Tài liệu Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty cổ phần sách và thiết bị giáo dục miền bắc

  • Số trang: 71 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 47 |
  • Lượt tải: 0
nguyetha

Đã đăng 8489 tài liệu

Mô tả:

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TRONG DOANH NGHIỆP 1.1. Một số vấn đề cơ bản về tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp 1.1.1. Khái niệm tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Tài sản ngắn hạn là giá trị của một bộ phận nguồn lực sản xuất mà doanh nghiệp huy động vào quá trình sản xuất kinh doanh, là điều kiện tiên quyết doanh nghiệp phải có để thực hiện hoạt động sản xuất – kinh doanh của mình. Do đó, đặt ra vấn đề là phải làm rõ thế nào là tài sản ngắn hạn. Hiện nay, có nhiều tác giả khác nhau đưa ra khái niệm về TSNH như: PGS.TS.Trần Ngọc Thơ, Giáo trình Quản trị tài chính doanh nghiệp hiện đại, Nhà xuất bản thống kê, năm 2009: “Tài sản ngắn hạn hay còn gọi là tài sản lưu động là một khoản mục trong bảng cân đối kế toán bao gồm tất cả các loại tài sản có thể dễ dàng chuyển đổi sang tiền mặt trong vòng 1 năm hay một chu kỳ sản xuất kinh doanh. Tài sản ngắn hạn bao gồm tiền mặt và các khoản tương đương tiền, các khoản phải thu ngắn hạn, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, hàng tồn kho và những tài sản có tính thanh khoản khác”. PGS.TS.Lưu Thị Hương, Giáo trình Tài chính doanh nghiệp, Nhà xuất bản Đại học Kinh Tế Quốc Dân, năm 2011: “Tài sản ngắn hạn là những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp mà thời gian sử dụng, thu hồi, luân chuyển thường là dưới một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh. Tài sản ngắn hạn bao gồm: vốn bằng tiền, đầu tư ngắn hạn, các khoản phải thu, vật tư hàng hóa tồn kho, tạm ứng,…” PGS.TS.Nguyễn Năng Phúc, Giáo trình Phân tích báo cáo tài chính, Nhà xuất bản Đại học Kinh Tế Quốc Dân, năm 2011: “Tài sản ngắn hạn là các tài sản có thời gian thu hồi vốn ngắn, trong khoảng thời gian 12 tháng hoặc một chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Tài sản ngắn hạn thường được phân bổ ở khắp giai đoạn của quá trình sản xuất thể hiện dưới nhiều hình thức khau.” Như vậy, có khá nhiều khái niệm của các tác giả khác nhau được đưa ra định nghĩa về tài sản ngắn hạn, mặc dù ngôn từ thể hiện có thể khác nhau song ta có thể hiểu: Tài sản ngắn hạn là những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp mà thời gian sử dụng, thu hồi và luân chuyển ngắn thƣờng dƣới 1 năm, tài sản ngắn hạn đƣợc thể hiện dƣới nhiều hình thức khác nhau nhƣ: Tiền và các khoản tƣơng đƣơng tiền, các khoản phải thu, hàng tồn kho, các khoản đầu tƣ ngắn hạn và tài sản ngắn hạn khác. 1 Thang Long University Library 1.1.2. Đặc điểm của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Đƣợc hình thành từ vốn lƣu động của doanh nghiệp: Vốn lưu động là vốn ngắn hạn, là nguồn dùng để hình thành nên tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp. Do vậy, vốn lưu động có bao nhiêu thì tham gia hình thành lên tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là bấy nhiêu. Hay nói cách khác, tài sản ngắn hạn chính là biểu hiện ra bên ngoài của vốn lưu động. Thời gian luân chuyển nhanh: Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những tài sản thường xuyên luân chuyển, khoảng thời gian luân chuyển thường là một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, nó có thể giúp doanh nghiệp quay vòng vốn nhanh hơn, giảm chi phí sử dụng vốn. Tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp mà 1 chu kỳ kinh doanh là ngắn hay dài. Song thường thì chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra trong vòng 1 năm, nên thời gian luân chuyển của