Tài liệu Nghiên cứu các giải pháp phát triển vùng nguyên liệu giấy phục vụ chiến lược phát triển ngành công nghiệp

  • Số trang: 49 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 41 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 20010 tài liệu

Mô tả:

Báo cáo thực tập tổng hợp Lời mở đầu Quá trình phát triển của đất nước hiện nay, với xu thế hội nhập và toàn cầu hoá, mặc dù đã có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đáng kể giữa các ngành của nền kinh tế quốc dân, nhưng ngành nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng đáng kể , vì nước ta là một trong những nước đang phát triển, chịu nhiều năm chiến tranh, do đó nông nghiệp hiện nay vẫn đang là ngành chủ yếu cung cấp lương thực cho đất nước. Hiện nay, ngành nông nghiệp nước ta đang có sự phát trển đáng kể mặc dù đang có sự chuyển dịch các ngành kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, sản lượng lương thực không nững đủ cung cấp cho nhân dân trong nước mà còn xuất khẩu ra nước ngoài, chủ yếu là thị trường Mỹ và EU, các sản phẩm chủ yếu là gạo, cà phê, hạt điều...,Để đạt được những thành tựu đáng kể trong nông nghiệp như trên, có sự chỉ đạo và đièu hành sát xao của các cấp, các ngành chủ đạo, trong đó có Vụ NN &PTNT. 1 Báo cáo thực tập tổng hợp Phần I Quá trình hình thành và phát triển của bộ kế hoạch và đầu tư và vụ nn&ptnt I. Giới thiệu về Bộ KH&ĐT 1. Quá trình hình thành Bộ KH&ĐT; Từ trước năm 2000, ngày 8 tháng 10 năm 1955, ngày Hội đồng Chính phủ họp quyết định thành lập ủy ban Kế hoạch Quốc gia được xác định là ngày thành lập ủy ban Kế hoạch Nhà nước, nay là Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Ngược trở lại lịch sử, ngay từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới được thành lập, ngày 31 tháng 12 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra Sắc lệnh số 78-SL thành lập ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến thiết nhằm nghiên cứu, soạn thảo và trình Chính phủ một kế hoạch kiến thiết quốc gia về các ngành kinh tế, tài chính, xã hội và văn hóa. ủy ban gồm các ủy viên là tất cả các Bộ trưởng, Thứ trưởng, cú cỏc Tiểu ban chuyên môn, được đặt dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Chính phủ. Vì vậy, trong buổi lễ ngành Kế hoạch và Đầu tư đón nhận Huân chương Sao Vàng được tổ chức tại Hội trường Ba Đình lịch sử ngày 4 tháng 11 năm 2000, Thủ tướng Phan Văn Khải đã khẳng định lấy ngày 31 tháng 12 năm 1945 là ngày truyền thống của ngành Kế hoạch và Đầu tư. Kể từ đây ngành Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Kế hoạch và Đầu tư coi ngày 31 tháng 12 hằng năm là ngày Lễ chính thức của mình. Theo dòng lịch sử, chúng ta có thể điểm lại các mốc quan trọng trong quá trình xây dựng và trưởng thành của Ngành Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Ngày 14 tháng 5 năm 1950, Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra Sắc lệnh số 68-SL thành lập Ban Kinh tế Chính phủ (thay cho ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến thiết). Ban Kinh tế Chính phủ có nhiệm vụ nghiên cứu, soạn thảo và trình Chính phủ những đề án về chính sách, chương trình, kế hoạch kinh tế hoặc những vấn đề quan trọng khác. Trong phiên họp ngày 8 tháng 10 năm 1955, Hội đồng Chính phủ đã quyết định thành lập ủy ban Kế hoạch Quốc gia và ngày 14 tháng 10 năm 1955, Thủ tướng Chính phủ đã ra Thông tư số 603-TTg thông báo quyết định này. ủy ban Kế hoạch Quốc gia và các Bộ phận kế hoạch của các Bộ ở Trung ương, Ban kế hoạch ở các khu, tỉnh, huyện có nhiệm vụ xây dựng các dự án kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa, và tiến hành thống kê kiểm tra việc thực hiện kế hoạch. Ngày 9-10-1961, Hội đồng Chính phủ đã ra Nghị định số 158-CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của ủy ban Kế hoạch Nhà nước, trong đó xác định rõ ủy ban Kế hoạch Nhà nước là cơ quan của Hội đồng Chính phủ có trách nhiệm xây dựng kế hoạch hàng năm và kế hoạch dài 2 Báo cáo thực tập tổng hợp hạn phát triển kinh tế và văn hóa quốc dân theo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Cùng với thời gian, qua các thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Chính phủ đó cú hàng loạt các Nghị định quy định và bổ sung chức năng cho ủy ban Kế hoạch Nhà nước (158/CP, 47/CP, 209/CP, 29/CP, 10/CP, 77/CP, 174/CP, 15/CP, 134/CP, 224/CP, 69/HĐBT, 66/HĐBT, 86/CP, v.v...). Ngày 27 tháng 11 năm 1986 Hội đồng Bộ trưởng có Nghị định 151/HĐBT giải thể ủy ban Phân vùng kinh tế Trung ương, giao công tác phân vùng kinh tế cho ủy ban Kế hoạch Nhà nước. Ngày 1 tháng 1 năm 1993, ủy ban Kế hoạch Nhà nước tiếp nhận Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế TW, đảm nhận nhiệm vụ xây dựng chính sách, luật pháp kinh tế phục vụ công cuộc đổi mới. Ngày 1 tháng 11 năm 