Tài liệu Nâng cao năng lực tự chủ tài chính của làng trẻ em sos hà nội

  • Số trang: 115 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 74 |
  • Lượt tải: 0
nguyetha

Đã đăng 8489 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ----------------------------------------------------- TRỊNH PHƢƠNG THẢO NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA LÀNG TRẺ EM SOS HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH KHOA HỌC QUẢN LÝ Hà Nội, 2014 MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN ........................................................................................................ 3 DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU .......................................................................... 4 PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................... 5 1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 5 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu ................................................................. 6 3. Mục tiêu nghiên cứu ..................................................................................... 7 4. Phạm vi nghiên cứu ...................................................................................... 8 5. Mẫu khảo sát ................................................................................................. 8 6. Câu hỏi nghiên cứu ....................................................................................... 8 7. Giả thuyết nghiên cứu .................................................................................. 8 8. Phƣơng pháp nghiên cứu ............................................................................. 9 9. Kết cấu của Luận văn ................................................................................... 9 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ ..................................................................... 11 1.1. Tổ chức phi chính phủ (NGOs) .............................................................. 11 1.1.1. Lịch sử hình thành tổ chức phi chính phủ ....................................... 11 1.1.2. Khái niệm tổ chức phi chính phủ ...................................................... 13 1.1.3. Phân loại các tổ chức phi chính phủ ................................................. 17 1.1.4. Tổng quan các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam ......................... 21 1.2. Năng lực tự chủ tài chính của các tổ chức phi chính phủ .................... 26 1.2.1. Khái niệm và đặc điểm năng lực tự chủ tài chính của các tổ chức phi chính phủ ................................................................................................ 26 1.2.2. Nhân tố ảnh hưởng tới năng lực tự chủ tài chính của tổ chức phi chính phủ ...................................................................................................... 32 1.2.3. Chỉ tiêu đánh giá năng lực tự chủ tài chính của các tổ chức phi chính phủ ...................................................................................................... 34 *Kết luận Chƣơng 1 ........................................................................................ 37 CHƢƠNG II. NĂNG LỰC TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA LÀNG TRẺ EM SOS VIỆT NAM ........................................................................................................... 38 2.1. Tổng quan về Làng trẻ em SOS Việt Nam ............................................ 38 2.1.1. Lịch sử hình thành và lĩnh vực hoạt động của Làng trẻ em SOS Việt Nam ............................................................................................................... 38 2.1.2. Bộ máy hoạt động của Làng trẻ em SOS Việt Nam .......................... 41 2.2. Sự cần thiết phải đảm bảo năng lực tự chủ tài chính tại Làng trẻ em SOS Việt Nam .................................................................................................. 43 2.3. Những hoạt động nhằm đảm bảo năng lực tự chủ tài chính của Làng trẻ em SOS Việt Nam...................................................................................... 46 2.3.1. Đối với nguồn kinh phí tự chủ từ nguồn học phí: ............................ 48 2.3.2. Đối với nguồn gây quỹ (trong nước hoặc quốc tế) từ tổ chức hoặc cá nhân hoặc doanh nghiệp.............................................................................. 52 1 2.3.3. Đối với nguồn ngân sách nhà nước .................................................. 