tài sản ngắn hạn nhanh … Toàn bộ giá trị đƣợc chuyển một lần vào thành phẩm và thu hồi về thông qua doanh thu bán hàng: Trên thực tế thì tài sản ngắn hạn không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh: dự trữ - sản xuất - lưu thông. Qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh tài sản ngắn hạn lại thay đổi hình thái biểu hiện. Bắt đầu nhập nguyên vật liệu, tiến hành quá trình sản xuất, tạo ra thành phẩm, sau khi kết thúc một quá trình tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp có thể dễ dàng dùng tiền để tái đầu tư những tài sản ngắn hạn phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh tiếp theo. Có tính thanh khoản cao: Tài sản ngắn hạn là những tài sản có thời gian luân chuyển nhanh, có thể chuyển thành tiền để đáp ứng nhu cầu thanh toán, do vậy mà tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao. Đƣợc phân bổ ở tất cả các khâu trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp: Tài sản ngắn hạn được phân bổ trong tất cả các khâu, bởi tài sản ngắn hạn tồn tại dưới nhiều hình thái từ tiền, nguyên vật liệu đầu vào cho tới thành phẩm, hàng hóa và các khoản phải thu. Do vậy mà tài sản ngắn hạn luôn xuất hiện trong các công đoạn nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục, ổn định tránh lãng phí và tổn thất vốn do ngừng sản xuất, không làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và đảm bảo khả năng sinh lời của tài sản. 1.1.3. Vai trò của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Là một bộ phận không thể thiếu trong cơ cấu tài sản của doanh nghiệp. Hoạt động của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng không thể thiếu tài sản ngắn hạn. Do tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tài sản và ảnh hưởng tới quá trình sản xuất kinh doanh, tồn tại dưới các hình thái như tiền, các khoản phải thu, hàng tồn kho… là những khoản mục luôn tồn tại trong cơ cấu kế toán. Do vậy, dù đó là doanh nghiệp sản 2 xuất hay doanh nghiệp hoạt động lĩnh vực thương mại dịch vụ thì tài sản ngắn hạn luôn đóng vai trò không thể thiếu đối với các doanh nghiệp. Là điều kiện để một doanh nghiệp đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh ngoài tài sản dài hạn như máy móc, nhà xưởng, doanh nghiệp còn phải có tài sản ngắn hạn phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh. Tài sản ngắn hạn là điều kiện để doanh nghiệp đi vào hoạt động sản xuất, kinh doanh. Do đó, tài sản ngắn hạn là yêu cầu không thể thiếu của mỗi doanh nghiệp. Đảm bảo quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra một cách thƣờng xuyên. Tài sản ngắn hạn giúp cho doanh nghiệp sản xuất thông suốt, đảm bảo quy trình, công đoạn sản xuất. Trong lưu thông, tài sản ngắn hạn đảm bảo dự trữ thành phẩm đáp ứng đơn đặt hàng của khách và nhu cầu tiêu thụ ổn định và thuận lợi, dễ dàng. Là công cụ phản ánh và đánh giá quá trình vận động của vật tƣ. Tài sản ngắn hạn bao gồm tiền và các khoản tương đương tiền, hàng tồn kho, các khoản phải thu, là những khoản mục liên quan đến việc mua bán nguyên vật liệu, cung cấp hàng hóa, là những chỉ tiêu thể hiện quá trình vận động của vật tư, cũng tức là phản ánh và kiểm tra quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp. 1.1.4. Phân loại tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Trong quá trình quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tùy theo yêu cầu quản lý và dựa trên tính chất vận động của tài sản ngắn hạn, có thể phân loại tài sản ngắn hạn như sau: 1.1.4.1. Phân loại theo quá trình tuần hòa và chu chuyển vốn Tài sản ngắn hạn dự trữ: Là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong khâu dự trữ của doanh nghiệp mà không tính đến hình thái biểu hiện