng Tây Bắc – Đông Nam, với vận tốc lớn nhất có thể đạt 0.6 m/s gây ra vận chuyển mạnh bùn cát dọc bờ. III. Đặc điểm dân sinh kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu. 3.1. Đặc điểm dân sinh Đức Phổ là huyện đồng bằng ven biển nằm ở phía nam tỉnh Quảng Ngãi. Phía bắc giáp huyện Mộ Đức; phía nam giáp huyện Hoài Nhơn (tỉnh Bình Định); phía tây giáp huyện Nghĩa Hành và huyện Ba Tơ; phía đông giáp biển Đông. Hình thể của huyện trải dài theo bờ biển phía nam tỉnh Quảng Ngãi, có trục giao thông
- Xem thêm -