Tài liệu Nghệ thuật truyện ngắn bảo ninh

  • Số trang: 95 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 240 |
  • Lượt tải: 2
nguyetha

Đã đăng 8489 tài liệu

Mô tả:

1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2 VŨ NGỌC CHINH NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN BẢO NINH LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM HÀ NỘI, 2013 2 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2 VŨ NGỌC CHINH NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN BẢO NINH Chuyên ngành: Lí luận văn học Mã số: 60 22 01 20 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Ngọc Thiện HÀ NỘI, 2013 3 LỜI CẢM ƠN Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn: PGS. TS. Nguyễn Ngọc Thiện, người đã hướng dẫn tôi thực hiện luận văn này. Thầy đã cung cấp tài liệu và truyền thụ cho tôi những kiến thức khoa học và phương pháp nghiên cứu khoa học. Sự quan tâm, bồi dưỡng của thầy đã giúp tôi vượt qua những khó khăn trong quá trình hoàn thành luận văn cũng như trong quá trình học tập và nghiên cứu. Đối với tôi, thầy luôn luôn là tấm gương sáng về tinh thần làm việc không mệt mỏi, sự nghiêm túc, lòng hăng say với khoa học, lòng nhiệt tình quan tâm, bồi dưỡng thế hệ trẻ. Nhân dịp này, cho phép tôi xin chân thành cảm ơn Ban Chủ Nhiệm Khoa Ngữ văn, Phòng Sau Đại học, Thư viện - Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2, Thư viện Quốc Gia, Thư viện Trường ĐHSP Hà Nội, Thư viện Trường ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn…và các thầy, cô giáo đã tận tình giảng dạy, tạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành khóa học. Cho phép tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã luôn quan tâm, chia sẻ động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn được tốt. Hà Nội, tháng 6 năm 2013 Tác giả Vũ Ngọc Chinh 4 LỜI CAM ĐOAN Trong quá trình nghiên cứu luận văn về đề tài: Nghệ thuật truyện ngắn Bảo Ninh, tôi đã cố gắng tìm hiểu, nghiên cứu đề tài để hoàn thành luận văn. Tôi xin cam đoan luận văn này được hoàn thành là do sự nỗ lực của bản thân cùng với sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình và hiệu quả của PGS. TS. Nguyễn Ngọc Thiện. Đây là đề tài không trùng khít với các đề tài khác và kết quả đạt được không trùng với kết quả của các tác giả khác. Hà Nội, tháng 6 năm 2013 Tác giả Vũ Ngọc Chinh 5 MỤC LỤC A. MỞ ĐẦU ............................................................................................... 01 1. Lí do chọn đề tài .................................................................................. 01 2. Mục đích nghiên cứu........................................................................... 04 3. Nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................................... 04 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu...................................................... 05 5. Phƣơng pháp nghiên cứu ................................................................... 05 6. Giả thuyết khoa học ............................................................................ 05 7. Cấu trúc của luận văn......................................................................... 06 B. NỘI DUNG ............................................................................................ 07 CHƢƠNG 1: QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC, QUAN NIỆM VỀ NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƢỜI CỦA BẢO NINH . ............................ ..……07 1.1. Quá trình sáng tác ............................................................................. 