Tài liệu Nghiên cứu các giải pháp phát triển trồng rừng nguyên liệu giấy tại công ty lâm nghiệp vĩnh hảo, huyện bắc quang tỉnh hà giang

  • Số trang: 126 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 75 |
  • Lượt tải: 0
nguyetha

Đã đăng 8490 tài liệu

Mô tả:

1 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM --------------------------------------- CAO VĂN SƠN NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TRỒNG RỪNG NGUYÊN LIỆU GIẤY TẠI CÔNG TY LÂM NGHIỆP VĨNH HẢO, HUYỆN BẮC QUANG TỈNH HÀ GIANG Chuyên ngành: Lâm học Thái Nguyên - 2012 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 2 Đặt vấn đề Trong bối cảnh phần lớn rừng tự nhiên của nước ta là rừng thứ sinh nghèo với khả năng cung cấp gỗ ở thời điểm hiện tại rất hạn chế thì việc phát triển rừng trồng sản xuất là rất cần thiết, góp phần giảm áp lực lên rừng tự nhiên. Hiện nay, nhu cầu gỗ nguyên liệu giấy ở nước ta rất lớn, các loài cây mọc nhanh, có khả năng đáp ứng nhu cầu nguyên liệu giấy như Keo, Bạch đàn,... đã và đang được gây trồng rất rộng rãi trên phạm vi cả nước, trong đó ở một số nơi đã được quy hoạch thành các vùng nguyên liệu tập trung để cung ứng nguyên liệu cho các nhà máy giấy. Theo Chiến lược Phát triển ngành Lâm nghiệp giai đoạn 2006 - 2020 thì nhu cầu gỗ nguyên liệu giấy nước ta sẽ tăng từ 3,388 triệu m3/năm (năm 2010) lên 8,283 triệu m3/năm (năm 2020). Như vậy, chỉ trong vòng 10 năm tới, nhu cầu gỗ nguyên liệu giấy của nước ta sẽ tăng gấp khoảng 2,4 lần so với thời điểm năm 2010, điều này đòi hỏi cần phải có sự nỗ lực rất lớn trong gây trồng rừng nguyên liệu giấy ở nước ta. Thực tế hiện nay cho thấy, phần lớn trồng rừng nguyên liệu giấy của nước ta mới chỉ được đầu tư theo chiều rộng, tức là chúng ta cố gắng đẩy mạnh mở rộng về diện tích gây trồng nhưng lại kém có sự đầu tư thâm canh theo chiều sâu về giống, phân bón, kỹ thuật trồng, chăm sóc,… dẫn tới năng suất và hiệu quả trồng rừng đạt được là không cao. Sự yếu kém trong công tác quy hoạch đất đai, quy hoạch vùng nguyên liệu, cơ sở chế biến, khả năng đầu tư và kỹ thuật thâm canh, lựa chọn loài cây trồng, công tác dự báo thị trường,… là những nguyên nhân gây cản trở trồng rừng sản xuất nói chung và trồng rừng nguyên liệu giấy nói riêng ở nước ta trong thời gian vừa qua. Chính vì vậy, trong thời gian tới, để đẩy mạnh phát triển rừng trồng nguyên liệu giấy thì cần làm rõ những khó khăn và biện pháp tháo gỡ có hiệu quả là thực sự cấp bách. Lâm trường Vĩnh Hảo được thành lập theo quyết định số 11/TCCB ngày 31/3/1961 của UBND tỉnh Hà Giang với nhiệm vụ chủ yếu là trồng rừng nguyên liệu giấy mới, khai thác vầu, nứa để cung cấp cho nhà máy nguyên liệu giấy Việt Trì. Ngày 01/02/2005 thực hiện Quyết định 29/2005/QĐ-TTg và Quyết định Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 3 09/2005/QĐ-BCN ngày 04/3/2005 về việc chuyển Tổng Công ty giấy Việt Nam sang mô hình hoạt động công ty mẹ - công ty con, Lâm trường Vĩnh Hảo được thành lập lại theo Quyết định số 1096/QĐ-HĐQT ngày 27/6/2005 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng Công ty giấy Việt Nam với tổng diện tích được giao là 4.907,88 ha thuộc địa bàn 4 xã Hùng An, Vĩnh Hảo, Đồng Yên, Tiên Kiều. Ngày 14/09/2007 thực hiện theo quyết định 439/QĐ-GVN.HN của Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng Công ty giấy Việt Nam, Lâm trường Vĩnh Hảo chính thức chuyển đổi thành Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo với nhiệm vụ chủ yếu là thực hiện trồng, chăm sóc, khai thác các loài cây trồng rừng nguyên liệu giấy đáp ứng nhu cầu nguyên liệu và chỉ tiêu kế hoạch của Tổng Công ty giấy Việt Nam giao, các loài cây được gây trồng như: Keo tai tượng, Bồ đề, Luồng, Keo lai, trong đó Keo tai tượng được gây trồng phổ biến nhất, tuy nhiên năng suất đạt được là rất thấp, trung bình Keo tai tượng sau 8 năm trồng chỉ đạt trữ lượng 70 m3/ha, trong khi đó khoảng 60% sản lượng khai thác được phải bán về Tổng Công ty giấy Việt Nam với giá bán thường là thấp hơn so với giá của thị trường, điều này dẫn tới lợi nhuận thu được của Công ty là thấp, đời sống của cán bộ nhân viên gặp nhiều khó khăn, Công ty hầu như không có vốn tích lũy để phát triển. Hiện nay, trong thời điểm Công ty vừa