1995, Chính phủ đã ra Nghị định số 75/CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Kế hoạch và Đầu tư trên cơ sở hợp nhất ủy ban Kế hoạch Nhà nước và ủy ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư. Ngày 17 tháng 8 năm 2000 Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 99/2000/TTg giao Ban Quản lý các khu công nghiệp Việt Nam về Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan của Chính phủ có chức năng tham mưu tổng hợp về xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, về cơ chế, chính sách quản lý kinh tế, quản lý nhà nước về lĩnh vực đầu tư trong và ngoài nước; giúp Chính phủ phối hợp điều hành thực hiện các mục tiêu và cân đối chủ yếu của nền kinh tế quốc dân. Theo Nghị định này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có những nhiệm vụ chủ yếu sau: 1. Tổ chức nghiên cứu xây dựng chiến lược và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội theo ngành, vùng lãnh thổ. 2. Trình Chính phủ các dự án Luật, Pháp lệnh, các văn bản pháp quy có liên quan đến cơ chế chính sách về quản lý kinh tế, khuyến khích đầu tư trong và ngoài nước nhằm thực hiện cơ cấu kinh tế phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch để ổn định và phát triển kinh tế - xã hội. 3. Tổng hợp các nguồn lực của cả nước kể các nguồn từ nước ngoài để xây dựng trình Chính phủ các kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn hạn về phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và cỏc cõn đúi chủ yếu của nền kinh tế quốc dân. 4. Hướng dẫn các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ủy ban nhân dân các Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng và cân đối tổng hợp kế hoạch. 3 Báo cáo thực tập tổng hợp 5. Hướng dẫn, kiểm tra các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ủy ban nhân dân Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương trong việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. 6. Làm Chủ tịch các Hội đồng cấp Nhà nước: Xét duyệt định mức kinh tế - kỹ thuật, xét thầu quốc gia, thẩm định thành lập doanh nghiệp nhà nước; điều phối quản lý và sử dụng nguồn ODA; cấp giấy phép đầu tư cho các dự án hợp tác, liên doanh. 7. Trình Thủ tướng Chính phủ quyết định việc sử dụng quỹ dự trữ Nhà nước. 8. Tổ chức nghiên cứu dự báo, thu thập xử lý các thông tin về phát triển kinh tế xã hội. 9. Tổ chức đào tạo lại và bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ công chức, viên chức trực thuộc Bộ quản lý. 10. Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực chiến lược phát triển, chính sách kinh tế, quy hoạch và kế hoạch hóa phát triển. Bộ máy tổ chức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư theo Nghị định 75/CP gồm 22 đơn vị giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước và 6 tổ chức sự nghiệp trực thuộc. Từ chỗ chỉ có 55 người khi mới thành lập năm 1955, năm 1988 biên chế của Bộ đạt số lượng cao nhất 930 người; đến nay Bộ Kế hoạch và Đầu tư có 760 cán bộ công nhân viên, trong đó 420 cán bộ đang tham gia trực tiếp vào quá trình xây dựng và điều hành kế hoạch. Đội ngũ cán bộ nghiên cứu của Bộ cũng không ngừng lớn mạnh, hiện nay có 2 giáo sư, 7 phó giáo sư, 126 tiến sĩ, 42 thạc sĩ, 479 người có trình độ đại học. Chủ nhiệm đầu tiên của ủy ban Kế hoạch Quốc gia - tiền thân của ủy ban Kế hoạch Nhà nước, sau này là Bộ Kế hoạch và Đầu tư - là cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Các đồng chí Chủ nhiệm ủy ban Kế hoạch Nhà nước và Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư từ năm 1955 đến năm 2002: 1. Đồng chí Phạm Văn Đồng 2. Đồng chí Nguyễn Duy Trinh 3. Đồng chí Nguyễn Côn 4. Đồng chí Lê Thanh Nghị 5. Đồng chí Nguyễn Lam 6. Đồng chí Võ Văn Kiệt 7. Đồng chí Đậu Ngọc Xuân 8. Đồng chí Phan Văn Khải 4 Báo cáo thực tập tổng hợp 9. Đồng chí Đỗ Quốc Sam 10. Đồng chí Trần Xuõn Giỏ 11. Đồng chí Võ Hồng Phúc 2. Cơ cấu tổ chức của Bộ KH&ĐT; Khối các cơ quan giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý NN:  Văn phòng Bộ  Vụ Tổ chức cán bộ  Vụ Tổng hợp kinh tế quốc dân  Vô Kinh tế địa phương và lãnh thổ  Vụ Tài chính tiền tệ  Vô Doanh nghiệp  Vô Kinh tế đối ngoại  Vô Quan hệ Lào và Campuchia  Vụ Thương mại dịch vụ  Vụ Pháp luật đầu tư  Vụ Đầu tư nước ngoài  Vụ Quản lý dự án đầu tư nước ngoài  Vụ Quản lý KCN,KCX  Văn phòng thẩm định dự án đầu tư  Văn phòng xét thầu  Vụ Công nghiệp  Vô NN&PTNT  Vụ Cơ sở hạ tầng  Vô Lao động văn hoá xã hội 5 Báo cáo thực tập tổng hợp  Vô Khoa học giáo dục môi trường  Vụ Quốc phòng an ninh  Cơ quan đại diên phía Nam Khối các cơ quan hành chính sự nghiệp;  Viện chiến lược phát triển  Viện nghiên cứu QL KTTW  Trung tâm thông tin  Tạp chí kinh tế và dự báo  Báo đầu tư  Trung tâm nghiên cứu kinh tế Miền nam  Trường Kế hoạch kinh tế Đà nẵng  Trung tâm bồi dưỡng cán bộ kinh tế kế hoạch. 