61 2.4. Đánh giá năng lực tự chủ tài chính của Làng trẻ em SOS Việt Nam . 63 2.4.1. Năng lực tự chủ tài chính của Làng trẻ em SOS Việt Nam trong giai đoạn 2010-2014............................................................................................. 63 2.4.2. Sự cần thiết phải nâng cao năng lực tự chủ tài chính của Làng trẻ em SOS Việt Nam trong những năm tới ..................................................... 67 *Kết luận Chƣơng 2 ........................................................................................ 70 CHƢƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA LÀNG TRẺ EM SOS VIỆT NAM .............................. 71 3.1. Phân tích SWOT Làng trẻ em SOS Việt Nam trong bối cảnh hiện nay ........................................................................................................................... 71 3.2. Những giải pháp nhằm nâng cao năng lực tự chủ tài chính cho Làng trẻ em SOS Việt Nam...................................................................................... 76 3.2.1. Tăng cường số lượng và nâng cao chất lượng nhân sự Phòng truyền thông và phát triển Quỹ .................................................................... 76 3.2.2. Tăng cường hiệu quả hoạt động truyền thông, gây quỹ và phát triển hoạt động PR (Quan hệ công chúng) .......................................................... 79 B. Phát triển hoạt động PR (Public relations - Quan hệ công chúng) ...... 85 3.2.3. Phát triển hoạt động tình nguyện chuyên nghiệp ............................ 87 3.2.4. Phát triển các hoạt động có thu liên quan đến lĩnh vực hoạt động của Làng........................................................................................................ 92 3.2.5. Vận động sự hỗ trợ tài chính từ nguồn ngân sách cấp Trung ương và địa phương ............................................................................................... 95 *Kết luận Chƣơng 3 ........................................................................................ 98 KẾT LUẬN ....................................................................................................... 100 KHUYẾN NGHỊ ................................................................................................ 101 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................... 102 PHỤ LỤC ........................................................................................................... 104 2 LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện đề tài “ Nâng cao năng lực tự chủ tài chính của Làng trẻ em SOS Hà Nội” tôi đã nhận đƣợc rất nhiều sự giúp đỡ, tạo điều kiện của các thầy cô trong Khoa Khoa học quản lý, Trƣờng Đại học Khoa học xã hội và nhân văn. Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS Bùi Thanh Quất – thầy giáo trực tiếp hƣớng dẫn đã chỉ bảo tận tình giúp cho tôi hoàn thành luận văn này. Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Làng trẻ em SOS, đặc biệt là Chị Hoàng Hồng Hạnh đã nhiệt tình chia sẻ và giúp đỡ tôi trong quá trình làm việc tại Làng. Lời cuối cùng, tôi xin dành sự trân trọng cho những động viên, khích lệ, tạo điều kiện mà gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã dành cho tôi để tôi có thể toàn tâm toàn ý thực hiện luận văn. TÁC GIẢ Trịnh Phƣơng Thảo 3 DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 1.1. Lĩnh vực hoạt động của các tổ chức phi chính phủ quốc tế……….tr 22 Bảng 1.2. Ngân sách dự kiến giai đoạn 2011- 2013 của các tổ chức phi chính phủ quốc tế tại Việt Nam………………………………………………………….tr 24 Bảng 2.1. Tỷ lệ % kinh phí tự chủ do Làng trẻ em SOS Việt Nam huy động so với tổng nguồn quỹ hoạt động thƣờng niên. Giai đoạn 2010 – 2014………...tr 60 Bảng 2.2. Lộ trình mức độ tự chủ tài chính. Giai đoạn 2015–2020………….tr 64 4 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Làng trẻ em SOS là một tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Kể từ ngày thành lập năm 1949 cho đến nay, tổ chức này đã mở rộng mạng lƣới của mình khắp nơi trên thế giới (133 quốc gia). Việt Nam cũng không là một ngoại lệ. Hệ thống Làng trẻ em SOS tại Việt Nam hiện nay đang hoạt động tại 16 tỉnh thành dựa trên nguồn ngân sách mà Hiệp hội Làng trẻ em SOS Quốc tế cung cấp hàng năm nhằm triển khai các chƣơng trình, dự án trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, sự khủng hoảng nền kinh tế thế giới cũng nhƣ những bất ổn về chính trị đã khiến cho