mới tiến hành chuyển đổi từ hình thức Lâm trường sang Công ty Lâm nghiệp, mở rộng cả về quy mô sản xuất lẫn phương hướng kinh doanh, do vậy rất cần có những phương án mới có hiệu quả để phát triển rừng trồng nguyên liệu, nâng cao năng suất cây trồng từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của Công ty, đảm bảo đời sống cho cán bộ nhân viên và cộng đồng địa phương tham gia vào phát triển nghề rừng. Xuất phát từ thực tế đó, đề tài “Nghiên cứu các giải pháp phát triển trồng rừng nguyên liệu giấy tại Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN . http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1. Trên thế giới 1.1.1.Về giống cây trồng rừng Thành công của công tác trồng rừng sản xuất (RSX) trước hết phải kể đến công tác nghiên cứu giống cây rừng. Từ thế kỷ XVIII, XIX, những ý tưởng về công tác lai giống, sản xuất hạt giống và nhân giống sinh dưỡng cây rừng đã thu được một số thành tựu nhất định: Syrach Larsen đã sản xuất được một số cây lai có hình dáng đẹp và có ưu thế về sinh trưởng. Nilsson - Ehle (1949 - 1973) đã phát hiện ra cây tam bội có sinh trưởng tốt hơn so với cây nhị bội. Đây là một trong những lĩnh vực nghiên cứu mang tính đột phá và đã thu được những thành tựu đáng kể trong thời gian qua. Theo Eldridge (1993) [48] các chương trình chọn giống đã bắt đầu ở nhiều nước và tập trung cho nhiều loài cây mọc nhanh khác nhau, trong đó có Bạch đàn Brazil đã chọn cây trội và xây dựng vườn giống cây con thụ phấn tự do cho các loài E. maculata ngay từ những năm 1952; Mỹ bắt đầu với loài E. robusta 160 cây trội cho loài E. regnans và 170 cây trội có thân hình thẳng đẹp và tỉa cành tự nhiên tốt ở loài E. grandis. Tương tự như vậy, 150 cây trội đã được chọn ở rừng tự nhiên cho loài E. diversicolor và loài E. deglupta ở Papua New Guinea (dẫn theo [26]). Nhờ những công trình nghiên cứu chọn lọc và tạo giống mới tới nay ở nhiều nước đã có những giống cây trồng năng suất rất cao, gấp 2-3 lần trước đây như ở Brazil đã tạo được những khu rừng có năng suất 70-80 m3/ha/năm, tại Công Gô năng suất rừng cũng đạt 40 - 50 m3/ha/năm. Theo Covi khu rừng cung cấp nguyên liệu giấy cũng đạt năng suất 40 - 50 m3/ha/năm, kết quả là hàng ngàn ha đất nông nghiệp được chuyển đổi thành đất lâm nghiệp để trồng rừng cung cấp nguyên liệu giấy đạt hiệu quả kinh tế cao. Theo Swoatdi, Chamlong (1990) (dẫn theo [52]) tại Thái Lan rừng Tếch cũng đã đạt sản lượng 15 - 20 m3/ha/năm,... Ngoài Bạch đàn, trong những năm qua các công trình nghiên cứu về giống Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 5 cũng đã tập trung vào các loài cây trồng rừng công nghiệp khác như các loài Keo và L , các giống Lõi thọ địa phương từ các nơi khác nhau ở Mindanao. Trên cơ sở kết quả lựa chọn các xuất xứ tốt nhất và những cây trội đã xây dựng vùng sản xuất giống và dán nhãn các cây trội lựa chọn. Chọn giống kháng bệnh và lai giống cũng là những hướng nghiên cứu được nhiều tác giả quan tâm. Tại Braxin, Ken Old, Alffenas và các cộng sự từ năm 20002003 đã thực hiện một chương trình chọn giống kháng bệnh cho các loài Bạch đàn chống bệnh gỉ sắt Puccinia. Các công trình nghiên cứu về lai giống cũng đã mang lại nhiều kết quả tốt phục vụ trồng RSX (Assis, 2000), (Paramathma, Surendran, 2000), (FAO, 1979),… 1.1.2. Về kỹ thuật lâm sinh Bên cạnh công tác giống cây trồng, các biện pháp kỹ thuật gây trồng, chăm sóc và nuôi dưỡng rừng cũng đã được quan tâm nghiên cứu. J.B Ball, Tj Wormald, L Russo (1995) [49] khi nghiên cứu tính bền vững của rừng trồng đã quan tâm đến cấu trúc tầng tán của rừng hỗn loại. Matthew, J Kelty (1995) (dẫn theo [53]) đã nghiên cứu xây dựng mô hình rừng trồng hỗn loài giữa cây gỗ và cây họ đậu. Đặc biệt, ở Malaysia người ta đã xây dựng rừng nhiều tầng hỗn loài trên 3 đối tượng: rừng tự nhiên, rừng Keo tai tượng và rừng Tếch, đã sử dụng 23 loài cây có giá trị trồng theo băng 10m, 20m, 30m, 40m,... và phương thức hỗn giao khác nhau. Nhiều nơi người ta đã cải tạo những khu đất đã bị thoái hoá mạnh để trồng rừng mang lại hiệu quả cao. Việc tạo lập các loài cây hỗ trợ ban đầu cho cây trồng chính trước khi xây dựng các mô hình rừng trồng hỗn loài là rất cần thiết. Nghiên cứu về lĩnh vực này điển hình có tác giả Matti Leikola (1995) [51] đã nghiên cứu tạo lập mô hình rừng trồng hỗn loài giữa cây thân gỗ với cây họ đậu. Kết quả cho thấy cây họ đậu có tác dụng hỗ trợ rất tốt cho cây trồng chính. Nghiên cứu về phương thức, mật độ và các biện pháp kỹ thuật trồng rừng khác cũng đã được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới, tạo cơ sở khoa học cho phát triển trồng RSX trong thời gian qua. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 6 Vấn đề giải quyết đời sống trước mắt của người dân tham gia phát triển RTSX cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Theo Bradford R. Phillips (2001) [46] ở Fuji người ta trồng một số loài tre luồng trên đồi vừa để bảo vệ đất và phát triển kinh tế cho 119 hộ gia đình , trong đó có nước ta [46]. Azmy Hj. Mohamed và Abd. Razak Othman (2003) [45] cho biết ở Malaysia người ta đã sử dụng các loài tre, luồng để phục hồi những lâm phần đã thoái hoá rất có hiệu quả. Tre luồng có thể trồng ở những khu rừng sau khai thác trắng hoặc ở những khu vực bị khai thác quá mức. 1.1.3. Về chính sách và thị trường Hiệu quả của công tác trồng RSX chính là hiệu quả về kinh tế. Sản phẩm rừng trồng phải có được thị trường, phục vụ được cả mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài. Đồng thời, phương thức canh tác phải phù hợp với kiến thức bản địa và dễ áp dụng đối với ngư [54]), vấn đề thị trường tiêu thụ sản phẩm cho các khu rừng trồng kinh tế có thể giải quyết được thông qua những kế hoạch xây dựng và phát triển các nhà máy chế biến lâm sản với quy mô khác nhau trên cơ sở áp dụng các công cụ chính sách “đòn bẩy” nhằm thu hút các thành phần kinh tế tham gia vào phát triển rừng. Thom R. Waggener (2000)(dẫn theo [37]), để phát triển trồng RSX đạt hiệu quả kinh tế cao, ngoài sự đầu tư tập trung về kinh tế và kỹ thuật còn 2 vấn đề then chốt, đóng vai trò quyết định đối với quá trình sản xuất này nên tại các nước phát triển như Mỹ, Nhật, Canada,... nghiên cứu về kinh tế lâm nghiệp ở cấp quốc gia hiện nay được tập trung vào thị trường và khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Trên quan điểm “thị trường là chìa khoá của quá trình sản xuất”, các nhà kinh tế lâm nghiệp phân tích rằng chính thị trường sẽ trả lời câu hỏi sản xuất cái gì và sản xuất cho ai? Khi thị trường có nhu cầu và lợi ích của người sản xuất được đảm bảo thì sẽ thúc đẩy được sản xuất phát triển tạo ra sản phẩm hàng hoá. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 7 Theo quan điểm về sở hữu, Thomas Enters và Patrick B. Durst (2004) đã dẫn ra rằng rừng trồng có thể phân theo các hình thức sở hữu sau: - Sở hữu công cộng hay sở hữu Nhà nước. - Sở hữu cá nhân: Rừng trồng thuộc hộ gia đình, cá nhân, hợp tác xã, doanh nghiệp và các nhà máy chế biến gỗ. - Sở hữu tập thể: Rừng trồng thuộc các tổ chức xã hội. Liu Jinlong (2004) [50] dựa trên việc phân tích và đánh giá tình hình thực tế trong những năm qua đã đưa ra một số công cụ chủ đạo khuyến khích tư nhân phát triển trồng rừng ở Trung Quốc là: i) Rừng và đất rừng cần được tư nhân hoá; ii) Ký hợp đồng hoặc cho tư nhân thuê đất lâm nghiệp của Nhà nước; iii) Giảm thuế đánh vào các lâm sản; iv) Đầu tư tài chính cho tư nhân trồng rừng. v) Phát triển quan hệ hợp tác giữa các công ty với người dân để phát triển trồng rừng. Những công cụ mà tác giả đề xuất tương đối toàn diện từ quan điểm chung về quản lý lâm nghiệp, vấn đề đất đai, thuế,… cho tới mối quan hệ giữa các công ty trồng rừng và người dân. Đây có thể nói là những đòn bẩy thúc đẩy tư nhân tham gia trồng rừng ở Trung Quốc nói riêng trong những năm qua và là những định hướng quan trọng cho các nước đang phát triển nói chung, trong đó có Việt Nam. Các hình thức khuyến khích trồng RSX cũng được nhiều tác giả trên thế giới quan tâm nghiên cứu như Narong Mahannop (2004) [52] ở Thái Lan, Ashadi and Nina Mindawati (2004) [44] ở Indon , 3 vấn đề được xem là quan trọng, khuyến khích người dân tham gia trồng rừng là: - Quy định rõ ràng về quyền sử dụng đất. - Quy định rõ đối tượng hưởng lợi rừng trồng. - Nâng cao hiểu biết và nắm bắt kỹ thuật của người dân. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 8 Đây cũng là những vấn đề mà các nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam đã và đang giải quyết để thu hút nhiều thành phần kinh tế tham gia trồng RSX, đặc biệt là khơi thông nguồn vốn tư nhân, vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài cho trồng rừng. Vì vậy, quan điểm chung để phát triển trồng RSX có hiệu quả kinh tế là trồng rừng cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế và đa dạng hoá các hình thức sở hữu trong mỗi loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh rừng trồng (Hoàng Liên Sơn, 2005). 1.2. Ở Việt Nam 1.2.1. Về giống cây trồng rừng Những nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Giống cây rừng thuộc Viện Khoa Học Lâm Nghiệp Việt Nam, đặc biệt là của Lê Đình Khả (1996, 1999, 2000), Nguyễn Hoàng Nghĩa (2000-2001), Hà Huy Thịnh (1999, 2002) [13], [14], [16], [26], [27],... đã nghiên cứu tuyển chọn các xuất xứ, giống Keo lai tự nhiên, Bạch đàn và lai giống nhân tạo giữa các loài keo, kết quả đã chọn và tạo ra được các dòng lai có sức sinh trưởng gấp 1,5 - 2,5 lần các loài cây bố mẹ, năng suất rừng trồng ở một số vùng đạt từ 20 - 30 m3/ha/năm, có nơi đạt 40 m3/ha/năm. Nguyễn Việt Cường (2002, 2004) [3], [4] đã nghiên cứu khá toàn diện về lai giống 3 loài Bạch đàn Urophylla, Camaldulensis và Exserta từ việc nghiên cứu cơ sở khoa học của lai giống như thời kỳ nở hoa, cất trữ hạt phấn,... cho đến đánh giá, khảo nghiệm các tổ hợp lai. Tác giả cho biết từ 9 tổ hợp lai và 5 dòng Bạch đàn lai đã chọn được 7 tổ hợp lai U29C3, U15E4, U15C1, E1U29, U29E1, U2U29 và U29E2 đạt năng năng suất từ 20 - 27 m3/ha/năm, gấp 1,5 - 2 lần giống sản xuất hiện nay; 3 dòng Bạch đàn lai 81, 85 và HH có năng suất vượt các giống PN2 và PN14 từ 23 - 84%. Bên cạnh các loài Keo và Bạch đàn, các nghiên cứu cũng đã tập trung vào một số loài cây trồng rừng chủ lực khác như Thông Caribê, Thông nhựa, Tràm có năng suất cao,…. Từ năm 1986 đến nay tập đoàn cây trồng rừng đã phong phú và đa dạng hơn, phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau, đặc biệt là việc tìm kiếm cây bản địa được ưu tiên hàng đầu phục vụ chương trình 327 [30]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 9 thực hiện từ đầu những năm 1990 và hiện nay cây luồng đã và đang được phát triển rộng rãi ở một số tỉnh MNPB như Phú Thọ, Hoà Bình,… và đã trở thành cây cung cấp nguyên liệu có giá trị, cây xoá đói giảm nghèo cho người dân miền núi. Với những kết quả nghiên cứu đạt được trong những năm qua nhiều giống cây trồng rừng đã được Bộ NN & PTNT công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật. Hiện nay, công tác nghiên cứu giống cây rừng đang phát triển mạnh cả về chiều rộng và chiều sâu. Nhiều nghiên cứu đang hướng vào tuyển chọn các dòng, xuất xứ cây trồng kháng bệnh như công trình của Nguyễn Hoàng Nghĩa và Phạm Quang Thu, 2 dòng Bạch đàn SM16 và SM23 đã được Bộ NN & PTNT công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật theo Quyết định số 1526 QĐ/BNN-KHCN ngày 6/6/2005. Công nghệ nhân giống như hom, mô, ghép, chiết,... cũng đã có những bước tiến đáng kể (Nguyễn Hoàng Nghĩa [27]). Hiện nay, ở hầu hết các vùng đều đã có vườn ươm công nghiệp với quy mô sản xuất hàng triệu cây một năm. Những thành công trong công tác nghiên cứu giống cây trồng rừng đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển RTSX ở nước ta trong những năm qua. Tuy nhiên, những giống cây mới, có năng suất cao mới chủ yếu được thử nghiệm và phát triển ở một số vùng như Đông Nam Bộ, Đông Hà, Quy Nhơn, Kon Tum,... đối với vùng Tây Nguyên rất cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả công tác trồng rừng, thu hút được nhiều tầng lớp nhân dân vào xây dựng rừng. Đây cũng là mong muốn và chủ trương của Bộ NN & PTNT, Bộ KHCN trong những năm qua và hiện nay. 1.2.2. Về kỹ thuật lâm sinh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 10 Trước đây, các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào một số ít các loài cây như Bạch đàn liễu, Mỡ, Bồ đề, Thông nhựa, Thông đuôi ngựa,... thì gần đây, cùng với những tiến bộ về nghiên cứu giống cây rừng, chúng ta đã tập trung nhiều vào các loài cây mọc nhanh cung cấp nguyên liệu như Keo lai, Keo tai tượng, Bạch đàn Urophylla, Thông Caribê,... Các công trình nghiên cứu quan trọng có thể kể đến là: - Hoàng