3. Chức năng và nhiệm vụ của Bộ KH&ĐT; Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý Nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ quy định tại chương IV Luật Tổ chức Chính phủ và tại Nghị định số 15-CP ngày 2-3-1993 của Chính phủ. Bộ cú cỏc nhiệm vụ và quyền hạn chủ yếu sau đây: 1. Tổ chức nghiên cứu xây dựng chiến lược và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội theo ngành, vùng lãnh thổ. Xác định phương hướng và cơ cấu gọi vốn đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam, đảm bảo sự cân đối giữa đầu tư trong nước và ngoài nước để trình Chính phủ quyết định. 2. Trình Chính phủ các dự án luật, pháp lệnh, các văn bản pháp quy có liên quan đến cơ chế chính sách về quản lý kinh tế, khuyến khích đầu tư trong và ngoài nước nhằm thực hiện cơ cấu kinh tế phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch để ổn định và phát triển kinh tế - xã hội. Nghiên cứu, xây dựng các quy chế và phương pháp kế hoạch hóa, hướng dẫn cỏc bờn nước ngoài và Việt Nam trong việc đầu tư vào Việt Nam và từ Việt Nam ra nước ngoài. 3. Tổng hợp các nguồn lực của cả nước kể cả các nguồn từ nước ngoài để xây dựng trình Chính phủ các kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn hạn về phát 6 Báo cáo thực tập tổng hợp triển kinh tế - xã hội của cả nước và các cân đối chủ yếu của nền kinh tế quốc dân: giữa tích luỹ và tiêu dùng, tài chính tiền tệ, hàng hóa vật tư chủ yếu của nền kinh tế, xuất nhập khẩu, vốn đầu tư xây dựng cơ bản. Phối hợp với Bộ Tài chính trong việc phân bố kế hoạch thu chi ngân sách Nhà nước cho các Bộ, ngành và địa phương để trình Chính phủ. 4. Hướng dẫn các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng và cân đối tổng hợp kế hoạch, kể cả kế hoạch thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, ngành kinh tế và vùng lãnh thổ đã được phê duyệt. 5. Hướng dẫn, kiểm tra các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; các chương trình, chính sách của Nhà nước đối với việc đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào Việt Nam và của Việt Nam ra nước ngoài. Điều hòa và phối hợp việc thực hiện các cân đối chủ yếu của nền kinh tế quốc dân; chịu trách nhiệm điều hành thực hiện kế hoạch về một số lĩnh vực do Chính phủ giao; làm đầu mối phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong việc xử lý các vấn đề quan trọng trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp của nước ngoài và các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện các dự án đầu tư trên. 6. Làm Chủ tịch các Hội đồng cấp Nhà nước: Xét duyệt định mức kinh tế kỹ thuật, xét thầu quốc gia, thẩm định thành lập doanh nghiệp Nhà nước; là cơ quan thường trực Hội đồng thẩm định dự án đầu tư trong nước và ngoài nước; là cơ quan đầu mối trong việc điều phối quản lý và sử dụng nguồn ODA, quản lý đăng ký kinh doanh; cấp giấy phép đầu tư cho các dự án hợp tác, liên doanh, liên kết của nước ngoài vào Việt Nam và Việt Nam ra nước ngoài. Quản lý Nhà nước đối với các tổ chức dịch vụ tư vấn đầu tư. 7. Trình Thủ tướng Chính phủ quyết định việc sử dụng dự trữ Nhà nước. 8. Tổ chức nghiên cứu dự báo, thu thập xử lý các thông tin về phát triển kinh tế - xã hội trong nước và nước ngoài phục vụ cho việc xây dựng và điều hành kế hoạch. 9. Tổ chức đào tạo lại và bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ công chức, viên chức thuộc Bộ quản lý. 10. Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực chiến lược phát triển, chính sách kinh tế, quy hoạch và kế hoạch hóa phát triển kinh tế - xã hội, hỗ trợ phát triển và hợp tác đầu tư. 7 Báo cáo thực tập tổng hợp II. Giới thiệu về vụ NN&PTNT 1. Cơ cấu tổ chức của vụ NN&PTNT; 1.1Vụ trưởng: Lê Hồng Thái – Phụ trách nông nghiệp và phụ trách chung. 1.2Vụ phó: Lê Thị Thống – Phụ trách đối ngoại. 1.3Vụ phó: Vương Xuân Chính – Phụ trách lâm nghiệp, kinh tế mới, định canh. 1.4Vụ phó: Đào Quang Thu – Phụ trách thuỷ lợi, thuỷ sản. 1.5Chuyên viên: - Nguyễn văn Kê; Phụ trách khối kinh tế quốc phòng, kinh tế vùng, vườn… - Nguyễn thị Lộc: Phụ trách cây cà phê, cây có sơ. - Nguyễn văn Cát: Phụ trách chăn nuôi. - Nguyễn Ngân: Khai thác tổng hợp ngành thuỷ sản - Đ/C Tý: Nuôi trồng thuỷ sản - Diệu: Cao su, cà phê, điều. - Dương: Khoa học kỹ thuật, ngành nghề. - Tương: Công nghiệp chế biến gỗ. - Minh: Khối lâm sinh, 5 triệu ha rừng, tổng hợp ODA toàn vụ. - Bảng: Chế biến khác. - Trọng: Đê điều, ODA thuỷ lợi. - Biên: Thuỷ lợi, chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn. - Đoàn: Cây ăn quả, cây khác. - Nghĩa: Văn thư + khác. 8 Báo cáo thực tập tổng hợp 2. Chức năng và nhiệm vụ của vụ NN&PTNT; 2.1 Nghiên cứu tổng hợp quy hoạch phát triển của các ngành Nụng, Lõm, Ngư nghiệp, thuỷ lợi, phát triển nông thôn toàn diện trong phạm vi cả nước