của chúng, bao gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, hàng mua đang đi đường, nguyên vật liệu tồn kho, công cụ dụng cụ trong kho, hàng gửi gia công, trả trước cho người bán. Tài sản ngắn hạn sản xuất: Là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong khâu sản xuất của doanh nghiệp, bao gồm: giá trị bán thành phẩm, các chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, chi phí trả trước, các khoản chi phí khác phục vụ cho công việc sản xuất kinh doanh… Tài sản ngắn hạn lƣu thông: Là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong khâu lưu thông của doanh nghiệp, bao gồm: hàng tồn kho, hàng gửi bán, thành phẩm và khoản nợ phải thu của khách hàng. 3 Thang Long University Library 1.1.4.2. Phân loại theo tính thanh khoản Đây là cách phân loại dựa trên khả năng huy động cho việc thanh toán. Theo cách phân loại này thì tài sản ngắn hạn bao gồm: Tiền và các khoản tương đương tiền, đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu, các khoản ứng trước, hàng tồn kho và các tài sản ngắn hạn khác. Tiền và các khoản tƣơng đƣơng tiền: Tiền mặt được hiểu là tiền tồn quỹ, tiền trên tài khoản thanh toán của doanh nghiệp ở ngân hàng. Nó được sử dụng để trả lương, mua nguyên vật liệu, mua tài sản cố định, trả tiền thuế, trả nợ…. Tiền mặt bản thân nó là loại tài sản không sinh lãi, do vậy trong quản lý tiền mặt thì việc tối thiểu hoá lượng tiền mặt phải giữ là mục tiêu quan trọng nhất. Bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển và các khoản tương đương tiền như vàng, đá quý… Đây là tài sản có tính thanh khoản cao nhất trong doanh nghiệp, chính vì vậy doanh nghiệp cần duy trì một cách hợp lý, không quá nhỏ để đảm bảo khả năng thanh toán nhưng cũng không quá lớn dẫn đến lãng phí, ứ đọng vốn của doanh nghiệp. Các khoản đầu tƣ tài chính ngắn hạn: Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn bao gồm các chứng khoán ngắn hạn, các khoản đầu tư ngắn hạn khác, các khoản dự phòng đầu tư ngắn hạn… Đây là khoản vừa có tính thanh khoản cao, vừa có khả năng sinh lời. Khi có nhu cầu thanh toán mà tiền không đáp ứng đủ thì doanh nghiệp sẽ bán các chứng khoán này. Mục tiêu của các doanh nghiệp là việc sử dụng các loại tài sản sao cho hiệu quả nhất. Các loại chứng khoán gần như tiền mặt giữ vai trò như một “bước đệm” cho tiền mặt, vì nếu số dư tiền mặt nhiều doanh nghiệp có thể đầu tư vào chứng khoán có khả năng thanh khoản cao, nhưng khi cần thiết cũng có thể chuyển đổi chúng sang tiền mặt một cách dễ dàng và ít tốn kém chi phí. Do đó trong tài chính người ta sử dụng chứng khoán có khả năng thanh khoản cao để duy trì tiền mặt ở mức độ mong muốn. Các khoản phải thu (tín dụng thƣơng mại): Trong nền kinh tế thị trường việc mua bán chịu là một việc không thể thiếu. Các doanh nghiệp bán hàng song có thể không nhận được ngay tiền hàng lúc bán mà nhận sau một thời gian xác định mà hai bên thoả thuận hình thành nên các khoản phải thu của doanh nghiệp. Việc cho các doanh nghiệp khác nợ như vậy chính là hình thức tín dụng thương mại. Với hình thức này có thể làm cho doanh nghiệp đứng vững trên thị trường và trở nên giàu có nhưng cũng không tránh khỏi những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. 