Làng trẻ em SOS Quốc tế nói riêng và các tổ chức phi chính phủ khác nói chung đứng trƣớc thách thức lớn khi nguồn tài trợ vốn chủ yếu đến từ khu vực châu Âu, Bắc Mỹ và Úc có dấu hiệu suy giảm. Thêm vào đó, việc Worldbank – Ngân hàng thế giới - đƣa Việt Nam ra khỏi nhóm nƣớc nghèo và đánh giá là một quốc gia có thu nhập trung bình thấp từ năm 2009 đã phần nào ảnh hƣởng tới quyết định phân bổ ngân sách của SOS Quốc tế cho Việt Nam. Bởi lẽ đó, đến năm 2010, Làng trẻ em SOS Quốc tế đã quyết định đặt mục tiêu yêu cầu SOS Việt Nam cần nâng cao năng lực tự chủ tài chính để hoạt động và phát triển trong tƣơng lai không xa, giảm tỷ lệ phụ thuộc vào nguồn vốn tài trợ của SOS Quốc tế. Tuy nhiên, việc tự chủ tài chính không phải là vấn đề đơn giản. Đứng trƣớc đòi hỏi này, bài toán đặt ra cho toàn bộ hệ thống các Làng trẻ em SOS ở Việt Nam chính là làm thế nào để nâng cao năng lực tự chủ tài chính, vừa đảm bảo cho mục tiêu hoạt động của Làng trong việc trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, vừa đảm bảo thực hiện đúng theo Chiến lƣợc phát triển mà Làng trẻ em SOS quốc tế đề xuất. Cụ thể hơn, đây chính là bài toán mà Văn phòng trụ sở Làng trẻ em SOS Việt Nam (Gọi tắt là Làng trẻ em SOS Việt Nam) nằm trong khu Làng trẻ em SOS tại Hà Nội phải tìm lời giải. Bởi đây là cơ quan đầu não 5 chịu trách nhiệm quản lý mọi hoạt động, đặc biệt là vấn đề tài chính của toàn bộ hệ thống các Làng trẻ em SOS trên lãnh thổ Việt Nam. Đứng trƣớc nhu cầu bức thiết đó, tác giả quyết định làm đề tài nghiên cứu giải pháp Nâng cao năng lực tự chủ tài chính của Làng trẻ em SOS Hà Nội nhằm đƣa ra những khuyến nghị giúp SOS Việt Nam từng bƣớc phát triển và vƣợt qua những khó khăn trong công tác quản lý. Đồng thời, tác giả hi vọng kết quả nghiên cứu của đề tài không chỉ đƣợc áp dụng cho riêng hệ thống Làng trẻ em SOS ở Việt Nam, mà còn có thể đƣợc ứng dụng để giúp các tổ chức phi chính phủ khác nâng cao năng lực tự chủ tài chính, góp phần phát triển hệ thống các tổ chức phi chính phủ vốn đóng vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết những hệ lụy của một xã hội phát triển. 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu Năng lực tự chủ tài chính là một khái niệm mới đƣợc nhắc đến nhiều trong vài năm trở lại đây, đặc biệt từ khi Chính phủ ra quyết định về tự chủ tài chính cho các cơ quan sự nghiệp. Các công trình nghiên cứu về năng lực tự chủ tài chính có thể kể đến bao gồm: - Trần Đức Cân (2012), Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính của các trường đại học công lập ở Việt Nam, LATS Kinh tế. Luận án nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng về cơ chế tự chủ tài chính của các trƣờng đại học công lập. Từ đó đƣa ra giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính ở đơn vị sự nghiệp nhƣ hệ thống các trƣờng đại học công. - Lƣơng Bá Tiến (1987), Thực hiện tự chủ tài chính của các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh, Nxb TP Hồ Chí Minh. Cuốn sách với 144 trang đã nêu lên những nội dung và biện pháp cụ thể để thực hiện tự chủ tài chính ở các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh. - Nguyễn Khánh Tƣờng (2005), Xây dựng quy chế như thế nào? Một số ý kiến về việc xây dựng quy chế hướng dẫn thực hiện tự chủ tài chính trong các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập, Tạp chí tài chính, số 12/2005, tr. 34-35. Bài 6 nghiên cứu trên tạp chí đề xuất cách thức xây dựng quy chế thực hiện tự chủ tài chính cho hệ thống các trƣờng cao đẳng, đại học ngoài công lập. Những công trình nghiên cứu trên đều viết về tự chủ tài chính dƣới dạng nội dung và cơ chế thực hiện, cũng nhƣ những phƣơng án đề xuất để hoàn thiện cơ chế tự chủ hoặc thực hiện tự chủ trong trƣờng học hoặc trong xí nghiệp. Đối với loại hình tổ chức phi chính phủ, có hai cuốn sách nổi bật bao gồm: - Đinh Quý Độ (2012), Các tổ chức phi chính phủ quốc tế - Vấn đề nổi bật, xu hướng cơ bản và tác động chủ yếu, NXH Khoa học xã hội. Cuốn sách đã khái quát lịch sử hình thành và phát triển các tổ chức phi chính phủ quốc tế. Nêu lên những đặc trƣng nổi bật và những tác động chủ yếu của các tổ chức đối với nền kinh tế, chính trị thế giới. Đồng thời tác giả cũng trình bày chính sách mà một số quốc gia áp dụng cũng nhƣ những ý kiến đề xuất về chính sách của Việt Nam với các tổ chức phi chính phủ quốc tế. - Nguyễn Văn Thanh (1995), Tổ chức và hoạt động phi chính phủ nước ngoài ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. Quyển