Tài liệu Nghiên cứu chọn tạo và phát triển một số dòng gà lông màu hướng trứng và thịt

  • Số trang: 106 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 55 |
  • Lượt tải: 0
nguyetha

Đã đăng 8490 tài liệu

Mô tả:

VIỆN CHĂN NUÔI BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU CHỌN TẠO VÀ PHÁT TRIỂN MỘT SỐ DÒNG GÀ LÔNG MÀU HƯỚNG TRỨNG VÀ THỊT CNĐT : PHÙNG ĐỨC TIẾN 8749 HÀ NỘI – 2010 B20-BCTK-BNN I. MỞ ĐẦU 1.1. Đặt vấn đề Trong thời gian qua, nhờ tiếp cận những thành tựu khoa học công nghệ của thế giới, ngành chăn nuôi gia cầm của Việt Nam nói chung và chăn nuôi gà nói riêng đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, so với một số nước trong khu vực và trên thế giới thì năng suất gia cầm ở Việt Nam còn thấp, giá thành cao, sức cạnh tranh trên thị trường kém. Để phát triển chăn nuôi gà, vấn đề đạt ra là phải có nhiều con giống tốt, trong khi đó các giống gà địa phương như gà Ri, Mía, Hồ, Đông Tảo… có chất lượng thịt, trứng thơm ngon nhưng năng suất thấp chưa được chọn lọc còn chiếm tỷ trọng cao (trên 70%). Do vậy trong những năm vừa qua nước ta đã phải chi nhiều ngoại tệ để nhập giống, nhưng chỉ nhập được con thương phẩm, bố mẹ hoặc ông bà một giới tính, nuôi trong điều kiện chuồng trại xuống cấp, thức ăn chưa được kiểm soát nên năng suất chỉ đạt 80-85% so với nguyên sản. Mặt khác tiến bộ di truyền thế giới liên tục đổi mới do vậy nước ta vẫn thường xuyên phải nhập giống. Thực tiễn hơn 10 năm qua đã chứng minh năm 1993 đã nhập gà Tam Hoàng 882, năm 1995 nhập gà Jiangcun là giống gà lông màu của Trung Quốc, năng suất trứng đạt 145-155quả/mái/năm, khối lượng cơ thể 77 ngày đạt 1,41,7kg/con. Sau thời gian nuôi thích nghi đã phát triển rộng khắp trong cả nước, sau đó phát triển chậm lại do không đáp ứng được đòi hỏi của thị trường về năng suất. Để thay thế cho gà Tam Hoàng, năm 1998 nước ta đã nhập giống gà Lương Phượng và nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường vì đây là giống gà có sản lượng trứng đạt 165-170 quả/mái/năm, khối lượng cơ thể lúc 70 ngày đạt 1,7-1,9kg/con, màu sắc lông đa dạng phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Vài năm gần đây do nhu cầu thị trường về con giống năng suất cao, thời gian nuôi ngắn (56 – 63 ngày tuổi) các giống gà lông màu như Sasso, ISA được nhập từ Cộng hoà Pháp; gà Kabir nhập từ Israel. Tuy nhiên, các giống gà này có màu sắc lông nâu đỏ đồng nhất và khả năng thích nghi kém, chất lượng thịt chưa cao nên chỉ phát triển ở phạm vi hẹp. Như vậy, thực tiễn sản xuất luôn luôn đòi hỏi phải có những giống 1 gà có các ưu điểm đáp ứng về màu sắc lông, năng suất, chất lượng sản phẩm cao, phù hợp với các phương thức nuôi tập trung và chăn thả. Về nghiên cứu chọn tạo giống ở nước ta mấy chục năm qua do chưa được quan tâm nên mới chỉ có một số công trình chọn tạo thành công: nhóm giống gà Rhoderi, hai dòng gà BT1, BT2. Các giống gà này đã có những đóng góp nhất định trong sản xuất nhưng chỉ trong thời gian ngắn. Trong những năm tới để thực hiện được mục tiêu của Bộ Nông nghiệp & PTNT đề ra đẩy mạnh phát triển gà lông màu năng suất chất lượng cao đảm bảo tỷ lệ giống TBKT đạt 45-50% trên tổng đàn gà thì công tác chọn tạo giống phải được đặc biệt quan tâm. Song, nếu vẫn như trước đây thì phải đầu tư nguồn ngoại tệ lớn để nhập giống. Vấn đề đặt ra là từ nguồn gen đã được chọn lọc giai đoạn 2001 – 2005 như các dòng gà LV, Ai Cập, HB5 và nhập mới, phải nghiên cứu tạo ra một số dòng gà lông màu tại Việt Nam đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của sản xuất. Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi đề nghị được triển khai đề tài: “Nghiên cứu chọn tạo và phát triển một số dòng gà lông màu hướng trứng và thịt” 1.2. Mục tiêu đề tài 1. Chọn tạo bộ giống gà thịt lông màu năng suất, chất lượng cao phục vụ chăn nuôi tập trung gồm 5 dòng: - Dòng trống TP4: Lông màu nâu cánh gián, khối lượng cơ thể 56 ngày tuổi đạt 2,2-2,3kg - Dòng mái TP1: Lông màu vàng nâu nhạt xám tro cườm cổ, năng suất trứng đạt 175-178 quả/mái/năm. - Dòng mái TP2: Lông màu vàng sám tro, cườm cổ, năng suất trứng đạt 170172 quả/mái/năm. - Dòng LV4: Lông màu vàng nâu nhạt xám tro cườm cổ, khối lượng cơ thể 56 ngày tuổi đạt 2,2- 2,4 kg. - Dòng LV5: Lông màu nâu cánh gián, khối lượng cơ thể 56 ngày tuổi đạt 2,1- 2,3 kg 2 Từ bộ giống trên tạo con thương phẩm có màu sắc lông vàng sám tro, khối lượng cơ thể lúc 63 ngày tuổi đạt 2,4-2,5 kg/con; tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng 2,45-2,55 kg. 2. Chọn tạo giống gà thịt chất lượng cao phục vụ chăn nuôi gia trại gồm 1 dòng: - Dòng trống VP2: Có mào nụ, khối lượng cơ thể lúc 56 ngày tuổi đạt 1,6 kg/con. Con thương phẩm có mào nụ, màu lông vàng sám tro, khối lượng cơ thể lúc 77 ngày tuổi đạt 1,7-1,9 kg/con; tiêu tốn thức ăn /kg tăng khối lượng 2,85-2,95 kg. 3. Chọn tạo 2 dòng gà lông màu hướng trứng năng suất, chất lượng trứng cao phục vụ chăn nuôi tập trung, gia trại: - Dòng RA: Có màu lông đốm vàng, sức đề kháng cao năng suất trứng 180 – 200 quả/mái/năm, khối lượng trứng 42 – 45g, màu sắc và chất lượng trứng tương đương gà Ri. - Dòng HA2: Có màu lông hoa mơ đên đốm trăng gần giống gà Ai Cập , sức đề kháng cao, năng suất trứng 235-240quả/mái/năm; khối lượng trứng 49- 52g Tạo con thương phẩm khả năng chống chịu tốt, phù hợp nuôi chăn thả, năng suất trứng 220-255 quả/mái/năm; khối lượng trứng 45 - 48g; tỷ lệ lòng đỏ đạt 3233%; tiêu tốn thức ăn 1,6-1,7 kg/10 trứng, màu vỏ trắng hồng. II. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Theo số liệu thống kê của tổ chức Nông lương thế giới – FAO, năm 2009 [30], tổng đàn gà trên thế giới là 14.191,1 triệu con, sản lượng thịt đạt 79,5 triệu tấn, sản lượng trứng đạt 55,827 triệu tấn, tốc độ tăng đầu con hàng năm bình quân 1%/năm. Châu Á có số lượng gà 9.101,3 triệu con và sản lượng thịt gà đạt 21.287,1 nghìn tấn Có được mức tăng trưởng nhanh như vậy là nhờ sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, đặc biệt trên lĩnh vực di truyền chọn tạo giống. Các nước có ngành gia cầm phát triển, ngoài việc chọn tạo thành công các giống gà công nghiệp có năng suất cao đã tiến hành nghiên cứu chọn lọc lai tạo thành công 3 giống gà lông màu phù hợp với phương thức nuôi chăn thả: Tại Pháp, hãng Sasso tạo ra bộ giống gà Sasso gồm có 17 dòng [35]. Từ đó, sản xuất gà bố mẹ có sản lượng trứng đạt 180 - 190 quả/mái, con lai thương phẩm nuôi thịt đến 63 ngày tuổi có khối lượng cơ thể đạt 2,2 - 2,3 kg/con. Hãng Hubbard đã tạo ra 7 dòng trống (hai dòng trống trắng và 5 dòng trống lông màu) và 06 dòng mái (03 dòng mái màu trắng và 03 dòng mái lông màu) và tuỳ thuộc vào nhu cầu sản phẩm cuối cùng của khách hàng để kết hợp với nhau tạo ra con thương phẩm công nghiệp có tốc độ sinh trưởng nhanh (khối lượng lúc 56 ngày tuổi đạt 3,3-3,7kg/con) hay gà thương phẩm lông màu có khối lượng cơ thể lúc 63 ngày tuổi đạt 2,1 – 2,4kg/con [34]. Công ty Kabir của Israel đã tạo ra bộ giống gà lông màu thích nghi tốt trong điều kiện khí hậu khô nóng và cho năng suất cao gồm 04 dòng để tạo gà bố mẹ có năng suất trứng đạt 185 quả/70 tuần tuổi, gà thương phẩm lúc 70 ngày tuổi có khối lượng cơ thể đạt 2,46 kg, tiêu tốn 2,28 kg thức ăn/kg tăng trọng [33]. Trung Quốc cũng thành công trên lĩnh vực tạo các giống gà lông màu nuôi chăn thả như: Tam Hoàng gồm có 02 dòng, Ma Hoàng, Lương Phượng có 3 dòng (01 dòng trống và 02 dòng mái) [36], Phật Sơn Hoàng..., đây là các giống gà có chất lượng thịt thơm ngon, màu sắc lông phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, năng suất trứng đạt 135 - 170 quả/mái/năm; con thương phẩm nuôi thịt đến 70 ngày tuổi có khối lượng cơ thể đạt 1,5 - 1,9 kg/con. Đồng thời với việc phát triển các giống gà thịt, nhiều hãng gia cầm trên thế giới cũng chú trọng đến chọn tạo các dòng gà chuyên trứng lông màu nổi tiếng như Goldline, Hyline, Brownnick, Bacok…, với thời gian khai thác đến 80 tuần tuổi, đạt năng suất trứng 310 - 320 quả/mái, khối lượng trứng đạt 58 - 60g/quả. Giống gà trứng chăn thả của Ai Cập có năng suất trứng đạt 200 quả/mái, chất