Tài liệu Ngân sách nhà nước và biện pháp tăng thu ngân sách nhà nước

  • Số trang: 15 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 990 |
  • Lượt tải: 1
hoanggiang80

Đã đăng 20010 tài liệu

Mô tả:

Lời mở đầu Ngân sách nhà nước đóng một vai trò vô cùng quan trọng không chỉ đối với sự phát triển kinh tế nước ta mà còn đối với bất cứ quốc gia nào trên thế giới.Vào dịp đầu năm chính phủ mỗi nước đều tổ chức một cuộc họp thường niên nhằm tổng kết tài chính đã phân bổ chi tiêu trong năm vừa qua,đồng thời báo cáo về tình hình ngân sách và phân bổ ngân sách cho các bộ ngành trong năm tới.Tại cuộc họp thường niên này việc tăng nguồn thu cho NSNN (chủ yếu dựa vào các chính sách thuế và xuất khẩu) cũng được đề cập đến.Dựa vào việc đầu tư-phân bổ-tài chính báo cáo mà chúng ta có thể biết được chiến lược phát triển kinh tế trong những năm tới. Thực tế, các cường quốc kinh tế trên thế giới đều có một chính sách thu ổn định, đồng thời chi tiêu ngân sách hợp lý. Ngân sách là công cụ quản lý vĩ mô nên kinh tế. Thông qua công cụ này, Nhà nước sẽ tham gia vào việc điều chỉnh một số quan hệ kinh tế cân đối của nền kinh tế như: tích luỹ và tiêu dùng, xuất và nhập khẩu, cơ cấu tiêu dùng và điều tiết thu nhập để đảm bảo cân bằng. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay việc từ bỏ nguyên tắc quản lý trực tiếp theo kiểu “cấp phát và giao nộp” đối với khu vực kinh tế quốc doanh và các cơ quan Nhà nước, đã tạo điều kiện cho NSNN đảm nhận vai trò quản lý vĩ mô đối với toàn bộ nền kinh tế – xã hội. Thu NSNN nói một cách đơn giản chính là công tác lập quỹ NSNN, từ đó NSNN có thể chi cho các hoạt động của mình, thực hiện được vai trò của mình. Do đó có thể nói thu NSNN là một công tác rất quan trọng, nó quyết định việc thực hiện các vai trò của NSNN nói chung cũng như ảnh hưởng trực tiếp đến các khoản chi NSNN nói riêng Phần nội dung I. Cơ sở lý luận: 1. Khái niệm của ngân sách nhà nước. 1.1 Ngân sách nhà nước là gì? Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế mang tính chất lịch sử, là một thành phần trong hệ thống tài chính, nó phản ánh những mặt nhất định của các quan hệ kinh tế thuộc lĩnh vực phân phối sản phẩm xã hội và được sử dụng như một công cụ thực hiện các chức năng của Nhà nước. Sự ra đời và tồn tại của ngân sách nhà nước luôn gắn liền với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước và sự xuất hiện của sản xuất hàng hoá. Khi nhà nước ra đời, để đảm bảo cho sự tồn tại của mình, Nhà nước đã đặt ra chế độ thuế khoá bắt toàn dân phải cống nạp, các khoản thu này hình thành nên quỹ tiền tệ của Nhà nước và nó được sử dụng để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Thuật ngữ "Ngân sách nhà nước" được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội, ở mọi quốc gia. Song quan niệm về ngân sách nhà nước lại chưa thống nhất, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về ngân sách nhà nước tùy theo các trường phái và các lĩnh vực nghiên cứu. - Các nhà kinh tế học hiện đại đã dưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về ngân sách nhà nước: + Các nhà kinh tế Nga quan niệm: NSNN là bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của quốc gia. + Một cách hiểu tương tự,người Pháp cho rằng: NSNN là toàn bộ tài liệu kế toán mô tả và trình bày các khoản thu và kinh phí của nhà nước trong một năm Theo quan điểm của những nhà nghiên cứu kinh tế cổ điển:NSNN là một văn kiện tài chính, mô tả các khoản thu và chi của chính phủ được thiết lập hàng năm - Luật Ngân sách Nhà nước của Việt Nam đã được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 16/12/2002 định nghĩa: Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước. Sự hình thành và phát triển của ngân sách nhà nước gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của kinh tế hàng hóa - tiền tệ trong các phương thức sản xuất của cộng đồng và nhà nước của từng cộng đồng. Nói cách khác, sự ra đời của nhà nước, sự tồn tại của kinh tế hàng hóa - tiền tệ là những tiền đề cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của ngân sách nhà nước. Ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Ngân sách trung ương là ngân sách của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác ở trung ương. Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân. 1.2 Đặc điểm của NSNN: Hoạt động ngân sách nhà nước là hoạt động phân phối lại các nguồn tài chính, nó thể hiện ở hai lãnh vực thu và chi của nhà nước Hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế chính trị của nhà nước, và việc thực hiện các chức năng của nhà nước, được nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định,thường được thực hiện theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu Ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với sở hữu nhà nước, luôn chứa đựng những quan hệ kinh tế, quan hệ lợi ích nhất định. Trong các quan hệ lợi ích đó, lợi ích quốc gia, lợi ích tổng thể bao giờ cũng được đặt lên hàng đầu và chi phối các mặt lợi ích khác trong hoạt động của ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước cũng có những đặc điểm như các quỹ tiền tệ khác. Nét khác biệt của ngân sách nhà nước với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, nó