Tài liệu Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần xây dựng và chuyển giao kỹ thuật

  • Số trang: 86 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 41 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

Trần Thu Thủy 1 Quản trị kinh doanh tổng hợp K15 CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1.1. Lý do chọn đề tài Trong những năm gần đây, nước ta đã liên tục thu được những thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, ngoại giao…đặc biệt đầu năm 2007 nước ta chính thức là thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới (WTO). Trong một thập kỷ qua, các doanh nghiệp Việt Nam nói chung đã phát triển mạnh mẽ cả về quy mô và số lượng. Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội, quá trình hội nhập cũng đang đặt ra những thách thức lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam. Có thể nói rằng luật chơi cơ bản của WTO là cắt giảm thuế quan, xoá bỏ các hàng rào phi thuế quan, xoá bỏ trợ cấp, mở cửa thị trường, tạo sân chơi bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp, không phân biệt về chủ sở hữu, quốc gia, đảm bảo tài sản trí tuệ và bản quyền…Những quy định đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các nước thành viên mở rộng thị trường, thâm nhập vào thị trường của nhau, thu hút vốn đầu tư, công nghệ, kỹ năng quản lý…Nền kinh tế nước ta còn rất non trẻ, xuất phát điểm là nghèo nàn, lạc hậu, các doanh nghiệp tuy đã có những bước phát triển lớn cả về quy mô và số lượng, song năng lực cạnh tranh hiện còn rất yếu. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được nhìn nhận trên các mặt cơ bản như: vốn, năng suất lao động, máy móc thiết bị, công nghệ, nguồn nhân lực, trình độ quản lý, khả năng tiếp cận, chiếm lĩnh thị trường và thương hiệu. Về các mặt trên, nhìn chung doanh nghiệp của chúng ta còn rất yếu, nhất là những doanh nghiệp vừa và nhỏ. Sự yếu kém đó thể hiện qua nhiều yếu tố: - Về quy mô vốn và năng lực tài chính của đại bộ phận doanh nghiệp còn rất nhỏ, vừa kém hiệu quả, vừa thiếu tính bền vững. - Đội ngũ chủ doanh nghiệp, giám đốc và cán bộ quản lý còn nhiều hạn Trần Thu Thủy 2 Quản trị kinh doanh tổng hợp K15 chế về kiến thức và kỹ năng quản lý, một bộ phận cán bộ quản lý còn thiếu kiến thức kinh tế xã hội và kỹ năng quản trị. Từ đó dẫn đến khuynh hướng chủ yếu là hoạt động quản lý theo kinh nghiệm, thiếu tầm nhìn chiến lược, thiếu kiến thức trên các phương diện khác: quản lý, tổ chức, phát triển thương hiệu, chiến lược cạnh tranh, trình độ tin học và công nghệ thông tin… - Năng suất lao động thấp, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cao làm yếu năng lực cạnh tranh. - Nhận thức và sự chấp hành pháp luật còn hạn chế, đặc biệt là các quy định về thuế, quản lý tài chính, quản lý nhân sự, chất lượng hàng hoá và sở hữu công nghiệp… - Sự yếu kém về thương hiệu cũng góp phần làm yếu năng lực cạnh tranh. Các doanh nghiệp Việt Nam, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa xây dựng được các thương hiệu mạnh, chưa khẳng định được uy tín và khả năng trên thị trường khu vực và quốc tế. Cạnh tranh là tất yếu trong nền kinh tế thị trường, do đó nâng cao năng lực cạnh tranh là vấn đề sống còn trong hoạt đông kinh doanh và phát triển của doanh nghiệp. Môi trường kinh doanh càng có nhiều cơ hội hoặc xuất hiện các nguy cơ thì cạnh tranh để tồn tại và phát triển ngày càng trở nên gay gắt giữa các doanh nghiệp. Cạnh tranh không phải sự huỷ diệt mà là sự thay đổi, thay thế những doanh nghiệp không biết đón nhận cơ hội kinh doanh bằng những doanh nghiệp biết nắm bắt thời cơ và phát huy tối đa sức mạnh của mình. Chính vì vậy, cạnh tranh là động lực phát triển không những của mỗi doanh nghiệp mà suy rộng ra còn cho cả mỗi quốc gia. Nâng cao năng lực cạnh tranh là chỉ tiêu tổng hợp thể hiện sức mạnh của doanh nghiệp về nhiều mặt. Các doanh nghiệp ngày càng phải duy trì được lợi thế cạnh tranh của mình, có như vậy thị trường mới có thể cung cấp những dịch vụ hay sản xuất có hiệu quả cao hơn. Hơn nữa vấn đề cạnh tranh Trần Thu Thủy 3 Quản trị kinh doanh tổng hợp K15 của các doanh nghiệp xây lắp trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam vẫn là bài toán khó đối với các nhà quản lý khi phải dần hoà nhập vào sân chơi chung của