sách giới thiệu khái quát về tổ chức và hoạt động của các tổ chức phi chính phủ trên thế giới, tổ chức phi chính phủ nƣớc ngoài đang hoạt động tại Việt Nam cũng nhƣ những dự án mà các tổ chức đang triển khai ở Việt Nam. Riêng đối với đối tƣợng là Làng trẻ em SOS ở Việt Nam, mới chỉ có các khóa luận tốt nghiệp viết về hoạt động liên quan đến lĩnh vực công tác xã hội đƣợc thực hiện tại Làng. Trong phạm vi hiểu biết của tác giả, chƣa có bất kì tài liệu hoặc công trình nghiên cứu nào lấy hƣớng nghiên cứu về năng lực tự chủ tài chính đối với một tổ chức phi chính phủ nhƣ Làng trẻ em SOS làm đối tƣợng nghiên cứu. Bởi vậy, tác giả nghĩ rằng, đề tài này thuộc một hƣớng nghiên cứu hoàn toàn mới, có giá trị không chỉ về mặt lý luận mà còn về mặt thực tiễn cho những công trình nghiên cứu sau có liên quan. 3. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn đƣợc thực hiện nhằm hai mục tiêu nghiên cứu sau: 7 - Đánh giá năng lực tự chủ tài chính của Làng trẻ em SOS Việt Nam hiện nay. - Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực tự chủ tài chính của Làng trẻ em SOS Việt Nam. 4. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nội dung: Luận văn nghiên cứu về năng lực tự chủ tài chính của Làng trẻ em SOS Việt Nam. Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu năng lực tự chủ tài chính của Làng trẻ em SOS Việt Nam trong 5 năm (2010 - 2014) 5. Mẫu khảo sát Văn phòng trụ sở Làng trẻ em SOS Việt Nam nằm trong Làng trẻ em SOS Hà Nội. 6. Câu hỏi nghiên cứu - Năng lực tự chủ tài chính của Làng trẻ em SOS Việt Nam đƣợc đánh giá nhƣ thế nào? - Làm thế nào để nâng cao năng lực tự chủ tài chính cho Làng trẻ em SOS Việt Nam? 7. Giả thuyết nghiên cứu - Năng lực tự chủ tài chính của Làng trẻ em SOS Việt Nam luôn đƣợc đảm bảo duy trì trong giai đoạn 2010-2014, có xu hƣớng tăng nhẹ từ năm 2012 tuy chỉ đạt ở mức thấp, chƣa đủ để đáp ứng chỉ tiêu tự chủ tài chính mà Làng trẻ em SOS đặt ra trong chiến lƣợc phát triển đến năm 2020. - Để nâng cao năng lực tự chủ tài chính cho Làng trẻ em SOS Việt Nam cần thực hiện đồng bộ những giải pháp sau: Tăng cƣờng số lƣợng và nâng cao chất lƣợng nhân sự Phòng Truyền thông và phát triển Quỹ; Tăng cƣờng hiệu quả hoạt động truyền thông, gây quỹ và phát triển hoạt động PR (Public Relations – Quan hệ công chúng);; Phát triển hoạt động tình nguyện chuyên nghiệp; Phát triển các hoạt động có thu liên quan đến lĩnh vực hoạt động; Vận động sự hỗ trợ tài chính từ nguồn ngân sách cấp Trung ƣơng và địa phƣơng. 8 8. Phƣơng pháp nghiên cứu - Tổng hợp, phân tích tài liệu: Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng nhằm xây dựng cơ sở lý luận của luận văn, đánh giá năng lực tự chủ tài chính của Làng thông qua các tài liệu thu đƣợc. - Đối chiếu, so sánh số liệu: Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng để thấy sự khác biệt về năng lực tự chủ tài chính của Làng giữa các năm trong giai đoạn 2010-2014. - Phƣơng pháp phỏng vấn sâu: Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng để thu thập thông tin về thực trạng và nguyên nhân các vấn đề liên quan đến năng lực tự chủ tài chính của Làng trẻ em SOS. - Phƣơng pháp phỏng vấn chuyên gia: Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng nhằm lấy ý kiến đánh giá năng lực tự chủ tài chính của Làng, các giải pháp đề xuất của tác giả để đảm bảo tính khách quan và khả thi của nội dung luận văn. - Phƣơng pháp phân tích SWOT: Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng để xác định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của Làng trong bối cảnh hiện nay để từ đó có những cơ sở đề xuất giải pháp khả thi và hiệu quả. 9. Kết cấu của Luận văn Luận văn gồm có: LỜI CẢM ƠN DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU PHẦN MỞ ĐẦU PHÂN NỘI DUNG CHƢƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ 1.1. Tổ chức phi chính phủ (NGOs) 1.2. Năng lực tự chủ tài chính của các tổ chức phi chính phủ 9 CHƢƠNG II. NĂNG LỰC TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA LÀNG TRẺ EM SOS VIỆT NAM 2.1. Tổng quan về Làng trẻ em SOS Việt Nam 2.2. Sự cần thiết phải đảm bảo năng lực tự chủ tài chính tại Làng trẻ em SOS Việt Nam 2.3. Những hoạt động nhằm đảm bảo năng lực tự chủ tài chính của Làng trẻ em SOS Việt Nam 2.4. Đánh giá năng lực tự chủ tài chính của Làng trẻ em SOS Việt Nam CHƢƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA LÀNG TRẺ EM SOS VIỆT NAM 3.1. Phân tích SWOT Làng trẻ em SOS Việt Nam trong bối cảnh hiện nay 3.2. Những