07 1.2. Quan niệm nghệ thuật về con ngƣời................................................. 10 1.2.1. Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 .. …………………………………………………………………11 1.2.2. Quan niệm nghệ thuật về con người của Bảo Ninh ...................... 13 1.2.2.1.Chiến tranh được nhìn từ hậu chiến ............................................... 13 1.2.2.2.Con người dưới cái nhìn cá nhân ................................................... 17 1.2.2.3. Sự khẳng định nhân cách người lính ............................................. 19 CHƢƠNG 2: CÁC CHỦ ĐỀ TRUNG TÂM VÀ THẾ GIỚI NHÂN VẬT .......... 22 2.1. Các chủ đề trung tâm......................................................................... 22 2.1.1. Số phận con người ........................................................................... 22 2.1.2. Quá khứ chiến tranh ........................................................................ 25 2.1.3.Tình yêu, tình đồng đội ..................................................................... 28 2.2. Các loại nhân vật trong truyện ngắn Bảo Ninh .............................. 31 6 2.2.1. Vấn đề chung về nhân vật ............................................................... 31 2.2.2. Các loại nhân vật trong truyện ngắn Bảo Ninh ............................. 33 2.2.2.1. Nhân vật lí tưởng, dấn thân cho sự nghiệp .................................... 33 2.2.2.2. Nhân vật phân thân, trăn trở, sám hối ........................................... 38 2.2.2.3.Nhân vật tha hóa, đánh mất mình ................................................... 41 2.2.2.4. Nhân vật cô đơn, lạc lõng .............................................................. 54 2.3. Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn Bảo Ninh ........ 46 2.3.1.Đặc tả ngoại hình .............................................................................. 46 2.3.2.Nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật............................................... 49 CHƢƠNG 3: NGÔN NGỮ, THỜI GIAN – KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT VÀ GIỌNG ĐIỆU ......................................................................... 52 3.1. Ngôn ngữ ............................................................................................. 52 3.1.1. Ngôn ngữ mang dư cảm mạnh mẽ .................................................. 53 3.1.2. Ngôn ngữ mang đậm tính triết lí ..................................................... 54 3.1.3. Tổ chức từ ngữ, câu văn đa dạng, linh hoạt................................... 56 3.2. Thời gian và không gian nghệ thuật ................................................. 58 3.2.1. Thời gian nghệ thuật........................................................................ 58 3.2.1.1. Thời gian hồi tưởng........................................................................ 59 3.2.1.2. Thời gian khoảnh khắc ................................................................... 61 3.2.1.3. Thời gian hiện thực ........................................................................ 62 3.2.2. Không gian nghệ thuật .................................................................... 64 3.2.2.1. Không gian chiến trường ............................................................... 65 3.2.2.2. Không gian tù túng, chật hẹp ......................................................... 67 3.2.2.3. Không gian đời thường .................................................................. 69 3.3. Giọng điệu ........................................................................................... 71 3.3.1. Giọng điệu chiêm nghiệm triết lí ..................................................... 