được chia thành nhiều quỹ nhỏ có tác dụng riêng, sau đó mới được chi dùng cho những mục đích đã định Khái niệm ngân sách nhà nước không chỉ biểu hiện các quan hệ sản xuất nhất định, mà còn có sự thể hiện vật chất hoá. Sự vật chất hoá các quan hệ ngân sách được biểu hiện ở quỹ tiền tệ của Nhà nước. Đằng sau các con số phản ánh khối lượng của ngân sách là quá trình phân phối hiện thực. Đó chính là tính hai mặt của phạm trù kinh tế mặt chất lượng và mặt số lượng. Quỹ tiền tệ của Nhà nước - ngân sách nhà nước cũng có những đặc trưng chung như các quỹ tiền tệ khác được tạo lập trên cơ sở các quan hệ tài chính, được chia thành nhiều quỹ có tác dụng riêng và chỉ sau đó ngân sách mới được chi dùng cho những mục đích đã định trước 1.3 Vai trò của NSNN trong nền kinh tế thị trường: Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá - tiền tệ phát triển ở giai đoạn cao. Sự vận hành của nền kinh tế chịu sự tác động của các quy luật kinh tế khách quan như: quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật lưu thông tiền tệ... đã bộc lộ những ưu thế cũng như những khuyết tật của kinh tế thị trường. Để hạn chế và khắc phục những khuyết tật đó, Nhà nước can thiệp vào quá trình vận hành của nền kinh tế là một đòi hỏi khách quan để đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định. Sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế thị trường là sự can thiệp gián tiếp thông qua các công cụ chủ yếu như: pháp luật, kế hoạch, tổ chức, tài chính, tiền tệ... trong đó ngân sách nhà nước được coi là công cụ quan trọng nhất của Nhà nước Vai trò quan trọng đó của ngân sách nhà nước được thể hiện trên các mặt như sau: Ngân sách nhà nước là công cụ huy động nguồn tài chính để đảm bảo các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Đây là vai trò truyền thống của ngân sách nhà nước trong mọi mô hình kinh tế, nó gắn chặt với các chi phí của Nhà nước trong quá trình tồn tại và thực hiện nhiệm vụ của mình. Mối quan hệ hữu cơ giữa Nhà nước với ngân sách được C.Mác tổng kết như sau: “Sức mạnh chuyên chính của Nhà nước được quyết định bởi ngân sách và ngược lại”. Ngân sách nhà nước là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Vai trò này xuất phát từ yêu cầu khắc phục những khuyết tật vốn có của nền kinh tế thị trường. Vai trò này được thể hiện trên các mặt như sau: Thứ nhất, ngân sách nhà nước là công cụ định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền. Để khắc phục những khuyết tật của nền kinh tế thị trường, Nhà nước phải hướng hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đi vào quỹ đạo mà Nhà nước đã hoạch định, để hình thành nên cơ cấu kinh tế tối ưu, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững. Thông qua công cụ là ngân sách nhà nước đảm bảo cung cấp kinh phí để Nhà nước đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt, trên cơ sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Việc cấp vốn hình thành các doanh nghiệp nhà nước là một trong những biện pháp căn bản để chống độc quyền và giữ cho thị trường khỏi rơi vào tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo. Mặt khác, trong những điều kiện cụ thể, nguồn kinh phí ngân sách cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp, đảm bảo tính ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị cho việc chuyển sang cơ cấu mối hợp lý hơn. Ngoài ra, bằng việc huy động nguồn tài chính thông qua thuế, ngân sách nhà nước đảm bảo thực hiện vai trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh. Thứ hai, ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng trong việc điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, chống lạm phát. Trong nền kinh tế thị trường, sự biến động giá cả có nguyên nhân từ sự mất cân đối cung cầu. Bằng công cụ thuế, phí, lệ phí, vay và chính sách chi tiêu của ngân sách nhà nước, Nhà nước có thể tác động vào khía cạnh cung hoặc cầu để bình ổn giá cả. Đặc biệt sự hình thành quỹ dự phòng trong ngân sách nhà nước để đối phó với sự biến động của thị trường đóng vai trò quan trọng để bình ổn giá cả. Mặt khác, hoạt động thu – chi của ngân sách nhà nước có mối quan hệ chặt chẽ với vấn đề lạm phát. Lạm phát là căn bệnh nguy hiểm đối với nền kinh tế và chống lạm phát là một nội dung quan trọng trong quá trình điều chỉnh thị trường. Nguyên nhân gây ra và thúc đẩy lạm phát có nhiều và xuất phát từ nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực thu chi tài chính của Nhà nước. Do đó, bằng các biện pháp đúng đắn trong quá trình thu-chi của ngân sách nhà nước như: thắt chặt và nâng cao hiệu quả các khoản chi tiêu của ngân sách nhà nước, tăng thuế tiêu dùng, giảm thuế đối với đầu tư... Nhà nước có thể hạn chế và kiểm soát lạm phát. Ngân sách nhà nước là công cụ điều tiết thu nhập giữa các thành phần kinh tế và các tầng lớp dân cư nhằm đảm bảo công bằng xã hội. Từ năm 1986 nền kinh tế Việt Nam chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước với mục tiêu xây dựng một xã hội thịnh vượng, công bằng và văn minh. Nhưng nền kinh tế thị trường với khuyết tật vốn có của nó là phân hoá giai cấp, phân hoá giàu nghèo. Do vậy, để đạt được mục tiêu mà Đảng đã đề ra, Nhà nước phải sử dụng công