Tài liệu Nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết thập tam bộ của mạc ngôn

  • Số trang: 86 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 42 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 39841 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI ĐINH THỊ THÚY NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT THẬP TAM BỘ CỦA MẠC NGÔN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành: Sư phạm Ngữ Văn Hệ đào tạo: chính quy Khóa học: 2013 – 2015 Đồng Hới, 2015 TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI ĐINH THỊ THÚY NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT THẬP TAM BỘ CỦA MẠC NGÔN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngành: Sư phạm Ngữ Văn Hệ đào tạo: chính quy Khóa học: 2013 – 2015 Người hướng dẫn: Th.S Nguyễn Thị Quế Thanh Đồng Hới, 2015 LỜI CẢM ƠN Xin trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo Th.s Nguyễn Thị Quế Thanh, người đã tận tình hướng dẫn tôi thực hiện và hoàn thành khóa luận này. Xin bày tỏ lòng biết ơn quý thầy cô giáo đã giảng dạy và đóng góp những ý kiến quý báu cho tôi trong quá trình học tập. Xin chân thành cảm ơn khoa Khoa học Xã hội, Phòng Đào tạo, Trường Đại học Quảng Bình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và nghiên cứu. Cảm ơn những người thân yêu trong gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện khóa luận. Tác giả Đinh Thị Thúy LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và và kết quả nghiên cứu nêu trong khóa luận là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kì một công trình nào khác. Tác giả Đinh Thị Thúy MỤC LỤC MỞ ĐẦU..................................................................................................................... 1 1.Lý do chọn đề tài ...................................................................................................... 1 2.Lịch sử vấn đề .......................................................................................................... 2 3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................................. 6 3.1. Đối tượng nghiên cứu. .......................................................................................... 6 3.2. Phạm vi nghiên cứu .............................................................................................. 6 4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................................... 6 5. Đóng góp của đề tài ................................................................................................. 6 6. Cấu trúc khóa luận ................................................................................................... 7 Chương 1. HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO CỦA MẠC NGÔN ....................................... 8 1.1. Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Mạc Ngôn. ........................... 8 1.1.1. Cuộc đời ............................................................................................................ 8 1.1.2. Sự nghiệp ........................................................................................................... 9 1.2. Thập tam bộ - một thành công trong nghệ thuật trần thuật của Mạc Ngôn ........... 15 Chương 2. PHƯƠNG THỨC TRẦN THUẬT ........................................................... 18 2.1. Các kiểu trần thuật .............................................................................................. 19 2.1.1. Trần thuật ngôi thứ ba ...................................................................................... 20 2.1.2. Trần thuật ngôi thứ hai ..................................................................................... 28 2.1.3. Sự kết hợp, chuyển dịch các ngôi trần thuật ..................................................... 35 2.2. Điểm nhìn trần thuật ........................................................................................... 38 2.2.1. Trần thuật đa điểm nhìn ................................................................................... 39 2.2.2. Điểm nhìn người kể chuyện và điểm nhìn nhân vật .......................................... 43 Chương 3. GIỌNG ĐIỆU VÀ NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT .................................... 50 3.1. Giọng điệu trần thuật .......................................................................................... 50 3.1.1. Giọng bỡn cợt .................................................................................................. 50 3.1.2. Giọng lạnh lùng ............................................................................................... 58 3.2. Ngôn ngữ trần thuật ............................................................................................ 66 3.2.1. Ngôn ngữ đối thoại .......................................................................................... 67 3.2.2. Độc thoại nội tâm ............................................................................................. 