và theo vùng, lãnh thổ. 2.2 Tổng hợp xây dựng kế hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn về phát triển ngành: Nông nghiệp, lâm nghiệp (cả khai thác và chế biến gỗ), thuỷ sản (cả khai thác và chế biến thuỷ sản), thuỷ lợi, chế biến đường, chè, cà phê, dâu tơ tằm, cao su.vv... định canh định cư, điều động lao động dân cư. 2.3 Cựng các đơn vị liên quan nghiên cứu, phân tích lựa chọn các dự án đầu tư trong nước và ngoài nước thuộc các lĩnh vực do Vụ phụ trách, đề xuất các cơ chế chính sách nhằm đảm bảo thực hiện định hướng của kế hoạch phát triển ngành và lĩnh vực. Trực tiếp tổ chức xây dựng các cơ chế chính sách theo sự phân công của lãnh đạo Bộ. 2.4 Kiểm tra theo dõi việc thực hiện các chương trình dự án, nắm tình hình, lập báo cáo việc thực hiện kế hoạch quý, 6 tháng, 9 tháng và hàng năm của các ngành và lĩnh vực thuộc Vụ phụ trách. Đề xuất các giải pháp xử lý hững vướng mắc trong quá trình thực hiện các dự án thuộc ngành lĩnh vực đảm nhận. 2.5 Tham gia thẩm định thành lập các doanh nghiệp Nhà nước, thẩm định các dự án đầu tư (cả vốn trong nước và vốn ngoài nước), thẩm định xét thầu; phân bổ nguồn vốn ODA, xác định mức kinh tế kỹ thuật của ngành do Vụ phụ trách theo quy trình của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Làm đầu mối quản lý các chương trình dự án quốc gia của các ngành và lĩnh vực thuộc Vụ phụ trách. 2.6 Tổ chức nghiên cứu dự báo, thu thập và hệ thống hoỏ cỏc thông tin về kinh tế phục vụ cho việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành do Vụ phụ trách. 2.7 Làm đầu mối tổng hợp kế hoạch của: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Thuỷ sản. 9 Báo cáo thực tập tổng hợp Phần II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ Ở VÔ NN&PTNT GIAI ĐOẠN 1996 – 2000 I. Công tác quản lý đầu tư ở Vụ NN & PTNT: 1. Về công tác tham gia điều hành kế hoạch hàng năm: Vụ có nhiệm vụ theo dõi, tham gia điều hanh kế hoạch hàng năm, mỗi phần hành được phân công phụ trách từng lĩnh vực cụ thể để nắm tình hình, phát hiện những vướng mắc, đề xuất các giải pháp tháo gỡ khó khăn. Các báo cáo hàng tháng được gửi tới vụ tổng hợp để được xem xét, đánh gá. Năm 2002, mặc dù gặp nhiều khó khăn: lũ lụt và hạn hán xảy ra ở nhiều nơi, giá cả thị trường tiếp tục diễn biến phức tạp, nhưng ngành nông nghiệp, nông thôn vãn tiếp tục phát triển nhanh và toàn diện, phần lớn các chỉ tiêu đều đạt và vượt mức kế hoạch đề ra, góp phần quan trọng vào quá trình phát triển chung của đất nước. 2. Về công tác tổng hợp và xây dựng kế hoạch hàng năm; Vụ đã tổ chức các buổi làm việc với Vụ Kế hoạch và đầu tư, các Cục, Vụ liên quan của Bộ NN & PTNT, Bộ Thuỷ sản, làm việc với nhiều địa phương; đã thực hiện tốt chức năng Bộ giao làm đầu mối tổng hợp, phối hợp giữa các vụ trong Bộ, làm đầu mối giữa các Vụ trong Bộ với các Bộ: NN và PTNT, Thuỷ sản, với các TCT Cao su, TCT Cà phê trong việc xây dựng kế hoạch hàng năm, trong việc phân bổ nguồn vốn đầu tư cho các mục tiêu, chương trình mục tiêu quốc gia của ngành như: Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, Dự án 5 triệu ha rừng, chương trình phát triển nuôi trồng thuỷ sản, một số dự án thuộc chương trình xoá đói, giảm ngèo, chương trình 135… 3. Về công tác nghiên cứu, xây dựng quy hoạch; Xác định đây là công việc quan trọng, vụ đã tích cực tham gia cùng các Bộ, ngành và địa phương…rà soát, điều chỉnh lại quy hoạch theo tinh thần Nghị quyết 09/CP của CP, cùng Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ thuỷ sản xây dựng đề án về công nghiệp hoá, hiện đại hoá từng ngành và lĩnh vực thực hiện nghị quyết lần thứ 5 BCH TW Đảng về “công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn”, được các Bộ, ngành đánh giá cao. 4. Về công tác nghiên cứu, xây dựng cơ chế, chính sách; Hàng năm Vụ đã chủ trì xây dựng hoặc tham gia cùng các Bộ, ngành xây dựng nhiều cơ chế, chính sách trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thô. Một số chính sách Vụ kiến nghị nổi bật trong năm 2002 như: 10 Báo cáo thực tập tổng hợp - Đã cùng Bộ Nông Nghiệp và PTNT, các Bộ ngành xây dựng cơ chế, chính sách giải quyết đất đai cho đồng bào thiểu số tại chỗ thiếu đất ở và đất sản xuất ở Tây Nguyên. Đề xuất của Vụ về cách làm, trong đó Thủ tướng Chính phủ ban hành khuôn khổ chính sách chung làm cơ sở cho các địa phương lập các phương án cụ thể và phê duyệt đầu tư đã được Chính phủ chấp thuận. Đến nay, cả 4 tỉnh Tây Nguyên đều đã có phương án giải quyết đất đai được chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt và được Chính phủ đã cho bố trí vốn trong kế hoạch năm 2003 dể thực hiện 5. Về công tác nghiên cứu khoa học; Nhằm phục vụ tốt cho công tác chuyên môn, tháo gỡ khó khăn, thúc đảy sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và kinh tế nông thôn một