lượng trứng thơm ngon Các phương pháp chọn tạo hiện đại đối với gia cầm đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng. Bharat Bhushan, Singh. RV, Bhushan-B, 1995 [26] nghiên cứu về di truyền của các tính trạng sinh trưởng ở gà cho biết. Hệ số di truyền h2S của các tính trạng 4 khối lượng cơ thể 6 và 8 tuần tuổi tương ứng là 0,3 và 0,39. Kumar. S; Singh. RP; Kumar. J; Singh. D, 1996 [31], nghiên cứu về cải tiến dòng mái gà hướng thịt thông qua chỉ số chọn lọc. Các tính trạng được nghiên cứu là khối lượng cơ thể 6 tuần tuổi, 20 tuần tuổi, tuổi đẻ quả trứng đầu, số lượng trứng 40 tuần tuổi và khối lượng trứng tại 32 tuần tuổi. Chỉ số chọn lọc kết hợp thông tin của 5 thế hệ tạo ra độ chính xác của chọn lọc cũng như sự kết hơp tối đa tiến bộ di truyền. Theo Yelizarov. YS, 1997 [32] gà trống được đánh giá chọn lọc tại các tuần tuổi thứ 6; 7 hoặc 9, dựa vào khối lượng sống và hình thể của chúng. Sau khi đánh giá chúng được nuôi theo mức dinh dưỡng hạn chế và theo dõi khối lượng cơ thể. Tương tự gà mái cũng được nuôi theo mức dinh dưỡng hạn chế sau khi đánh giá tại tuần tuổi thứ 6 và theo dõi khối lượng cơ thể. Ememrson. DA, 1997 [28] khái quát về các phương pháp hiện đang được áp dụng trong nhân giống gia cầm thương phẩm, chọn lọc đàn lớn đối với tính trạng khối lượng cơ thể đã giảm đáng kế số ngày cần phải nuôi gia cầm cho đến khi đạt khối lượng bán thịt và làm cải thiện gián tiếp đến tính trạng chuyển hoá thức ăn. Sản lượng trứng cũng là một tính trạng số lượng, nó có ý nghĩa quan trọng trong chọn lọc dòng mái của gà hướng thịt. Theo Foster và CS, 1987 [29] thì sản lượng trứng ở gà thịt được đóng góp bởi hai yếu tố chính là tuổi thành thục sinh dục và tỷ lệ đẻ trứng. Lerner và Cruden, 1947 (dẫn theo Nguyễn Văn Đức, Trần Long và CS, 2006) [7] khẳng định rằng năng suất trứng 3 tháng đẻ đầu có mối tương quan di truyền cao với năng suất trứng cả năm (rG = 0,85) nên người ta chỉ cần chọn giống theo năng suất trứng 3 tháng đẻ đầu để đánh giá và chọn lọc chỉ tiêu này, vừa có lợi về kinh tế, vừa có lợi tăng nhanh tiến bộ di truyền. Kinney xác định hệ số di truyền sản lượng trứng của gà nặng cân h2S = 0,36; h2D = 0,20; h2S+D = 0,25. Cruden, 1951 hệ số di truyền sản lượng trứng của gà thịt là 0,33. Pencheva, 1974 xác định hệ số di truyền sản lượng trứng 3 tháng đẻ đầu là 0,22. Syvasamy và CS, 1976 là 0,14 . Các tác giả Chhikapara B.S. và cộng sự, 1985 [27] cho rằng nếu chọn lọc 5 dựa vào sản lượng trứng của một thời gian đẻ đầu thì hiệu quả chọn lọc sẽ thấp hơn là dựa vào sản lượng trứng của cả chu kỳ đẻ, nhưng tiến bộ di truyền thì cao hơn do rút ngắn được khoảng cách thế hệ. Nhờ áp dụng các tiến bộ về di truyền chọn giống và các kết quả nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật vào sản xuất mà khối lượng thịt xuất chuồng/con và sản lượng thịt ở các nước trên thế giới không ngừng tăng lên 2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước Sau hơn 20 năm đổi mới, ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi gia cầm nói riêng đã có những kết quả đáng ghi nhận. Từ 218 triệu con năm 2001 tăng lên 254 triệu con vào năm 2003 (tốc độ tăng đàn giai đoạn 2001-2003 là 8,5%/năm); từ cuối năm 2003 do ảnh hưởng dịch cúm gia cầm nên đã làm giảm tổng đàn gia cầm xuống còn 214,5 triệu con năm 2006, tuy nhiên đến năm 2009 đầu con gia cầm đã tăng lên đạt 280,181triệu con (tốc độ tăng đàn giai đoạn 2006-2009 là 10,2%/năm). Sản lượng thịt và trứng năm 2001 là 308 ngàn tấn và 4022,5 triệu quả đã tăng lên 518,3 ngàn tấn và 5419,423 triệu quả trứng (đạt 6,03kg thịt gia cầm và 63 quả trứng/đầu người) [10]. Chăn nuôi gà phát triển nhanh đã đáp ứng được nhu cầu thực phẩm trong nước và từng bước hướng ra xuất khẩu. Trong những năm gần đây, nhiều giống gà chăn thả lông màu đã được nhập vào nước ta do có ưu điểm: lông màu, dễ nuôi, thịt ngon, khả năng cho thịt cao, sinh sản tốt như: Tam Hoàng 882 của Trung Quốc nhập năm 1993 [9], Tam Hoàng Jiangcun của Trung Quốc nhập năm 1995 [9]; Lương Phượng của