70 KẾT LUẬN ............................................................................................................... 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................... 79 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1.1 Trung Quốc không chỉ được biết đến là một quốc gia hùng mạnh về kinh tế mà còn được xem là cái nôi văn hóa tư tưởng của phương Đông huyền bí, cũng là nơi sinh ra những tài năng lớn, nhân cách lớn như: Đào Tiềm, Đỗ Phủ, Lý Bạch; Lỗ Tấn, Cao Hành Kiện, Vương Mông, Giả Bình Ao, Mạc Ngôn…Với bề dày văn hóa và văn học đồ sộ, Trung Quốc ảnh hưởng đến nhiều nước trong khu vực và thế giới, trong đó có Việt Nam. Lịch sử văn học Việt Nam đã ghi nhận kết quả và những thành công của cha ông ta trong việc tiếp thu và học hỏi sự đa dạng của những hình thức sáng tác tạo nên nét độc đáo cho văn học nước nhà. Do đó việc nghiên cứu văn hóa, văn học Trung Quốc có vai trò quan trọng và cần thiết trong việc khai thác và tìm hiểu kho tàng văn học Việt Nam cũng như hiểu được chiều sâu của nó. 1.2 Tháng 10 - 2012, giải Nobel văn học đã trao cho một nhà văn Trung Quốc – Mạc Ngôn, người được xem là “hiện tượng lạ” trên văn đàn Trung Quốc và thế giới. Ông là cây bút xuất sắc của văn học đương đại Trung Quốc với tâm hồn không lúc nào bình lặng, luôn vật lộn gay gắt và chiến đấu cho những lý tưởng thiện lương trong con người. Mạc Ngôn là hiện tượng độc đáo bởi tác phẩm của ông chứa đựng những điều mới mẻ, đặc biệt là “sự bùng nổ cảm giác” [2, tr.7] giúp độc giả như nghe thấy, nhìn thấy, sờ thấy, ngửi thấy mùi vị cuộc sống qua mỗi trang viết của ông. Trong mỗi trang văn của Mạc Ngôn người ta cũng tìm thấy những trạng phức tâm hồn đại chúng muốn phá bỏ mọi khuôn phép, lề lối, quy chuẩn đạo đức xã hội để đạt trạng thái hoàn toàn tự do cả về thể xác lẫn tâm hồn, bởi phương châm sáng tác của ông là không bao giờ tự lặp lại mình. Ông đã góp thêm một tiếng nói mới, phong cách mới trong việc tái hiện hiện thực cuộc sống và con người trong xã hội hiện đại bằng những cách nhìn khác nhau, xen lẫn giữa tốt với xấu, thiện với ác, cao quý với thấp hèn, đơn giản và phức tạp trong bản thân mỗi con người. 1.3 Mạc Ngôn viết rất nhiều thể loại, từ truyện ngắn đến truyện vừa, truyện dài đến tiểu thuyết… Ở mỗi thể loại, tác phẩm của ông đều mang dấu ấn riêng. Trong đó tiểu thuyết là thể loại thành công nhất và tạo nên phong cách cũng như tên tuổi của ông. Nói tới tiểu thuyết Mạc Ngôn, người ta đánh giá cao thành công của ông về lối biểu hiện của văn học dân gian Trung Quốc kết hợp với văn học hậu hiện đại phương Tây. Trong đó nghệ thuật trần thuật là một trong những phương diện tạo nên sức hấp dẫn, 1 nét riêng cho phong cách Mạc Ngôn. Với lối trần thuật xen lẫn giữa thực và ảo, giữa hiện tại và quá khứ rồi đến tương lai, sự luôn phiên và thay đổi người kể chuyện khó xác định khiến cho người đọc như đang lạc vào ma trận nhân vật mà nếu không tập trung chú ý, xâu chuỗi các sự kiện trong toàn bộ tác phẩm thì khó mà hiểu được tác phẩm và con người Mạc Ngôn. Trong mười một tiểu thuyết Mạc Ngôn đã xuất bản, Thập tam bộ là tác phẩm để lại ấn tượng sâu đậm với chúng tôi và cũng tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật mà tác giả dày công nghiên cứu, xây dựng. Qua tác phẩm, một phần đời sống bi kịch của tầng lớp tri thức nói chung và nhà giáo nói riêng được tái hiện chân thực bằng nghệ thuật trần thuật tài tình của nhà văn. Vì vậy chúng tôi chọn đề tài “Nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Thập tam bộ của Mạc Ngôn” làm đề tài nghiên cứu với mong muốn khám phá thêm tài năng, cá tính sáng tạo của nhà văn. Trên cơ sở đó khẳng định những đóng góp về nội dung, nghệ thuật trong sự nghiệp văn chương của Mạc Ngôn đối với nền văn học đương đại Trung Quốc. 2. Lịch sử vấn đề Kể từ khi xuất hiện trên văn đàn Trung Quốc, tên tuổi, tác phẩm Mạc Ngôn đã thu hút được sự chú ý của công chúng và giới nghiên cứu trong nước cũng như trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Những tiểu thuyết tiêu biểu của Mạc Ngôn được đông đảo bạn đọc đón nhận là Báu vật của đời; Đàn hương hình; Sống đọa thác đày; Tứ thập nhất pháo; Thập tam bộ và gần đây nhất là tiểu thuyết Ếch xuất bản năm 2009 gây xôn xao cộng đồng bạn đọc. Ông là nhà văn có bút lực mạnh nhất Trung Quốc hiện nay, nhà văn thẳng thừng và dấn thân, là “nhân vật khai phá của thế kỷ XXI” ở châu Á với hơn 40 giải thưởng và danh hiệu. Đặc biệt là sự kiện giải Nobel văn học năm 2012 được trao cho Mạc Ngôn càng làm cho tên tuổi của ông có sức hút mạnh mẽ đối với giới nghiên cứu và phê bình văn học. Từ những góc nhìn khác nhau, các nhà nghiên cứu có những cách tiếp nhận riêng về nhà văn và tác phẩm của ông. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi tổng hợp được một số vấn đề sau. Ngày 12 tháng 8 năm 2006, “Hội nghiên cứu Mạc Ngôn Cao Mật” được thành lập tại tỉnh Sơn Đông. Hội là diễn đàn nghiên cứu và trao đổi khoa học chuyên về các sáng tác của Mạc Ngôn bởi “Mạc Ngôn là niềm kiêu hãnh của Cao Mật. Địa vị của ông trên văn đàn Trung Quốc ngày một nâng cao, ảnh hưởng trên văn đàn thế giới ngày càng lớn” (Mạc Ngôn nghiên cứu hội). Hội có tạp chí “Nghiên cứu Mạc Ngôn”, website “Cao lương đỏ”, “Bảo tàng văn học Mạc Ngôn”. Bảo tàng là nơi giới thiệu 2 cuộc đời và thành tựu nghệ thuật của Mạc Ngôn, trình bày một cách sinh động quá trình trưởng thành và phong cách đỉnh cao của một tác gia nổi tiếng bao gồm các bộ phận chính là: “thành tựu văn học”, “con đường trưởng thành”, “vương quốc văn học”, “gắn bó với quê hương”, “giao lưu văn học”. Ngoài ra còn có nhà chiếu phim, phòng sáng tác, phòng trưng bày thư pháp và bản thảo, phòng tư liệu tác phẩm Mạc Ngôn… Trong cuốn sách Mạc Ngôn – nghiên cứu và tư liệu, tác giả Dương Dương đã tổng hợp rất nhiều bài nghiên cứu về sáng tác của Mạc Ngôn được đăng tải trên các tờ báo, tạp chí uy tín trong và ngoài nước. Đánh giá chung về nghệ thuật tự sự Mạc Ngôn, Tôn Đông trong Quái tài Mạc Ngôn đã đưa ra mô thức tự sự như sau: “Sinh mệnh, cảm giác, hình ảnh là ba trụ cột lớn trong tiểu thuyết Mạc Ngôn, chúng chống đỡ mô thức tự sự của tiểu thuyết Mạc Ngôn” (Dương Dương, Mạc Ngôn nghiên cứu tư liệu). Đứng trên lập trường chính trị, xã hội, nhiều nhà nghiên cứu ở Trung Quốc đã phê phán mạnh mẽ các tiểu thuyết Mạc Ngôn. Khi tác phẩm Báu vật của đời xuất hiện, bàn về tiểu thuyết này, trên báo Tiền phong, Nguyễn Khắc Phê trong bài viết “Tài phù phép của Mạc Ngôn” đã nói đến thủ pháp lạ hóa trong tiểu thuyết Mạc Ngôn, mà Báu vật của đời được xem là thể hiện tập trung nhất. Đây là tác phẩm có sức thu hút mạnh mẽ sự quan tâm của độc giả và giới phê bình văn học ở Việt Nam. Bàn về nghệ thuật tiểu thuyết Mạc Ngôn trong Báu vật của đời, dịch giả Trần Đình Hiến đã cho rằng trong Báu vật của đời, Mạc Ngôn khai thác tối đa chất liệu dân gian truyền thống, chứ không phải chịu ảnh hưởng của Marquez hay Faulkner. Chia sẻ quan điểm ấy, Phạm Xuân Nguyên trong bài Sự sinh, sự sống, sự chết đăng trên tanviet.net, ngày 04/08/2005 cho rằng, về nghệ thuật viết tiểu thuyết Báu vật của đời của Mạc Ngôn không hẳn là xuất sắc. Trong chừng mực nào đó, nó vẫn thuộc truyền thống của lối kể chuyện mang tính cổ truyền Trung Quốc. Theo ông, cái độc đáo của cuốn tiểu thuyết này là “Cái nhìn nghệ thuật – lịch sử, tỉnh táo và sắc sảo của nhà văn”. Trong khi đó, Nguyễn Thanh Sơn lại nói đến sự kết hợp hài hòa giữa bút pháp tiểu thuyết truyền thống và tiểu thuyết hiện đại. Có cùng cách nhìn ấy, Võ Thị Hảo lại nói đến “Một bút pháp hiện đại vượt khỏi những lối mòn”… Tiếp đó, nhiều tác phẩm của Mạc Ngôn đã được dịch, giới thiệu như: Đàn hương hình, Sống đọa thác đày, Cao lương đỏ, Cây tỏi nổi giận, Ếch… 3 Trên báo chí, đặc biệt là báo điện tử xuất hiện nhiều bài phỏng vấn và bài viết liên quan tới nội dung tác phẩm. Mạc Ngôn cũng được giới thiệu với độc giả Việt Nam thông qua cuốn Mạc Ngôn và những lời tự bạch của dịch giả Nguyễn Thị Thại. Cuốn sách là tập hợp các bài phỏng vấn của nhà văn, qua đó tác giả trình bày những quan niệm của mình về sáng tác văn học, bật mí những thủ pháp nghệ thuật thường dùng và dấu ấn tuổi thơ trong sáng tác. Có thể nói cuốn sách đã cho người đọc nhìn nhận nhiều chiều về con người và sáng tác của Mạc Ngôn. Trên báo Văn nghệ, số 5 tháng 12 năm 2003 có đăng bài viết Tiểu thuyết Mạc Ngôn với độc giả Việt Nam của Hồ Sỹ Hiệp. Có rất nhiều bài báo, bài nghiên cứu phê bình của các học giả nước ngoài cũng được dịch rộng rãi ở Việt Nam, trong đó phải kể đến bài đăng trên báo Trung Hoa độc thư báo tháng 1 năm 2004 có tựa đề Chín nhà văn ấn tượng nhất năm 2000 do Trần Sơn dịch. Bài viết tổng kết những bước đường sáng tạo của Mạc Ngôn từ những tiểu thuyết đầu tiên. Tiếp đó, bài viết của Lê Huy Tiêu “Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn” in trong cuốn “Cảm nhận mới về văn hóa văn học Trung Quốc”, đã khái quát đặc điểm nghệ thuật trong tiểu thuyết Mạc Ngôn ở các phương diện: hình ảnh, cảm giác, giọng điệu, nghệ thuật tự sự, ngôn ngữ, bản sắc dân gian. Bài viết của Nguyễn Thị Tịnh Thy trên tạp chí sông Hương số 285 với tựa đề Mạc Ngôn - người vinh danh làng quê Cao Mật bằng bút pháp hậu hiện đại kiểu Trung Quốc đã nêu lên ba vấn đề chính: Cao Mật – Trung Quốc – nhân loại: duy nhất và tất cả, kết hợp đặc trưng tự sự truyền thống của Trung Quốc với tự sự hiện đại và hậu hiện đại phương Tây, tái sinh những sách lược tự sự cổ xưa nhất của Trung Hoa”. Dưới ánh sáng của nghệ thuật tự sự, những vấn đề như: người kể chuyện, điểm nhìn, kết cấu, không - thời gian, ngôn ngữ với hàng loạt các thủ pháp của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo để lật đổ thủ pháp tự sự truyền thống đã bước đầu được nói tới. Trong luận văn Thạc sỹ của Hoàng Thị Bích Hồng về Nghệ thuật trần thuật trong phong cách tiểu thuyết Mạc Ngôn, tác giả đã đề cập đến nghệ thuật miêu tả cảm giác và những thủ pháp kì ảo với hiệu quả gián cách nghệ thuật trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn. Trong luận văn Thạc sỹ Nghệ thuật tự sự trong 41 chuyện tầm phào của Mạc Ngôn (Đại học Sư