thế giới và là thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới. Công ty Cổ phần Xây dựng và Chuyển giao kỹ thuật là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây lắp, là doanh nghiệp có quy mô vừa. Tham gia vào thị trường xây dựng từ năm 1988, qua gần hai thập kỷ, đơn vị không ngừng gia tăng tốc độ tăng trưởng cả về quy mô và chất lượng tăng trưởng. Tuy nhiên, với đặc thù là một doanh nghiệp Nhà nước, trực thuộc Tổng Công ty Xây dựng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong những năm qua năng lực cạnh tranh của Công ty còn những hạn chế nhất định. Chính vì thế việc nghiên cứu có hệ thống các vấn đề cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây lắp nhằm xây dựng và đưa ra các giải pháp đồng bộ giúp các doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường là một yêu cầu bức xúc trước mắt và lâu dài cả về mặt lý luận và thực tiễn. Với ý nghĩa đó, đề tài “ Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ Phần Xây dựng và Chuyển giao kỹ thuật” được lựa chọn làm luận văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh. 1.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng với điều kiện hội nhập khu vực và quốc tế. - Phạm vi nghiên cứu: Năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ Phần Xây dựng và Chuyển giao kỹ thuật trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và các chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. - Do giới hạn của đề tài nên ở đây chỉ nghiên cứu năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ Phần Xây dựng và Chuyển giao kỹ thuật trong lĩnh vực kinh doanh xây lắp (từ năm 2005 đến năm 2007), các lĩnh vực hoạt động khác chưa được nghiên cứu đầy đủ trong luận văn này. Trần Thu Thủy 4 Quản trị kinh doanh tổng hợp K15 1.3. Mục đích và nhiệm vụ của Luận văn - Hệ thống hóa và góp phần làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về thị trường xây dựng, cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xây dựng. Sự cần thiết khách quan phải nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xây dựng trong điều kiện nền kinh tế thị trường và hội nhập khu vực và quốc tế. - Khảo sát, phân tích tổng quát năng lực cạnh tranh của một số doanh nghiệp xây dựng trong một số năm vừa qua, qua đó đi sâu phân tích và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh trong hoạt động xây dựng của Công ty Cổ Phần Xây dựng và Chuyển giao kỹ thuật nhằm chỉ ra được những mặt mạnh, yếu, những thành quả đạt được, những tồn tại và nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ Phần Xây dựng và Chuyển giao kỹ thuật. - Dự báo tình hình phát triển và những chỉ tiêu phát triển cơ bản của công ty Cổ Phần Xây dựng và Chuyển giao kỹ thuật trong một số năm tới trên cơ sở phân tích các kết quả đã đạt được của công ty qua một số năm và những ảnh hưởng của các điều kiện kinh tế xã hội đến việc lập chiến lược kinh doanh của công ty như: chủ trương sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp Nhà nước của Chính phủ và Tổng Công ty Xây dựng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đối với đơn vị; bối cảnh nền kinh tế nước ta trong xu thế hội nhập sâu với khu vực và quốc tế. - Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và thực hiện chiến lược kinh doanh của Công ty Cổ Phần Xây dựng và Chuyển giao kỹ thuật trong những năm sắp tới. 1.4. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp phân tích tổng hợp vấn đề; nghiên cứu định tính, mô hình hoá các số liệu điều tra thực tế, tiếp cận hệ Trần Thu Thủy 5 Quản trị kinh doanh tổng hợp K15 thống, lựa chọn tối ưu, phương pháp chuyên gia... . 1.5. Đóng góp của Luận văn - Thứ nhất, góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. - Thứ hai, khảo sát và phân tích đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ Phần Xây dựng và Chuyển giao kỹ thuật trong thời điểm hiện tại. - Thứ ba, đề xuất một số giải pháp để nâng cao năng lực cạnh của Công ty Cổ Phần Xây dựng và Chuyển giao kỹ thuật trong thời gian tới. 1.6. Kết cấu của Luận văn Đề tài bao gồm các nội dung sau: CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1.1. Lý do chọn đề tài 1.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 1.4. Phương pháp nghiên cứu 1.5. Đóng góp của luận văn 1.6. Kết cấu của luận văn CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 2.1. Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp 2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ CHUYỂN GIAO KỸ THUẬT 3.1. Tổng quan về công ty Trần Thu Thủy 6 Quản trị kinh doanh tổng hợp K15 3.2. Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ Phần Xây dựng và Chuyển giao kỹ thuật 3.3. Đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ Phần Xây dựng và Chuyển giao kỹ thuật 3.4. Vị thế cạnh tranh của Công ty Cổ Phần Xây dựng và Chuyển giao kỹ thuật trên thị trường CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG VÀ CHUYỂN GIAO KỸ THUẬT KIẾN NGHỊ KẾT LUẬN Trần Thu Thủy 7 Quản trị kinh doanh tổng hợp K15 CHƯƠNG 2 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 2.1. NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP 2.1.1. Khái niệm chung về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh Cạnh tranh là thuật ngữ gắn liền với nền kinh tế hàng hóa, vận hành theo cơ chế thị trường. Ở đó, người sản xuất phải giải quyết cho được ba vấn đề lớn: sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào?. Bất kỳ một sự biến động kinh tế, chính trị, xã hội nào đều đem đến cho các nhà sản xuất, cung ứng những rủi ro đầy thách thức và những cơ hội hết sức hấp dẫn dù là trước mắt hay tiềm năng. Môi trường kinh tế hiện đại luôn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đối phó với các tình huống rủi ro và đồng thời tạo điều kiện cho họ tìm hiểu thời cơ để đưa ra sản phẩm, dịch vụ mới để chiếm lĩnh thị trường, thỏa mãn các nhu cầu của thị trường đòi hỏi để đạt mục đích của nhà sản xuất là tìm kiếm lợi nhuận và tối đa hóa lợi nhuận. Trong bức tranh kinh tế có muôn ngàn doanh nghiệp đó, họ sẽ ra sức tìm kiếm các giải pháp kinh tế, kỹ thuật nhằm giành ưu thế so với các doanh nghiệp khác. Đối thủ đó được coi là các đối thủ cạnh tranh, quan niệm về cạnh tranh được nhiều nhà kinh tế học khái quát lại trên các giác độ khác nhau: Thời kỳ đầu, hoàng kim của cơ chế thị trường, ông Adam Smith cho rằng: Cạnh tranh như là một "Bàn tay vô hình" để điều khiển các hoạt động của các thành viên kinh tế trong xã hội. Theo quan điểm của trường phái này thì cạnh tranh chủ yếu về giá, coi trọng về lý thuyết lợi thế so sánh tuyệt đối. Các nhà kinh tế học hiện đại như: Samuelson, David Begg, Weken và KantenBach đưa ra lý thuyết cạnh tranh trên giác độ tính chất và tác động của cạnh tranh như: Cạnh tranh không hoàn hảo, cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh Trần Thu Thủy 8 Quản trị kinh doanh tổng hợp K15 mang tính chất độc quyền. Quan điểm về cạnh tranh của Joesphhupter và Clark thiên về giác độ hiệu quả, coi đó như là tiền đề và hệ quả của việc thu lợi nhuận tối đa bằng việc đi tiên phong trong việc tạo ra sản phẩm mới, sản phẩm có kỹ thuật công nghệ mới, sản phẩm thay thế... Quan điểm này đang phát huy sức mạnh của nó và tồn tại chủ yếu ở dạng cạnh tranh độc quyền, cạnh tranh trong môi trường có nhiều đối thủ cạnh tranh nhưng lại có tiềm lực rất khác nhau. Trong cuộc chạy đua để các doanh nghiệp tồn tại, phát triển và tối đa hóa lợi nhuận, có rất nhiều phương diện cạnh tranh cần xem xét: Cạnh tranh giữa các nhà sản xuất với nhau, cạnh tranh giữa các nhà sản xuất với nhà cung ứng, cạnh tranh giữa các nhà sản xuất hàng truyền thống với các nhà sản xuất hàng thay thế, cạnh tranh giữa các nhà sản xuất với khách hàng. Các doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường thì phải chấp nhận cơ chế thị trường: Có nghĩa là phải đưa ra thị trường và được thị trường chấp nhận hàng hóa đó, kết quả cuối cùng phải trang trải chi phí sản xuất và thu lợi nhuận. Để đạt được điều đó, họ phải làm sao thỏa mãn nhu cầu khách hàng một cách tốt nhất so với các đối thủ cạnh tranh khác và cuộc cạnh tranh không mong muốn đã xảy ra. Trong cuộc chiến này có kẻ thắng, người thua nhưng khách hàng lại được đề cao và hưởng lợi. Muốn chiến thắng, các doanh nghiệp phải dùng đến các "vũ khí cạnh tranh" (Nhà xuất bản Thống kê - 1996), là sự kết hợp những năng lực nội tại (nội lực) như tiềm lực tài chính, kỹ thuật công nghệ, nguồn nhân lực với khai thác và chịu tác động của các yếu tố bên ngoài kể cả bất lợi và có lợi (ngoại lực) như mối quan hệ với khách hàng, nhà cung