Trung Quốc nhập năm 2000 [22]; Kabir của Israel nhập năm 2000 [23]; gà chăn thả của Ai Cập nhập năm 1997 [17]; ISA Color nhập năm 2000 [18]…. Các giống gà này đã cung cấp hàng năm cho thị trường hàng chục triệu con giống gà lông màu nuôi thịt tuy nhiên chúng ta không chủ động được con giống trong sản xuất. Từ nguyên liệu các giống gà nhập nội trên cùng với nguồn gen trong nước, đã có một số công trình nghiên cứu chọn tạo các giống gà năng suất, chất lượng cao phù hợp với điều kiện Việt Nam: Bùi Quang Tiến, Nguyễn Hoài Tao và cộng sự, 1985 [14] đã tạo ra giống gà kiêm dụng Rhoderi có sản lượng trứng cao hơn gà Ri 27%, khối lượng trứng cao 6 hơn gà Ri 8,6%. Trần Công Xuân, Phùng Đức Tiến và cộng sự, 2004 [24] đã nghiên cứu chọn tạo 3 dòng gà LV, đã được công nhận là dòng ông bà và được đưa vào danh mục giống gốc quốc gia. Nguyễn Huy Đạt, Hồ Xuân Tùng và cộng sự, 2004 [4] đã tiến hành nghiên cứu chọn tạo hai dòng gà Ri cải tiến có năng suất, chất lượng cao phục vụ chăn nuôi trong nông hộ. Phùng Đức Tiến, Nguyễn Thị Mười và cộng sự, 2004 [17] đã nghiên cứu chọn lọc nhân thuần dòng gà chăn thả của Ai Cập có chất lượng và màu sắc vỏ trứng được thị trường ưa chuộng và đã được Hội đồng Khoa học Bộ Nông nghiệp & PTNT công nhận là dòng thuần và được đưa vào danh mục giống gốc quốc gia. Công tác chọn lọc nâng cao năng suất các giống gà nội cũng đã được tiến hành. Nguyễn Huy Đạt, Vũ Thị Hưng và cộng sự, 2004 [3] đã nghiên cứu chọn lọc nâng cao năng suất gà Ri vàng rơm. Một số công trình nghiên cứu về tổ hợp lai cũng đã được triển khai: Lê Thị Nga, Nguyễn Đăng Vang và cs, 2004 [12] nghiên cứu lai kinh tế giữa gà Kabir với gà tam Hoàng Jiangcun cho thấy con lai có khối lượng cơ thế lúc 12 tuần tuổi đạt 2,22-2,29kg/con; cao hơn gà Tam Hoàng Jiangcun 21-24%. Lê Thanh Hải, Lê Hồng Dung và cs, 1997 [8] cho lai gà Tiền Giang với gà Tam Hoàng tạo ra con lai có khối lượng cơ thể cao hơn gà Tiền Giang. Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Huy Đạt và cs, 2001 [13] đã cho lai trống Kabir với mái Ri, kết quả cho thấy con lai nuôi thịt đến 12 tuần tuổi có khối lượng cơ thể đạt 1,68kg/con (cao hơn gà Ri 60 - 70%); tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng là 3,17 kg (thấp hơn gà Ri 10,7%). Trần Công Xuân, Vũ Xuân Dịu và cs, 2004 [25] đã nghiên cứu tạo tổ hợp lai giữa gà trống Sasso dòng X44 với gà mái Lương Phượng hoa. Kết quả cho thấy con lai có khả năng tăng trọng nhanh, tiêu tốn thức ăn thấp và đã được Hội đồng Khoa học Bộ Nông nghiệp & PTNT công nhận là TBKT và cho phép phát triển rộng rãi vào sản xuất. Như vậy, qua các kết quả nghiên cứu trên cho thấy con lai có ưu thế lai so 7 với trung bình bố mẹ trên các chỉ tiêu kĩ thuật (khối lượng cơ thể, tiêu tốn thức ăn, tỉ lệ nuôi sống…). Các tổ hợp lai giữa các giống gà nhập nội và các giống gà nội để tạo ra con lai vừa có được các đặc tính quý của gà nội như: dễ nuôi, chất lượng thịt thơm ngon, màu sắc lông phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, lại vừa kế thừa được các đặc tính tốt của gà ngoại như: năng suất thịt, sản lượng trứng cao, chi phí thức ăn thấp, tăng hiệu quả kinh tế. III. CÁCH TIẾP CẬN Trên cơ sở tổng quan các tài liệu nước ngoài và trong nước về kết quả nghiên cứu di truyền chọn giống, đặc điểm di truyền các tính trạng về năng suất sinh sản, sinh trưởng, tiêu tốn thức ăn, tỷ lệ phôi, tỷ lệ nở, màu sắc lông, chất lượng thịt, trứng… Nghiên cứu ưu thế lai, dinh dưỡng, thú y phòng bệnh để lựa chọn phương pháp nghiên cứu, giải pháp công nghệ tiến hành chọn tạo các dòng gà phù hợp với điều kiện Việt Nam. Từ các nguồn gen các giống gà hiện có trong nước và nhập ngoại tiến hành phân tích đánh giá giá trị giống của các dòng, chọn lựa nguồn nguyên liệu để chọn tạo các dòng mới có các tính trạng mong muốn về năng suất, chất lượng thịt, trứng cao màu sắc lông phù hợp thị hiếu thị trường. Nguồn nguyên liệu sử dụng để chọn tạo dòng trống TP4 là gà Sasso dòng X44 được nhập từ Cộng hoà Pháp. Đây là gà bố mẹ có tính ưu việt về khả năng