giải pháp nhằm nâng cao năng lực tự chủ tài chính cho Làng trẻ em SOS Việt Nam KẾT LUẬN KHUYẾN NGHỊ TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 10 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ 1.1. Tổ chức phi chính phủ (NGOs) 1.1.1. Lịch sử hình thành tổ chức phi chính phủ Chƣa có một tài liệu nào công bố đích xác thời gian xuất hiện tổ chức phi chính phủ (NGOs – Non Governmental Organizations). Tuy nhiên nói về nguồn gốc của loại hình tổ chức này, hầu hết các tài liệu đều có chung một quan điểm thống nhất cho rằng những tổ chức có dạng thức hoạt động tƣơng tự nhƣ hình thức tổ chức phi chính phủ mà chúng ta đang gọi ngày hôm nay đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử nhân loại dƣới dạng hình hoạt động tình nguyện cứu trợ nhân đạo, từ thiện. Sở dĩ quan điểm về sự xuất hiện lâu đời nhƣ vậy của tổ chức phi chính phủ bắt nguồn từ niềm tin tích cực cho rằng hoạt động nhân đạo, từ thiện thực sự là một truyền thống, niềm tự hào dân tộc của mọi quốc gia trên thế giới. Chính những hoạt động này đƣợc xuất phát từ nhu cầu giải quyết những vấn đề nảy sinh trong xã hội, gắn liền với con ngƣời có ý thức, và đặc biệt hơn là gắn liền với một xã hội có giai cấp. Hơn bất kì lĩnh vực nào, hoạt động nhân đạo và từ thiện đều mang tính chất Nhà nƣớc và nhân dân cùng làm. Bởi một trong những chức năng và mục tiêu cao nhất của nhà nƣớc là đảm bảo đƣợc vấn đề an sinh xã hội cho nhân dân. Tuy nhiên, không phải lúc nào nhà nƣớc cũng đảm bảo thực hiện đƣợc chức năng của mình một cách toàn diện nhất. Đó chính là lý do vì sao, hoạt động nhân đạo, từ thiện không phải là lĩnh vực chỉ mang tính nhà nƣớc, chính phủ, mà nó còn mang tính quần chúng, nhân dân, cộng đồng, tƣ nhân, diễn ra bên ngoài chính phủ. 1 Bởi vậy, một loại hình tổ chức khác, những tổ chức mang tính phi chính phủ đã ra đời nhƣ là một tất yếu khách quan. Ở giai đoạn sơ khởi này, tổ chức phi chính phủ tồn tại dƣới dạng một nhóm nhỏ những 1 Theo Nguyễn Văn Thanh (1995), Tổ chức và hoạt động phi chính phủ nước ngoài ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 9-10. 11 ngƣời hoạt động từ thiện với tiêu chí cứu trợ nhân đạo với các nạn nhân bị chiến tranh, thiên tai, nghèo đói mà không phân biệt chính kiến và địa dƣ. 2 Mặc dù xuất hiện dƣới những hình thức sơ khai từ rất sớm, nhƣng nhiều quan điểm cho rằng phải đến khoảng giữa thế kỷ 19, những tổ chức phi chính phủ thực sự mới bắt đầu đƣợc thành lập. Do đến thế kỷ này, cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tƣ bản, sự phân cách giàu nghèo giữa tƣ sản và ngƣời lao động mới ngày càng sâu sắc. Sự phân hóa giai cấp, những cuộc cách mạng chống lại áp bức, bất công đã khiến nƣớc Pháp – quốc gia đầu tiên quyết định thừa nhận cần phải cứu trợ trẻ em bơ vơ, người tàn tật, người già không nơi nương tựa [8,12] một cách chính thức trong Hiến pháp của mình. Cùng thời gian đó, ở Mỹ, các tổ chức thuộc khu vực không vụ lợi về y tế, giáo dục, từ thiện, nhân đạo cũng phát triển rầm rộ để đáp ứng việc cứu trợ những nạn nhân của chủ nghĩa tư bản [8,12]. Đây chính là nền tảng quan trọng cho sự ra đời của tổ chức phi chính phủ “thực sự” sau này. Theo tính toán, từ năm 1850 đến nay, đã có hơn 100,000 tổ chức tƣ nhân, phi lợi nhuận chính thức đi vào hoạt động. Song, cũng phải sau đó một thế kỷ (sau Chiến tranh thế giới thứ hai), các tổ chức phi chính phủ mới xuất hiện với tần suất ngày càng phổ biến hơn. Sự phổ biến hơn của các tổ chức này đƣợc thể hiện ở hai chỉ số: Thứ nhất: Sau chiến tranh thế giới thứ hai, mỗi năm có khoảng 90 tổ chức phi chính phủ quốc tế đƣợc thành lập so với con số 10 tổ chức vào những năm 90 của thế kỷ IXX. Thứ hai: Thêm vào đó, tỷ lệ % số tổ chức phi chính phủ quốc tế duy trì hoạt động đƣợc sau chiến tranh thế giới thứ hai cao hơn so với trƣớc đó, với khoảng 30% có thể tồn tại và phát triển. Ngoài các tổ chức phi chính phủ quốc tế, những tổ chức phi chính phủ mang tính địa phƣơng, quốc gia, khu vực cũng đƣợc thành lập, tuy nhiên không phải tất cả đều tồn tại hoặc thành công, ngay cả khi chúng hợp tác 2 Theo Đinh Quý Độ, Các tổ chức phi chính phủ quốc tế - Vấn đề nổi bật, xu hướng cơ bản và tác động chủ yếu, NXH Khoa học xã hội. tr 25 12 cùng với các tổ chức mang tầm cỡ quốc tế. 3 Giải thích lý do cho sự phát triển khá nhanh về số lƣợng và quy mô của loại hình tổ chức này, ngƣời ta cho rằng đó là do hậu quả của toàn cầu hóa cùng với sự mở rộng hợp tác và phát triển quan hệ quốc tế trong nhiều kĩnh vực khác