cụ ngân sách để điều tiết thu nhập, giảm bớt khoảng cách về thu nhập giữa các tầng lớp trong xã hội. Việc điều tiết này được thực hiện thông qua hoạt động thu chi ngân sách. Thông qua hoạt động thu ngân sách, dưới hình thức kết hợp thuế gián thu và thuế trực thu Nhà nước điều tiết bớt một phần thu nhập của tầng lớp có thu nhập cao trong xã hội, hướng dẫn tiêu dùng hợp lý, tiết kiệm, đảm bảo thu nhập chính đáng của người lao động. Mặt khác, thông qua hoạt động chi ngân sách dưới hình thức các khoản cấp phát, trợ cấp trong các chính sách về dân số kế hoạch hoá gia đình, về bảo trợ xã hội, về việc làm... Nhà nước hỗ trợ để nâng cao đời sống của tầng lớp người nghèo trong xã hội. Tuy nhiên trong điều kiện ngân sách nhà nước còn eo hẹp, việc giải quyết các vấn đề xã hội chưa thể thực hiện một cách triệt để, vấn đề này phải thực hiện theo phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm. 2. Thu NSNN: 2.1 Khái niệm: Là việc nhà nước dùng quền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm thỏa mãn các nhu cầu của nhà nước. - Nguồn tài chính tập trung vào NSNN là những khoản thu nhập của nhà nước được hình thành trong quá trình nhà nước tham gia phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị 2.2 Đặc điểm: Thu ngân sách nhà nước thực chất là sự phân chia nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nước và các chủ thể khác trong xã hội dựa trên quyền lực của Nhà nước nhằm giải quyết hài hoà các mối quan hệ về lợi ích kinh tế . Sự phân chia đó là 1 tất yếu quan xuất phát từ yêu cầu tồn tại và phát triển của bộ máy nhà nước và thực hiện các chức năng của Nhà nước Thu ngân sách nhà nước gắn chặt với thực trạng kinh tế và sự vận động của các phạm trù như giá cả, thu nhập, lãi suất... Chỉ tiêu quan trọng biểu hiện thực trạng của nền kinh tế là tổng sản phẩm quốc nội (GDP). GDP là yếu tố khách quan quyết định mức động viên của thu ngân sách nhà nước Thu NSNN được thực hiên theo nguyên tắc hoản trả không trực tiếp là chủ yếu 2.3 Cơ cấu thu ngân sách nhà nước bao gồm: Thu trong cân đối ngân sách là các khoản thu nằm trong hoạch định của Nhà nước nhằm cân đối ngân sách. Các khoản này gồm: thuế, lệ phí, lợi tức của Nhà nước, thu tiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu Nhà nước, và các khoản thu khác. Thu ngoài cân đối ngân sách hay còn gọi là thu bù đắp thiếu hụt ngân sách. Thu bù đắp thiếu hụt ngân sách thực chất là vay để bù đắp, bao gồm vay trong nước và vay nước ngoài. Vay trong nước được thực hiện thông qua việc phát hành công trái quốc gia, trái phiếu chính phủ… để huy động tiền nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư. Vay nước ngoài được thực hiện thông qua vay nợ hoặc viện trợ Chính phủ, các tổ chức tài chính quốc tế. 2.4 Nội dung kinh tế của thu NSNN: 2.4.1 Thu thuế Thuế là sự đóng góp theo nghĩa vụ đối với nhà nước được quy định bởi pháp luật do các pháp nhân và thể nhân thực hiện. Thuế mang tính bắt buộc và không hoàn trả trực tiếp. Thuế được nhà nước áp đặt bằng quyền lực chính trị, được thể chế hoá bằng luật pháp, cho nên mọi tổ chức phải chấp hành nghiêm chỉnh, nếu không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với nhà nước tức là phạm luật và sẽ bị xử lý theo pháp luật. Tính bắt buộc của thuế được giải thích bởi mối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ của mọi công dân, mọi tổ chức đối với nhà nước. Thuế không hoàn trả trực tiếp ngang cho cho người nộp thuế, một phần số thuế đã được nộp cho NSNN được hoàn trả một cách gián tiếp cho người nộp thuế dưới những hưởng thụ về giáo dục, y tế, phúc lợi công cộng và an ninh quốc phòng… Tất cả mọi công dân đều được hưởng các dịch vụ công cộng đó như nhau cho dù nghĩa vụ đóng góp có thể khác nhau. Thuế được thiết lập dựa trên nguyên tắc luật định nên mọi sự thay đổi hay bổ sung phải được đưa ra để bàn bạc tại cơ quan lập pháp và phải được chính cơ quan này phê chuẩn thì mới được áp dụng Thuế làm chuyển đổi quyền sở hữu từ sở hữu tập thể và cá thể thánh sở hữu toàn dân. Việc chuyển quyền sở hữu này được quyết định bởi chức năng quản lí toàn bộ nền kinh tế quốc dân của nhà nước và biểu hiện sự thống nhất về lợi ích giữa nhà nước với các thành phần kinh tế, các cá nhân trong xã hội. Trong nền kinh tế thị trường, thuế được coi là công cụ quan trọng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế, là nguồn thu quan trọng và chủ yếu của ngân sách nhà nước, góp phần điều chỉnh nền kinh tế, kích thích tích luỹ tư bản, định hướng sản xuất và tiêu dùng. Thuế là công cụ phân phối lại lợi tức, làm gia tăng trong tiết kiệm tư nhân và đảm bảo công bằng trong xã hội 2.4.2 Lệ phí: Lệ phí là một khoản thu mang tính chất bắt buộc, nhưng có tính chẩt đối giá, nghĩa là lệ phí là một khoản tiền mà dân chúng trả cho Nhà nước khi họ hưởng thụ những dịch vụ do Nhà nước cung cấp. So với thuế, tính pháp lý của lệ phí thấp hơn. Lệ phí do cơ quan hành pháp ban hành, mang tính quyền lực của nhà nước, mang tính chất hoàn trả trực tiếp cho người nộp. Lệ phí là một khoản thu mang tính chất bù đắp, mức thu lệ phí được đặt ra trên cơ sở đáp ứng yêu cầu bù đắp chi phí của các dịch vụ công cộng của Nhà nước. Quản lý tốt các khoản thu lệ phí có tác dụng tăng