cách bền vững, Vụ đã tổ chức thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu khoa học, nghiên cứu một số đề án phát triển ngành và lĩnh vực, có đề tài do Bé giao, có đề tài vụ chủ động nêu ra và được Bộ chấp nhận. Kết quả thực hiện các đề tài, đề án đến nay như sau: - Nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu các giải pháp phát triển vùng nguyên liệu giấy phục vụ chiến lược phát triển ngành công nghiệp giấy đến năm 2010” do Thứ trưởng Nguyễn Xuân Thảo làm chủi nhiệm đã được các đồng chí lãnh đạo Đảng và NN đồng tình và đánh giá cao. Nhờ kết quả nghiên cứu của đề tài, Chính phủ đã có những điều chỉnh những chính sách thích hợp, yêu cầu Bộ NN & PTNT, Bộ Công nghiệp, TCT giấy VN xem xét, rà soát lại quy hoạch vùng nguyên liệu, đánh giá lại chủ trương xây dựng một số nhà máy sản xuất bột giấy và ván nhân ta đảm bảo hiệu quả kinh tế của dự án đầu tư. Trong năm 2002 Vụ cũng đã hoàn thành đề án “Các biện pháp giảm thua thiệt do biến động giá nông sản để nâng cao tu nhập cho nông dân”, tổ chức một số cuộc hội thảo. Kết quả nghiên cứu đề án đã báo cáo lãnh đạo Bộ nội dung đề án được đánh giá có tính tổng hợp cao, thu thập được nhiều số liệu có tính hệ thống, đánh giá được sự biến động của giá cả và ảnh hưởng của biến động đo đến thu nhập và mức sống nông dân , đề xuất được một số giải pháp được Bộ đánh giá là có nhiều cố gắng. - Đã cơ bản hoàn thành đề tài “nghiên cứu vấn đề lao động, việc làm nông thôn”, dự kiến trong quý I/2003 sẽ được nghiệm thu. Đề tài đã đi sau nghiên cứu đánh giá thu nhập , điều tra xua hướng chuyển dịch lao động và việc làm ở nông thôn trong thời gian vừa qua, dự báo xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động , việc làm 5 năm tới, đề ra được một số những giải pháp giải quyết vấn dề lao động, việc làm cho khu vực nông thôn. - Xây dựng đề án “Tăng nhanh chế biến xuất khẩu” theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ. Đây là một đề án rất khó, cả về mặt lý luận và thực tiễn. 11 Báo cáo thực tập tổng hợp Trong 6 tháng cuối năm, toàn Vụ tập trung nghiên cứu, bước đầu đã hình thành báo cáo chung, đã tổ chức lấy ý kiến các chuyên gia, các nhà khoa học, nhà quản lý, các Vụ viện trong cơ quan, đã báo cáo Bộ một lần, hiện đề án vẫn đang được bổ sung, chỉnh sửa, dự kiến sẽ báo cáo Bộ và trình TTCP vào quý I/2003. - Ngoài những đề tài, đề án nghiên cứu khoa học do vụ chủ trì thực hiện nêu trên, trong năm 2002 Vụ cũng đã tham gia tích cực với các vụ, viện trong cơ quan, với Bộ NN & PTNT, Bộ Thuỷ sản trong nhiều đề tài nghiên cứu khác. II. Hoạt động huy động và quản lý vốn đầu tư phát triển: 1. Những hoạt động đầu tư trực tiếp; Để đánh giá đúng vai trò của đầu tư đối với sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn là rất khó khăn do số liệu thống kê hiện nay không chia được đầu tư khu vực nông nghiệp và nông thôn , trong thực tế có nhiều hoạt động đầu tư ở thành phố nhưng phục vụ cho nông thôn như một số trường học, bệnh viện, nhà máy chế biến nông sản…, ngược lại có hoạt động đầu tư ở nông thôn nhưng phục vụ cho cả thành phố như lưới điện quốc gia, giao thông quốc gia… do vậy, trong báo cáo này chỉ xin đánh giá những hoạt động đầu tư trực tiếp cho nông nghiệp, nông thôn ; Theo số liệu tổng hợp chưa đầy đủ, tổng vốn đầu tư toàn xã hội đầu tư trực tiếp cho nông nghiệp, nông thôn 5 năm 1996 – 2000 vào khoảng 60 ngàn tỷ đồng, chiếm 11,4% vốn đầu tư toàn xã hội. Tỷ trọng này đã tăng rất nhanh từ mức 7,5% năm 1996 lên 8,2% năm 1997, 9,1%(1998), 15,6%(1999), 15,8%(2000); Trong đó: Vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc ngân sách NN là 27,4 ngàn tỷ đồng, bằng 48% tổng vốn đầu tư xã hội cho nông nghiệp, nông thôn và chiếm 23,9% tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc ngân sách NN của toàn bộ nền kinh tế . Cũng như vốn đầu tư xã hội, vốn XDCB thuộc ngân sách NN cho khu vực nông nghiệp, nông thôn trong những năm qua đã tăng cả về giá trị tuyệt đối lẫn tỷ trọng (năm 1996 là 22%, 1999 là 26,6% và 2000 là 25,3%). Cơ cấu đầu tư chia theo ngành như sau: 12 Báo cáo thực tập tổng hợp Ngành Vốn đầu tư phát Tỷ lệ %/tổng vốn triển (tỷ đồng) ĐT XDCB Lâm nghiệp 2600 9.4 Ngư nghiệp 1500 5.4 Nông nghiệp (gồm cả thuỷ lợi và 19800 diêm nghiệp) 72 ĐT trực tiếp cho nông thôn ( chỉ kể 3500 một số chương trình quốc gia xoá đói, giảm nghèo, nước sạch & VSMT, QG GQVL) 12.7 Tổng cộng 100 27400 Nguồn số liệu của Vụ NN&PTNT 2. Vốn ODA: Vốn ODA đầu tư cho khu vực nông nghiệp, nông thôn đã ký được với các tổ chức quốc tế và các nước từ năm 1993 đến hết tháng 5/2001 gồm 233 dự án, với số vốn theo hiệp định ký là 2552 triệu USD, chiếm 19,5% ODA cả nước (trong đó vay 1711 triệu USD, chiếm 67%, viện trợ là 841 triệu USD, chiếm 29 %):trong đó có 18 dự án nhóm A, số vốn vay 1035 triệu