nhau, sự nổi lên của các vấn đề toàn cầu như môi trường, dân số, nghèo đói, cách mạng thông tin với mạng Internet toàn cầu và xu hướng bùng nổ về dân chủ ở nhiều nước trên thế giới [5,26]. Nhƣ vậy, cùng với sự hình thành và phát triển của nhân loại trong lĩnh vực an sinh và phúc lợi xã hội, những tổ chức này đã ra đời từ rất sớm, hoạt động dƣới hình thức các nhóm ngƣời cùng chung tay hoạt động nhân đạo, từ thiện, xóa bỏ bớt những hậu quả do sự phân hóa giai cấp gây ra. Nhƣng mãi đến sau chiến tranh thế giới thứ II, loại hình này mới đƣợc chú trọng và phát triển một cách chuyên nghiệp, hệ thống hơn, đƣợc thừa nhận là một tổ chức có vai trò chính thức song song với chính phủ trong việc giải quyết các vấn đề xã hội. 1.1.2. Khái niệm tổ chức phi chính phủ Tổ chức phi chính phủ không là tài sản của riêng quốc gia nào, mà nó là tài sản của trí tuệ và lòng bác ái nhân loại. Mặc dù phổ biến nhƣ vậy, nhƣng cho đến nay, những khái niệm về Tổ chức phi chính phủ vẫn chƣa đƣợc thống nhất. Về mặt ngữ nghĩa, có thể hiểu tổ chức phi chính phủ là bất kỳ tổ chức nào không thuộc chính phủ. Tuy nhiên bản thân từ phi chính phủ cũng có thể bị hiểu sai lệch theo nghĩa tƣơng đồng với chống chính phủ hoặc không cùng với chính phủ. Thêm vào đó, cách hiểu này cũng có thể bao hàm cả những tổ chức trong xã hội dân sự có mục tiêu thƣơng mại, lợi nhuận. Bởi thế giải nghĩa này có phần đơn giản và không thể hiện đƣợc những đặc trƣng về chức năng, mục tiêu của tổ chức phi chính phủ. Về mặt pháp lý, năm 1945, thời điểm Liên hợp quốc soạn thảo Hiến chƣơng Liên hợp quốc và tổ chức quốc tế lớn nhất hành tinh đã sử dụng thuật 3 www.ngohandbook.org, History of the NGO sector, 6.8.2008 13 ngữ Tổ chức phi chính phủ NGO để phân biệt quyền tham gia của các cơ quan chuyên môn liên chính phủ với quyền tham gia của các tổ chức tƣ nhân quốc tế. Nhƣng trong Điều 71, chƣơng 10 của Hiến chƣơng cũng chỉ đề cập đến vai trò tƣ vấn của các tổ chức không thuộc các chính phủ hay nhà nƣớc thành viên Liên hợp quốc chứ không định nghĩa cụ thể về Tổ chức phi chính phủ. Phải đến năm 1950, lần đầu tiên khái niệm Tổ chức phi chính phủ mới đƣợc Hội đồng Kinh tế và xã hội Liên hợp quốc định nghĩa một cách đơn giản: “Bất cứ tổ chức quốc tế nào không do các thỏa thuận liên chính phủ lập nên sẽ được coi là một tổ chức phi chính phủ… kể cả các tổ chức chịu nhận những người được các nhà cầm quyền chỉ định làm thành viên, miễn là với tư cách đó, họ không can thiệp vào việc tự do bày tỏ quan điểm của tổ chức đó.” Sau đó, đến năm 1996, Hội đồng Kinh tế xã hội Liên hợp quốc đã xác định 4 đặc trƣng cơ bản của một tổ chức phi chính phủ hợp pháp bao gồm: 1. Phi thương mại; 2. Không tham gia vào bạo lực hoặc chủ trương bạo lực; 3. Không có ý định thay thế các chính phủ hiện có; 4. Ủng hộ các mục tiêu và chương trình nghị sự của Liên hợp quốc [17,5]. Về mặt học thuật, một số lý thuyết sâu sắc hơn về Tổ chức phi chính phủ đã đƣợc đƣa ra. Ví dụ, theo Salamon và Anheier, một tổ chức phi chính phủ phải có 5 đặc trƣng: có tổ chức, độc lập, không vì mục đích lợi nhuận, tự quản và tự nguyện [15,33]. Ngoài thuật ngữ Tổ chức phi chính phủ với 5 đặc trƣng nhƣ Salamon và Anheier đƣa ra, hiện nay nhiều học giả khác cũng sử dụng những thuật ngữ khác mà họ cho rằng thể hiện đúng hơn bản chất, đặc trƣng của loại hình tổ chức này nhƣ: Tổ chức tự nguyện tƣ nhân (Private voluntary organization – PVO), Tổ chức phi lợi nhuận ( Non-profit organization), Tổ chức nhân dân ( People organization). Một số quan điểm khác cũng đánh đồng tổ chức phi chính phủ với tổ chức phi chính phủ quốc tế, bởi họ tin vào năng lực ảnh hƣởng rộng lớn của loại tổ chức này trong xã hội. Những quan điểm này còn gọi tổ chức phi chính phủ bằng các tên gọi khác nhƣ: các nhóm gây áp lực xuyên 14 quốc gia, các nhóm hoạt động xuyên quốc gia, xã hội dân sự toàn cầu, các nhóm phong trào xã hội xuyên quốc gia… [5,19] Ngay tại Việt Nam, thuật ngữ “tổ chức phi chính phủ” cũng mới đƣợc sử dụng lần đầu tiên trong Luật tổ chức Chính phủ 1992, sau đó là Luật Hợp tác xã 1996 và một số văn bản pháp quy gần đây. Nhƣng, vẫn chƣa có một khái niệm chính thức nào về tổ chức phi chính phủ ở nƣớc ta. Tại các cuộc hội thảo khoa học, hầu hết các ý kiến trình bày về tổ chức phi chính phủ đều tập trung vào các khía cạnh sau: - Tổ chức phi chính phủ là một tổ chức được hình thành mang tính độc lập tương đối với Chính phủ - Được cơ quan có thẩm quyền cho phép thành lập hoặc công nhận, có sự quản lý của nhà