thu cho ngân sách nhà nước và giảm bớt gánh nặng chi ngân sách trong việc tạo ra các dịch vụ công cộng. 2.4.3 Thu từ lợi tức cổ phần nhà nước: Trong nền kinh tế thị trường, hình thức cấp vốn trực tiếp từ ngân sách cho các doanh nghiệp, cho dù đó là doanh nghiệp nhà nước, đã bị thu hẹp. Nhà nước thực hiện đầu tư vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh bằng hình thức mua hoặc góp cổ phần được hình thành nên các doanh nghiệp cổ phần mà ở đó nhà nước với tư cách là một cổ đông. Khi các doanh nghiệp cổ phần hoạt động kinh doanh có lợi nhuận, số lợi nhuận đó sẽ được chia cho các cổ đông theo lượng vốn góp và Nhà nước sẽ có một khoản thu. Trong các doanh nghiệp nhà nước khi hoạt động có lợi nhuận thì một phần lợi nhuận đó được huy động vào ngân sách nhà nước thông qua khoản thu về tiền thu sử dụng vốn ngân sách nhà nước, và mặt bản chất đây chính là khoản lợi tức thu được từ khoản vốn mà nhà nước đã đầu tư. -Thu lợi tức từ cổ phần nhà nước là một nguồn thu chiếm tỷ trọng tương đối trong tổng cơ cấu thu ngân sách các khoản vốn đã đầu tư vào nền kinh tế 2.4.4 Thu từ bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước: Khoản thu này mang tính chất thu hồi vốn và một phần mang tính chất phân phối lại. Khoản thu này vừa có tác dụng tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, vừa có tác dụng nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên quốc gia. Khoản thu này bao gồm: Thu về bán hoặc cho thuê tài nguyên thiên nhiên Thu về bán tài sản thuộc quyền sở hữu của nhà nước nhưng không thuộc nguồn tài nguyên như bán hoặc cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước cho tư nhân, cho nước ngoài. 2.4.5 Thu về từ hợp tác lao động với nước ngoài va thu khác: Trong xu hướng mở cửa hội nhập, hợp tác lao động giữa các nước ngày càng diễn ra sôi động, việc xuất khẩu lao động của các nước đông dân tạo nên một khoản thu cho ngân sách nhà nước. Thực chất khoản tiền này là khoản tiền thu hồi của quốc gia đã bỏ ra những chi phí ban đầu để bảo vệ, nuôi dưỡng, rèn luyện, đào tạo người lao động, đồng thời là khoản tiền mà người lao động trích ra từ tiền công của mình đóng góp cho tổ quốc. Ngoài các khoản thu trên, còn có các khoản thu khác như : thu từ bán tài sản không có người nhận, các khoản tiền phạt, tịch thu, các khoản viện trợ không hoàn lại của chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài. 2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu NSNN: Thu ngân sách chịu tác động của nhiều nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội. Trong thực tế, mức thu ngân sách ở mỗi nước khác nhau cho dù có những tương đồng về mặt kinh tế, xã hội. Sự khác nhau đó bắt nguồn từ các nhân tố ảnh hưởng sau đây: GDP bình quân đầu người: là một chỉ tiêu phản ánh khả năng tăng trưởng và phát triển của một quốc gia, khả năng tiết kiệm, tiêu dung và đầu tư của một nước. GDP bình quân đầu người là nhân tố khách quan quyết định mức thu ngân sách nhà nước, vì vậy khi ấn định mức thu ngân sách, Nhà nước cần căn cứ vào chỉ tiêu này. -Khi GDP/người cao - dẫn đến thu ngân sách cao -Khi GDP/Người thấp - dẫn đến thu ngân sách nhà nước thấp Khả năng xuất khẩu nguồn tài nguyên thiên nhiên: Đối với các nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào phong phú thì xuất khẩu tài nguyên sẽ đem lại nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước. Đây là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến số thu của ngân sách Tỷ suất doanh lợi của nền kinh tế: là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của đầu tư phát triển kinh tế. Tỉ suất doanh lợi là tỉ số giữa kết quả thu đươc trên tổng chi phi bỏ ra. Tỉ suất doanh lợi trong nền kinh tế càng lớn thì thu NSNN càng lớn. Do vậy, khi xác định tỷ suất thu ngân sách cần căn cứ vào tỉ suất doanh lợi của nền kin tế để đảm bảo việc huy động của ngân sách nhà nước không gây khó khăn về mặt tài chính cho các chủ thể trong xã hội. Mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước: phụ thuộc vào các yếu tố: quy mô tổ chức bộ máy nhà nước và hiệu quả hoạt động của bộ máy đó, những nhiệm vụ kinh tế xã hội mà nhà nước phải đảm nhận trong từng giai đoạn lịch sử, chính sách sử dụng kinh phí của nhà nước. Trong điều kiện các nguồn tài trợ khác cho chi phí của nhà nước không có khả năng tăng lên, việc tăng mức độ chi phí của nhà nước sẽ dẫn đến đòi hỏi thu NSNN tăng lên. Tóm lại, để có một mức thu đúng đắn có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cần phải có sự phân tích, đánh giá cụ thể những nhân tố tác động đến nó trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể và phải được xem xét một cách toàn diện. 2.6 Nguyên tắc thiết lập hệ thống thu ngân sách nhà nước: Thiết lập một hệ thống thu ngân sách không chỉ nhằm mục đích đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước mà còn chứa đựng các mục tiêu kinh tế xã hội khác. Do đó, việc thiết lập một hệ thống thu ngân sách nhà nước phải dựa trên những nguyên tắc định hướng nhất định tùy theo những điều kiện kinh tế, xã hội của mỗi nước. 2.6.1 Nguyên tắc ổn định và lâu dài: Trong điều kiện hoạt động kinh tế bình thường thì phải ổn định mức thu, ổn định các sắc thuế, không được gây xáo