72 3.3.2. Giọng điệu đau đớn, xót xa ............................................................. 76 7 3.3.3. Giọng điệu khách quan, dửng dưng ............................................... 78 C. KẾT LUẬN ........................................................................................... 81 D. TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................... 84 8 A. MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Cuộc chiến tranh chống Mĩ đã đi qua nhưng những dư âm của nó vẫn còn mãi trong tâm trí của người Việt, đặc biệt là những người lính đã kinh qua cuộc chiến đó. Viết về chiến tranh, văn xuôi nói chung và truyện ngắn nói riêng đã tạo được không khí trận mạc của đất nước một thời binh lửa. Nếu như văn học giai đoạn trước đổi mới thường nói về những con người anh hùng, những vấn đề sử thi lớn lao thì văn học giai đoạn sau đổi mới có những thay đổi đáng ghi nhận. Nếu như trong chiến tranh có những vấn đề chưa được nói tới hay chưa kịp nói tới, do đó có những vấn đề còn nhìn phiến diện chưa đầy đủ thì nay có điều kiện đề cập đầy đủ hơn, toàn diện hơn. Có lẽ, lúc này người viết đã cảm nhận được rằng, việc chỉ phản ánh về anh hùng, cái cao cả thì không thể nói lên được tính khốc liệt của chiến tranh, cũng có nghĩa là không nói hết được cái giá của chiến thắng. Cảm hứng bi kịch bắt đầu xuất hiện và dần trở thành một trong những cảm hứng chính. Vậy nên, cùng viết về đề tài chiến tranh nhưng văn học giai đoạn trước và sau đổi mới có những điểm nhìn khác nhau, cách thể hiện khác nhau… tạo nên những tác phẩm có giá trị khác nhau. Trong số các nhà văn viết về chiến tranh thời kì hậu chiến, Bảo Ninh được coi là một trong những cây bút tiêu biểu nhất. Nếu tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh (còn có tên gọi khác là Thân phận tình yêu) đã mang lại cho ông những thành công lớn, là một tác phẩm điển hình cho cả một giai đoạn văn học thì chính tác phẩm này cũng tạo nên một áp lực lớn không dễ vượt qua với chính nhà văn và cả trong cách tiếp nhận của bạn đọc. Do đó, truyện 9 ngắn của Bảo Ninh lâu nay vẫn chưa được quan tâm đúng mức với những giá trị nghệ thuật đặc sắc của nó. Truyện ngắn có nhiều khả năng trong việc thể hiện quan niệm về con người. Do dung lượng nhỏ, nắm bắt những nét bản chất nhất của cuộc sống… nên truyện ngắn có khả năng chuyển tải những vấn đề của thời đại, con người một cách chính xác, nhạy bén. Cũng chính điều này đã khiến truyện ngắn trở thành thể loại cho phép nhà văn thử nghiệm và triển khai những khía cạnh mới mẻ, linh hoạt trong quan niệm nghệ thuật về con người. Một nhà văn không chỉ thành danh trong nước mà còn có tên tuổi trên thế giới như Bảo Ninh chắc chắn đã có nhiều công trình nghiên cứu về tác phẩm của ông. Nhưng như trên đã nói, do “bức tượng” - Nỗi buồn chiến tranh quá lớn nên mảng truyện ngắn của ông dường như bị lãng quên. Nó chưa được quan tâm đúng với tầm của nó. Nguyễn Chí Hoan khi giới thiệu tập truyện ngắn Lan man trong lúc kẹt xe đã chỉ ra rằng, cái nhìn của hồi tưởng cho thấy cái quá khứ cao hơn, lớn hơn, hư ảo hơn đồng thời là thực hơn. Đó là cái nhìn vào ý nghĩa, không phải nhìn vào sự kiện, biến cố con người. Tất cả những câu chuyện ở đây đều đi theo quỹ đạo ấy. Tuy nhiên những cái chết có hậu về tinh thần ấy một lần nữa không hề là những ước mộng nói suông. Những truyện ở tập này chỉ dừng lại mà không kết thúc và tác giả đã làm như vậy một cách có chủ ý rõ ràng. Bởi lẽ những câu chuyện này chủ yếu nhằm diễn đạt những ý nghĩ, những cảm nhận, những băn khoăn về đau khổ chứ không nhằm miêu tả nỗi đau, nên khiến người ta phải thấy rằng chúng