nước - Được lập ra do sự tự nguyện của nhân dân - Hoạt động phi lợi nhuận trong khuôn khổ pháp luật. [6,11]. Bởi vậy, trong cuốn Giáo trình về Quản lý nhà nƣớc đối với tổ chức phi chính phủ, Học viện Hành chính đã cho rằng: Quan niệm về tổ chức phi chính phủ ở nƣớc ta đƣợc hiểu nhƣ sau: là tổ chức tự nguyện của nhân dân, có tư cách pháp nhân, cùng ngành, nghề, giới, nhu cầu… hoạt động một cách thường xuyên để thực hiện mục tiêu chung, không vì mục tiêu phân chia lợi nhuận và hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật Việt Nam [6,11]. Tổng hợp lại những quan điểm trên, trong luận văn này, khái niệm Tổ chức phi chính phủ (NGOs) đƣợc hiểu là một loại hình tổ chức không phải của bất kỳ chính phủ nào, phi lợi nhuận và mang tính tự nguyện.  Là một tổ chức không thuộc bất kỳ chính phủ nào, các tổ chức phi chính phủ nhìn chung không phụ thuộc và chịu ảnh hƣởng bởi chính phủ, không bị nhà nƣớc hay bất kỳ tổ chức liên chính phủ nào quản lý. Nói cách khác, tổ chức phi chính phủ không do chính phủ thành lập, mà cũng không phải là kết quả của bất kỳ sự thỏa thuận liên nhà nƣớc nào. Vậy nên, nó tồn tại độc lập, 15 không hoạt động phụ thuộc vào quyền lực của bất kì quốc gia nào, hay biên giới địa lý nào, nó chỉ hoạt động phụ thuộc vào lĩnh vực nó nhắm tới để trợ giúp những ngƣời yếu thế và các chƣơng trình phát triển xã hội và tuân thủ tôn chỉ thành lập của chính nó. Dễ thấy, các tổ chức phi chính phủ là sự khái quát một mô hình tổ chức hoạt động song song, bổ trợ cho các chƣơng trình xã hội và kinh tế của nhà nƣớc, do ngƣời dân tự đóng góp và xây dựng nên. Tuy nhiên, không phải tổ chức phi chính phủ có nghĩa là không liên quan đến chính phủ, những tổ chức này hoàn toàn có thể nhận tài trợ từ chính phủ của nƣớc mẹ (nƣớc mà từ đó tổ chức đƣợc thành lập), hay từ chính phủ nƣớc khác. Nguồn tài trợ này có thể một phần hay là nguồn tài trợ duy nhất cho tổ chức đó, điều đó cũng không ảnh hƣởng tới tính chất của tổ chức. Thậm chí, trong số các thành viên của một tổ chức phi chính phủ, có một ngƣời là đối tƣợng do chính nhà cầm quyền chỉ định, thì ngay cả trong trƣờng hợp này, các đối tƣợng đó cũng không đƣợc can thiệp vào việc tự do bày tỏ quan điểm của tổ chức. Nhƣ vây, cái căn bản của tổ chức phi chính phủ không phải là nguồn tài trợ không đƣợc đến từ chính phủ, các thành viên không liên quan đến chính phủ, mà quan trọng nhất tổ chức đó không đại diện cho nhà nƣớc, chính phủ nƣớc mẹ, mà nó đại diện duy nhất cho chính tổ chức của mình.  Là tổ chức phi lợi nhuận, cần phải hiểu tổ chức phi chính phủ không hoạt động với mục đích chính là tiến hành hoạt động kinh doanh hay thƣơng mại, không “chạy theo” mục tiêu tài chính trong ngắn hay dài hạn. Nhƣng điều đó không có nghĩa rằng hoạt động của tổ chức phi chính phủ không cần đem lại lợi nhuận. Hiểu một cách đơn giản, có thể sử dụng thuật ngữ “lợi nhuận không phân phối” thay cho khái niệm “phi lợi nhuận” trong loại hình tổ chức này. Điều này đƣợc hiểu là lợi nhuận/ giá trị thặng dƣ thu đƣợc ở các tổ chức phi chính phủ đƣợc sử dụng nhằm hoàn thành mục tiêu, sứ mệnh hoạt động của tổ chức. Không có bất kỳ khoản lợi nhuận ròng nào đƣợc phân phối cho 16 lợi ích của thành viên sáng lập, ban điều hành, nhân viên… hoặc bất kỳ ai trừ các khoản bồi thƣờng dịch vụ hợp lý.  Cuối cùng, là một tổ chức tự nguyện, tổ chức phi chính phủ không đòi hỏi phải tồn tại dựa trên luật pháp, nó đƣợc thành lập dựa trên sáng kiến cá nhân và là kết quả của sự tự nguyên của từng thành viên trong tổ chức. Bản chất này cũng chính là bản chất cơ bản của loại hình tổ chức phi chính phủ từ những ngày đầu tiên xuất hiện với hình thức sơ khai trong xã hội. Sự tự nguyện cũng chính là nền tảng quan trọng nhất cho việc duy trì và điều hành, phát triển các hoạt động của loại hình tổ chức này. Các tổ chức phi chính phủ xuất hiện phổ biến ở mọi quốc gia trên thế giới, nhiều nhất vẫn là tại các nƣớc phát triển, nhƣng cánh tay của nó đã vƣơn rộng ra cả những nƣớc còn đang phát triển, hay nói đúng hơn là những nƣớc có nền kinh tế nghèo nàn và có nhiều vấn đề xã hội. Có thể nói, gần nhƣ là một quy luật, khi mà cứ bất cứ lĩnh vực nào có nhu cầu cần giải quyết, là tổ chức phi chính phủ xuất hiện để bù vào cái khoảng trống mà nhà nƣớc không đủ khả năng bao quát. Bởi vậy, hiểu về tổ chức phi chính phủ thực sự là một kiến thức quan trọng để hiểu về xã hội hiện đại. 1.1.3. Phân loại các tổ chức phi chính phủ Có rất nhiều cách phân loại các tổ chức phi chính phủ. Bởi