trộn lớn trong hệ thống thuế; đồng thời tỷ lệ động viên của ngân sách nhà nước phải thích hợp, đảm bảo kích thích nền kinh tế tăng trưởng, nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu. Đối tượng tính thuế: đối tượng ít có sự biến động. Ý nghĩa thực hiện nguyên tắc:tạo thuận lợi cho việc kế hoạch hóa ngân sách nhà nước, tạo điều kiện kích thích người nộp thuế cải tiến đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh. 2.6.2 Nguyên tắc đảm bảo sự công bằng: Thiết lập hệ thống thuế phải có quan điểm công bằng đối với người chịu thuế, không phân biệt địa vị xã hội, thành phần kinh tế. Việc thiết kế hệ thống thuế chủ yếu dựa trên khả năng thu nhập của người chịu thuế. Để đảm bảo đươc nguyên tắc công bằng trong thiết kế hệ thống thuế phải kết hợp sắc thuế trực thu với sắc thuế gián thu. 2.6.3 Nguyên tắc rõ ràng, chắc chắn: Nguyên tắc này đòi hỏi trong thiết kế hệ thống thuế các điều luật của các sắc thuế phải rõ ràng cụ thể ở từng mức thuế, cơ sở đánh thuế, phương pháp tính thuế… Các từ ngữ được sử dụng của văn bản thông thường, dễ hiểu, không chứa đựng nhiều hàm ý để tất cả mọi người đều hiểu được và chấp hành giống nhau. Giúp cho việc tổ chức chấp hành luật thống nhất, tránh được tinh trang lách luật, trốn lậu thuế. 2.6.4 Nguyên tắc đơn giản: Nguyên tắc này đòi hỏi trong các sắc thuế cần hạn chế số lượng thuế suất, xác định rõ mục tiêu chính, không đề ra quá nhiều mục tiêu trong một sắc thuế. Tạo điều kiện thuận lợi cho viêc triển khai luật thuế vào thực tiễn, tránh được những hiện tượng tiêu cực trong thu thuế. II. Thực trạng thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay: Việc thực hiện hàng loạt biện pháp tài khóa và tiền tệ chặt chẽ theo Nghị quyết số 11/NQ-CP, ngày 24/2/2011 của Chính phủ đã mang lại nhiều tác động tích cực đến bình ổn nền kinh tế trong năm 2012 song cũng có những tác động phụ, ảnh hưởng tới thu ngân sách nhà nước.Khái quát về tình hình thu ngân sách nhà nước năm 2012,đề xuất giải pháp 2013 Thu ngân sách năm 2012 Năm 2012 được đánh giá là một trong những năm mà nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước (NSNN) gặp nhiều khó khăn nhất. Ngành Tài chính đã thực hiện chủ trương: “Giảm thuế, nuôi dưỡng nguồn thu để tăng thu” thông qua việc đề xuất Chính phủ ban hành Nghị quyết 13/NQ-CP ngày 10/5/2012 về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường. Với việc triển khai Nghị quyết 13/NQ-CP, NSNN giảm thu 1,2% dự toán tổng thu cả năm 2012 và tổng giá trị thực tế doanh nghiệp (DN) được hưởng tương đương 1% GDP dự tính so với quy mô xấp xỉ 10% GDP của gói kích thích kinh tế năm 2009. Số liệu thống kê của Bộ Tài chính cho thấy, đến hết tháng 11/2012, ngành Thuế đã xử lý miễn, giảm, gia hạn tiền thuế theo các Nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ cho khoảng 457.500 lượt DN và hộ sản xuất, hộ gia đình và cá nhân, với số tiền khoảng 19.025 tỷ đồng; trong đó: Thực hiện miễn và gia hạn tiền thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với khoảng 216.450 lượt DN và hộ sản xuất, hộ gia đình và cá nhân, với số tiền khoảng 11.160 tỷ đồng; Thực hiện miễn, giảm và gia hạn tiền thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đối với khoảng 203.550 lượt DN, với số tiền khoảng 4.940 tỷ đồng; Gia hạn tiền sử dụng đất cho trên 340 DN, với số tiền gần 2.470 tỷ đồng; giảm 50% tiền thuê đất năm 2012 cho khoảng 3.610 DN, với số tiền 445 tỷ đồng; Miễn thuế môn bài năm 2012 cho 33.510 hộ đánh bắt hải sản và hộ làm muối, với số tiền khoảng 10 tỷ đồng… Cùng với các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho DN thì hàng loạt các biện pháp cải thiện và chống thất thu NSNN cũng được triển khai như: cải cách thủ tục hành chính; thường xuyên đôn đốc kịp thời người nộp thuế; tích cực thanh tra, kiểm tra thuế; chống gian lận thuế, nhất là chống chuyển giá trong các doanh nghiệp FDI… Hàng loạt giải pháp nói trên đã mang lại kết quả tích cực cho thu NSNN năm 2012. Tính đến 31/12/2012, tổng thu NSNN cả nước đạt 741.500 tỷ đồng, tức vượt 1.000 tỷ đồng so với dự toán kế hoạch là 740.500 tỷ đồng. Thu từ dầu thô ước đạt ước đạt 128,7% so với dự toán - tăng 1,6% so với thực hiện năm 2011, đạt khoảng 112.000 tỷ đồng. Thu NSNN từ các hoạt động sản xuất kinh doanh nội địa ước đạt 467.200 tỷ đồng, đạt 96,4 % dự toán và tăng 10,7 % so với số thực hiện năm 2011. Tuy nhiên, thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu theo ước tính chỉ đạt khoảng 82 % dự toán và thu từ đất đai ước tính chỉ đạt hơn 65 % dự toán thu. Số thu này cũng phản ánh đúng tình trạng kinh tế năm 2012. Tình trạng “đóng băng” của thị trường bất động sản đã tác động mạnh đến thu NSNN từ đất đai, đặc biệt là thu ở các địa phương có số thu từ đất đai lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng. Hầu hết các địa phương đều không đạt dự toán thu NSNN từ đất như Đà Nẵng năm 2012 chỉ đạt 37,1% dự toán thu từ đất. Đánh giá về tình hình thu NSNN năm 2012, có thể rút ra một vài bài học: Một là, sự chỉ đạo điều hành kịp thời với những thay đổi của tình hình kinh tế đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi dự toán NSNN. Chủ trương giảm thuế để tăng thu NSNN của Chính phủ với Nghị quyết 13/NQ-CP là