4 Hàng tồn kho: Trong quá trình luân chuyển của vốn lưu động phục vụ cho sản xuất, kinh doanh thì việc tồn tại vật tư hàng hoá dự trữ, tồn kho là những bước đệm cần thiết cho quá trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp. Hàng hoá tồn kho có ba loại: Nguyên vật liệu thô phục vụ cho quá trình sản xuất, kinh doanh; sản phẩm dở dang và thành phẩm. Các doanh nghiệp không thể tiến hành sản xuất đến đâu mua hàng đến đó mà cần phải có nguyên vật liệu dự trữ. Tài sản ngắn hạn khác: Bao gồm các khoản tạm ứng, chi phí trả trước, chi phí chờ kết chuyển, tài sản thiếu chờ xử lý, các khoản cầm cố, ký quỹ, ký cược ngắn hạn. Các khoản tạm ứng: Là các khoản tiền hoặc vật tư do doanh nghiệp giao cho người nhận tạm ứng để thực hiện hoạt động kinh doanh nào đó hoặc giải quyết một công việc đã được phê duyệt. Chi phí trả trƣớc: Là các khoản chi phí thực tế đã phát sinh nhưng có tác dụng đến kết quả hoạt động của nhiều kỳ thanh toán, cho nên chưa thể tính vào chi phí sản xuất kinh doanh một kỳ mà được tính cho hai hay nhiều kỳ hạch toán. Trên thực tế, không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ các khoản mục trên trong bảng cân đối kế toán. Thường thì trong doanh nghiệp chỉ có các khoản chính như: tiền, khoản phải thu, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác... Vậy nếu doanh nghiệp xác định được cách phân loại phù hợp với mình thì sẽ có ưu thế hơn trong việc bảo tồn, quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn. 1.2. Một số vấn đề cơ bản về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp 1.2.1. Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Mục tiêu chung của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng đều là tối đa hóa lợi nhuận và tối thiểu hóa chi phí. Chính vì vậy, hiệu quả sản xuất kinh doanh luôn là vấn đề mà các doanh nghiệp quan tâm, quản trị sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì doanh nghiệp mới có thể tồn tại trên thị trường. Để đạt được hiệu quả đó đòi hỏi doanh nghiệp phải có nhiều cố gắng và có những chiến lược, sách lược hợp lý từ khâu sản xuất cho đến khi sản phẩm đến được tay người tiêu dùng. Vậy hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là gì? Xét về mặt lượng, hiệu quả kinh tế được thể hiện qua mối quan hệ giữa hiệu quả thu được và chi phí bỏ ra để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Kết quả thu được càng cao so với chi phí bỏ ra thì hiệu quả kinh tế càng cao. Xét về mặt chất, việc đạt hiệu quả cao phản ánh năng lực và trình độ quản lý. Đồng thời, cũng đòi hỏi sự gắn bó giữa việc đạt được những mục tiêu kinh tế và đạt được những mục tiêu xã hội. Việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh có ý nghĩa 5 Thang Long University Library rất quan trọng, đó là điều kiện cơ bản để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển. Từ các đánh giá về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn theo lượng và chất nói trên, ta có thể hiểu: Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là kết quả đạt đƣợc cao nhất với mục tiêu mà doanh nghiệp đã đặt ra. Nghĩa là phải làm sao có đƣợc nhiều lợi nhuận từ việc khai thác và sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tối đa hóa lợi ích và tối thiểu hóa chi phí. 1.2.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì vấn đề sống còn doanh nghiệp cần quan tâm là tính hiệu quả. Quá trình hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp là quá trình hình thành và sử dụng vốn kinh doanh. Đặc biệt, tài sản ngắn hạn là nhựa sống tuần hoàn trong doanh nghiệp. Vì vậy, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là yêu cầu quan trọng của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Cụ thể, việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn có các vai trò quan trọng sau: Giúp gia tăng tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp. Vì tài sản ngắn hạn được hình thành từ vốn lưu động nên có thể luân chuyển trong thời gian ngắn và bổ sung cho các chu kỳ kinh doanh tiếp theo. Nên nếu nâng cao được hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn thì có thể tăng tốc độ luân chuyển vốn, dẫn tới tài trợ tốt cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Giúp