Xuân Tý và các cộng sự (1996) [41] về nâng cao công nghệ thâm canh rừng trồng Bồ đề, Bạch đàn, Keo và sử dụng cây họ đậu để cải tạo đất và nâng cao sản lượng rừng. - Phạm Thế Dũng (1998) [5] về ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học để xây dựng mô hình trồng rừng năng suất cao làm nguyên liệu giấy, dăm. - Đặc biệt, gần đây Đỗ Đình Sâm và các cộng sự (2001) [35] đã thực hiện đề tài độc lập cấp Nhà nước “Nghiên cứu những vấn đề kỹ thuật lâm sinh nhằm thực hiện có hiệu quả đề án 5 triệu ha rừng và hướng tới đóng cửa rừng tự nhiên”, trong đó đã tập trung nghiên cứu năng suất rừng trồng Bạch đàn Urophylla, Bạch đàn trắng camaldulensis và tereticornis, Keo mangium, Keo lai,... tại vùng Trung tâm Bắc Bộ, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Nghiên cứu này đã giải quyết khá nhiều các vấn đề . - Phạm Văn Tuấn (2001) [40] đã xây dựng mô hình rừng trồng công nghiệp phục vụ nguyên liệu bằng một số dòng Keo lai và Bạch đàn Urophylla kết quả cho thấy Keo lai sinh trưởng đạt năng suất từ 25 - 30 m3/ha/năm tại một số vùng (Bầu Bàng - Bình Dương, Sông Mây - Đồng Nai), Bạch đàn sinh trưởng đạt 18 - 20 m3/ha/năm ở nhiều vùng thí nghiệm (Vĩnh Phúc, Ba Vì, Quảng Trị,...). - Mai Đình Hồng (1997) [11], Xây dựng mô hình trồng rừng thâm canh Bạch đàn Urophylla tại Thanh sơn - Phú Thọ kết quả cho thấy khả năng sinh trưởng của cây rừng đạt 18- 25 m3/ha/năm. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 11 - Nghiên cứu phương thức trồng rừng hỗn giao cũng được nhiều tác giả quan tâm như Phùng Ngọc Lan (1986) đã gây trồng rừng hỗn loài Thông đuôi ngựa, Keo lá tràm và Bạch đàn trắng ở núi Luốt - Xuân Mai [17]. - Nguyễn Hữu Vĩnh, Phạm Thị Huyền, Nguyễn Quang Việt (1994) đã nghiên cứu cơ sở khoa học của phương thức trồng rừng hỗn loài Bạch đàn + Keo lá tràm [43]. Các loài cây bản địa trong thời gian qua cũng đã được chú ý nghiên cứu hơn như: Nguyễn Hoàng Nghĩa (1997) [25] đưa ra nghịch lý cơ bản về cây bản địa trong đó nêu rõ những thuận lợi khó khăn khi đưa ra cây bản địa vào trồng rừng ở nước ta; Trần Quang Việt (2001) [42] nghiên cứu kỹ thuật trồng Hông; Trần Quang Việt, Nguyễn Bá Chất (1998) [1] nghiên cứu cơ cấu cây trồng và xây dựng quy trình hướng dẫn kỹ thuật trồng cho một số loài cây chủ yếu phục vụ chương trình 327; Nguyễn Xuân Quát và cộng tác (1989-1991) [31] đã trồng hỗn giao Bồ Đề + Dó (giấy),... Về gây trồng cây đặc sản cũng đã có nhiều nghiên cứu như: Lê Đình Khả và các cộng sự (1976-1980) [15] nghiên cứu chọn giống Ba Kích có năng suất cao; Lê Thanh Chiến (1999) [2] nghiên cứu thăm dò khả năng trồng Quế có năng suất tinh dầu cao từ lá; Đinh Văn Tự [38] nghiên cứu di thực và gây trồng Trúc Sào về Hoà Bình; Nguyễn Hoàng Nghĩa (1995) [24] nghiên cứu chọn và nhân giống Sở có năng suất cao,... Gần đây Trung tâm Nghiên cứu Lâm đặc sản đã triển khai khá đồng bộ các nội dung nghiên cứu về tình hình gây trồng, thị trường và xây dựng mô hình trồng cây đặc sản ở vùng đệm Vườn Quốc gia Ba Bể (Bắc Kạn) và Kẻ Gỗ (Hà Tĩnh). Có thể nói nghiên cứu về vấn đề này cũng khá nhiều, kỹ thuật gây trồng đã được đúc rút nhưng khâu chuyển giao và dịch vụ kỹ thuật còn yếu, đặc biệt là vấn đề thị trường. công ở nhiều nơi, góp phần đáng kể vào công tác phát triển RTSX ở nước ta trong thời gian qua. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 12 trồng 1 Trong những năm gần đây công tác quy hoạch và phân chia lập địa cho trồng rừng nguyên liệu cũng đã được quan tâm nghiên cứu và chú trọng hơn. Đáng chú ý nhất là các công trình của Viện Điều tra quy hoạch rừng (1999) về phân chia các loại rừng phòng hộ, kinh tế và sản xuất trên cơ sở ứng dụng Hệ thống thông tin địa lý (GIS) và thiết lập các hàm số tương quan; Công trình của Ngô Đình Quế, Đỗ Đình Sâm và cộng sự (2001) [33] đã nghiên cứu xác định tiêu chuẩn phân chia lập địa vi mô cho rừng trồng công nghiệp tại một số vùng sinh thái ở Việt Nam, trong đó có vùng Trung tâm Bắc Bộ dựa trên 4 yếu tố: i) Đá mẹ và loại đất; ii) Độ dốc; iii) Độ dày tầng đất; iv) thảm thực bì chỉ thị. Kết quả đã xác định được các loài cây trồng rừng chính theo thứ tự ưu tiên cho từng nhóm dạng lập địa ở vùng Trung tâm Bắc Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Đây