cấp, quan hệ với các cơ quan quản lý, địa phương, môi trường sinh thái. Doanh nghiệp phải đưa ra được những chiến lược cạnh tranh ngắn hạn, dài hạn để giúp doanh nghiệp tiêu thụ được nhiều sản phẩm... với đích cuối cùng là doanh nghiệp trụ vững, thu được Trần Thu Thủy 9 Quản trị kinh doanh tổng hợp K15 lợi nhuận tối đa, và phát triển mở rộng sản xuất. Các tác giả: Trần Hoàng Kim và Lê Thu trong sách "Vũ khí cạnh tranh" đã đưa ra khái niệm cạnh tranh: "Thực chất cạnh tranh của các doanh nghiệp là sự giành giật các lợi thế trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ nhằm thu lợi nhuận lớn nhất". Với các vấn đề đã đưa ra, có thể có một quan niệm đầy đủ về cạnh tranh là quá trình bao gồm các hành vi và các phản ứng, trong đó các doanh nghiệp tham gia sử dụng các phương thức, các nguồn lực của mình dưới sự tác động của các yếu tố bên ngoài, nhằm tạo cho doanh nghiệp một lợi thế cạnh tranh tuyệt đối và tương đối so với các đối thủ khác với mục tiêu chiếm được thị phần và tối đa hóa lợi nhuận, đưa doanh nghiệp phát triển về quy mô và ảnh hưởng của mình trong thị trường. Khái niệm năng lực cạnh tranh (competitiveness) thường dùng để nói đến các đặc tính cho phép một hãng cạnh tranh một cách có hiệu quả với các hãng khác nhờ có chi phí thấp hoặc sự vượt trội về công nghệ trong so sánh quốc tế (theo nhà kinh tế Alan V. Deardorff) Năng lực cạnh tranh là khả năng tạo cho doanh nghiệp một lợi thế cạnh tranh tuyệt đối và tương đối so với các đối thủ khác với mục tiêu chiếm được thị phần và tối đa hóa lợi nhuận, đưa doanh nghiệp phát triển về quy mô và ảnh hưởng của mình trong thị trường. Năng lực cạnh tranh là “năng lực duy trì được lợi thế cạnh tranh là lợi nhuận và thị phần trên các thị trường trong và ngoài nước”. Tuy nhiên, có thể nói khái niệm nổi tiếng nhất thế giới về năng lực cạnh tranh là của Michael Porter. Ông đã đưa ra rất nhiều khái niệm nhưng “ suy cho cùng năng lực cạnh tranh chính là năng suất – productivity”. Năng lực cạnh tranh được đánh giá dựa trên năng suất, giá trị của hàng hoá và dịch vụ làm ra tính trên một đơn vị nhân lực, vốn, tài nguyên của một Trần Thu Thủy 10 Quản trị kinh doanh tổng hợp K15 quốc gia. Năng suất cao tạo ra mức lương cao (cho người làm công), đồng tiền mạnh (cho một quốc gia), lợi nhuận hấp dẫn trên nguồn vốn và cuối cùng là mức sống cao cho người dân. 2.1.2. Các hình thức cạnh tranh, phương thức cạnh tranh Cạnh tranh được xem xét dưới nhiều khía cạnh, hình thức khác nhau như: Cạnh tranh tự do; cạnh tranh thuần túy; cạnh tranh hoàn hảo; cạnh tranh không hoàn hảo; cạnh tranh lành mạnh; cạnh tranh không lành mạnh... Các hình thức cạnh tranh phụ thuộc vào tính chất của thị trường và bản chất của nền kinh tế. 2.1.2.1. Cạnh tranh tự do được hiểu như là một nền kinh tế phát triển một cách tự do, không có sự can thiệp của nhà nước, trong đó giá cả lên xuống theo sự chi phối của các quy luật thị trường. Cùng với các quy luật kinh tế thị trường, đặc biệt là quy luật giá trị, cạnh tranh tự do dẫn đến sự phân hóa hai cực giàu, nghèo rõ rệt. 2.1.2.2. Cạnh tranh hoàn hảo (Perfect competition) hay còn gọi là cạnh tranh thuần túy (Pure competition) là hình thức cạnh tranh trong đó giá cả của một loại hàng hóa là không đổi trong toàn bộ một địa danh của thị trường; các yếu tố sản xuất được tự do luân chuyển từ ngành này sang ngành khác; chi phí vận tải không đáng kể và không đề cập tới. Cạnh tranh hoàn hảo xảy ra khi không một người sản xuất nào có thể tác động đến giá cả trên thị trường. Mỗi người sản xuất đều phải bán sản phẩm của mình theo giá thịnh hành mà thị trường đã chấp nhận thông qua quan hệ cung - cầu. Cạnh tranh hoàn hảo xảy ra khi có một số lớn doanh nghiệp nhỏ sản xuất một mặt hàng y hệt nhau và sản lượng từng doanh nghiệp quá nhỏ không thể tác động đến giá cả thị trường. Cạnh tranh hoàn hảo muốn tồn tại cần phải có các điều kiện: - Tất cả các hãng kinh doanh trong ngành đó có quy mô tương đối nhỏ; Trần Thu Thủy 11 Quản trị kinh doanh tổng hợp K15 - Số lượng các hãng kinh doanh trong các ngành đó phải rất nhiều. Trong điều kiện như vậy không có công ty nào có đủ sức mạnh để có thể ảnh hưởng đến giá cả của các sản phẩm của mình trên thị trường. Sản phẩm của các hãng đưa ra trên thị trường giống nhau tới mức cả người