gia tăng khả năng sinh lời cho doanh nghiệp. Tài sản ngắn hạn tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau, trong đó hàng tồn kho chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu tài sản ngắn hạn. Nếu nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn thì lượng hàng tồn kho có khả năng được bán ra nhiều hơn và khả năng sinh lời của doanh nghiệp sẽ được cải thiện. Giúp gia tăng khả năng thanh toán cho doanh nghiệp. Ngoài hàng tồn kho, tài sản ngắn hạn còn thể hiện dưới hình thái các khoản phải thu, đem lại khả năng thu hồi vốn và các khoản nợ từ khách hàng, giúp tăng lượng tiền và đảm bảo vốn cũng như nguyên vật liệu cho các chu kỳ kinh doanh. Do vậy, khi hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn được nâng cao, tài sản ngắn hạn nhanh chóng được thu hồi về bằng tiền, sẽ giúp làm gia tăng khả năng thanh toán cho doanh nghiệp. Giúp gia tăng khả năng cạnh tranh trên thị trƣờng. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, rất nhiều các mặt hàng, các sản phẩm có những đối thủ cạnh tranh tương ứng. Vì thế, số lượng và chất lượng sản phẩm đều phải được chú trọng nếu không muốn thua thiệt so với đối thủ, việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn có thể đảm bảo số lượng sản phẩm cũng như chất lượng từ nguyên vật liệu đầu vào 6 cho tới thành phẩm, hàng hóa. Từ đó gia tăng khả năng sản xuất, tiêu thụ sản phẩm trên thị trường, giúp cho doanh nghiệp có thể mở rộng thị phần, gia tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường. 1.2.3. Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp 1.2.3.1. Quy mô và cơ cấu tài sản ngắn hạn Quy mô tài sản ngắn hạn: Là con số tuyệt đối thể hiện độ lớn của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp qua các năm. Đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, tài sản ngắn hạn thường chiếm 25% - 50% trên tổng tài sản. Tài sản ngắn hạn được phân bố đủ trong tất cả các khâu, các công đoạn nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục, ổn định tránh lãng phí và tổn thất vốn do ngừng sản xuất, không làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và đảm bảo khả năng sinh lời của tài sản. Nếu quy mô tài sản ngắn hạn tăng qua các năm, thể hiện doanh nghiệp đang có mức tài sản cao và thuận lợi trong sản xuất kinh doanh. Ngược lại, nếu quy mô tài sản ngắn hạn giảm qua các năm, có thể dẫn đến mức tài sản ngắn hạn cung cấp cho quá trình sản xuất không đủ và nguy cơ dẫn đến thiệt hại cho doanh nghiệp. Do quy mô tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn trong doanh nghiệp nên sự tăng giảm về quy mô tài sản ngắn hạn sẽ ảnh hưởng tới quá trình sản xuất kinh doanh. Quá trình vận động của tài sản ngắn hạn bắt đầu từ giai đoạn cung cấp dùng tiền để mua nguyên vật liệu dự trữ quá trình sản xuất, sau đó tiến hành tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Quá trình này cần có một lượng vốn nhất định cũng như sử dụng tài sản ngắn hạn hợp lý. Vì vậy, quy mô tài sản ngắn hạn tăng sẽ giúp cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra một cách liên tục. Tuy nhiên, việc tăng quy mô tài sản ngắn hạn cần được quản lý chặt chẽ nếu không sẽ dẫn đến dư thừa và làm tăng chi phí cho doanh nghiệp. Ngược lại, nếu quy mô tài sản ngắn hạn giảm khiến cho doanh nghiệp không đủ nguyên vật liệu, hàng hóa, thành phẩm… sẽ làm giảm vòng quay cũng như khả năng luân chuyển tài sản ngắn hạn, từ đó làm giảm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp. Cơ cấu tài sản ngắn hạn: Thể hiện tỷ trọng tương đối qua từng năm của từng khoản mục tài sản ngắn hạn trong tổng tài sản ngắn hạn như: Tiền và các khoản tương đương tiền, khoản phải thu, hàng tồn