phạm Hà Nội, năm 2006), Trần Thị Thanh Thủy cho rằng yếu tố quan trọng nhất tạo nên sự thành công cho tiểu thuyết 41 chuyện tầm phào chính là ở chỗ tự bên trong tác phẩm chứa biết bao điều mới lạ. Tác giả đã phân tích những sáng 4 tạo và đổi mới của Mạc Ngôn trong tiểu thuyết này ở các phương diện: kết cấu, nghệ thuật trần thuật, ngôn ngữ tự sự. Dựa trên cơ sở nghiên cứu tiểu thuyết Mạc Ngôn nói chung, Nguyễn Thị Tịnh Thy với đề tài Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Mạc Ngôn đã khảo sát đề tài trên ba phương diện: Người kể chuyện và điểm nhìn tự sự; nghệ thuật tổ chức thời gian và kết cấu tự sự; nghệ thuật kiến tạo ngôn ngữ và giọng điệu tự sự. Từ đó, tác giả đã chỉ ra những thành tựu và hạn chế của nghệ thuật tiểu thuyết cũng như chỉ ra vị trí của Mạc Ngôn trong dòng tiểu thuyết Trung Quốc đương đại. Chúng tôi xem những nghiên cứu trên đây là tài liệu quý báu có tính định hướng cho việc thực hiện đề tài khóa luận này. Có thể thấy, dù chưa nhiều nhưng nhìn chung các sáng tác của Mạc Ngôn, nhất là tiểu thuyết được nhiều nhà nghiên cứu thế giới và Việt Nam quan tâm. Trong đó, các tiểu thuyết nổi tiếng của Mạc Ngôn như Cao lương đỏ, Báu vật của đời, Đàn hương hình, Tứ thập nhất pháo…đã được nhiều người đề cập trong những bài viết của mình. Song việc nghiên cứu về nhà văn cũng như tác phẩm của ông vẫn chưa nhiều, đặc biệt là những nghiên cứu về tiểu thuyết Thập tam bộ. Nghiên cứu về tiểu thuyết Thập tam bộ tiêu biểu có luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Hà với đề tài Dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết Thập tam bộ của Mạc Ngôn đã nêu rõ tâm thức hậu hiện đại trong tiểu thuyết Mạc Ngôn: có cái nhìn mới về xã hội, về con người và cách viết của Mạc Ngôn. Tác giả đã đề cập tới những dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết Thập tam bộ trên một số phương diện: cốt truyện và kết cấu phân mảnh, pha trộn, đan xen nhiều sắc thái giọng điệu; phá vỡ thời gian tự sự từ điểm nhìn bên trong. Tuy nhiên, tác giả mới chỉ nhấn mạnh về dấu ấn hậu hiện đại trong tiểu thuyết chứ chưa đi sâu phân tích nghệ thuật trần thuật trong tác phẩm Thập tam bộ. Từ những ý kiến trên đây, có thể thấy tuy đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu, phê bình của các tác giả ở Trung Quốc và thế giới trong đó có Việt Nam về tiểu thuyết Mạc Ngôn, song có thể nhận thấy các bài viết, bài nghiên cứu chỉ mới khái quát chung và tập trung ở những tiểu thuyết như Cao lương đỏ, Báu vật của đời, Đàn hương hình, Sống đọa thác đày; vấn đề nghệ thuật trần thuật tuy đã được nhắc đến trong các bài viết nhưng chưa có công trình nào đi sâu phân tích nghệ thuật trần thuật của tiểu thuyết Thập tam bộ. Những bài viết, nghiên cứu trên là những ý kiến quý báu có tính định hướng và cũng là cơ sở để chúng tôi thực hiện đề tài khóa luận của mình. 5 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu. Nghiên cứu nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Thập tam bộ của Mạc Ngôn, khóa luận tập trung khảo sát trên các bình diện: ngôi trần thuật, điểm nhìn trần thuật, ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Đề tài nghiên cứu tiểu thuyết Thập tam bộ của Mạc Ngôn dựa theo bản dịch của Trần Trung Hỷ, nhà xuất bản văn nghệ phát hành năm 2007. Ngoài ra chúng tôi còn khảo sát một số tiểu thuyết khác của ông để so sánh và đánh giá. 4. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau: - Phương pháp phân tích, tổng hợp: Giúp người viết chỉ ra những biểu hiện cụ thể của nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Thập tam bộ của Mạc Ngôn và có cái nhìn khái quát về những thành công của nhà văn trong sự nghiệp sáng tác. - Phương pháp hệ thống: Tìm hiểu nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Thập tam bộ của Mạc Ngôn phải dựa trên hệ thống các phương diện thuộc về nghệ thuật tác phẩm, đặt các phương diện đó trong một hệ thống, một chỉnh thể. Phương pháp hệ thống giúp người viết hệ thống hóa các đặc điểm nghệ thuật tiểu thuyết Mạc Ngôn nói chung và tiểu thuyết Thập tam bộ nói riêng. - Phương pháp loại hình: người viết sử dụng phương pháp này để phân loại, khu biệt các hiện tượng về nghệ thuật trần thuật của tác phẩm. - Phương pháp so sánh: để làm nổi bật những đặc điểm về nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Thập tam bộ của Mạc Ngôn, đồng thời góp phần khẳng định cống hiến của tác giả về phương diện này. Đối tượng so sánh là tiểu thuyết Thập tam bộ với những tác phẩm có cùng nội dung khác. - Phương pháp xã hội học: để nghiên cứu sự tác động của xã hội đến tác phẩm. 5. Đóng góp của đề tài - Về mặt lý thuyết Từ kết quả nghiên cứu về một số phương diện của nghệ thuật trong tiểu thuyết Thập tam bộ, khóa luận đưa ra một cách tiếp cận mới về nghệ thuật trần thuật, góp phần làm nổi bật vị trí và những đóng góp của nhà văn trong nền văn học đương đại Trung Quốc và nhân loại. 6 - Về mặt thực tiễn Đề tài góp phần vào việc tiếp nhận, tìm hiểu, nghiên cứu tiểu thuyết Thập tam bộ và phong cách tiểu thuyết Mạc Ngôn. 6. Cấu trúc khóa luận Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung của khóa luận được triển khai thành ba chương: Chương 1: HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO CỦA MẠC NGÔN Chương 2: PHƯƠNG THỨC TRẦN THUẬT Chương 3: GIỌNG ĐIỆU VÀ NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT 7 Chương 1 HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO CỦA MẠC NGÔN 1.1. Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Mạc Ngôn. 1.1.1. Cuộc đời Mạc Ngôn là một nhà văn lớn của Trung Quốc và Thế giới. Giải Nobel văn học năm 2012 thuộc về ông đã khẳng định vị trí và tài năng của Mạc Ngôn trên văn đàn quốc tế. Để có được thành quả ấy, không chỉ có tài năng, mà ông đã trải nghiệm bằng chính con người mình trong cuộc sống gia đình, quê hương; bằng sự nỗ lực không biết mệt mỏi trên con đường sáng tạo nghệ thuật. Mạc Ngôn tên thật là Quản Mạc Nghiệp, sinh ngày 17 tháng 2 năm 1955 tại huyện Cao Mật, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. Quê hương Cao Mật vốn là một huyện nghèo nàn, lạc hậu nhưng chính nơi đây đã hun đúc cho tâm hồn và nguồn cảm hứng một “cái bao tải khổng lồ” tất cả các sáng tác của Mạc Ngôn. Ông sinh ra trong một gia đình nghèo khổ nhưng rất yêu văn chương. Những người lớn trong nhà là cả kho truyện kể. Cứ đêm đêm Mạc Ngôn và các anh chị thi nhau kể chuyện. Và cho tới bây giờ nhà văn vẫn nhắc tới được 300 câu chuyện, cứ mỗi câu chuyện ấy sau này là một tiểu thuyết. Chính gia đình là cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn văn chương và nguồn tài liệu khổng lồ cho nhà văn sáng tác. Từ khi là một đứa trẻ, Mạc Ngôn đã nếm trải những vất vả, cực nhọc, nghèo khó. Ông đã kể về tuổi thơ của mình: “Hồi nhỏ tôi đi chăn trâu, lúc nào bụng cũng đói, bị mệt bèn nằm dài ra đất ngẩn ngơ nhìn mây trắng trên trời, bởi vì tôi cảm thấy đám mây trắng kia dường như sẽ lập tức biến thành cái bánh bao rơi vào mồm tôi. Giờ nhìn thấy đường chân trời, tôi lại nhớ tới thời niên thiếu nghèo khó của mình... Tôi đứng bên cửa sổ, nhìn dòng nước lớn lững lờ trôi mà cảm thấy vừa rợn ngợp vừa tráng lệ. Một ấn tượng sâu đậm nữa chính là tiếng kêu của hàng trăm ngàn con ếch, inh tai nhức óc, có khi ngay trong đêm khuya, nghe như tiếng ma quỷ. Nước lũ và tiếng ếch kêu là hai nỗi ám ảnh lớn nhất quanh tuổi thơ tôi ” [34]. Từ rất sớm, Mạc Ngôn đã thể hiện rõ là một đứa trẻ thông minh, lém lỉnh, ham học và có khiếu văn chương. Đi học lúc sáu tuổi và biết đọc, chín tuổi đã đọc nhiều quyển sách có được trong thôn: Tam Quốc Diễn Nghĩa, Thủy Hử, Ông lão đánh cá và con cá vàng , Cô bé bán diêm của Andersen, Quán nhà Lâm của Mao Thuẫn, Tường lạc đà của Lão Xá, Khuất Nguyên của Quách Mạc Nhược... Ông say mê sách như những vụn sắt bị nam 8 châm hút. Nội dung những cuốn sách ấy vô cùng hấp dẫn đã để lại trong lòng ông ấn tượng khó quên và ảnh hưởng ít nhiều trong sáng tác của ông sau này. Cách mạng văn hóa diễn ra, Mạc Ngôn đang học giở tiểu học (lớp 5) đành phải nghỉ học, đi làm nhiều việc khác nhau ở nông thôn để mưu sinh. Năm 1976 Mạc Ngôn gia nhập quân đội. Luôn ấp ủ trong mình giấc mơ học Đại học để trở thành nhà văn, Mạc Ngôn đã giành nhiều thời gian cho việc nghiên cứu sách về lí luận và chính trị rồi tập tành sáng tác. Năm 1984, Mạc Ngôn đã trúng tuyển vào khoa Văn thuộc Học viện nghệ thuật quân giải phóng. Năm 1986 ông tốt nghiệp. Năm 1988, Mạc Ngôn trúng tuyển lớp nghiên cứu sinh khoa lí luận sáng tác thuộc học viện văn học Lỗ Tấn, trường Đại học sư phạm Bắc Kinh, lấy bằng thạc sĩ năm 1991. Hiện nay ông đang là sáng tác viên của cục chính trị - Bộ tổng tham mưu quân giải phóng Nhân Dân Trung Quốc. Những kiến thức học được ở hai viện trên đã giúp sự nghiệp sáng tác văn học của ông thăng hoa. 1.1.2. Sự nghiệp Có thể nói, Mạc Ngôn là người đã lao động cật lực trong suốt cuộc đời cầm bút của mình để tạo ra số lượng lớn tác phẩm phục vụ độc giả trong nước và thế giới. Đọc những tác phẩm của ông, ta có thể hình dung khá rõ quá trình vận động về tư tưởng, tình cảm cũng như những trăn trở, tìm tòi, đổi mới cách tiếp cận, nhìn nhận đời sống và sự điêu luyện trong việc sử dụng nghệ thuật trong mỗi tác phẩm. Mạc Ngôn đã từ bỏ những lý luận văn nghệ xã hội học khô cứng. Ông viết vì nhân dân, ông không coi mình là “kỹ sư tâm hồn” răn dạy dân chúng mà chỉ coi mình là thành viên của đại chúng để nói lên tâm tư, nguyện vọng và nỗi đau của mình mà thôi. Có người nói, nếu như Mạc Ngôn không phải là nông dân trải nghiệm bao nỗi vui buồn ở nông thôn thì cũng không có Mạc Ngôn – nhà văn. Phần lớn những tác phẩm của ông phản ánh đời sống của nông dân trong các giai đoạn lịch sử. Hiện thực nông thôn mà ông phản ánh là lịch sử chân thực nhưng được lạ hóa, mang đậm dấu ấn của chủ thể nhà văn. Những cảnh bom rơi đạn nổ, máu chảy đầu rơi, thù hận và yêu thương, thú tính và nhân tính hòa quyện vào nhau lại rất ly kì, hấp dẫn. Tác giả đã dẫn dắt người đọc vào giữa lòng lịch sử khiến chúng ta như nhìn thấy, nghe thấy, sờ thấy, ngửi thấy mùi vị tanh tưởi, cảnh tượng thần bí của cánh đồng