tăng trọng nhanh, khối lượng 56 ngày tuổi đạt 2,1-2,2 kg/con; Tuy vậy gà X44 có màu lông nâu sẫm và khả năng chống chịu kém, vì vậy trong quá trình chọn tạo cần phải nâng cao tính trạng sinh trưởng và sức đề kháng để trở thành dòng trống trong hệ thống giống hình tháp sản xuất gà thương phẩm cho năng suất thịt cao. Nguyên liệu sử dụng để chọn tạo ra dòng mái TP1 và TP2 là gà LV2 và SA31: Gà LV2 có nguồn gốc từ gà Lương Phượng hoa Trung quốc, qua nhiều thế hệ nuôi thích nghi và chọn tạo đã được công nhận từ kết quả của đề tài trọng điểm cấp Bộ giai đoạn 2001-2005. Dòng gà LV2 có ưu điểm dễ nuôi, màu lông đa dạng , chất lượng thịt thơm ngon, sản lượng trứng 165-167 quả/mái/năm. Gà SA31 có nguồn gốc từ Pháp, có ưu điểm năng suất trứng cao 188 quả/mái/năm, màu lông nâu sẫm nhưng khả năng chống chịu kém. Từ các nguồn gen trên sẽ chon tạo được các dòng mái mang đặc điểm màu sắc lông, sức đề kháng tốt như 8 gà LV, năng suất trứng cao đạt tương đương gà SA31. Gà Đông Tảo là giống gà địa phương của Việt Nam, có ưu điểm mào nụ thích hợp với thị trường, dễ nuôi, năng suất trứng thấp (60-70 quả/mái/năm). Sử dụng nguồn gen gà Đông Tảo để tạo ra dòng gà có năng suất được cải tiến, chất lượng sản phẩm ngon như gà nội phục vụ chăn nuôi gia đình. Gà Ri là giống gà nội có sức sống cao, chất lượng thịt, trứng thơm ngon nhưng năng suất thấp (125-130 quả/mái/năm). Gà HB5 là giống gà ISA của Pháp, gà có đặc điểm chân lùn, lông màu nâu nhạt, năng suất trứng 170-173 quả/mái/năm, tiêu tốn thức ăn/10 trứng thấp (1,71,8 kg). Đã được công nhận từ kết quả của đề tài trọng điểm cấp Bộ giai đoạn 2001-2005. Gà có mầu sắc lông nâu vàng, nhu cầu đòi hỏi thức ăn thấp. Gà Ai cập có nguồn gốc từ Ai cập thích nghi tốt với điều kiện khí hậu nóng ẩm, chất lượng trứng thơm ngon, năng suất trứng đạt 200 quả/mái/năm. Gà Hyline là giống gà chuyên trứng nhập từ Mỹ, năng suất trứng cao 280300 quả/mái/năm, chất lượng trứng chưa cao, màu sắc vỏ trứng nâu, tỷ lệ lòng đỏ thấp 26-27%. Trên cơ sở khai thác tiềm năng di truyền về các tính trạng ưu việt từ các dòng gà hiện có tiến hành chọn lựa nguyên liệu để ghép phối tạo các dòng mới hội tụ được các đặc tính tốt về năng suất, chất lượng và sức đề kháng. Đề tài áp dụng các phương pháp phân tích di truyền đồng dạng, chọn lọc định hướng các tính trạng mong muốn thông qua nguồn thông tin bản thân và tổ tiên. Qua các thế hệ xác định các tham số di truyền: Hệ số di truyền (h2) về khối lượng cơ thể và sản lượng trứng, xác định ly sai chọn lọc (S) hiệu quả chọn lọc (R) và tiến bộ di truyền (∆g). Từ các dòng gà chọn tạo tiến hành các công thức lai áp dụng phương pháp phân lô so sánh để đánh giá khả năng phối hợp và ưu thế lai. Đồng thời tiến hành khảo nghiệm các dòng chọn tạo và con lai thương phẩm trong sản xuất, hoàn thiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng, thú y phòng bệnh phù hợp với các dòng gà mới và con thương phẩm. 9 IV. VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4.1. Vật liệu và nội dung nghiên cứu 4.1.1. Chọn tạo 4.1.1.1. Chọn tạo bộ giống gà thịt năng suất cao phục vụ chăn nuôi tập trung gồm 5 dòng: - Dòng trống TP4 từ nguyên liệu gà Sasso X44 - Dòng mái TP1 từ nguyên liệu gà trống LV2 và gà mái SA31L (cố định 1/2 máu SA31L). - Dòng mái TP2 từ nguyên liệu gà trống LV3 và gà mái F1 (trống LV2 x mái SA31L) (cố định 3/4 máu LV) . - Dòng LV4 từ nguyên liệu gà trống X44 và gà mái LV1. - Dòng LV5 từ nguyên liệu gà trống Kabir và gà mái LV1. Xác định vị trí các dòng gà trong hệ thống giống: Hệ thống1: Dòng thuần: TP4 x TP4 Ông Bà: TP4 Bố mẹ: TP4 Thương phẩm: TP1 x TP1 TP1 x TP2 xTP2 x TP2 TP12 TP412 Hệ thống 2: Dòng thuần: TP4 x TP4 Ông Bà: TP4 Bố mẹ: TP4 Thương phẩm: TP2 x TP2 TP2 x TP1 xTP1 x TP21 TP421 10 TP1 Hệ thống 3: Ông Bà: LV4 Bố mẹ: x LV5 LV45 x Thương phẩm: LV23 LV4523 4.1.1.2. Chọn tạo được dòng gà thịt chất lượng cao phục vụ chăn nuôi gia trại: - Dòng trống mào nụ VP2 từ nguyên liệu gà Đông Tảo, gà LV2. Xác định vị trí các dòng gà trong hệ thống giống: Ông Bà VP2 x VP2 