kho, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn. Nếu tỷ trọng các khoản mục trong tài sản ngắn hạn tăng qua từng năm, thể hiện khả năng phát triển và thuận lợi trong doanh nghiệp. Nhưng cần phải duy trì tỷ trọng để có cơ cấu tài sản ngắn hạn hợp lý, vì nếu quá chú trọng vào mục tiêu lợi nhuận, dẫn tới tăng quá nhiều nguyên vật liệu và hàng tồn kho sẽ làm tăng chi phí. Nếu có sự biến động bất lợi trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, vốn lưu động sẽ không luân chuyển được, tài sản ngắn hạn không chuyển được thành tiền, dẫn tới ảnh hưởng đến khả năng thanh toán 7 Thang Long University Library và mang lại rủi ro cho doanh nghiệp, thậm chí phá sản. Ngược lại, nếu không duy trì cơ cấu nguyên vật liệu và các yêu cầu thiết yếu cho quá trình sản xuất một cách hợp lý, cũng sẽ làm ảnh hưởng tới doanh nghiệp và có thể dẫn tới phá sản. Điều đó cho thấy doanh nghiệp sử dụng không hiệu quả tài sản ngắn hạn. Nhu cầu về tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là khác nhau. Cơ cấu tài sản ngắn hạn trong tổng tài sản phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh, ví dụ như đối với doanh nghiệp thương mại thì tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn hơn so với tài sản dài hạn nhưng trong một doanh nghiệp sản xuất thì điều này ngược lại. Cơ cấu tài sản ngắn hạn còn cho biết tình hình tài chính hiện tại của doanh nghiệp, về khả năng thanh toán và các rủi ro tài chính của doanh nghiệp. 1.2.3.2. Chính sách quản lý tài sản ngắn hạn (1) Chính sách quản lý tiền mặt: Tiền mặt của công ty bao gồm tiền mặt tồn quỹ, tiền trên tài khoản của ngân hàng. Nó được sử dụng để trả lương, mua nguyên vật liệu, mua tài sản cố định, trả tiền thuế, trả các khoản nợ đến hạn… Chính sách quản lý tiền mặt là các mô hình như mô hình quản lý tiền mặt EOQ, Mô hình quản lý tiền mặt Miller Orr… hoặc những chính sách quản lý riêng do từng doanh nghiệp đề ra để có thể theo dõi, dự đoán lượng tiền đã, đang và sẽ có trong hiện tại và tương lai. Các chính sách quản lý tiền mặt có thể giúp cho doanh nghiệp quyết định đầu tư tiền bao nhiêu, khi nào để đảm bảo chi phí thấp nhưng có thể thu lại lượng tiền sau quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm lớn. Việc cần thiết phải quản lý tiền mặt Tiền mặt được coi là yếu tố quan trọng nhất khi nói đến việc quản lý tài chính của doanh nghiệp. Nếu có sự chậm trễ giữa khoảng thời gian phải trả tiền cho các nhà cung cấp và tiền lương công nhân viên cũng như nợ ngắn hạn đến thời trả thì doanh nghiệp sẽ gặp rắc rối không nhỏ. Giải pháp cho việc này chính là những chính sách quản lý tiền mặt của doanh nghiệp. Quản lý tiền mặt giúp cho doanh nghiệp có đủ lượng tiền mặt cần thiết tại những thời điểm quan trọng. Doanh nghiệp cần phải theo dõi lượng tiền có sẵn, các khoản tương đương tiền hiện đang ở đâu và có đáp ứng đủ nhu cầu cần thiết. Nếu không đảm bảo được tiền mặt cần thiết, việc kinh doanh sẽ rất khó khăn. Quản lý tiền mặt đảm bảo cho việc tăng đầu tư lượng tiền mặt nhàn rỗi nhằm thu lợi nhuận trong khi vẫn duy trì mức thanh khoản hợp lý để đáp ứng các nhu cầu trong tương lai. Doanh nghiệp phải lập kế hoạch khi nào thì có tiền nhàn rỗi có thể dành cho đầu tư, doanh nghiệp cần xác định được lượng tiền có thể đưa vào đầu tư là bao nhiêu 8 và khoảng thời gian có thể đầu tư đối với khoản tiền đó. Để quản lý tiền mặt một cách hợp lý và hệ thống, những nhà kinh tế học đã đưa ra một số mô hình quản lý sau: Mô hình quản lý tiền mặt EOQ William Baumol là người đầu tiên phát hiện mô hình hàng tồn kho đơn giản có thể vân dụng cho mô hình quản lý tiền mặt Khi dự trữ tiền mặt, doanh nghiệp sẽ mất chi phí cơ hội, tức là lãi suất bị mất đi, chi phí này tương