sản xuất và người tiêu dùng đều rất khó phân biệt. 2.1.2.3. Cạnh tranh không hoàn hảo (Imperfect competition): là hình thức cạnh tranh, mà ở đó các cá nhân bán hàng hoặc các nhà sản xuất có đủ sức mạnh và thế lực để có thể chi phối giá cả các sản phẩm của mình trên thị trường. Cạnh tranh không hoàn hảo có hai loại: độc quyền nhóm và cạnh tranh mang tính chất độc quyền. Độc quyền nhóm (Oligopoly): tồn tại trong những ngành sản xuất, mà ở đó chỉ có một số ít người sản xuất hoặc số ít người bán sản phẩm. Sự thay đổi về giá của một doanh nghiệp gây ra những ảnh hưởng đáng kể đến nhu cầu đối với sản phẩm của các doanh nghiệp khác và ngược lại. ở các nước phát triển, các ngành công nghiệp có độc quyền nhóm là những ngành như sản xuất ô tô, cao su, chế biến thép... Cạnh tranh mang tính độc quyền (Monopolistic competition): là hình thức cạnh tranh mà ở đó những người bán có thể ảnh hưởng đến những người mua bằng sự khác nhau của các sản phẩm mà mình sản xuất ra về hình dáng, kích thước, chất lượng và nhãn hiệu. Trong nhiều trường hợp, người bán có thể bắt người mua chấp nhận giá sản phẩm do họ định ra. Trong hình thức cạnh tranh này có nhiều người bán và nhiều người mua. Các sản phẩm của người bán về cơ bản là giống nhau song khác nhau về mẫu mã, chất lượng, màu sắc... Các hãng kinh doanh thường cố gắng tạo ra các sản phẩm của họ phong phú, có nhiều điểm khác biệt so với các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Trong ngành công nghiệp cạnh tranh kiểu này, quy mô của các doanh Trần Thu Thủy 12 Quản trị kinh doanh tổng hợp K15 nghiệp có thể là lớn, vừa, nhỏ vì vậy việc nhập và bỏ ngành hàng dễ dàng hơn. 2.1.2.4. Cạnh tranh lành mạnh (Healthy competition): là hình thức cạnh tranh lý tưởng, trong sáng thúc đẩy sản xuất phát triển, không có những thủ đoạn hoặc âm mưu đen tối trong sản xuất, kinh doanh của các nhà doanh nghiệp, thể hiện phẩm chất đạo đức trong kinh doanh, không trái với các quy định của các văn bản pháp luật và không đi ngược lại lợi ích xã hội. Việc tính toán thu lợi nhuận trên cơ sở cải tiến, sáng tạo để sản xuất và cung cấp cho xã hội nhiều sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ với chất lượng tốt hơn, giá rẻ hơn, đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. 2.1.2.5. Cạnh tranh không lành mạnh (Unfair competition): là hình thức cạnh tranh mà trong quá trình sản xuất và kinh doanh các nhà doanh nghiệp luôn có thái độ không trung thực, gian dối như: biếu xén, hối lộ để giành ưu thế trong kinh doanh; vu khống về chất lượng sản phẩm hàng hóa của đối tác cạnh tranh; tung ra thị trường sản phẩm kém chất lượng mang nhãn hiệu của đối thủ cạnh tranh; ngăn cản việc phân phối sản phẩm của đối thủ cạnh tranh bằng các hành vi trái pháp luật, sử dụng "chiến tranh giá cả" để loại bỏ đối thủ cạnh tranh... các hành vi cạnh tranh không lành mạnh xảy ra trong mọi lĩnh vực và được biểu hiện đa dạng. Một số doanh nghiệp có thể liên kết, thỏa thuận ngầm với nhau trong việc đấu thầu công trình công cộng hay nhận một hợp đồng sản xuất nào đó. Họ thỏa thuận với nhau và phân chia cho từng doanh nghiệp trong từng thời điểm có thể thắng thầu mà rất hợp pháp, khó bị phát hiện, được coi như trường hợp ngẫu nhiên. Ngoài các hành vi cạnh tranh không lành mạnh thuần túy còn xuất hiện các hành vi lạm dụng thế mạnh về kinh tế, tài chính để cạnh tranh thể hiện tính chất "cá lớn nuốt cá bé" (như: bán phá giá chẳng hạn). Trần Thu Thủy 13 Quản trị kinh doanh tổng hợp K15 2.1.2.6. Cạnh tranh bất hợp pháp (Fraudulent competition) là những hành vi của các nhà kinh doanh thực hiện cạnh tranh trái với quy định của pháp luật, đi ngược lại các nguyên tắc xã hội, tập quán truyền thống của kinh doanh lành mạnh, xâm phạm lợi ích của xã hội, của nhà nước, của người tiêu dùng và của các nhà kinh doanh khác. Cạnh tranh là môi trường tồn tại và phát triển của kinh tế thị trường. Không có cạnh tranh sẽ không có tính năng động và sáng tạo trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Song xã hội dần dần sẽ chỉ chấp nhận hành vi cạnh tranh lành mạnh bằng các phương thức sản xuất và chu chuyển hàng hóa một cách khoa học, hiệu quả chứ không thừa nhận các hành vi cạnh tranh bằng cách dựa vào các thủ đoạn lừa đảo, không trong sáng. 2.1.3. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xây dựng Cũng như các doanh nghiệp khác, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xây dựng là toàn bộ năng lực và việc sử dụng các năng lực đó để tạo ra lợi thế của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh khác nhằm thoả mãn đến mức tối đa các đòi hỏi của thị trường. Doanh nghiệp muốn có năng lực cạnh tranh phải có thực lực về tài chính công nghệ hiện đại, marketing, tổ chức quản lý, đội ngũ lao động. Song đó mới chỉ là điều kiện cần, điều kiện đủ là doanh nghiệp phải tạo ra ưu thế hơn hẳn so với các đối thủ khác. Để tồn tại và phát triển bền vững, doanh nghiệp cần phải không ngừng nâng cao năng lực của mình nhằm tạo ra ưu thế về mọi mặt như chất lượng công trình, thời gian, giá cả…so với các đối thủ. Trước yêu cầu ngày càng cao và đa dạng của khách hàng, nếu doanh nghiệp không vươn lên đáp ứng được thì sự thất bại trong cạnh tranh là điều khó tránh khỏi. Trên thực tế, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng trở nên gay gắt buộc các doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình. Trần Thu Thủy 14 Quản trị kinh doanh tổng hợp K15 2.1.3.1. Những chỉ tiêu để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xây dựng Khi đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xây dựng, cần lưu ý các khía cạnh sau: - Phải lấy yêu cầu của khách hàng làm chuẩn mực. - Thực lực của doanh nghiệp là yếu tố cơ bản để đảm bảo thoả mãn nhu cầu của khách hàng. - Muốn giữ và lôi kéo được khách hàng, doanh nghiệp phải có thực lực được thể hiện thành các lợi thế so với các đối thủ cạnh tranh. - Doanh nghiệp cần phải đánh giá từng điểm mạnh, điểm yếu của mình mà có kế hoạch khắc phục điểm yếu và phát huy thế mạnh. - Việc đánh giá năng lực cạnh tranh nếu chỉ căn cứ vào yếu tố định tính thì không tránh được các yếu tố cảm tính, bởi vậy phải cố gắng lượng hóa. Tuy nhiên khó có được một chỉ tiêu tổng hợp đo lường năng lực cạnh tranh, do đó phải có một hệ thống chỉ tiêu: * Chỉ tiêu về kết cấu tài chính: Tỷ suất nợ và tỷ suất vốn tự tài trợ: là chỉ tiêu đánh giá mức độ độc lập hay phụ thuộc của doanh nghiệp đối với các chủ nợ, mức độ tự tài trợ của doanh nghiệp đối với vốn kinh doanh của mình. Tỷ suất vốn tự tài trợ càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp có nhiều vốn tự có, tính độc lập cao đối với các chủ nợ do đó không bị ràng buộc hoặc sức ép của các khoản nợ vay. Tỷ suất = Nợ phải trả x 100% nợ Nguồn vốn Tỷ suất = Vốn chủ sở hữu x 100% vốn tự tài trợ Nguồn vốn * Chỉ tiêu về khả năng thanh toán: - Hệ số thanh toán hiện hành (H1): là mối quan hệ giữa tài sản ngắn hạn với các khoản nợ ngắn hạn, thể hiện mức độ đảm bảo tài sản ngắn hạn đối 15 Trần Thu Thủy Quản trị kinh doanh tổng hợp K15 với nợ ngắn hạn, là chỉ tiêu đánh giá tốt nhất khả năng thanh toán ngắn hạn. Hệ số thanh (H1) = Tài sản ngắn hạn toán hiện hành Nợ ngắn hạn * Chỉ tiêu về khả năng sinh lời: Khi phân tích về vấn đề tài chính của các doanh nghiệp, ta phải đặc biệt quan tâm đến khả năng sử dụng một cách hiệu quả tài sản để mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho doanh nghiệp. Các tỷ suất doanh lợi luôn được các nhà kinh doanh, các nhà đầu tư quan tâm. Nó phản ánh tính hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh và là cơ sở quan trọng có ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. + Hệ số doanh lợi bao gồm: Tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu = Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn = chủ sở hữu (ROE) Lợi nhuận sau thuế Doanh thu Lợi nhuận sau thuế Tổng vốn chủ sở hữu ơ Các hệ số này phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hệ số này càng cao thì hiệu quả sản xuất kinh doanh càng lớn. Hai chỉ tiêu này biểu hiện cứ 100 đồng doanh thu thì sinh ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế và cứ 100 đồng vốn hoạt động bình quân trong kỳ sẽ mang về bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Tỷ suất này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp có vốn sử dụng tốt và ngược lại. * Các chỉ tiêu riêng: + Giá trị trúng thầu và số lượng công trình thắng thầu: Chỉ tiêu này cho biết một cách khái quát tình hình kết quả dự thầu của doanh nghiệp. Qua đó có thể đánh giá được chất lượng, hiệu quả của