muốn giải thoát cho những nỗi đau ấy. Trong bài viết với nhan đề “Bảo Ninh nhìn từ thân phận của truyện ngắn”, Đoàn Ánh Dương nhấn mạnh rằng, thân phận truyện ngắn Bảo Ninh cho chính thân phận nghiệp văn của Bảo Ninh, chứ không chỉ tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh. Sự long đong trọn một đời Kiều của tiểu thuyết rồi cũng 10 có cơ hội “đoàn viên” vào đời sống văn học đương đại. Truyện ngắn của ông thì khác hẳn, nó vẫn còn là một sự long đong như sự long đong của văn chương ông. Phải chăng nó nhỏ bé hơn so với thành tựu của tiểu thuyết như lối viết của ông so với “chủ âm” của lối viết đương thời? Tác giả nghĩ phải giải mã truyện ngắn Bảo Ninh cũng như văn nghiệp của ông từ một góc độ khác như đã nói ở trên, là câu chuyện cuộc đời. Đặt ra vấn đề câu chuyện cuộc đời qua truyện ngắn của Bảo Ninh ở đây là để nhấn mạnh vai trò của Bảo Ninh trong sự dịch chuyển kiểu thức thể loại và tư duy văn học trong văn học Việt Nam đương đại. Nhà văn Mai Quốc Liên khi nhận xét về cuốn sách Bảo Ninh - Tác phẩm chọn lọc cho rằng: “Đã lâu lắm, tôi mới đọc được một tập truyện hay như thế. Anh tôi, tuy làm “chính trị” đọc xong cũng thốt lên: “hay”… Một nỗi buồn sâu lắng, nhưng trong lành, một tình yêu thương đằm thắm, xót xa thấm đượm trong từng trang sách… Và cao hơn, một sự nhận thức đầy đủ, chân thành, lương tâm của một người lính trở về từ chiến trận. Một cái nhìn, một cách nhìn và điểm nhìn đã được lọc qua tháng năm, những suy nghĩ trải nghiệm qua máu xương, chiến trận… Số phận của từng người, số phận của tình yêu, cái ngẫu nhiên và cái sống, cái chết đã làm cuộc đời thêm xót xa, cay đắng nhưng càng đáng yêu hơn” [33;42]. Trong Văn học Việt Nam thế kỉ XX, Bùi Việt Thắng đã khẳng định Bảo Ninh là một trong những nhà văn có duyên với truyện ngắn và là cây bút gây ấn tượng mạnh với người đọc. Sẽ là thiếu sót nếu không nhắc đến những công trình về Nỗi buồn chiến tranh. Bởi truyện ngắn Bảo Ninh có những nét tương đồng và có mẫu số chung với tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh. Là tiểu thuyết lớn nên có rất nhiều các công trình khác nhau nghiên cứu về tác phẩm này. Tác giả Đỗ Đức Hiểu trong Thi pháp hiện đại khẳng định: “Trong văn học mấy chục năm 11 nay có thể Thân phận tình yêu là quyển tiểu thuyết hay về tình yêu, quyển tiểu thuyết về tình yêu xót thương nhất”, tác giả nhấn mạnh: “Nỗi buồn chiến tranh thể hiện một điểm nhìn mới về cuộc chiến tranh kéo dài 30 năm”, “những cảnh tả chiến tranh, những định nghĩa về chiến tranh la liệt trong tác phẩm” [22; 265]. Nguyễn Thái Hòa trong công trình Những vấn đề thi pháp truyện lại nhấn mạnh đến cách xử lí thời gian linh hoạt của Bảo Ninh. Theo nhà nghiên cứu, Bảo Ninh đã sử dụng thủ pháp đồng hiện trong cuốn tiểu thuyết này. Nguyễn Thái Hòa nhấn mạnh đến thời gian: phong phú và đầy đặn hơn là cách kể, cách xử lí thời gian của Bảo Ninh trong Thân phận tình yêu. Cả quãng đời thơ ấu, đi học, trước chiến tranh, sau chiến tranh của nhân vật Kiên không phải liên tục, đều đặn mà lần giở theo hồi ức, sự xê dịch trong Thân phận tình yêu mới thật là một thách thức đối với người đọc. Nó không có dấu hiệu báo trước và cũng chẳng biết kết thúc lúc nào. Như vậy, chưa có công trình nào nghiên cứu tổng quát, hệ thống truyện ngắn của Bảo Ninh, đặc biệt dưới các khía cạnh về các chủ đề, thế giới nhân vật và nghệ thuật truyện ngắn. Do đó nghiên cứu đề tài Nghệ thuật truyện ngắn Bảo Ninh là rất cần thiết. 2. Mục đích nghiên cứu Làm rõ nghệ thuật truyện ngắn Bảo Ninh qua việc nghiên cứu các chủ đề, các loại nhân vật và nghệ thuật truyện ngắn của ông. Khẳng định những giá trị đặc sắc nghệ thuật trong truyện ngắn của Bảo Ninh. Từ đó nhấn mạnh vai trò và đóng góp của ông trong nền văn học đương đại. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn đặt ra nhiệm vụ đi tìm hiểu các chủ đề, các loại nhân vật được khắc họa trong truyện ngắn của Bảo Ninh, đồng thời tìm hiểu những yếu tố 12 nghệ thuật truyện ngắn Bảo Ninh. Từ đó khẳng định vai trò và những đóng góp của nhà văn Bảo Ninh trong dòng chảy văn học đương đại. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đề tài tập trung vào các chủ đề, các loại nhân vật, nghệ thuật truyện ngắn của Bảo Ninh. Phạm vi nghiên cứu là các truyện và tập truyện: - Truyện ngắn Bảo Ninh, (tập truyện), 2002. - Hà Nội lúc không giờ, (tập truyện), 2003. - Lan man trong lúc kẹt xe, (tập truyện), 2005. - Chuyện xưa kết đi được chưa?, (tập truyện), 2009. - Trại bảy chú lùn, (tập truyện), 2011. - Bảo Ninh tác phẩm chọn lọc, (tập truyện), 2011. - Tòa dinh thự, (truyện), 2012. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Để hoàn thành đề tài trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: - Phương pháp thống kê, phân loại - Phương pháp phân tích - Phương pháp so sánh - Phương pháp hệ thống - Phương pháp khái quát tổng hợp 6. Giả thuyết khoa học Luận văn góp phần làm rõ các chủ đề, các loại nhân vật cũng như nghệ thuật truyện ngắn Bảo Ninh từ đó khẳng định những đóng góp của ông trong nền văn học đương đại. Luận văn có thể sử dụng như là tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy văn học cũng như người yêu thích văn học Việt Nam. 13 7. C A. , C. D. , nh 03 chương trong phần B. Nội dung: Chương 1: Quá trình sáng tác, quan niệm nghệ thuật về cuộc đời và con ngƣời của Bảo Ninh Chương 2: Các chủ đề trung tâm và thế giới nhân vật Chương 3: Nghệ thuật truyện ngắn Bảo Ninh 14 B. NỘI DUNG CHƢƠNG 1 QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC, QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƢỜI CỦA BẢO NINH 1.1. Quá trình sáng tác Bảo Ninh tên khai sinh là Hoàng Ấu Phương, sinh ngày 18/10/1952 tại huyện Diễn Châu, Nghệ An; quê ở xã Bảo Ninh, huyện Quảng Ninh, Quảng Bình. Ông sống ở Hà Nội từ năm 1954. Ông vào bộ đội năm 1969. Trong chiến tranh chống Mĩ ông ở mặt trận B3, Tây Nguyên, tiểu đoàn 5, trung đoàn 24, sư đoàn 10. Năm 1975 ông giải ngũ, từ năm 1976 đến 1981 ông học Đại học ở Hà Nội, sau đó ông làm việc ở Viện khoa học Việt Nam. Từ năm 1984 đến 1986 ông học khóa 2 trường viết văn Nguyễn Du. Ông làm việc tại báo Văn nghệ Trẻ, là hội viên Hội nhà văn Việt Nam từ 1997. Cũng như bao người lính khác trở về từ chiến trường, Bảo Ninh giữ cho riêng mình những kỉ niệm từ chiến trường gian khổ nhưng oanh liệt. Trong hành trang tâm hồn của mình, chiến tranh là nỗi nhớ da diết, là nỗi buồn nguyên khối. Nó như miền kí ức không bao giờ phai nhòa trong lòng mỗi con người đã từng vào sinh ra tử. Vậy nên, chiến tranh đã đi qua nhưng được viết về nó, với Bảo Ninh như một mối nợ, một niềm hạnh phúc, viết bằng tất cả sự say mê, bằng cả tấm lòng của một người lính đã trải nghiệm sâu sắc về giá trị của cuộc chiến hôm qua. Trong sự nghiệp văn chương của mình, Bảo Ninh sáng tác chủ yếu ở hai thể loại văn xuôi chính là: tiểu thuyết và truyện ngắn. Về tiểu thuyết, Bảo Ninh sáng tác đến giờ mới có một cuốn duy nhất Nỗi buồn chiến tranh – Thân phận của tình yêu. Cuốn tiểu thuyết được in lần đầu năm 1987 tên là Thân phận của tình yêu, đến năm 1991 cuốn tiểu thuyết được tặng giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, cuốn tiểu thuyết được bạn đọc đón đợi nồng 15 nhiệt. Đó là câu chuyện một người lính tên Kiên, đan xen giữa hiện tại hậu chiến với hai luồng hồi ức về chiến