là những cơ sở quan trọng cho việc phát triển trồng RSX có hiệu quả và ổn định ở nước ta. 1.2.4. Về chính sách và thị trường Từ khi đổi mới chiến lược phát triển lâm nghiệp Chính phủ đã ban hành hàng loạt các chính sách về quản lý rừng như Luật đất đai, Luật BV&PTR; các Nghị định 01/CP [21]; 02/CP [22]; 163/CP [23] về việc giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp; các chính sách đầu tư, tín dụng như luật Khuyến khích đầu tư trong nước, nghị định 43/1999/NĐ-CP, nghị định 50/1999/NĐ-CP,... các chính sách trên đã có tác động mạnh tới phát triển sản xuất lâm nghiệp, đặc biệt là trồng RSX. , nghiên cứu về kinh tế và chính sách phát triển trồng RSX ở Việt Nam trong thời gian gần đây cũng đã được quan tâm nhiều hơn, song cũng chỉ tập trung vào một số vấn đề như: phân tích và đánh giá hiệu quả kinh tế của cây trồng, sử dụng đất lâm nghiệp và một số nghiên cứu nhỏ về thị trường. Các công trình quan trọng có thể kể đến là: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 13 - Đỗ Doãn Triệu (1997) [36] đã nghiên cứu xây dựng một số luận cứ khoa học và thực tiễn góp phần hoàn thiện các chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài vào trồng rừng nguyên liệu công nghiệp. - Võ Nguyên Huân (1997) [12] đã đánh giá hiệu quả giao đất giao rừng ở Thanh Hoá, nghiên cứu các loại hình chủ RSX và khuyến nghị các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy nội lực của chủ rừng trong quản lý và sử dụng bền vững. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra những khó khăn và hạn chế của chính sách giao đất khoán rừng và đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giao đất lâm nghiệp và khoán bảo vệ rừng. - Vũ Long (2000, 2004) [19], [20] đã đánh giá hiệu quả sử dụng đất sau khi giao và khoán đất lâm ; Đỗ Đình Sâm, Lê Quang Trung (2003) [55] đã đánh giá hiệu quả trồng rừng công nghiệp ở Việt Nam. - Phạm Xuân Phương (2003, 2005) [28], [29] đã rà soát các chính sách liên quan đến rừng như chính sách về đất đai, đầu tư tín dụng và chỉ rõ các chủ trương, chính sách là rất kịp thời rất, có ý nghĩa nhưng trong quá trình triển khai thực hiện còn gặp nhiều bất cập. Tác giả cũng định hướng hoàn thiện các chính sách để có quy hoạch tổng thể cho vùng trồng rừng nguyên liệu, chủ rừng có thể vay vốn trồng rừng đảm bảo có lợi nhuận, đảm bảo rừng được trồng với tập đoàn giống tốt. - Nguyễn Xuân Quát và cộng sự (2003) [32] đã đánh giá thực trạng trồng rừng nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản trong thời gian qua; Lê Quang Trung và cộng sự (2000) [37] đã nghiên cứu và phân tích các chính sách khuyến khích trồng rừng Thông nhựa đã đưa ra 10 khuyến nghị mang tính định hướng để phát triển loại rừng này. Nghiên cứu thị trường lâm sản cũng được nhiều tác giả quan tâm vì đây là vấn đề có quan hệ mật thiết tới trồng rừng, có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu như sau: Nguyễn Văn Tuấn (2004) [39] đã nghiên cứu hiện trạng và xu hướng phát triển thị trường gỗ nguyên liệu giấy vùng Trung tâm Bắc Bộ; Ngô Văn Hải (2004) [ , tác giả đã phân tích những lợi thế, bất lợi và hiệu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 14 quả của sản xuất nông sản hàng hoá ở miền núi; Nguyễn Văn Dưỡng (2004) [6] nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến định giá sản phẩm gỗ và LSNG tại Hoành Bồ và Ba Chẽ - Quảng Ninh. thụ gỗ rừ . Từ những - . Có như vậy mới giải quyết được yêu cầu hiệu quả và bền vững, đồng thời cũng là nguyện vọng của người dân tham gia trồng RSX. 1.3. Nhận xét, đánh giá chung : - Các công trình nghiên cứu trên thế giới được triển khai tương đối toàn diện và có quy mô lớn trên tất cả các lĩnh vực từ khâu kỹ thuật cho tới kinh tế - chính sách,… nhiều nghiên cứu về chọn và tạo giống, kỹ thuật trồng, sinh trưởng và sản lượng rừng đã được tiến hành đồng bộ tạo cơ sở khoa học cho phát triển trồng RSX ở các nước, đặc biệt với quy mô công nghiệp, góp phần ổn định sản xuất, nâng cao đời sống người dân và phát triển kinh tế - xã hội miền núi từ nhiều năm nay. - nghiên cứu phát triển trồng RSX mới thực sự được quan tâm chú ý trong những năm gần đây, nhất là từ khi chúng ta thực hiện chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên, phát