công tác dự thầu trong năm và quy mô của các công trình đã trúng thầu. + Xác suất trúng thầu: Tính theo số hợp đồng: 16 Trần Thu Thủy Quản trị kinh doanh tổng hợp K15 P1 =  Htt  Hdt x 100% Tính theo giá trị hợp đồng: P2 =  Gtt  Gdt x 100% Trong đó: P1: Xác suất trúng thầu theo số hợp đồng Htt: Số hợp đồng trúng thầu Hdt: Số hợp đồng tham gia dự thầu P2: Xác suất trúng thầu theo giá trị hợp đồng. Gtt: Giá trị hợp đồng trúng thầu Gdt: Giá trị hợp đồng tham gia dự thầu + Thị phần và uy tín của doanh nghiệp: Đây là chỉ tiêu đánh giá một cách khái quát năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Uy tín của doanh nghiệp liên quan đến tất cả các chỉ tiêu trên và các yếu tố khác như: chất lượng công trình, tổ chức doanh nghiệp, tổ chức các dự án thi công, marketing,… Phương pháp xác định Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn. Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp. Đây là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp…một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường. Sẽ là vô nghĩa nếu những điểm mạnh và điểm yếu bên trong doanh nghiệp được đánh Trần Thu Thủy 17 Quản trị kinh doanh tổng hợp K15 giá không thông qua việc so sánh một cách tương ứng với các đối tác cạnh tranh. Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo lập được lợi thế so sánh với đối tác của mình. Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối tác cạnh tranh. Thực tế cho thấy, không một doanh nghiệp nào có khả năng thỏa mãn đầy đủ tất cả những yêu cầu của khách hàng. Thường thì doanh nghiệp có lợi thế về mặt này và có hạn chế về mặt khác. Vần đề cơ bản là, doanh nghiệp phải nhận biết được điều này và cố gắng phát huy tốt những điểm mạnh mà mình đang có để đáp ứng tốt nhất những đòi hỏi của khách hàng. Những điểm mạnh và điểm yếu bên trong một doanh nghiệp được biểu hiện thông qua các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp như marketing, tài chính, sản xuất, nhân sự, công nghệ, quản trị, hệ thống thông tin…Tuy nhiên, để đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp, cần phải xác định được các yếu tố phản ánh năng lực cạnh tranh từ những lĩnh vực hoạt động khác nhau và cần thực hiện việc đánh giá bằng cả định tính và định lượng. Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh ở những ngành, lĩnh vực khác nhau có các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh khác nhau. Mặc dù vậy, vẫn có thể tổng hợp được các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp bao gồm: giá cả sản phẩm và dịch vụ; chất lượng sản phẩm và bao gói; kênh phân phối sản phẩm và dịch vụ bán hàng; thông tin và xúc tiến thương mại; năng lực nghiên cứu và phát triển; thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp; trình độ lao động; thị phần sản phẩm doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng thị phần; vị thế tài chính; năng lực tổ chức và quản trị doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp hiện nay, thông qua phương pháp so sánh trực tiếp các yếu tố nêu trên để đánh giá năng lực cạnh tranh của mình so với đối tác cạnh tranh. Đây là phương pháp truyền thống và phần nào phản ánh được Trần Thu Thủy 18 Quản trị kinh doanh tổng hợp K15 năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, hạn chế của phương pháp này là không cho phép doanh nghiệp đánh giá tổng quát năng lực cạnh tranh của mình với đối tác cạnh tranh mà chỉ đánh giá được từng mặt, từng yếu tố cụ thể. 2.1.3.2 Các phương thức cạnh tranh của doanh nghiệp xây dựng hiện nay Để đánh giá, cho điểm và lựa chọn nhà thầu trúng thầu, chủ đầu tư đã chú trọng đến những chỉ tiêu sau đây như những phương thức trọng tâm trong quá trình lựa chọn nhà thầu: + Nhân sự của nhà thầu để thực hiện gói thầu + Các cam kết về chất lượng và giải pháp thực hiện + Thương hiệu, uy tín của doanh nghiệp + Giá dự thầu a/ Phương thức cạnh tranh bằng trình độ, kinh nghiệm và năng lực của nhân sự: Tỷ lệ điểm đối với phần này quy định là rất cao trong tổng số điểm về mặt kỹ thuật. Vì khi xem xét lựa chọn một nhà thầu khách hàng phải xem xem những người thực hiện các công việc của gói thầu hoặc dự án trên có đủ trình độ, kinh nghiệm để thực hiện các công việc trên không? Không ai muốn thuê một kỹ sư (nhất là người điều hành trực tiếp) kém