USD, chiếm 40,5% tổng vốn ODA của khu vực nông nghiệp, nông thôn . Trong tổng vốn ODA chia ra: Ngành Số dự án ODA Số vốn (triệu$) Thuỷ sản 26 142 Nông nghiệp 38 411 427Lâm nghiệp 39 263 Phát triển thôn17 nông 112 1293 233 2552 Thuỷ lợi Tổng Nguồn số liệu của Vụ NN&PTNT 13 Báo cáo thực tập tổng hợp Trong 233 dự án đã ký, đến nay đã hoàn thành 87 dự án, 146 đang dở dang chuyển tiếp qua 2001 – 2005. Tổng số vốn Nước ngoài đã giải ngân được là hơn 1 tỷ USD. 2) Vốn tín dụng ưu đãi của NN khoảng 10000tỷ đồng, chiếm khoảng 17% tổng tín dụng của NN. Trong đó chủ yếu cho khu vực chế biến nông, lâm, thuỷ sản 1800tỷ đồng, vốn cho các hộ nghèo vay là hơn 5000 tỷ đồng. 3) Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài ước khoảng 15 ngàn tỷ đồng (tương đương 1 tỷ USD), chiếm 25% tổng vốn xã hội đầu tư cho khu vực nông nghiệp, nông thôn . Trong 5 năm, toàn ngành đã thu hút được 238 dự án, với số vốn đăng ký 980 triệu USD, nâng tổng số dự án FDI có đến hết năm 2000 là 467 dự án, vốn đăng ký là 2715 triệu USD, chiếm 14% số dự án và 6% tổng FDI cả nước. Tuy nhiên, đến nay chỉ còn 303 dự án đang hoạt động, với số vốn 1980 triệu USD, chiếm 11% số dự án và 5,4% tổng vốn của các dự án FDI đang hoạt động của cả nước. Một số dứan hết hiệu lực hoạt động dã bị giải thể, trong huy động FDI toàn bộ khu vực thì: 3. Vốn cho các ngành: Ngành Số dự án Số vốn % số dự %VĐT FDI toàn (triệu $) án khu vực Trồng trọt 43 428 14 21.6 Chế biến thức ăn chăn 56 nuôi 646 18 32.6 Chế biến nông sản thực 89 phẩm 600 29 30.3 Trồng rừng 55 2.3 2.7 Khai thác, chế biến lâm 73 sản 131 24 6.6 Thuỷ sản 45 144 15 7.2 - Nuôi trồng thuỷ sản 24 68 - Chế biến thuỷ sản 15 52 7 - Dịch vụ hậu cần nghề 3 cá 24 Nguồn số liệu của Vụ NN&PTNT 14 Báo cáo thực tập tổng hợp Vốn huy động từ khu vực tư nhân và đân cư ước tính khoảng 8 ngàn tỷ, chiếm 13% tổng đầu tư xã hội cho nông nghiệp và nông thôn. 4. Riêng đầu tư của NN cho phát triển nông nghiệp, nông thôn bằng ngân sách ước tính khoảng 36 ngàn tỷ đồng, trong đó bao gồm: -Vốn XDCB thuộc ngân sách NN đầu tư là 27,4 ngàn tỷ đồng, chiếm 23,9% tổng vốn đầu tư XDCB thuộc ngân sách NN. -Vốn sự nghiệp kinh tế chi cho các chương trình, mục tiêu quốc gia trong khu vực nông nghiệp, nông thôn (mà thực chất cũng là chi đầu tư) trong 5 năm là 8600 tỷ đồng. Ngoài ra, thông qua các cơ chế,chính sách, NN đã gián tiếp đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn, nhưng hiện chưa có số liệu lượng hoá đầy đủ nên không nêu trong báo cáo này. 5. Một số cơ ché, chính sách chủ yếu của NN hỗ trợ khu vực nông nghiệp, nông thôn thực hiện trong thời kỳ 1996 – 2000 là: - Chính sách hỗ trợ người nghèo được thực hiên theo quyết định 525/QĐTTg ngày 31/5/1995 của TTCP. Theo đó, NN sẽ cấp bù chênh lệch lãi suất để ngân hàng thực hiện cho người nghèo vay vốn ưu đãi phát triển sản xuất, xoá đói, giảm nghèo. Theo số liệu của Ngân hàng người nghèo, tổng dư nợ chovay đến 31/12/2000 đạt 4800 tỷ đồng, số vốn ngân sách cấp phải bù chênh lệch lãi suất trong 5 năm cho Ngân hàng là 270 tỷ đồng. - Chính sách trợ cước một số một số mặt hàng thiết yếu phục vu vùng cao, vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa. Theo số liệu của Bộ Tài chính, tổng kinh phí trợ cước vận tải hàng hoá lên vùng núi, vùng cao, vùng sâu,vùng xa trong giai đoạn 1996 – 2000 là 1150 tỷ đồng. - Các chính sách ưu đãi về thuế như: (i) Thực hiện không thu thuế giá trị gia tăng đối với sản phẩm nông nghiệp trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, sản phẩm muối do người trực tiếp sản xuất bán ra; (ii) Thực hiện không thu thuế tài nguyên đối với rừng trồng làm nguyên liệu giấy, các đặc sản quế, hồi…, (iii) Thực hiện giảm thuế giá trị gia tăng đối với đường và các sản phẩm về đường, đối với các nhà máy đường gặp khó khăn, thua lỗ; (iv) Thực hiện miễn giảm tiền sử dụng đất, thuế sử dụng đấtnông nghiệp đối với các cơ sở, đơn vị, tổ chức cá nhân khi đầu tư vào diện tích đất trồng, đồi núi trọc, đất hoang hoá, giảm tiền thuê đất; (v) Thực hiện miễn thuế đối với hoạt động buôn bán chuyến hàng hoá nông sản; (vi) Thực hiện miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với các hộ sản xuất đất nông nghiệp gặp khó khăn (khi gặp rủi ro về thị trường, 15 Báo cáo thực tập tổng hợp giá cả); (vii) Thực hiện hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hoá nông sản xuất khẩu. - Các chính sách về đất đai, tín dụng và các chính sách hỗ trợ khác như: (i) Hỗ trợ phát triển kinh tế trang trại, cho ưu đãi sử dụng đất, ưu đãi vay vốn đầu tư, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư, bảo lãnh tín dụng đầu tư; (ii) Các chính sách về giao đất như không thu tiền sử dụng đất, khi mua bán, chuyển nhượng đất không phải nộp lệ phí trước bạ, miễn tiền sử dụng đất ở vùng khó khăn; (iii) Các