cao lương vùng Đông Bắc Trung Quốc. Mảnh đất ấy thể hiện linh hồn của lịch sử đồng thời cũng thể hiện linh hồn của nông dân Trung Quốc. 9 Mạc Ngôn thành công nhất ở nhiều thể loại nhưng thể loại ghi danh tên tuổi của ông với độc giả thế giới vẫn là tiểu thuyết. Tiểu thuyết là một thể loại quá quen thuộc với mỗi chúng ta, song khi đọc tiểu thuyết của Mạc Ngôn vẫn luôn cuốn hút người đọc bởi các yếu tố thực ảo cứ hòa quyện vào nhau, tạo nên sự hấp dẫn bởi các chi tiết, nhân vật... Để có được thành công ấy, ngoài sự đam mê, tìm tòi, đó còn chính là sự trải nghiệm, quan niệm của nhà văn về tiểu thuyết nói riêng và văn học nói chung. Tất cả những gì tiểu thuyết phản ánh đều xuất phát từ cuộc sống thực tại. Mạc Ngôn đã từng đưa ra nhiều định nghĩa về tiểu thuyết: tiểu thuyết đó là sự ghi chép “những tưởng tượng ngông cuồng của nhà văn hay đó là sự kết hợp giữa cõi mộng với sự thật, cũng có lúc nó là cái thùng chứa đựng những tình cảm của nhân loại. Tiểu thuyết là lát cắt có tính sinh lý đời sống tinh thần của nhà văn…” . Trong bài phát biểu Bài ca cây tỏi thiên đường, nhà văn đã từng viết: “Khi viết cuốn tiểu thuyết sát sao với hiện thực xã hội, vấn đề lớn nhất mà tôi đối mặt thực ra không phải là chuyện tôi dám hay không dám phê bình các hiện tượng đen tối trong xã hội mà là chuyện những cảm xúc và lòng căm giận bừng bừng ấy có thể làm cho chính trị áp đảo văn học, khiến cho bộ tiểu thuyết đó trở thành một phóng sự tường thuật sự kiện xã hội... Có thể là do tôi từng trải qua cuộc sống gian khó lâu dài, điều đó khiến tôi có sự hiểu biết khá sâu sắc về tính người. Tôi biết thế nào là dũng cảm thật sự, cũng hiểu được buồn thương là gì. Tôi hiểu trong cõi lòng mỗi người đều có một vùng mờ ảo; cái vùng ấy khó có thể diễn tả thỏa đáng bằng một từ ngữ đơn giản nó là phải hay trái, thiện hay ác… Chỉ cần là một tác phẩm mô tả chuẩn xác, sinh động cái vùng mờ ảo đầy những mâu thuẫn ấy, thì cũng tất nhiên sẽ vượt qua chính trị và có được những phẩm chất văn học ưu tú.” (Trích trong Diễn từ Nobel, bản dịch của Nguyễn Hải Hoành ngày 13 tháng12 năm 2012). Theo Mạc Ngôn, đã là tiểu thuyết thì ít nhất về ngôn ngữ tác phẩm sau phải khai thác những yếu tố của tác phẩm trước, cốt truyện phải đa dạng và không thể là sự lặp lại. Mỗi tiểu thuyết của ông là một con đường tìm tòi, sáng tạo độc đáo, tạo ra những phong cách tiểu thuyết riêng. Tuổi thơ sống trong nghèo đói, trong những lo lắng và tủi nhục về miếng cơm manh áo càng khiến cho Mạc Ngôn có cái nhìn về cuộc đời chân thực hơn: “Tôi là người xuất thân từ tầng lớp thấp kém, nên tác phẩm của tôi chứa đầy quan điểm thế tục. Nếu ai đó định tìm thấy những điều tao nhã sang trọng trong tác phẩm của tôi, chắc chắn họ sẽ thất vọng. Đó là điều không thể. Người thế 10 nào nói lời thế ấy, cây nào thì quả ấy, chim nào thì tiếng hót ấy. Tôi lớn lên từ cái đói rét cơ hàn, đã từng chứng kiến nhiều cảnh khổ đau và bất công trên đời, trong lòng tôi tràn đầy cảm thông đối với nhân loại và phẫn nộ với sự bất công. Do đó tôi chỉ có thể viết ra những tác phẩm như vậy” [19, tr.150]. Trong quan niệm tiểu thuyết của Mạc Ngôn, tiểu thuyết không chỉ có mùi vị mà còn có cảm giác của sự sống. Nhìn chung, tiểu thuyết Mạc Ngôn bị ảnh hưởng bởi trường phái cảm giác mới. “Khi viết văn nhà văn phải huy động mọi giác quan của mình: Vị giác, thính giác, khứu giác hoặc là một cảm giác kỳ diệu vượt qua tất cả mọi cảm giác kể trên” [ 24, tr.19]. Nhiều người xem tiểu thuyết Mạc Ngôn là tiểu thuyết mới. Nó không đơn thuần miêu tả hiện thực bề ngoài mà nhấn mạnh cảm thụ trực giác, đưa cảm giác chủ quan vào trong khách thể nhằm tạo ra một hiện thực mới mẻ. Ngoài ra, tác giả còn thể hiện nhiều chi tiết, sự kiện khác thường, độc đáo và khả năng kích thích hứng thú cho người đọc. Khi miêu tả về cái chết, người ta tránh nói nhiều thì người kể chuyện ở đây lại kể với cảm giác và truyền cảm giác ghê rợn cho người đọc chứ không phải là nỗi đau trước cái chết thông thường. Cảm giác không tồn tại thực tế mà tồn tại một cách siêu nhiên do thị giác, thính giác, xúc giác tạo thành trong một hoàn cảnh đặc biệt. Tạo ra một thế giới mùi vị bằng cảm giác là sở trường trong miêu tả của nhà văn xuất phát từ trực giác và di chuyển vào tâm linh, sáng tạo ra một thế giới mới mẻ. Năng lực nắm bắt cảm giác trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn gắn với quan niệm nghệ thuật về một thế giới vừa có chiều sâu tâm linh vừa sống động. Hầu như khi sáng tác nhà văn luôn huy động mọi tế bào của cơ thể để khám phá hiện thực. Dù là một làn gió nhẹ, một nhánh cỏ, một cây cao lương, một giọt nước trong... cũng được miêu tả có hồn, mang đậm chất chủ thể hóa. Tác giả mượn nhân vật trong truyện Hồng Hoàng để nói lên ý đồ sáng tác của mình: “Sẽ có ngày tôi soạn một vở kịch chân chính, trong đó có mộng ảo và hiện thực, khoa học và đồng thoại, thượng đế và ma quỷ, ái tình và mại dâm, cao quý và ti tiện, mỹ nữ và đại tiện, quá khứ và hiện tại... đều được đan xen với nhau, gắn chặt với nhau, cái nọ nối cái kia tạo thành