lý do quan trọng giải thích cho sự thành công của năm tài khóa 2012. Hai là, ngay trong bối cảnh khó khăn kinh tế thì việc tăng cường kiểm tra, giám sát trong quản lý thu thuế, chống thất thu thuế; tập trung xử lý các khoản nợ đọng thuế; triển khai các biện pháp cưỡng chế nợ thuế để thu hồi nợ đọng và hạn chế phát sinh số nợ thuế mới cần đặc biệt được quan tâm Theo dự toán NSNN năm 2013 đã được Quốc hội phê chuẩn, số thu cân đối ngân sách dự kiến 816.000 tỷ đồng, trong đó thu nội địa là 545.500 tỷ đồng (thu từ nhà đất dự kiến là 45.707 tỷ đồng), thu từ hoạt động xuất nhập khẩu là 166.500 tỷ đồng và từ dầu thô là 99.000 tỷ đồng, bội chi dự kiến là 162.000 tỷ đồng, tương đương 4,8 % GDP. Ba là, kiểm soát chặt chẽ nguồn thu ngân sách, thường xuyên kiểm tra, rà soát để nắm bắt kịp thời số lượng, tình trạng hoạt động của DN, hộ kinh doanh trên địa bàn để đưa vào diện quản lý. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chống thất thu ngân sách, chú trọng việc thanh tra đối với các chuyên đề như: chuyển giá, thương mại điện tử, kinh doanh qua mạng, hoàn thuế, hộ kinh doanh cá thể; thanh tra đối với các DN lớn, DN có vốn đầu tư nước ngoài. Bốn là, đẩy mạnh áp dụng các biện pháp thu nợ và cưỡng chế nợ thuế nhằm hạn chế nợ mới phát sinh, động viên kịp thời nguồn lực cho NSNN. Năm là, tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thuế nhằm cắt giảm chi phí tuân thủ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để DN phát triển sản xuất kinh doanh; đẩy mạnh triển khai thực hiện các đề án thuộc Chiến lược phát triển hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020, đảm bảo lộ trình và yêu cầu đã đề ra. Một số giải pháp thực hiện thu ngân sách nhà nước năm 2013 Theo dự toán NSNN năm 2013 đã được Quốc hội phê chuẩn thì số thu cân đối ngân sách dự kiến là 816.000 tỷ đồng, trong đó thu nội địa là 545.500 tỷ đồng (thu từ nhà đất dự kiến là 45.707 tỷ đồng), thu từ hoạt động xuất nhập khẩu là 166.500 tỷ đồng và từ dầu thô là 99.000 tỷ đồng, bội chi dự kiến là 162.000 tỷ đồng, tương đương 4,8 % GDP. Phân tích tình hình kinh tế và dự toán NSNN năm 2013, có thể thấy việc thực hiện thu NSNN có một số thuận lợi như sau: Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ có thể thoát ra khỏi giai đoạn suy giảm vào giữa năm 2013, góp phần làm tăng thu ngân sách. Năm 2013, hệ số ICOR theo mục tiêu giảm (từ gần 6,7 lần xuống 5,5 lần), do tỷ lệ vốn đầu tư/GDP giảm xuống (30% so với 33,5%), do tốc độ tăng trưởng GDP cao lên (5,5% so với 5,03%); tốc độ tăng năng suất lao động cũng cao lên (năm 2012 tăng gần 2,3%, mục tiêu năm 2013 tăng lên 2,7%). Theo ước tính, nếu GDP năm 2013 tăng trưởng đạt 5,5 – 6% thì tăng thu NSNN có thể tăng từ 9-10% so với thực hiện năm 2012, tức là đạt mức theo dự toán. Thứ hai, các DN và cả nền kinh tế được kỳ vọng sẽ từng bước hồi phục khi lạm phát được kiểm soát và lãi suất cho vay giảm đi. Các biện pháp hỗ trợ DN qua miễn, giảm thuế sẽ từng bước có tác dụng khôi phục lại hoạt động của DN. Điều này góp phần vào việc tăng nguồn thu cho NSNN. Hơn nữa, do lạm phát năm 2012 thấp nên việc lập dự toán thu theo số danh nghĩa cho năm 2013 cũng không bị thổi phồng như đã xảy ra với dự toán năm 2012. Nói cách khác là dự toán thu NSNN năm 2013 sẽ sát với thực tiễn hơn. Tuy nhiên, thực hiện dự toán thu NSNN năm 2013 cũng sẽ đối mặt với những thách thức không nhỏ: Thứ nhất, rủi ro của các yếu tố bên ngoài có thể tác động xấu đến tăng trưởng làm giảm nguồn thu NSNN. Kinh tế Việt Nam hiện nay đang phụ thuộc khá lớn vào tình hình biến động của kinh tế thế giới (độ mở của nền kinh tế, tính theo quy mô ngoại thương/ GDP trong giai đoạn gần đây lên đến 150%). Tăng trưởng của Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào xuất khẩu khi kinh tế khu vực EU và Mỹ khó khăn thì kinh tế Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng. Theo dự báo của IMF vào tháng 12/2012 thì kinh tế thế giới sẽ chỉ tăng trưởng 3,6% trong năm 2013 và nhóm các nước phát triển chỉ tăng trưởng ở mức 1,6 %. Thứ hai, nguồn thu giảm do chính sách miễn giảm thuế của Chính phủ: Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 02/NQ-CP ngày 07/01/2013, tháo gỡ khó khăn cho DN trong đó có gia hạn thời hạn nộp thuế, miễn, giảm thuế TNDN. Việc áp dụng thuế thu nhập cá nhân mới với sự thay đổi về ngưỡng chiết trừ gia cảnh và thang thu nhập chịu thuế dự kiến sẽ làm giảm thu NSNN. Thu thuế xuất nhập khẩu cũng có thể giảm đi khi Việt Nam tiếp tục cắt giảm thuế suất theo cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và hoạt động xuất nhập khẩu bị tác động của suy giảm tăng trưởng kinh tế. Thứ ba, rủi ro kinh tế khiến một số nguồn thu khó đạt dự toán Việc giải quyết nợ xấu trong hệ thống các ngân hàng thương mại và của hệ thống DN sẽ đòi hỏi chi phí không nhỏ. Về ngắn hạn, các chính sách này có thể làm giảm nguồn thu từ thuế TNDN, thuế thu nhập cá nhân. Một trong những nguồn thu quan trọng là thu NSNN từ dầu thô cũng sẽ khó tăng khi dự báo giá dầu năm 2013 sẽ ít có biến động mạnh, thậm chí có thể giảm đi nếu tình hình khu vực Trung Đông ổn định. Thị trường bất động sản chưa khởi sắc sẽ làm nguồn thu từ đất đai tiếp tục khó đạt mục tiêu đặt ra. Theo dự