triển các nhà máy giấy và các khu công nghiệp lớn. Tuy vậy, các công trình nghiên cứu trong những năm qua cũng khá toàn diện về các lĩnh vực, từ nghiên cứu chọn, tạo và nhân giống cây trồng rừng cho tới các biện pháp kỹ thuật Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 15 gây trồng và chính sách, thị trường thúc đẩy phát triển RTSX, nhờ những kết quả nghiên cứu này mà công tác trồng RSX ở nước ta đã có những bước tiến đáng kể. Tuy vậy, đối với tỉnh Hà Giang nói chung và Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo, huyện Bắc Quang nói riêng - một vùng tương đối đặc thù về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội, Việc trồng rừng nguyên liệu giấy đã được chú trọng từ lâu tuy nhiên năng suất và hiệu quả mang lại vẫn chưa cao, chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của vùng đặc biệt khi Công ty vừa chuyển đổi từ hình thức Lâm trường thành Công ty Lâm nghiệp. . Tr . Xuất phát từ những yêu cầu đó, đề tài “Nghiên cứu các giải pháp phát triển trồng rừng nguyên liệu giấy tại Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo,huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang . Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 16 Chƣơng 2 : MỤC TIÊU, ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Mục tiêu nghiên cứu 2.1.1. Mục tiêu chung Phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế trồng rừng nguyên liệu giấy nhằm góp phần ổn định đời sống của cán bộ công nhân viên Công ty, thu hút cộng đồng địa phương vào công tác quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng ở Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang. 2.2.2. Mục tiêu cụ thể * Về khoa học: - Đánh giá được thực trạng trồng rừng nguyên liệu giấy ở Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo. - Xác định được một số luận cứ cho việc phát triển trồng rừng nguyên liệu giấy bền vững ở Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo. * Về thực tiễn: Đề xuất được một số các giải pháp tổng thể phát triển trồng rừng nguyên liệu giấy bền vững ở Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo. 2.2. Đối tƣợng và giới hạn nghiên cứu * Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là rừng trồng nguyên liệu giấy thuộc Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang. * Giới hạn nghiên cứu: - Giới hạn về nội dung nghiên cứu: Đề tài tiến hành đánh giá một cách tổng thể về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, đánh giá các mô hình trồng rừng nguyên liệu giấy đã được Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo xây dựng ở các khía cạnh: Các biện pháp kỹ thuật đã áp dụng, mức độ đầu tư, năng suất rừng đạt được, đánh giá ảnh hưởng của các chính sách tới sự phát triển rừng trồng nguyên liệu giấy của Công ty, bước đầu thử nghiệm đánh giá công tác quản lý rừng bền vững hướng tới được cấp chứng chỉ rừng của Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo theo tiêu chuẩn của Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 17 FSC Việt Nam từ đó phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với sự phát triển rừng trồng nguyên liệu giấy của Công ty theo mô hình phân tích SWOT làm cơ sở đề xuất các giải pháp phù hợp để phát triển và nâng cao hiệu quả của trồng rừng nguyên liệu giấy của Công ty trong thời gian tới. - Giới hạn về địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện tại Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang. - Giới hạn về thời gian: Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 5/2011 đến tháng 6/2012. 2.3. Nội dung nghiên cứu Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đề ra, đề tài đặt ra các nội dung sau: - Đánh giá thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo. - Đánh giá thực trạng phát triển trồng rừng nguyên liệu giấy ở Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo. - Đánh giá các cơ chế, chính sách và mô hình tổ chức trồng rừng nguyên liệu giấy và tiêu thụ sản phẩm tại Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo. - Đánh giá công tác quản lý rừng nguyên liệu giấy ở Công ty Lâm nghiệp Vĩnh hảo theo tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững của FSC. - Đề xuất một số giải pháp tổng thể phát triển