một thế giới hoàn chỉnh”. [32]. Trong quá trình sáng tác tiểu thuyết, Mạc Ngôn luôn tìm cho mình một lối đi riêng. Ông đã từng mong muốn viết ra những thứ thuộc về mình. Nó khác với những người khác, và cũng khác với các nhà văn phương Tây. Chính niềm khát khao ấy là động lực giúp nhà văn không ngừng đổi mới trong quan niệm và sáng tạo trong văn chương. Sự sáng tạo ấy theo ông không phải sự chen nhau chạy theo mốt 11 mà là cách viết những gì quen thuộc, với ngòi bút tả thực cùng sự tưởng tượng của nhà văn để tạo ra những “mùi vị” không tồn tại và những sự thực không có thực, làm cho tiểu thuyết có cảm giác của sự sống. Ngòi bút của Mạc Ngôn là ngòi bút của văn chương “phá cách”. Trong tác phẩm của ông, chỗ nào cũng thể hiện tư tưởng vừa kế thừa vừa phát huy truyền thống. Trung Quốc là đất nước mang nặng tư tưởng Nho giáo, có truyền thống kính lão trọng già nhưng những nhân vật lớn tuổi trong các tác phẩm của Mạc Ngôn lại rất phong tình, ân ái với nhau ngay ở trong ruộng cao lương (Cao lương đỏ). Các nhân vật của Mạc Ngôn không bị ràng buộc bởi những quan niệm về sự sống và cái chết, giữa linh hồn và thể xác, giữa bản năng và đạo đức. Mỹ học truyền thống phương Đông rất coi trọng sự “tao nhã”, “trung hòa”, rất kiêng kị đưa những cảnh máu me tanh hôi, hành động thú tính tàn bạo vào trong văn chương. Nhưng Mạc Ngôn lại không e dè, mở toang cửa để “cái ác” tràn vào. Nào cảnh giết người theo kiểu Đàn hương hình, cảnh hãm hiếp phụ nữ, cảnh đại tiện ô uế, cảnh xẻ thịt và ngũ tạng người chết…tất cả cứ trần trụi phơi bày ra như những gì nó vốn có. Nhiều độc giả tán thưởng Mạc Ngôn ở chỗ ông đã học tập, tiếp nhận văn học nước ngoài một cách sáng tạo. Đọc tác phẩm của ông, người ta thấy dấu ấn Trăm năm cô đơn của Marquez, Hóa thân của Kafka, Âm thanh và cuồng nộ của Faulkner. Nhưng ngoài cái tài biết chắt lọc tinh hoa văn hóa nước ngoài ra, Mạc Ngôn còn rất coi trọng phương thức thẩm mỹ của văn học truyền thống Trung Quốc. Do vậy, đọc tác phẩm ông người ta thấy vừa hiện đại nhưng cũng rất dân tộc. Tác phẩm góp phần làm nên tên tuổi Mạc Ngôn là truyện vừa Cao lương đỏ. Đây là mốc son trên chặng đường văn học của ông. Cao lương đỏ đưa độc giả trở về thập niên 1920 - 1930, trên mảnh đất quê hương của chính tác giả - mảnh đất Cao Mật của tỉnh Sơn Đông. Những nhân vật trong truyện hiện ra đầy cá tính, khí phách, sống ngang tàng, lạc quan như những ngọn cao lương thẳng tắp vút lên trên bầu trời Cao Mật. Đây là nét tính cách điển hình của người dân Cao Mật mà chúng ta sẽ gặp lại trong rất nhiều các tác phẩm sau này của Mạc Ngôn. Cao lương đỏ ca ngợi tình yêu và sự tự do. Tác phẩm vừa khốc liệt, vừa bay bổng, vừa rất thực mà lại hòa trộn cả những yếu tố kỳ ảo, phi thường. Phong nhũ phì đồn (Báu vật của đời, 1995) là một bích họa lịch sử miêu tả Trung Quốc thế kỷ XX qua lăng kính cuộc sống của một gia đình. Báu vật của đời là một tác 12 phẩm nổi tiếng khác trong vốn liếng văn chương của Mạc Ngôn. Nó từng là hiện tượng của nền văn học Trung Quốc. Tác phẩm được Hội Nhà văn Trung Quốc trao giải nhất ở thể loại tiểu thuyết năm 1995. Báu vật của đời đem lại cái nhìn khái quát về giai đoạn lịch sử hiện đại của Trung Quốc. Vẫn lấy bối cảnh chính là huyện Cao Mật, Mạc Ngôn đã đưa tới cho người đọc những mảng sáng – tối, khuất – tỏ của lịch sử Trung Quốc trong vòng 100 năm. Tác phẩm là đại diện tiêu biểu cho phong cách sáng tác dựa trên đề tài lịch sử của ông. Đàn hương hình (2004) là câu chuyện về sự tàn bạo thuở đế chế phong kiến đang sụp đổ. Sử dụng chất liệu văn học dân gian làm phông nền, tác giả đã thành công trong việc khắc họa một giai đoạn lịch sử đẫm máu ở Trung Quốc từ năm 1895 - 1915. Khi đó Trung Quốc trở thành chiếc bánh ga-tô ngon lành để các đế quốc chia nhau xâu xé. Triều đình Mãn Thanh thối nát, bất lực, quan lại đương thời hoặc tiếp tay cho giặc hoặc ươn hèn, thối chí, đời sống nhân dân vô cùng rối loạn. "Lãnh tụ" của cuộc khởi nghĩa chống quân Đức ở huyện Cao Mật khi đó chỉ là một ông bầu gánh hát. Tác phẩm này đã đem về cho Mạc Ngôn giải Mao Thuẫn – giải thưởng văn học danh giá nhất tại Trung Quốc thời bấy giờ. Chất liệu văn hóa dân gian được sử dụng trong Đàn hương hình là hý kịch Miêu Xoang, một loại nhạc dân gian phổ biến ở vùng đông bắc Cao Mật. Tiểu thuyết một lần nữa khắc họa tính cách ngang tàng, khí khái, lạc quan của người dân Cao Mật trên cái nền là những sự kiện Cách mạng nóng hổi. Đàn hương hình ngoài việc giới thiệu về lịch sử của hý kịch Miêu Xoang còn cho người đọc biết về lịch sử các ngón đòn tra tấn, tử hình ở Trung Quốc. Tiểu thuyết Sống đọa thác đày (2006) sử dụng bút pháp trào phúng để mô tả cuộc sống thường nhật và những biến chuyển dữ dội ở nước Cộng hòa Nhân dân non trẻ lúc bấy giờ. Thập tam bộ (2007) là một cuốn tiểu thuyết để lại ấn tượng sâu đậm với người đọc. Trong tác phẩm, một phần đời sống đầy bi kịch của tầng lớp trí thức nói chung và nhà giáo nói riêng được đề cập tới qua nhân vật không xác định, cốt truyện không xác định, ngôn ngữ không xác định, không- thời