Bố mẹ: VP2 x Thương phẩm: R1 VR21 4.1.1.3. Chọn tạo 2 dòng gà lông màu hướng trứng cho năng suất, chất lượng trứng cao: - Dòng HA2 từ nguyên liệu gà trống Ai Cập và gà mái F1 (trống Hyline x mái Ai Cập). - Dòng RA từ nguyên liệu gà Ri vàng rơm và Ai Cập: Xác định vị trí các dòng gà trong hệ thống giống: Hệ thống 1 Ông Bà HA2 x HA2 Bố mẹ: HA 2 x Thương phẩm: HA12 Hệ thống 2 Ông Bà: Bố mẹ: Thương phẩm: RA HB5 x x RA RA HBRA 11 HA1 4.1.2. Xác định ưu thế lai * Đánh giá năng suất bố mẹ Dòng mái TP12 (Trống TP1 x mái TP2) Dòng mái TP21 (Trống TP2 x mái TP1) * Công thức lai thương phẩm 2 máu Gà TP41 (Trống TP4 x Mái TP1) Gà TP42 (Trống TP4 x Mái TP2) * Công thức lai thương phẩm 3 máu Gà TP412 (Trống TP4 x mái TP12) Gà TP421 (Trống TP4 x mái TP21) * Công thức lai thương phẩm 4 máu Gà LV4523 (Trống LV45 x mái LV23) * Tổ hợp lai thịt chất lượng cao Gà VR21 (Trống VP2 x Mái R1) * Tổ hợp lai trứng chất lượng cao Gà HA12 (Trống HA1 x mái HA2) Gà HBRA (Trống HB5 x mái RA) 4.1.3. Xác định tham số di truyền Hệ số di truyền h2; Li sai chọn lọc S; Hiệu quả chọn lọc R; Tiến bộ di truyền 4.1.4. Xây dựng quy trình nuôi dưỡng chăm sóc - Quy trình chăn nuôi gà sinh sản hướng thịt năng suất cao - Quy trình chăn nuôi gà sinh sản hướng thịt chất lượng cao - Quy trình chăn nuôi gà thịt theo phương thức tập trung - Quy trình chăn nuôi gà thịt cho chăn nuôi gia trại - Quy trình chăn nuôi gà sinh sản hướng trứng theo phương thức tập trung - Quy trình chăn nuôi gà sinh sản hướng trứng cho chăn nuôi bán chăn thả 4.2. Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng Nội dung 1. Chọn tạo 12 1. Sơ đồ công nghệ: * Sơ đồ công nghệ tạo dòng gà hướng thịt TP1, TP2 và TP4 ♂LV2 x ♀SA31L ♂LV3 x ♀F1(LV2 x SA31L) ♂X44 x TH1 giao phối ngẫu nhiên TH2 Chọn lọc theo định hướng, cố định dòng TH1 giao phối ngẫu nhiên ♀X44 TH1 giao phối ngẫu nhiên TH2 TH2 Chọn lọc theo định hướng, cố định Chọn lọc theo định hướng, dòng cố định dòng TP1 TP2 TP4 * Sơ đồ công nghệ tạo dòng gà hướng thịt LV4, LV5 và VP2 ♂ X44 x ♀ LV1 ♂ Kabir x ♀ LV1 ♂ §«ng T¶o x ♀ LV2 TH1 giao phối ngẫu nhiên TH1 giao phối ngẫu nhiên TH1 giao phối ngẫu nhiên TH2 TH2 TH2 Chọn lọc theo định hướng, Chọn lọc theo định hướng, cố Chọn lọc theo định hướng, cố cố định dòng định dòng định dòng LV4 LV5 VP2 * Sơ đồ công nghệ tạo 02 dòng gà hướng trứng HA2 và RA ♂ Ri vµng r¬m x ♂ Ai CËp x ♀ F1 (♂ Hyline (AB) x ♀ Ai cËp) ♀ Ai cËp TH1 giao phối ngẫu nhiên TH1 giao phối ngẫu nhiên TH2 TH2 Chọn lọc theo định hướng, cố định dòng Chọn lọc theo định hướng, cố định dòng HA2 RA 2. Các bước chọn lọc cố định dòng: - Bước 1: Khảo sát đánh giá chọn lọc nguyên liệu - Bước 2: Tạo thế hệ 1 từ nguyên liệu đã chọn lọc. - Bước 3: Cho ngẫu giao tạo thế hệ 2, chọn lọc bằng phương pháp phân tích 13 di truyền đồng dạng các tính trạng, chọn quần thể ưu tú với kiểu di truyền tương đồng về tính trạng năng suất trứng cao và màu sắc lông theo định hướng. - Bước 4: Cố định dòng bằng phương pháp nhân giống dòng thuần để bảo tồn tính trạng chọn lọc, mỗi dòng xây dựng tối thiểu 20 gia đình cá thể, áp dụng quy luật tuần hoàn luân chuyển trống để tránh cận huyết của H. Redroso, 1975. Sơ đồ phối giống tuần hoàn trống cho 20 gia đình cá thể 1 2 3 4 5 6 20 7 19 8 18 9 17 10 16 15 14 13 12 11 3. Chăm sóc và chế độ dinh dưỡng Đối với các dòng gà hướng thịt TP4, TP1, TP2, LV4, LV5, VP2 - Giai đoạn 0-8 tuần tuổi cho ăn tự do để đánh giá khả năng sinh trưởng - Giai đoạn hậu bị (9-20) tuần tuổi cho ăn hạn chế để khống chế khối lượng - Giai đoạn sinh sản cho ăn theo tỷ lệ đẻ Đối với các dòng gà hướng trứng: HA2, RA - Giai đoạn 0-9 tuần tuổi cho ăn tự do - Giai đoạn hậu bị (10-19) tuần tuổi cho ăn hạn chế để khống chế khối lượng - Giai đoạn sinh sản cho ăn theo tỷ lệ đẻ Chế độ dinh dưỡng được áp dụng theo quy trình đối với từng dòng 4. Phương pháp chọn lọc các tính trạng Đối với các dòng gà hướng thịt TP4, TP1, TP2, LV4, LV5, VP2 - Tính trạng về khả năng sinh trưởng : Đối với dòng trống: chọn lọc khối lượng cơ thể tại thời điểm 56 ngày tuổi