toán, thu NSNN từ đất đai năm 2013 tăng 7,7 % so với dự toán 2012, song trong bối cảnh hiện nay và thực tế tình hình năm 2013 thì cũng sẽ không dễ thực hiện được số thu này. III.Giải pháp để tránh thất thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay: 1.Nguyên nhân gây thất thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam: Thất thu ngân sách do rất nhiều nguyên nhân, và có sự ảnh hưởng khác nhau đến sự cân đối vĩ mô của nền kinh tế. Về cơ bản, tình trạng thất thu ngân sách nhà nước gồm các nguyên nhân chính sau: 1.1 Thất thu thuế nhà nước: Thuế là nguồn thu chính và bền vững nhất cho ngân sách nhà nước bên cạnh các nguồn thu khác như tài nguyên, doanh nghiệp nhà nước, vay, nhận viện trợ…tuy nhiên, do hệ thống pháp luật ta còn nhiều bất cập, sự quản lí chưa chặt chẽ đã tạo kẻ hở cho các cá nhân, tổ chức lợi dụng để trốn thuế, gây thất thu một lượng đáng kể cho ngân sách nhà nước. lấy ví dụ:lượng thuốc lá nhập lậu còn làm chảy máu ngoại tệ của đất nước khoảng 200 triệu USD/năm, làm gia tăng thất nghiệp, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, việc giãn thuế, giảm thuế và miễn thuế một mặt giúp các doanh nghiệp có thêm nguồn vốn đầu tư, duy trì và mở rộng sản xuất. Tuy nhiên, việc miễn thuế, giảm thuế hoặc chậm thu làm ảnh hưởng tới các khoản chi ngân sách khác gây thâm hụt ngân sách nhà nước. 1.2 Đầu tư công kém hiệu quả: Trong năm 2007 và 2008, nước ta đã tiếp nhận một lượng vốn rất lớn từ bên ngoài nhằm đẩy mạnh đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và các công trình trọng điểm quốc gia phục vụ lợi ích phát triển của đất nước. Tuy nhiên, trên thực tế, tình trạng đầu tư dàn trải gây lãng phí ở các địa phương vẫn chưa được khắc phục triệt để, tiến độ thi công những dự án trọng điểm quốc gia còn chậm và thiếu hiệu quả, đã gây lãng phí nguồn ngân sách nhà nước và kiềm hãm sự phát triển của các vùng miền, là nguyên nhân chính dẫn đến thâm hụt ngân sách nhà nước. 1.3 Cần đấu thầu dự án sử dụng đất: Bên cạnh đó, nền hành chính công - dịch vụ của chúng ta quá kém hiệu quả. Chính sự kém hiệu quả này làm cho tình trạng thâm hụt ngân sách càng trở nên trầm trọng. 1.4 Nhà nước huy động vốn để kích cầu: Chính phủ kích cầu qua 3 nguồn tài trợ chính là: Phát hành trái phiếu Chính phủ, miễn giảm thuế và sử dụng Quỹ dự trữ nhà nước. Sử dụng gói giải pháp kích cầu một mặt làm kích thích tiêu dùng, tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, sẽ làm mức thâm hụt ngân sách tăng rất cao khoảng 8-12%GDP 1.5 Chưa chú trọng mối quan hệ giữa chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên: Đây là một trong những nguyên nhân gây căng thẳng về ngân sách áp lực bội chi ngân sách (nhất là ngân sách các địa phương). Chúng ta có thể thấy, thông qua cơ chế phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách và cơ chế bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới. Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu ứng với các nhiệm vụ chi cụ thể và được xác định cụ thể trong dự toán ngân sách hằng năm. -Vì vậy, khi các địa phương vay vốn để đầu tư sẽ đòi hỏi bảo đảm nguồn chi thường xuyên để bố trí cho việc vận hành các công trình khi hoàn thành và đi vào hoạt động cũng như chi phí duy tu, bảo dưỡng các công trình, làm giảm hiệu quả đầu tư. Chính điều đó luôn tạo sự căng thẳng về ngân sách.Để có nguồn kinh phí hoặc phải đi vay để duy trì hoạt động hoặc yêu cầu cấp trên bổ sung ngân sách, cả hai trường hợp đều tạo áp lực bội chi NSNN. 1.6 Quy mô chi tiêu của chính phủ quá lớn: Tăng chi tiêu của chính phủ một mặt giúp nền kinh tế tăng trưởng tạm thời trong ngắn hạn, nhưng lại tạo ra những nguy cơ bất ổn lâu dài như lạm phát và rủi ro tài chính do sự thiếu hiệu quả của các khoản chi tiêu công và thiếu cơ chế giám sát đảm bảo sự hoạt động lành mạnh của hệ thống tài chính. Lý thuyết kinh tế không chỉ ra một cách rõ ràng về hướng tác động chi tiêu của chính phủ đối với tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên đa số các nhà kinh tế thường thống nhất rằng chi tiêu của chính phủ một khi vượt quá một ngưỡng nào đó sẽ làm cản trở tăng trưởng kinh tế do gây ra phân bổ nguồn lực một cách không hiệu quả dẫn tới thâm hụt ngân sách nhà nước và cuối cùng là gây ra lạm phát. 1.7 Bên cạnh đó, sự thiếu hụt ngân sách trong những năm qua còn đươck sử dụng như một công cụ trong chính sách tài khoá để kích thích sự tang trưởng kinh tế: Về nguyên tắc, sau khi lấy tổng thu trừ đi tổng chi trong năm sẽ xác định được số thặng dư hoặc thiếu hụt ngân sách trong năm. Tuy nhiên, khi cân đối ngân sách chúng ta thường xác định số bội chi trước (thông thường tương đương với mức Quốc hội cho phép) và nguồn còn lại được Quốc hội cho phép chuyển nguồn sang năm sau. Đây là chính sách ngân sách thận trọng khi áp dụng lý thuyết bội chi một cách chủ động và điều đó không gây xáo trộn trong chính sách kinh tế vĩ mô, nhưng phải cân nhắc và kiểm tra xem toàn bộ số bội chi có được sử dụng để chi đầu tư phát triển cho các dự án trọng điểm và hiệu quả qua đó tạo thêm công ăn việc làm, tạo đà cho nền kinh tế phát triển, tăng khả năng thu NSNN trong tương lai hay không 2. Giải pháp để tránh thất thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Giải