tranh và về mối tình đầu với cô bạn tên Phương. Khác với những tác phẩm trước đó mang tính sử thi, miêu tả chiến tranh từ góc độ cộng đồng, hùng tâm tráng chí của người lính chiến đấu vì vận mệnh dân tộc, Bảo Ninh đã miêu tả chiến tranh từ một góc độ khác, góc độ cá nhân, thân phận con người, đi sâu vào nỗi niềm cá nhân. Tuy nhiên, trong hơn mười năm sau đó cuốn sách đã bị cấm, không được in lại, có lẽ do quá nhạy cảm. Mặc dù vậy, với làn sóng đổi mới ở Việt Nam cuốn tiểu thuyết vẫn được ưa thích. Cuốn tiểu thuyết được các nhà nghiên cứu đánh giá rất cao. Nhà văn Nguyên Ngọc ca ngợi: “về mặt nghệ thuật, đó là thành tựu cao nhất của văn học đổi mới”. Nguyễn Quang Thiều viết: “Nỗi buồn chiến tranh đã chạm vào mẫu số chung của nhân loại – đó là câu chuyện của thân phận, của mất mát, của tình yêu và chiến tranh… chỉ có những tác phẩm như vậy mới thực sự được đón nhận và sẻ chia”. [39;321]. Còn Dennis Mansker tác giả cuốn sách A Bad Attitude: A Novel from the Vietnam War viết: “Đây là một bức tranh trung thực và tàn nhẫn đến kinh ngạc. Đã đến lúc thế giới phải thức tỉnh trước nỗi đau mang tính phổ quát của những người lính ở mọi bên xung đột, và cuốn sách này là nên đọc đối với những ai chọn nghề “binh nghiệp”[39;323]. Không những thế, cuốn tiểu thuyết còn được các tờ báo nước ngoài đánh giá rất cao. Sunday Times viết: “Cuốn tiểu thuyết này, của một nhà văn cựu chiến binh quân đội Bắc Việt Nam, đã rất thành công trong việc tôn vinh tầm nhân văn của dân tộc mình, một dân tộc mà trước đây thường bị ngộ nhận là vô cảm như những rô-bốt”[39;321]. The List lại ca ngợi: “một tác phẩm có tầm cỡ quốc tế: mang tính văn học rất cao, rất dễ đọc mà đầy uy lực”[39;321]. Được đánh giá cao như thế nên cuốn sách được dịch ra rất nhiều thứ tiếng khác nhau. Lần đầu được dịch ra tiếng Anh với tựa đề “The sorrow of war” xuất bản năm 1994. Năm 2005 tiểu thuyết này được tái 16 bản với nhan đề ban đầu là Thân phận của tình yêu, năm 2006 tái bản với nhan đề đã trở thành nổi tiếng Nỗi buồn chiến tranh. Đến năm 2011 cuốn tiểu thuyết này đã được chuyển ngữ và giới thiệu ở 18 quốc gia trên thế giới. Nói như vậy để thấy được tài năng của nhà văn trong nền văn học Việt Nam nói chung, bởi ít có một tác phẩm của chúng ta mà được chuyển ngữ và giới thiệu nhiều như thế. Với cuốn tiểu thuyết này đã đưa Bảo Ninh lên một “đẳng cấp” khác trong nền văn học, nó là một dấu mốc quan trọng nhất trong sự nghiệp sáng tác của Bảo Ninh. Bên cạnh đó, Bảo Ninh sáng tác chủ yếu là truyện ngắn, bạn đọc biết đến Bảo Ninh từ tập truyện đầu tay Trại “bảy chú lùn” xuất bản năm 1987. Năm 2002, Nhà xuất bản Công An nhân dân ấn hành cuốn Truyện ngắn Bảo Ninh. Năm 2003 Nhà xuất bản Văn hóa thông tin xuất bản cuốn Hà Nội lúc không giờ. Năm 2005 Nhà xuất bản Hội Nhà văn xuất bản cuốn Lan man trong lúc kẹt xe. Năm 2006, Nhà xuất bản Văn học xuất bản cuốn Chuyện xưa kết đi được chưa? Đến năm 2011 Nhà xuất bản Phụ nữ xuất bản cuốn Bảo Ninh – tác phẩm chọn lọc. Năm 2012 trên báo Nghệ thuật mới (số 01) cho in tác phẩm Tòa dinh thự. Như vậy, tập hợp các tập truyện đã xuất bản qua các năm, loại bỏ các truyện trùng nhau ở các tập truyện thì đến năm 2012 Bảo Ninh đã sáng tác 41 truyện ngắn. Đây không phải là số lượng lớn trong khoảng thời gian hơn hai mươi lăm năm cầm bút (tính từ 1987, cuốn Trại bảy chú lùn được ấn hành), nó càng nhỏ bé so với số lượng của các nhà văn “đàn anh” khác. Nhưng có thể thấy, các tập truyện của Bảo Ninh được tái bản nhiều lần, xuất bản với số lượng lớn. Qua khảo sát, chúng tôi thấy các tập truyện bán rất chạy, nó cho thấy phần nào sức hấp dẫn của truyện ngắn Bảo Ninh trong lòng bạn