chính sách tín dụng ưu đãi như nông dân được vay vốn đóng mới, nâng cao tàu đánh cá xa bờ, được vay vốn phát triển sản xuất với lãi suất ưu đãi, không phải thế chấp đến 10 triệu đồng; (iv) Các chính sách hỗ trợ khác như cho một số nhà máy đường được miễn giảm thuế, hỗ trợ vốn lưu động, xử lý lỗ phát sinh do rủi do tỷ giá; khoanh nợ, treo nợ cho nhiều doanh nghiệp thuộc ngành nông nghiệp, nông thôn ; Để đảm bảop quyền lợi của người nông dân, NN đã quy định và thực hiện giá sàn đối với một số nông sản hàng hoá quan trọng, thựchiệ mua tạm trữ; (v) Ngoài ra NN còn cho thực hiện chính sách hỗ trợ lãi vay vốn để xuất khẩuhàng hoá, hỗ trợ thuỷ lợi phí đối với những địa bàn khó khăn. II. Một số thành tựu đã đạt được trong ngành nông nghiệp, nông thôn: 1. Đã có những thay đổi tích cực và là nền tảng vững chắc cho sự ổn định để tiếp tục phát triển kinh tế trong chặng đường tiếp sau. 1991 1995 Tr.Tấn Kg % Mục tiêu 5 năm do ĐH VIII đề ra 30 –32 370 45 22.0 324 - 27.6 372 - 34 43.6 % 30 – 35 - - 17.3 Tr. Ha Tr.ha Tr.ha % Tr.tấn 1000T 1000T Tỷ USD 9.3 2.5 1.0 40 1.6 –1.7 500 – 550 600 1 – 1.1 - - 11 1.0 1.0 33 1.9 ĐVT SL LT quy thóc Sllt/người Tỷ trọng cây CN/ngành trồng trọt Tỷ trọng ngành chăn nuôi/ngành NN Bảo vệ rừng Diện tích rừng tăng thêm Trong đó: rừng trồng mới Độ che phủ của rừng Sản lượng thuỷ sản Trong đó: SL nuôi trồng Diện tích nuôi trồng T.sản Xuất khẩu thuỷ sản Thực hiện 2000 10.5 16 Báo cáo thực tập tổng hợp Nguồn của Bộ KH&ĐT Nông nghiệp đạt được tốc độ tăng trưởng khá và toàn diện trên nhiều lĩnh vực. Trong 10 năm (1991-2000) giá trị sản lượng toàn ngành tăng bình quân 5,4 %, vượt mục tiêu đề ra trong chiến lược(mục tiêu chiến lược là từ 4-4,2%), trong đó nông nghiệp tăng 5,4%, (lương thực tăng 4,2-4,3%,cây công nghiệp 10%, chăn nuôi 5,4%), thuỷ sản tăng 9,1%, lâm nghiệp tăng 2,1%. Kim ngạch xuất khẩu toàn ngành đã tăng nhanh. Năm 1990 là 1,149 tỷ USD, năm 1999 là 4,42 tỷ USD, năm 2000 4,7 tỷ USD, chiếm 37,6% kim ngạch xuất khẩu cả nước. 2. Nông nghiệp, nông thôn đã có những bước phát triển cơ bản, cơ cấu sản xuất có sự chuyển dịch theo hướng tích cực. 2.1 Sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp liên tục phát triển, góp phần quan trọng vào mức tăng trưởng chung và ổn định kinh tế xã hội. - Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, ngư nghiệp tăng bình quân hàng năm là 5,8%, cao hơn so với mục tiêu là 4,5 – 5%, trong đó nông nghiệp tăng 5,6%, thuỷ sản 8,4%, lâm nghiệp 2,34%. Sản lượng lương thực quy thóc tăng 8,1 triệu tấn, bình quân mỗi năm 1,62 triệu tấn; lương thực bình quân đầu người tăng từ 360 kg năm 1995 lên 444 kg năm 2000. Nhiều vùng sản xuất nông sản hàng hoá tập trung gắn với công nghiệp chế biến bước đầu được hình thành, sản phẩm nông nghiệp đa dạng hơn. So với năm 1995, diện tích một số cây công nghiệp tăng khá: cà phê tăng 2,7 lần, cao su tăng 46 %, mía tăng 35%, bông tăng 8%, thuốc lá tăng 18%, rừng nguyên liệu giấy tăng 66%… Một số giống cây công nghiệp có năng suất cao đã được đưa vào sản xuất đại trà. Giá trị sản xuất công nghiệp trên một đơn vị diện tích đã tăng từ 13,5 triệu đồng/ha năm 1995 lên 17,5 triệu đồng/ ha năm 2000. Chăn nuôi tiếp tục phát triển. Sản lượng thịt lơn hơi năm 2000 là trên 1,4 triệu tấn, tăng 1,4 lần so với năm 1995. - Ngành lâm nghiệp đã bắt đầu chuyển từ một nền lâm nghiệp nặng về khai thác tự nhiên sang nền lâm nghiệp dựa vào lâm sinh, từ chỗ chủ yếu dựa vào quốc doanh sang nền sản xuất có tính xã hội hoá cao, với nhiều thành phần kinh tế tham gia.Công tác chăm sóc, bảo vệ rừng có tiến triển. Trong 5 năm đã trồng được 1,1 triệu ha rừng tập trung, bảo vệ 9,3 triệu ha rừng hiện có, khoanh nuôi tái sinh rừng 700 ngàn ha. Độ che phủ đã tăng từ 28,2% năm 1995 lên 33,2% năm 2000. - Nghề nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản phát triển khá, sản lượng thuỷ sản năm 2000 đạt trên 2 triệu tấn, vượt mục tiêu kế hoạch đặt ra là 1,6 – 1,7 triệu tấn. 17 Báo cáo thực tập tổng hợp - Kim ngạch xuất khẩu toàn ngành tăng nhanh, năm 2000 là 4,35 tỷ USD, chiếm khoảng 30% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, gấp 1,7 lần so với năm 1995; trong đó riêng thuỷ sản đạt 1,4 tỷ USD năm 2000. 