những tổ chức này rất đa dạng về tính chất hoạt động, chức năng nhiệm vụ hay cả phạm vi địa lý mà tổ chức đó có ảnh hƣởng… Ta có thể sắp xếp phân loại nhóm tổ chức phi chính phủ nhƣ sau: a, Theo phạm vi địa lý : Phạm vi địa lý đƣợc nói tới ở đây có thể hiểu là phạm vi hoạt động/ phạm vi ảnh hƣởng của tổ chức đó tới cộng đồng xã hội. Có thể phân tổ chức phi chính phủ thành hai nhóm: Các tổ chức phi chính phủ quốc tế (International Non governmental organizations) hoặc các tổ chức phi chính phủ quốc gia (National 17 Non governmental organizations). Điểm khác biệt căn bản giữa hai loại hình tổ chức này là các tổ chức phi chính phủ quốc tế thƣờng có định hƣớng và mối quan tâm sâu sắc về các vấn đề ở tầm khu vực hoặc quốc tế. Thông thƣờng, các tổ chức phi chính phủ quốc tế thƣờng đặt trụ sở tại các quốc gia phát triển. Những tổ chức này cũng thƣờng có năng lực kỹ thuật và tổ chức, khả năng tài chính khá tốt. Thậm chí, một số tổ chức còn có khả năng đảm đƣơng vai trò trung gian chuyển thông tin, nguồn lực và hỗ trợ kỹ thuật giữa các chính phủ, các tổ chức, cơ quan phát triển quốc tế và các tổ chức phi chính phủ cấp quốc gia hoặc cộng đồng. Nhiều ý kiến cho rằng, trong các tổ chức phi chính phủ quốc tế, các thành viên sáng lập thƣờng mang nhiều quốc tịch khác nhau. Trong khi đó, các tổ chức phi chính phủ quốc gia/cộng đồng lại định hƣớng về các vấn đề và mối quan tâm ở chính nƣớc/cộng đồng mà tổ chức đó đặt trụ sở, những vấn đề này chỉ đƣợc giới hạn trong một khu vực địa lý nhất định. Các thành viên trong những tổ chức này thƣờng là các cá nhân ở cùng khu vực địa lý, bởi vậy, có thể khả năng kỹ thuật, thực thi, nguồn tài chính của tổ chức không tốt, song những vấn đề đƣợc đƣa ra giải quyết đều thiết thực và mang ý nghĩa thực tiễn cao. Tuy phân chia vậy, nhƣng trong thực tế, các tổ chức phi chính phủ quốc tế và quốc gia/cộng đồng thƣờng hợp tác chặt chẽ với nhau, tạo thành các mạng lƣới tổ chức phi chính phủ theo các vấn đề xã hội mạnh mẽ, phát huy đƣợc tối đa năng lực, sở trƣờng của mỗi tổ chức. b, Theo chức năng hoạt động: Theo chức năng hoạt động, có thể phân thành hai loại: các tổ chức phi chính phủ thực thi và các tổ chức phi chính phủ vận động. Có thể hiểu các tổ chức phi chính phủ thực thi là nhóm các tổ chức hoạt động trong các lĩnh vực nhân đạo, phát triển cộng đồng, phúc lợi xã hội nhằm phân bổ hay đem lại sự phát triển hoặc các dịch vụ phúc lợi xã hội nhƣ cứu trợ khẩn cấp, hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội, y tế, sức khỏe cộng đồng, bảo vệ và quản lý môi trƣờng…. 18 Những tổ chức này đề ra và thực hiện một loạt các chƣơng trình, cơ cấu tổ chức, định hƣớng hoạt động và các khu vực hoạt động dựa trên khía cạnh chƣơng trình cần thiết hoặc theo khía cạnh địa lý. Ngƣợc lại, đúng nhƣ tên gọi, các tổ chức phi chính phủ vận động định hƣớng các hoạt động chủ yếu là vận động làm thay đổi chính sách hoặc hành động, từ đó giải quyết đƣợc các mối lo ngại, quan điểm hoặc mối quan tâm cụ thể nào đó của quốc tế hay khu vực. Các hoạt động vận động của những tổ chức này gây ảnh hƣớng tới chính sách, tập quán của các chính phủ, tới các thể chế phát triển nhƣ Liên hợp quốc, Ngân hàng thế giới, Tổ chức thƣơng mại thế giới và các tác nhân khác trong lĩnh vực phát triển cũng nhƣ tới công chúng và cộng đồng quốc tế. Hầu hết các tổ chức phi chính phủ vận động có cùng mối quan tâm, có quyền lợi bổ sung cho nhau đều có xu hƣớng tập hợp thành mạng lƣới và liên minh nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động. Nhƣng, sự phân loại này cũng chỉ mang tính tƣơng đối bởi thực tế, hầu hết các tổ chức phi chính phủ không hoàn toàn thể hiện rõ chức năng hoạt động riêng biệt nào. Rất ít các tổ chức chỉ tập trung vào việc cung cấp dịch vụ (thực thi) hoặc chỉ tập trung vào phân tích và vận động chính sách (vận động) mà thƣờng lựa chọn hình thức hỗn hợp để hoàn thiện sứ mệnh của tổ chức mình một cách toàn diện nhất. c, Theo tính chất hoạt động: Dựa vào yếu tố này, cũng có một vài quan điểm phân chia loại hình tổ chức phi chính phủ đƣợc nêu ra khác nhau trong các tài liệu. Tuy nhiên, quan điểm về cách phân chia tổ chức phi chính phủ dựa trên tiêu chí tính chất hoạt động của luận văn nhƣ sau: Có 3 loại hình tổ chức: các tổ chức mang tính trợ giúp nhóm ngƣời yếu thế và phát triển cộng đồng; các tổ chức phi chính phủ mang tính thúc đẩy dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo; các tổ chức mang tính hiệp hội nghề nghiệp. 19
- Xem thêm -