gian không xác định, bởi tất cả là hư vô, là những ẩn ức bị xáo trộn như chính sự phức hợp của đời sống phản ánh vào tư duy. Tác phẩm là sự mơ hồ, đầy những hoài nghi bởi sau cùng ta không thể nhận ra ai là nhân vật ngồi trong chuồng sắt kể về câu chuyện đời chua chát của những thầy giáo dạy Vật lý. 13 Ếch (2009) tác phẩm mới nhất của Mạc Ngôn kể về truyền thống trọng nam khinh nữ ở Trung Quốc, dẫn tới việc phá thai và bỏ mặc những bé gái kéo dài tới ngày nay ở nhiều vùng nông thôn. Ếch là câu chuyện kể về một cô vợ lẽ ở nông thôn Trung Quốc bị buộc phải phá thai và triệt sản. Đồng thời phác họa những hệ lụy của chính sách một con độc đoán của Trung Quốc. Có thể nói, Mạc Ngôn đã có một sự nghiệp văn học khá đồ sộ với 11 bộ tiểu thuyết dài, 30 truyện vừa, 100 truyện ngắn, 5 tập tản văn, 9 kịch bản phim, 2 kịch bản kịch nói. Tác phẩm của ông đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và đạt nhiều giải trong và ngoài nước. Qua sự pha trộn vừa hư ảo vừa thực tế, vừa mang tính lịch sử vừa mang tính xã hội đương đại, Mạc Ngôn đã tạo ra một thế giới khiến người ta nhớ đến những sự phức tạp của cuộc sống như trong các tác phẩm của William Faulkner (Nobel Văn học 1949) và Gabriel García Márquez (Nobel Văn học 1982) trong khi vẫn giữ phong cách văn chương Trung Hoa cổ và văn hóa dân gian truyền thống. Ngoài tiểu thuyết, Mạc Ngôn còn xuất bản nhiều truyện ngắn và tản văn về những đề tài khác nhau. Mặc dù ông giương mũi nhọn chỉ trích đối với xã hội đương thời nhưng trên quê hương của mình ông vẫn được xem là một trong những tác giả đương đại xuất sắc nhất. Con đường đến với nghệ thuật của Mạc Ngôn không phải là thuận chèo mát mái như nhiều người tưởng mà là quanh co, trắc trở. Song nhờ có ý chí, nghị lực, kiên trì và có ước mơ, ông đã làm nên tên tuổi và sự nghiệp của mình trên văn đàn văn học Trung Quốc và Thế giới. Bằng cách viết về quá khứ, chọn phong cách hiện thực huyền ảo, phương thức trần thuật độc đáo và khéo léo, Mạc Ngôn đã tạo cho mình một phong cách riêng khác với các nhà văn đương thời. Các giải thưởng văn học mà ông đã giành được : • Giải nhất hội nhà văn Trung Quốc cho tiểu thuyết Báu vật của đời tháng 12 năm 1995. • Giải Mao Thuẫn cho tiểu thuyết Đàn Hương hình. • Giải tiểu thuyết toàn quốc lần thứ tư 1987 cho Cao Lương Đỏ, Trương Nghệ Mưu dựng thành phim và được giải Con gấu vàng ở Liên hoan phim Berlin 1998. • Giải văn học liên hiệp (Đài Loan). • Giải văn học nước ngoài Laure Batlin của Pháp. • Giải thưởng lớn cho văn hóa Châu Á (Nhật ). • Huân chương kỵ sĩ nghệ thuật văn hóa Pháp tháng 3 năm 2004. 14 • Tiến sĩ văn học danh dự do trường Đại học công khai Hồng Công trao tặng tháng 12 năm 2005. • Tiểu thuyết Ếch mới nhất đạt giải văn học Mao Thuẫn 2010. • Giải Nobel văn học tháng 10 năm 2012 . 1.2. Thập tam bộ - một thành công trong nghệ thuật trần thuật của Mạc Ngôn Các tác phẩm của Mạc Ngôn luôn chuyển tải những chủ đề nóng bỏng nhất của lịch sử và thời đại. Sở dĩ như thế là vì ông sống trong một bối cảnh đầy những biến động, mang tính bi kịch. Đó là sự trói buộc chính trị, là cuộc “Đại cách mạng văn hóa vô sản” và còn là vấn đề nhận thức lại cuộc sống. Trong số các nhà văn ở Trung Quốc, có thể nói yêu quê hương và viết về chính quê hương của mình thành công nhất phải kể đến Mạc Ngôn. Độc giả Việt Nam đã biết đến Mạc Ngôn với hàng loạt tác phẩm như Đàn hương hình, Báu vật của đời, Cây tỏi nổi giận, Rừng xanh lá đỏ... Nhưng người ta biết đến Thập tam bộ với nhiều ý nghĩa ẩn chứa trong đó. Đây là tiểu thuyết ấn tượng của nhà văn Mạc Ngôn trong việc hướng ngòi bút vào một vấn đề có tính thời sự của xã hội Trung Quốc những năm tám mươi của thế kỷ trước. Trong Thập tam bộ không hề có vũ khí giết người hàng loạt, những chiến dịch đẫm máu nhưng để được sống, con người cũng phải giãy giụa, phải đấu tranh. Câu chuyện chỉ diễn ra vỏn vẹn có mười lăm ngày nhưng đó là mười lăm ngày đảo điên làm vỡ tung những ung nhọt ẩn chứa trong cuộc đời. Xoay quanh số phận của hai nhân vật chính: Phương Phú Quý và Trương Xích Cầu – hai thầy giáo dạy Vật lý ở trường trung học tại một thành phố nhỏ. Bắt đầu là việc thầy Phương kiệt sức và ngất trên bục giảng trong một tiết dạy về nguyên lý chế tạo bom nguyên tử. Tất cả những bi kịch khởi phát từ đây. Cái chết của thầy được toàn thể nhân dân thành phố kính trọng và thương xót. Tờ báo của thành phố dành vị trí trang trọng nhất để đăng cáo phó làm dấy lên một cuộc vận động: “quan tâm đến cuộc sống của giáo viên! Nâng lương cho giáo viên! Vận động các xí nghiệp ăn nên làm ra và các cá nhân lắm tiền thành lập quỹ bảo vệ sức khỏe cho giáo viên!” [18, tr.103]. Cuộc vận động ngày càng rầm rộ, biểu ngữ, cờ hồng tràn ngập đường phố. Xem ra để cải thiện tình hình cho toàn thể giáo viên thành phố, “Phương Phú Quý chết còn có giá trị gấp nhiều lần Phương Phú Quý sống” [18, tr.104]. Trên đường đến nhà tang lễ, thầy Phương đã tỉnh lại. Nhưng thầy không được phép sống, hiệu trưởng ngồi bên cạnh đã lấy tay bịt mắt anh lại. Vì đời sống của tất cả 15
- Xem thêm -