2.2 Cơ cấu sản xuất nông nghiệp đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, đi vào khai thác lợi thế so sánh của mỗi vùng sinh thái. Từ 1995 – 2000, giá tri sản xuất cây lương thực đã giảm từ 42,2% xuống còn 40,7%; Trong khi cây công nghiệp tăng từ 12,2% lên chiếm 12,6%; Thuỷ sản từ 12% lên 14.4%, cơ cấu mùa vụ đã chuyển dịch theo hướng taswng diện tích đông xuân và hẹ thu có năng suất cao và oỏn định. Sản xuất nông nghiệp đã phát triển đa dạng hơn, loại dần được các yếu tố trì trệ, giảm dần đước sự phụ thuộc vào thời tiết. Đơn vị % 1990 1995 2000 Toàn ngành 100 100 100 Nông ngiệp 82,5 82,4 80,4 Lâm ngiệp 6,6 5,1 5,2 Thuỷ sản 10,9 12,5 14,4 Nguồn của Bộ KH&ĐT Trong nông nghiệp, cơ cấu cây trồng vật nuôiđược dịch chuyển theo hướng tăng tỷ trọng cac loại sản phẩm có năng suất và hiệu quả kinh tế cao, tập trung phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả có tiềm năng xuất khẩu và sức cạnh tranh quốc tế cao. Kinh tế nông thôn phát triển theo hướng đa dạng hoá ngành nghề, tăng tỷ trọng của công nghiệp và dịch vụ, giảm sản xuất thuần nông... Tốc độ chăn nuôi tăng nhanh hơn trồng trọt, cây công nghiệp và cây ăn quả tăng nhanh hơn cây lương thực. Đã hình thành được một số vùng chuyên canh phục vụ công nghiệp chế biến và xuất khẩu. Kinh tế nông thôn phát triển, nhiều ngành, nghề hơn trước, Đã hình thành một số mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn như: gạo, cà phê, điều, tôm... Ngành nông nghiệp chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra như sau: Đơn vị % 1990 1995 2000 Toàn ngành nông nghiệp 100 100 100 Trồng trọt 74,4 80,4 80 18 Báo cáo thực tập tổng hợp Chăn nuôi 24,1 16,6 17,3 Dịch vụ nông nghiệp 1,5 3,0 2,7 Cơ cấu kinh tế nông thônđã có sự chuyển dịch với sự phát triển đa dạng về ngành nghề, nhiều vùng sản xuất nông sản hàng hoá tập trung với quy mô lớn gắn với công nghiệp chế biến, tạo thế và lực mới cho phát triển kih tế nông nghiệp, nông thôn, góp phần chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cây trồng vật nuôi, khôi phục làng nghề truyền thống. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn: Đơn vị % 1990 1995 2000 Kinh tế nông thôn 100 100 100 Nông lâm ngu nghiệp 79,7 70,3 69 Công nghiệp 9,9 15,9 17 Dịch vô 10,4 13,8 14 2.3 Tiềm lực của nền sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp đã được nâng cao. Đến nay cả nước đã xây dựng được hơn 700 hồ đập vừa và lớn, 3500 hồ đập nhỏ, hàng ngàn trạm bơm, năng lực thiết kế tưới đến năm 2000 đạt khoảng 3,3 triệu ha canh tác, tiêu 1,4 triệu ha; các công trình thuỷ lợi đã tưới cho hơn 6,5 triệu ha/hơn 7,5 triệu ha gieo trồng lúa; ngành trồng trọt đã sử dụng gần 87% giống lúa mới; Công nghiệp chế biến phát triển khá, đã xây dựng được 44 nhà máy đường với công suất thiết kế hơn 1 triệu tấn đường/năm, gần 200 nhà máy chế biến thuỷ sản với công suất hơn 200 ngàn tấn, gần 40 nhà máy chế biến cao su với công suất hơn 270 ngàn tấn mủ tươi, 70 nhà máy chế biến chè với công suất khoảng 50 ngàn tấn chè búp khô, hơn 60 cơ sở chế biến hạt điều. 2.4 Ngành nghề nông thôn được khôi phục, phát triển. Thu nhập và mức sống dân cư nông thôn không ngừng được cải thiện, bình quân thu nhập đàu người/ tháng đã tăng từ 172 ngàn năm 1995 lên 225 ngàn đồng năm 2000; tỷ lệ hộ nông dân có nhà kiên cố , có ti vi, xe máy tăng lên nhiều, nhiều hộ nông dân đã trở nên giàu có; tỷ lệ hộ đói nghèo giảm từ 20% năm 1995 xuống còn 10% năm 2000 (theo tiêu chí cũ). 2.5 Điều kiện sống, ăn ở, đi lại, học hành, chữa bệnh, vui chơi giải trí, bộ mặt kinh tế xã hội nông thôn đã có sự thay đổi rõ rệt. Hệ thống giao thông 19 Báo cáo thực tập tổng hợp nông thôn, mạng lưới điện, hệ thống cung cấp nước sạch, phát thanh, truyền hình, y tế, giáo dục… được đầu tư nâng cấp. Đến năm 2000, có 95,2% (8499/8924) số xã có đường ô tô đến trung tâm, tăng 655 xã (7,3%); 88% số xã có điện, tăng 28,1 % so với 1995: Đã có 80% số dân được phủ sóng truyền hình và 90 % phủ sóng đài tiếng nói VN. III. Tình hình phát triển một số nghành theo vùng kinh tế 1. Tình hình phát triển thuỷ sản giai đoạn 1996 – 2000 Lĩnh nực nuôi trồng thuỷ sản từ đầu những năm 90 đã bắt đàu khởi sắc, tuy nhien phải đến 2 năm gần đây 92000 – 2001) mới bùng nổ cả về diện tích và đối tượng nuôi trồng. Một phần lớn diện tích canh tác nông nghiệp kém hiệu quả đã được chuyển sang nuôi troongrfthuyr sản, nguyên nhân là do thị trường thuỷ sản thế giới những năm gần đây tăng đột biến, trong khi giá nông sản xuất khẩu khác của VN lại bị giảm sút dẫn đến nhu cầu chuyển đổi diện tích sang nuôi trồng thuỷ sản càng trở nên cấp bách. Nghị quyết 09NQ/CP của Chính phủ về chuyển đổi cơ cấu và tiêu thu sản phẩm nông nghiệp và quyết định số 224/1999/QDD – TTG ngày 8/12/1999 phê duyệt phát triển chương trình nuôi trồng thuỷ sản thời kỳ 1999 – 2010 đã giúp cho quá trình chuyển đổi diện tích nuôi trồng thuỷ sản nhanh, mạnh và rộng khắp nơi. Tốc độ tăng trưởng cao, bình quân 5 năm thời kỳ 1996 – 2000 về diện tích tăng 7,52%, sản lượng tăng 8,67%; Diện tích, sản lượng 96 – 2000 đơn vị 1995 2000 Tăng BQ(%) Diện tích Ha 453,583 651,874 7,52 Sản lượng Tấn 389,069 589,598 8,67 Nguồn: Tổng cục thống kê Chia theo vùng kinh tế: Danh mục 1995 2000 Tăng % 96 - 2000 Diện tích Ha 453.583 651.874 7,52 Sản lưọng Tấn 389.069 589.598 8,67 58.754 68.350 3,07 0.91 1.59 11,86 ĐBSH - DT - NS Tấn/ha 20
- Xem thêm -