đọc. Đây là điều không phải nhà văn nào cũng làm được. Cho đến nay Bảo Ninh đã nhận được nhiều giải thưởng khác nhau ở cả trong và ngoài nước: 17 - Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1991. - Giải thưởng văn học nước ngoài của tờ Independent (Anh quốc) năm 1995. - Giải thưởng văn học châu Á năm 1996 của Đan Mạch. - Giải thưởng Sách Hay 2011 (cho tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh, với 100% số phiếu). - Giải thưởng châu Á trong lĩnh vực văn hóa của nhật báo Nikkei (Nikkei Asia Prize), Nhật Bản. Với những sáng tác đó, chúng ta có thể khẳng định Bảo Ninh có một nhà văn có sự nghiệp sáng tác đặc sắc, gây được tiếng vang trong lòng bạn đọc không chỉ trong nước. Đến bây giờ tuy phong cách của ông đã ổn định nhưng chúng ta chưa thể chấp bút viết lời kết cho nghiệp văn của ông. Một cây bút đầy sung mãn, nung nấu trong mình những tác phẩm lớn, để đời… Chúng ta hãy chờ các tác phẩm đó ra đời. Dù tác phẩm nào có ra đời đi nữa, nó luôn mang đậm phong cách rất riêng của nhà văn xứ Quảng “chang chang nắng cát”. 1.2. Quan niệm nghệ thuật về con ngƣời Văn học là nhân học, là nghệ thuật miêu tả, biểu hiện con người. Con người là đối tượng chủ yếu của văn học. Dù miêu tả thần linh, ma quỉ, đồ vật, hoặc đơn giản là miêu tả các nhân vật, văn học đều thể hiện con người. Mặt khác, người ta không thể miêu tả về con người, nếu không hiểu biết, cảm nhận và có các phương tiện, biện pháp nhất định. Điều này tạo thành chiều sâu, tính độc đáo của hình tượng con người trong văn học. Quan niệm nghệ thuật về con người là sự lí giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các hình tượng nhân vật trong đó. 18 Quan niệm nghệ thuật về con người luôn hướng vào con người trong mọi chiều sâu của nó, cho nên đây là tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá giá trị nhân văn vốn có của văn học. Nghệ sĩ là người suy nghĩ về con người, cho con người, nêu ra những tư tưởng mới để hiểu về con người, do đó càng khám phá nhiều quan niệm nghệ thuật về con người thì càng đi sâu vào thực chất sáng tạo của họ, càng đánh giá đúng thành tựu của họ. 1.2.1. Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 Con người là đối tượng khám phá và đối tượng trọng tâm của văn học. Con người trong văn học là sự tái hiện có chọn lọc từ con người ngoài đời sống thông qua sáng tạo của nhà văn để sao cho vừa có giá trị thể hiện những nét cụ thể cá biệt, không lặp lại, vừa có khả năng khái quát làm bộc lộ bản chất của loài người hay một quá trình đời sống theo quan niệm của người nghệ sĩ. Quan niệm nghệ thuật về con người vẫn được coi là thước đo cho mọi tiến bộ nghệ thuật từ xưa đến nay. Nếu như con người trong văn xuôi 1945-1975 là con người mang tính giai cấp, tính giai cấp này quy định mọi phẩm chất khác. Con người được nhìn nhận dưới góc độ cộng đồng chứ không phải ở góc độ đời tư, cá nhân. Thì sau 1975, con người trong văn xuôi không có ưu ái, phân biệt cho bất kì kiểu người nào. Con người trong văn xuôi 1945-1975 là con người công dân nguyên phiến, đơn trị thì con trong văn xuôi sau 1975 là con người đa trị, lưỡng cực, không trùng khít với địa vị xã hội của mình, không thể biết trước, biết hết. Đấy là con người đa đoan, đa sự nhiều suy tư, lắm bi kịch, dễ sa ngã, khủng hoảng niềm tin… Con người được nhìn từ nhiều góc độ khác nhau. Con người xuất hiện trong các tác phẩm văn xuôi sau 1975 là con người thế tục với tất cả bản chất tự nhiên của nó: thiên thần - ác quỷ, thiện ác, tốt - xấu, cao thượng - thấp hèn, ý thức – vô thức… Các nhà văn nhìn con 19 người trong trạng thái lưỡng hóa, không phân cực trong tính cách. Đó là con người vừa