là quan trọng nhất: tiến hành cân cá thể và sẽ lựa chọn những cá thể có khối lượng từ cao xuống thấp với tỷ lệ chọn lọc con trống: 11 - 12% và con mái; 50 - 60%. Đối với dòng mái: chọn lọc tính trạng khối lượng cơ thể tại thời điểm 56 ngày 14 tuổi: tiến hành cân cá thể: Tỷ lệ chọn lọc đối với gà trống là 12 – 12,5% (căn cứ vào năng suất trứng của mẹ và lấy những cá thể ≥Xtb), đối với gà mái là 60 -62% (căn cứ vào năng suất trứng của mẹ và ổn định về khối lượng) . Giai đoạn 140 ngày tuổi đối với tất cả các dòng chọn loại những cá thể không đảm bảo tiêu chuẩn giống, chọn đàn giống vào đẻ có các chỉ tiêu về khối lượng, màu sác lông da, hình dáng đạt yêu cầu. - Tính trạng về khả năng sinh sản: Đối với dòng trống: theo dõi cá thể về năng suất trứng từ 24 - 38 tuần, năng suất trứng chọn lọc bình ổn. Đối với dòng mái: theo dõi cá thể về năng suất trứng 3 tháng đẻ đầu, áp dụng phương pháp chọn lọc cá thể kết hợp với năng suất gia đình, các cá thể được chọn lọc đưa vào đàn hạt nhân tạo thế hệ sau có năng suất trứng ≥Xtb (tỷ lệ chọn lọc 45 – 55%) . Thứ tự ưu tiên các tính trạng trong quá trình chọn lọc đối với dòng trống: + Khối lượng cơ thể 56 ngày tuổi + Sản lượng trứng đến 38 tuần tuổi + Khối lượng trứng 37-38 tuần tuổi + Khối lượng cơ thể 140 ngày tuổi + Khối lượng cơ thể 266 ngày tuổi Thứ tự ưu tiên các tính trạng trong quá trình chọn lọc đối với dòng mái: + Sản lượng trứng đến 38 tuần tuổi + Khối lượng cơ thể 56 ngày tuổi + Khối lượng trứng 37-38 tuần tuổi + Khối lượng cơ thể 266 ngày tuổi Đối với các dòng gà hướng trứng HA2, RA: Gà trống: Tỷ lệ chọn lọc khoảng 12% lúc 63 ngày tuổi (căn cứ vào năng suất trứng của mẹ). Gà mái: theo dõi cá thể về năng suất trứng 3 tháng đẻ đầu, áp dụng phương pháp chọn lọc cá thể kết hợp với năng suất gia đình, các cá thể được chọn lọc đưa vào đàn hạt nhân tạo thế hệ sau có năng suất trứng ≥Xtb (tỷ lệ chọn lọc là 48-50%). Thứ tự ưu tiên các tính trạng chọn lọc như sau: 15 + Sản lượng trứng đến 38 tuần tuổi + Khối lượng trứng 37-38 tuần + Khối lượng cơ thể 133 ngày + Khối lượng cơ thể 266 ngày + Khối lượng cơ thể 63 ngày Nội dung 2. Xác định ưu thế lai Sử dụng phương pháp phân lô so sánh theo kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn một nhân tố để đánh giá ưu thế lai của các tổ hợp lai sau: 2.1. Tổ hợp lai thịt năng suất cao * Tổ hợp lai bố mẹ TP12, TP21 - Sơ đồ bố trí thí nghiệm: Lô 1 Lô 2 Lô 3 Lô 4 ♂TP1 x ♀TP1 ♂ TP1 x ♀TP2 ♂ TP2 x ♀TP1 ♂ TP2 x ♀TP2 ↓ ↓ ↓ ↓ TP1 TP12 TP21 TP2 n=12 trống + 100 mái n=12 trống + 100 mái n=12 trống + 100 mái n=12 trống + 100 mái - Địa điểm: Trung tâm NCGC Thuỵ Phương - Thời gian: tháng 9/2008 – 12/2009 - Thí nghiệm được lặp lại 02 lần * Tổ hợp lai thương phẩm 2 máu Lô 1 Lô 2 Lô 3 Lô 4 Lô 5 ♂TP4 x ♀TP4 ♂TP4 x ♀TP1 ♂TP4 x ♀TP2 ♂TP1 x ♀TP1 ♂TP2 x ♀TP2 ↓ ↓ ↓ ↓ ↓ TP4 TP41 TP42 TP1 TP2 n = 100 con n = 100 con n = 100 con n = 100 con n = 100 con Lô 4 Lô 5 - Địa điểm: Ba Vì – Hà Nội - Thời gian: tháng 7 – 10 năm 2009 - Thí nghiệm được lặp lại 02 lần * Tổ hợp lai thương phẩm 3 máu Lô 1 Lô 2 Lô 3 ♂TP4 x ♀TP4 ♂TP4 x ♀TP12 ♂TP4 x ♀TP12 ♂TP12 x ♀TP12 ♂TP21 x ♀TP21 ↓ ↓ ↓ ↓ ↓ TP4 TP412 TP421 TP12 TP421 n = 100 con n = 100 con n = 100 con n = 100 con n = 100 con 16 - Địa điểm: Ba Vì – Hà Nội - Thời gian: tháng 7 – 10 năm 2009 - Thí nghiệm được lặp lại 02 lần * Tổ hợp lai thương phẩm 4 máu Lô 1 ♂LV45 x ♀LV45 Lô 2 ♂LV45 x ♀LV23 Lô 3 ♂LV23 x ♀LV23 ↓ LV45 ↓ LV4523 ↓ LV23 n = 100 con n = 100 con n = 100 con - Địa điểm: Trung tâm NC và chuyển giao TBKT chăn nuôi - Thời gian: tháng 7 – 10 năm 2009 - Thí nghiệm được lặp lại 02 lần 2.2. Tổ hợp lai trứng chất lượng cao * Gà HA12 (Trống HA2 x mái HA1) Lô 1 Lô 2 Lô 3 ♂HA2 x ♀HA2 ♂HA2 x ♀HA1 ♂HA1 x ♀HA1 ↓ HA2 ↓ HA12 ↓ HA1 n = 12 trống + 100 mái n = 12 trống + 100 mái n = 12 trống + 100 mái - Địa điểm: Trung tâm NCGC Thuỵ Phương - Thời gian: tháng 9/2008 – 12/2009 - Thí nghiệm được lặp lại 02 lần * Gà HBRA (Trống HB5 x mái RA) Lô 1 Lô 2 Lô 3 ♂HB5 x ♀HB5 ♂HB5 x ♀RA ♂RA x ♀RA ↓ HB5 ↓ HBRA ↓ RA n = 12 trống + 100 mái n = 12 trống + 100 mái n = 12 trống + 100 mái - Địa điểm: Trung tâm NC và huấn luyện chăn nuôi - Thời gian: tháng 9/2008 – 12/2009 - Thí nghiệm được lặp lại 02 lần Nội dung 3: Phân tích các tham số di truyền Lập hệ thống số sách theo dõi cá thể về các tính trạng chọn lọc của từng thế hệ để tính một số tham số di truyền: Hệ số di truyền h2; Li sai chọn lọc S; Hiệu quả chọn lọc R; Tiến bộ di truyền . 