trồng rừng nguyên liệu giấy bền vững ở Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo. 2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu 2.4.1. Quan điểm và cách tiếp cận của đề tài - Trồng rừng nguyên liệu giấy của Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo là một quá trình phát triển, vì vậy quan điểm lịch sử sẽ được quán triệt trong nghiên cứu này. Đề tài không chỉ chú ý đến hiện trạng rừng trồng nguyên liệu giấy hiện nay mà sẽ xem xét và đánh giá nó trong quá trình phát triển từ quá khứ, hiện tại và dự đoán trong tương lai. - Hiệu quả của rừng trồng cung cấp nguyên liệu giấy được xem xét trong đề tài chủ yếu là về mặt kinh tế. Tuy nhiên, dựa trên quan điểm phát triển rừng trồng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 18 nguyên liệu giấy một cách bền vững các giải pháp đưa ra còn phải đáp ứng được cả yêu cầu về mặt xã hội và môi trường. - Để phát triển rừng trồng nguyên liệu giấy tại Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang, quan điểm và cách tiếp cận của đề tài là tổng hợp và có sự tham gia của cộng đồng và người dân địa phương. - Hiện nay, Tổng Công ty giấy đang chỉ đạo các Công ty thành viên thực hiện các giải pháp quản lý rừng bền vững để tiến đến cấp chứng chỉ rừng. Đã có 2 công ty con được cấp chứng chỉ với diện tích 6.000 ha rừng trồng. Phát triển rừng trồng nguyên liệu giấy tại Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo cũng phải đặt trên quan điểm bền vững và hướng đến cấp chứng chỉ rừng. - Do thời gian nghiên cứu của đề tài ngắn nên cách tiếp cận chín . Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 19 Các bước tiến hành cụ thể được sơ đồ hoá như sau: Khảo sát sơ bộ khu vực nghiên cứu Thu thập các thông tin, tài liệu đã có Lựa chọn địa điểm và đối tượng điều tra chi tiết Thực trạng sản xuất kinh doanh của Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo Thực trạng phát triển rừng trồng cung cấp nguyên liệu giấy của Công ty Ảnh hưởng của chính sách, mô hình SX, tiêu thụ SP tới phát triển rừng nguyên liệu giấy của Công ty Đánh giá tình hình thực hiện quản lý rừng bền vững theo tiêu chuẩn FSC của Công ty Phân tích SWOT Đề xuất giải pháp Sơ đồ 2.1: Sơ đồ các bƣớc giải quyết vấn đề của đề tài Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/ 20 2.4.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể 2.4.2.1. Phương pháp kế thừa số liệu, tài liệu Để triển khai thực hiện đề tài kế thừa các số liệu, tài liệu chủ yếu sau: - Các báo cáo, thông tin, số liệu về lịch sử hình thành của Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo, lịch sử phát triển trồng rừng nguyên liệu giấy của Công ty. - Các báo cáo về thành phần loài cây, quy mô diện tích, bản đồ phân bố, hồ sơ thiết kế trồng rừng của từng loài cây được trồng rừng để cung cấp nguyên liệu giấy của Công ty Lâm nghiệp Vĩnh Hảo. - Các báo cáo, các tài liệu khoa học đã công bố có liên quan tới phát triển rừng trồng sản xuất và rừng trồng sản xuất cung cấp nguyên liệu giấy. - Các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu. 2.4.2.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể Phương pháp chủ đạo của đề tài là sử dụng bộ công cụ điều tra tiếp cận có sự tham gia PRA (phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia), thông qua việc phỏng vấn các đối tượng khác nhau, khảo sát ngoài thực địa theo lát cắt để từng bước thực hiện các nội dung nghiên cứu của đề tài. * Đánh giá thực trạng sản xuất kinh doanh của Công ty Các vấn đề quan tâm nghiên cứu là: - Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty, chức năng và nhiệm vụ hiện nay của công ty. - Cơ cấu tổ chức hiện tại, các tiềm lực về vốn, lao động, kỹ thuật,… hiện có của Công ty. - Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty trong giai đoạn 2004 - 2011. Phương pháp áp dụng chủ yếu là phỏng vấn các đối tượng khác nhau: Lãnh đạo Tổng công ty giấy; lãnh đạo công ty, cán bộ kỹ thuật, công nhân. Số lượng người phỏng vấn là 15 người. Trong quá trình phỏng vấn, chú trọng làm rõ về những điểm mạnh, điểm yếu, tiềm lực của Công ty trong việc tiếp tục đẩy mạnh phát triển rừng trồng nguyên liệu giấy trong thời gian sắp tới. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Xem thêm -