mang trong mình: “tí trí thức – tí thợ cày, tí điếm – tí con buôn, tí cán bộ - tí thằng hề, tí phật và ma, mỗi thứ tí ti” (Nguyễn Duy). Mỗi con người bây giờ là một thế giới riêng với những suy nghĩ, hành xử không ai giống ai và các nhà văn đã lắng nghe diễn tả đầy đủ bản chất, đi sâu vào tận ngóc ngách của những tâm tư riêng, những nhận thức, những kinh nghiệm cuộc sống, những lo âu, trăn trở, dằn vặt, đau đớn của mỗi con người giữa cuộc đời. Văn chương sau 1975 khắc họa con người không chỉ ở tính cách, ở những điều có thể giải thích được bằng lí tính mà còn khám phá con người ở cõi tâm linh, huyền ảo, khám phá những dòng ý thức đan xen vào nhau như một ma trận cực kì phức tạp của cái thế giới bên trong đầy bí ẩn “nó đem lại sự phong phú trong cấu trúc nhân cách và góp phần xây dựng một quan niệm toàn diện về con người, đối lập với tư duy duy lí, cằn cỗi, máy móc” (Nguyễn Thị Bình). Trong quan niệm nghệ thuật về con người văn xuôi sau 1975 không chỉ phát hiện ra con người đa trị, con người tâm linh mà còn phát hiện ra con người tự nhiên, bản năng. Con người tự nhiên trong văn xuôi sau 1975 là sự tiếp nối cao hơn con người tự nhiên trong các sáng tác của Nam Cao, Vũ Trọng Phụng… Các nhà văn đương thời nhìn nhận con người với những khát vọng bản năng như điều bình thường, tất yếu ở tất cả mọi người chứ không xem đó là điều tiêu cực, bệnh hoạn. Như vậy, quan niệm nghệ thuật về con người đã thay đổi so với giai đoạn văn học trước đó. Quan niệm chung này chi phối rất lớn đến quan niệm nghệ thuật của Bảo Ninh về con người. Bởi suy cho cùng Bảo Ninh cũng là một thành tố chịu sự chi phối và làm nên hệ thống chung trong dòng chảy văn học đương đại. 20 1.2.2. Quan niệm nghệ thuật về con người của Bảo Ninh Qua nghiên cứu chúng tôi nhận thấy Bảo Ninh đã thể hiện cách nhìn nhận, khám phá đời sống, con người chiến tranh từ cái nhìn hậu chiến với độ lùi lịch sử cần thiết. Từ đó khắc họa những bi kịch, nỗi cô đơn của con người trong và sau chiến tranh. 1.2.2.1 Chiến tranh được nhìn từ hậu chiến Với Bảo Ninh, chiến tranh là một phần không tách rời trong con người ông. Dù hòa bình, thì chiến tranh vẫn hiện về như một miền kí ức không phai nhòa. Chỉ có điều nó được nhìn nhận “tỉnh táo” hơn mà thôi. Tiêu biểu là cuốn Nỗi buồn chiến tranh, dưới cái nhìn hồi ức của nhân vật Kiên, Bảo Ninh đã viết lên một hiện thực về chiến tranh. Chiến tranh qua cách cảm, cách nghĩ của một người lính, chiến tranh qua những mẩu kí ức xé vụn. Bằng thứ ngôn ngữ đa thanh, cái nhìn đa chiều, cuốn tiểu thuyết đã đem đến cho người đọc một âm hưởng mới của chiến tranh, một câu chuyện về chiến tranh với những nốt nhạc trầm buồn. Nếu như chiến tranh trước đây được viết trong khói lửa, bom đạn chiến tranh, nó mang tính chất “minh họa”, theo những “đơn đặt hàng”, một mô tuýp quen thuộc là ta tốt, ta chiến thắng… mà ít nói tới mặt trái, những mặt còn khuất lấp của chiến tranh thì giờ đây dưới cái nhìn hậu chiến với độ lùi lịch sử cần thiết nhiều vấn đề được nhìn nhận, nhận thức lại, trả lại cho nó “chính là nó”. Hiện thực chiến tranh trong tiểu thuyết của Bảo Ninh mô tả đó là những năm tháng buồn bã của đám trinh sát qua sự hồi tưởng của Kiên. Đó là những ngày mưa liên miên, những ngày im tiếng súng – trinh sát dựng lán ở ngay trên bờ suối, họ đốt nỗi buồn chiến tranh bằng những cuộc vui chơi khi đi săn, đặt bẫy, tổ chức duốc cá và tối tối chơi bài, còn kì quái hơn là đám trinh sát bọn Kiên ngồi rỗi bày trò phơi sấy, thái nhỏ hoa, lá và rễ hồng ma trộn với sợi thuốc rê, nhờ khói hồng tạo ra ảo giác, tạo ra mộng mị. Có thể nhờ khói hồng ma mà quên mọi nông nỗi đời lính, quên
- Xem thêm -