pháp giảm thất thu ngân sách nhà nước nhờ tổ chức bộ máy thu nộp: -Tổ chức bộ máy thu nộp gọn nhẹ, đạt hiệu quả cao, chống thất thu do trốn, lậu thì sẽ là nhân tố tích cực làm giảm tỉ xuất thu ngân sách nhà nước mà vẫn đảm bảo nhu cầu chi tiêu của NSNN. -Chúng ta cần tập trung cho giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng. Bên cạnh đó, cần đẩy nhanh tốc độ cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và có chính sách đầu tư phát triển công nghiệp chế biến và công nghiệp phụ trợ. -Cần phải đưa nguồn thu từ trái phiếu Chính phủ vào trong ngân sách để có những tính toán và phân bổ cho phù hợp hơn. -Chính phủ cần siết chặt chi tiêu ngân sách, tập trung vốn hoàn thành những dự án, công trình dở dang, hạn chế khởi công dự án mới, nhất là những dự án có tổng mức đầu tư lớn. Vấn đề nợ công của nước ta hiện nay và giải pháp cho vấn đề nợ công để tránh thất thu ngân sách nhà nước. -Công khai và minh bạch hóa các khoản nợ nhà nứơc của các tập đoàn và đảm bảo nợ công trong mức an toàn. -Hoàn thiện khung pháp lý về quản lý nợ công, kiểm soát nợ quốc gia ở ngưỡng an toàn bằng việc tiếp tục hoàn thiện chính sách quản lý về vốn ODA, vay ưu đãi, phát hành trái phiếu, quản lý phòng ngừa rủi ro…; nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay; thu thập, báo cáo, công khai các chỉ tiêu giám sát an toàn nợ; xây dựng quy chế quản lý rủi ro. Chống thất thu ngân sách nhà nước- nhìn từ hoạt động kiểm tra sau thông qua: -Hiện nay, sự phát triển kinh tế-xã hội và việc nước ta tham gia WTO đang đặt ra cho ngành Hải quan những yêu cầu bức xúc. Đó là phải thông quan nhanh hàng hoá. Như vậy, kiểm tra sau thông quan không có nghĩa là “thả cửa”, mà việc thông quan nhanh đòi hỏi ngành Hải quan phải quản lý và kiểm soát được tình hình xuất nhập khẩu, đảm bảo nguồn thu, chống thất thu hiệu quả cho ngân sách nhà nước. Kiểm tra sau thông quan là cách làm hiện đại được hải quan các nước phát triển áp dụng, nay hải quan Việt Nam đang có những bước tiếp cận và hoàn thiện quy trình này vào Việt Nam. Hải quan Việt Nam đã và đang chuyển từ “tiền kiểm” (kiểm tra hàng hoá trước khi thông quan) sang “hậu kiểm” (kiểm tra sau thông quan); cách làm này cho phép hàng hoá được thông quan nhanh, giảm thời gian lưu hàng tại cảng, việc kiểm tra sẽ được lựa chọn và thực hiện sau khi hàng hoá đã thông quan. Đây là xu thế tất yếu của hoạt động hải quan hiện đại mà hải quan Việt Nam đang hướng tới. -Những yếu kém bộc lộ trước tiên là trong khâu kiểm tra xuất xứ. Tại nhiều đơn vị, cán bộ công chức hải quan còn hạn chế về kiến thức liên quan đến xuất xứ hàng hoá (mã số mã vạch) nên mắc lỗi rất sơ đẳng, như trên nhãn hiệu, bao bì sản phẩm hiện xuất xứ của một nước, nhưng C/O lại xác định xuất xứ của một nước khác. Có trường hợp do hạn chế về hiểu biết của cán bộ hải quan về mặt hàng, công nghệ sản xuất nên không phát hiện được các nghi vấn về hàm lượng trị giá của thép lá cán nguội chủ yếu được hình thành từ nguyên liệu và ở công đoạn cán nóng. -Kiểm tra ngay, phát hiện sớm gian lận, nhất là về trị giá háng hoá, không để gian lận lan tràn và khó thu do phát hiện chậm; đẩy mạnh công tác thông tin về doanh nghiệp, mặt hàng, thủ đoạn gian lận kiểm tra sau thông quan; cung cấp thường xuyên các diễn biến mới để giúp khâu thông quan kịp thời nhận dạng đối tượng, ngăn chặn hành vi lợi dụng, gian lận, trốn thuế, đảm bảo quản lý rủi ro có hiệu quả. Về vấn đề hoàn thiện quy trình kiểm tra sau thông quan, trong năm 2008, Cục kiểm tra sau thông quan sẽ xây dựng, hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp luật, nghiệp vụ về kiểm tra sau thông quan, phân loại đối tượng quản lý, cẩm nang kiểm tra sau thông quan, tăng cường năng lực thông tin và công nghệ thông tin. Nâng cao năng lực kiểm soát về giá hàng nhập khẩu cho cán bộ, công chức; làm cho toàn lực lượng nhạy bén với thông tin về giá, kiểm tra quyết liệt ngay khi có lô hàng đầu tiên nhập khẩu và Việt Nam có dấu hiệu gian lận về giá. Kiểm tra, xác minh đến cùng để xác định được giá giao dịch đích thực nhằm ngăn chặn tình trạng gian lận giá sang các lô hàng khác của doanh nghiệp, chống thất thu thuế hiệu quả cho ngân sách nhà nước Giải pháp tăng thu NSNN: -Trong khi khai thác, cho thuê, nhượng bán tài sản, tài nguyên quốc gia tăng thu cho ngân sách, nhà nước cần phải dành kinh phí thỏa đáng cho để nuôi dưỡng, tái tạo và phát triển các tài sản, tài nguyên ấy, không làm cạn kiệt và phá hủy tài sản, tài nguyên vì mục đích trước mắt. -Chính sách thuế phải vừa huy động được nguồn thu cho ngân sách nhà nước, vừa khuyến khích tích tụ vốn cho doanh nghiệp và dân cư. -Chính sách vay dân để bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước phải được đặt trên cơ sở thu nhập và mức sống của dân. -Dùng ngân sách nhà nước đầu tư trực tiếp vào một số doanh nghiệp quan trọng trong những lĩnh vực then chốt, nhằm tạo ra nguồn tài chính mới. -Nhà nước cần có chính sách tiết kiệm, khuyến khích mọi người tiết kiệm tiêu dùng, tinh giản bộ máy, cải cách hành chính để tích lũy vốn chi cho đầu tư TÊN : LÊ HỒNG NHUNG MSSV :1154020712 LỚP :11DTDN4 ĐỀ BÀI: Ngân sách nhà nước và biện pháp tăng thu ngân sách nhà nước
- Xem thêm -