17 Sử dụng phương pháp phân tích các thành phần phương sai với các số liệu thu được từ hệ thống giao phối theo hệ phả (biết rõ bố, mẹ và các con) do King và Hamderson (1954) để xác định hệ số di truyền. Nội dung 4: Xây dựng quy trình phù hợp từng dòng khác nhau Trên cơ sở tập hợp, phân tích các tư liệu quy trình đã công bố về chăn nuôi gà sinh sản hướng thịt, hướng trứng và con lai thương phẩm; tiến hành theo dõi, thu thập số liệu để đánh giá, phân tích chế độ dinh dưỡng, tiêu chuẩn ăn lên các đàn giống mới chọn tạo để hoàn thiện được quy trình chăn nuôi phù hợp. Nội dung 5: Xây dựng mô hình Lựa chọn hộ chăn nuôi tiêu biểu cho phương thức sản xuất của vùng để tiến hành xây dựng mô hình. Chuyển giao giống được chọn tạo và áp dụng các quy trình chăn nuôi tiên tiến cho các hộ. Cử cán bộ xuống trực chỉ đạo về kỹ thuật chăn nuôi, thú y phòng bệnh và đánh giá hiệu quả mô hình. 5.1. Xây dựng mô hình chăn nuôi gà sinh sản hướng thịt năng suất cao ở Miền Bắc - Gà bố mẹ TP12 và TP21 (500 con/dòng) theo phương thức nuôi tập trung. - Địa điểm: Tản Lĩnh, huyện Ba Vì - Hà Nội - Thời gian: từ tháng 9 năm 2009 đến tháng 12 năm 2010 5.2. Xây dựng mô hình chăn nuôi gà sinh sản hướng thịt năng suất cao ở Miền Nam - Gà LV4 và LV5 (1000 con) theo phương thức nuôi tập trung. - Địa điểm: huyện Thống Nhất - Đồng Nai - Thời gian: từ tháng 7 năm 2009 đến tháng 11 năm 2010 5.3. Xây dựng mô hình chăn nuôi gà sinh sản hướng thịt chất lượng cao - Gà bố mẹ VP2: 200con/mô hình x 3 mô hình (MH) và nuôi theo phương thức bán chăn thả - Địa điểm: Thanh Mai – Thanh Oai – Hà Nội - Thời gian: từ tháng 8 năm 2009 đến tháng 11 năm 2010 5.4. Xây dựng mô hình chăn nuôi gà sinh sản hướng trứng theo phương thức nuôi tập trung - Gà bố mẹ HA2 (1000 con) theo phương thức nuôi tập trung. - Địa điểm: Huyện Đông Anh – Hà Nội - Thời gian: từ tháng 4 năm 2009 đến tháng 9 năm 2010 5.5. Xây dựng mô hình chăn nuôi gà sinh sản hướng trứng theo phương thức nuôi 18 bán chăn thả - Gà bố mẹ RA: 200con/mô hình x 3 mô hình (MH) và nuôi theo phương thức bán chăn thả - Địa điểm: xã Thuỷ Xuân Tiên, Trung Hoà – Chương Mỹ – Hà Nội - Thời gian: từ tháng 8 năm 2009 đến tháng 11 năm 2010 5.6. Xây dựng mô hình chăn nuôi gà thương phẩm hướng trứng theo phương thức nuôi tập trung - Gà HA12 (500 con) theo phương thức nuôi tập trung. - Địa điểm: Huyện Đông Anh – Hà Nội - Thời gian: từ tháng 4 năm 2009 đến tháng 9 năm 2010 5.7. Xây dựng mô hình chăn nuôi gà thương phẩm hướng trứng theo phương thức nuôi bán chăn thả - Gà HBRA 200con/mô hình x 3 mô hình (MH) và nuôi theo phương thức bán chăn thả - Địa điểm: Thanh Cao – Thanh Oai – Hà Nội - Thời gian: từ tháng 8 năm 2009 đến tháng 11 năm 2010 5.8. Xây dựng mô hình chăn nuôi gà thương phẩm hướng thịt ở miền Bắc - Gà TP41, TP42 (1600 con) theo phương thức nuôi tập trung - Địa điểm: Huyện Mê Linh – Hà Nội - Thời gian: từ tháng 1 năm 2010 đến tháng 6 năm 2010 5.9. Xây dựng mô hình chăn nuôi gà thương phẩm hướng thịt ở miền Nam - Gà LV4523 (500 con) theo phương thức nuôi tập trung - Địa điểm: Huyện Thống Nhất - Đồng Nai - Thời gian: từ tháng 1 năm 2010 đến tháng 6 năm 2010 5.10. Xây dựng mô hình chăn nuôi gà thương phẩm hướng thịt chất lượng cao - Gà VR21: 200con/mô hình x 3 mô hình (MH) và nuôi theo phương thức bán chăn thả - Địa điểm: xã Đông Phương Yên - Chương Mỹ - Hà Nội - Thời gian: từ tháng 8 năm 2010 đến tháng 11 năm 2010 4.2. Phương pháp xử lý số liệu Số liệu thu thập được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học bằng chương trình Microsoft Excel 2003; Minitab 13 và so sánh cặp theo phương pháp Turkey. 19
- Xem thêm -