năng lực chuyên môn, khách hàng luôn mong muốn người giỏi nhất có thể có được. Thực tế khách hàng không chỉ đòi hỏi thuần tuý về đảm bảo tiêu chuẩn, quy phạm, mà nhiều khi khách hàng còn mong muốn cao hơn nữa. Họ luôn muốn được sản phẩm tôt nhất, tối ưu cả về mặt kinh tế, kỹ thuật, thẩm mỹ lẫn tiến độ, hoặc là họ cần thoát ra khỏi những khó khăn nhiều khi không chỉ bằng chuẩn mực mà có thể giải quyết được. Như vậy người kỹ sư không thể chỉ có năng lực chuyên môn – có được từ nhà trường; mà phải có kinh nghiệm, bản lĩnh – có được từ học hỏi trong thực tiễn. Doanh nghiệp xây dựng có nhiều chuyên gia, như vậy 19 Trần Thu Thủy Quản trị kinh doanh tổng hợp K15 chắc chắn sẽ chiếm được sự tin cậy của nhiều khách hàng hơn. b/ Các cam kết về chất lượng và giải pháp thực hiện Đó là đưa ra các giải pháp và phương pháp luận hợp lý đối với yêu cầu của gói thầu, của từng công trình. Tỷ lệ điểm đối với phần này quy định là từ 30-40% tổng số điểm về mặt kỹ thuật. Có rất nhiều yêu cầu mà một giải pháp đưa ra phải đảm bảo như: + Dự án phải được thực hiện phù hợp với các tiêu chuẩn, quy phạm xây dựng, các điều kiện tự nhiên và xã hội và các quy định, phong tục tập quán, thói quen... và đúng thiết kế dự toán công trình đã được phê duyệt. + Phù hợp với thiết kế công nghệ trong trường hợp dự án đầu tư xây dựng công trình có thiết kế công nghệ. + Nền móng công trình phải đảm bảo bền vững, không bị nứt, biến dạng quá giới hạn cho phép làm ảnh hưởng đến tuổi thọ công trình, biện pháp an toàn cho các công trình lân cận. + Thoả mãn yêu cầu về chức năng sử dụng; bảo đảm mỹ quan, giá thành hợp lý. + An toàn, tiết kiệm, phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng được áp dụng; các tiêu chuẩn về phòng, chống cháy nổ, bảo vệ môi trường và những tiêu chuẩn liên quan khác. + Đồng bộ trong từng công trình, đáp ứng yêu cầu vận hành, sử dụng công trình; đồng bộ với các công trình có liên quan… Mỗi công trình có một đặc điểm khác nhau, yêu cầu khác nhau vì vậy các giải pháp đưa ra phải được xem xét và nghiên cứu kỹ lưỡng sao cho đảm bảo các yêu cầu của hồ sơ mời thầu, các quy định của nhà nước và hiệu quả nhất, hợp lý nhất cho cho chủ đầu tư sẽ dành được sự tin tưởng của chủ đầu tư. Cạnh tranh bằng chất lượng các giải pháp là một trong những công cụ cạnh tranh quan trọng và mang tính chất đặc trưng của ngành xây dựng. Trần Thu Thủy 20 Quản trị kinh doanh tổng hợp K15 c/ Thương hiệu của doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp ra đời cần có thương hiệu của riêng mình. Đối với doanh nghiệp xây dựng, nơi mà khách hàng chỉ lựa chọn khi họ tin cậy, thương hiệu rất quan trọng. Quảng cáo nhiều không phải là cách tốt nhất để nâng cao uy tín của doanh nghiệp qua thương hiệu. Chất lượng, tiến độ công trình mới là điều quyết định để khách hàng muốn tiếp tục làm việc với doanh nghiệp và lựa chọn doanh nghiệp. Một doanh nghiệp xây dựng luôn đảm bảo chất lượng đúng như đã thoả thuận với khách hàng cho dù khó khăn đến đâu, đã cam kết là thực hiện đến cùng, không thoái thác trách nhiệm thì khách hàng hiểu và tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp và khi đó doanh nghiệp sẽ luôn là nơi mà khách hàng tin tưởng và lựa chọn khi có nhu cầu xây dựng. d/ Cạnh tranh bằng giá dự thầu Cạnh tranh bằng giá dự thầu trong xây dựng cũng là yếu tố quan trọng. Ngoài có các giải pháp kỹ thuật tối ưu và hợp lý thì doanh nghiệp cũng muốn đưa mức giá thấp hấp dẫn người tiêu dùng hơn các đối thủ cạnh tranh. Giá dự thầu là giá cả sản phẩm xây lắp được xây dựng theo quy định của nhà nước, được xác định theo giá trị xây lắp, thiết bị trong tổng mức đầu tư của dự án. Trong một số trường hợp (đấu thầu quốc tế) tính theo Max month hoặc doanh nghiệp căn cứ vào các yếu tố năng lực thực sự của doanh nghiệp, mục tiêu tham gia đấu thầu, quy mô, đặc điểm của dự án, vị trí thi công của dự án, phong tục tập quán của địa phương để đưa ra giá dự thầu thích hợp để đạt mục tiêu tương ứng về lợi nhuận, công ăn việc làm hoặc thâm nhập thị trường mới. Cạnh tranh bằng giá dự thầu được thể hiện qua các chính sách (sau khi đã vượt qua phần kỹ thuật) như: + Chính sách giá cao: áp dụng khi doanh nghiệp xây lắp có một khả năng công nghệ hoặc giải pháp đặc biệt độc quyền. Khi đó buộc các chủ đầu
- Xem thêm -