đương với chi phí tồn trữ hàng hóa trong quản lý hàng tồn kho. Chi phí đặt hàng chính là chi phí cho việc bán các chứng khoán, khi đó áp dụng mô hình EOQ ta có lượng dự trữ tiền mặt tối ưu (M*) như sau: M* = 2 xM n xC b i Trong đó:  M* : Lượng dự trữ tiền mặt tối ưu  M : Tổng mức tiền mặt giải ngân hàng năm  Cb: Chi phí cho một lần bán chứng khoán thanh khoản  i : Lãi suất. (Nguồn: PGS.TS.Lưu Thị Hương, Giáo trình Tài chính doanh nghiệp, NXB Đại học Kinh Tế Quốc Dân, năm 2011) Mô hình Baumol cho thấy nếu lãi suất càng cao thì doanh nghiệp sẽ nắm giữ số dư bình quân tiền mặt thấp hơn và do đó làm cho doanh số bán chứng khoán nhỏ hơn nhưng với tần suất bán nhiều hơn (nghĩa là M* thấp hơn). Nếu giá phải trả cho mỗi lần bán chứng khoán cao thì doanh nghiệp nên nắm giữ một số tiền mặt lớn hơn. Mô hình Baumol giúp chúng ta hiểu được tại sao các doanh nghiệp vừa và nhỏ lưu giữ một số dư tiền mặt đáng kể. Trong khi đối với các công ty lớn, các chi phí giao dịch mua bán chứng khoán lại trở nên quá nhỏ so với cơ hội phí mất đi do giữ một số lượng tiền mặt nhàn rỗi. Mô hình quản lý tiền mặt Miller Orr Trong thực tiễn hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp rất hiếm khi mà lượng tiền vào, ra của doanh nghiệp lại đều đặn và dự kiến trước được, từ đó tác động đến mức dự trữ cũng không thể đều đặn như tính toán. Bằng việc nghiên cứu và phân tích thực tiễn, Miller Orr đã đưa ra mức dự trữ tiền mặt dự kiến dao động trong một khoảng tức là lượng tiền mặt dự kiến dao động trong một khoảng tức là lượng tiền dự trữ sẽ biến thiên từ cận thấp nhất đến giới hạn cao nhất. Nếu lượng tiền mặt ở dưới mức thấp thì doanh nghiệp phải bán chứng khoán để có lượng tiền mặt ở mức dự kiến, 9 Thang Long University Library ngược lại tại giới hạn trên doanh nghiệp sử dụng số tiền vượt quá mức giới hạn mua chứng khoán để đưa lượng tiền mặt về mức dự kiến. Hình 1.1. Đồ thị biểu diễn các mức biến động tiền mặt theo thời gian Khung dao động tiền mặt được tính bằng công thức sau: D = 3. 3.CbVb 4i Trong đó:  D : khoảng dao động tiền mặt (khoảng cách giữa giới hạn trên và giới hạn dưới của lượng tiền mặt dự trữ).  C b : Chi phí của mỗi lần giao dịch mua bán chứng khoán thanh khoản.  Vb : Phương sai của thu chi ngân quỹ  i : lãi suất (Nguồn: PGS.TS.Lưu Thị Hương, Giáo trình Tài chính doanh nghiệp, NXB Đại học Kinh Tế Quốc Dân, năm 2011) Mức tiền mặt theo thiết kế được xác định như sau: Mức tiền mặt theo thiết kế = Mức tiền mặt giới hạn dưới Khoảng dao động tiền mặt + 3 Đây là mô hình mà thực tế được rất nhiều doanh nghiệp áp dụng. Khi áp dụng mô hình này, mức tiền mặt giới hạn dưới thường được lấy là mức tiền mặt tối thiểu. Phương sai của thu chi ngân quỹ được xác định bằng cách dựa vào số liệu thực tế cửa một quỹ trước đó để tính toán. Xác định lƣợng tiền mặt cần thiết dựa vào kinh nghiệm Phương pháp này dựa vào số liệu thống kê của các năm trước để xây dựng kế hoạch tài chính cho từng giai đoạn trong mỗi niên độ sản xuất kinh doanh của doanh 10 nghiệp. Thông thường, người ta sử dụng tỷ lệ % doanh số bán trong một giai đoạn để xác định lượng tiền cần thiết. Nếu doanh số bán tăng thì lượng tiền cần thiết tương ứng giảm với một tỷ lệ % doanh số nhất định do giảm chi phí bán hàng và chi phí sản xuất. Phương pháp này thường áp dụng trong điều kiện tình hình sản xuất kinh doanh tương đối ổn định hoặc mang tính chu kỳ. Như vậy, nếu quản lý tốt tiền mặt sẽ giúp đảm bảo khả năng thanh toán, đồng thời đảm bảo khả năng sinh lời, tránh lãng phí vốn, từ đó góp phần làm tăng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn. (2) Chính sách quản lý các khoản phải thu: Đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hiện nay, để thắng lợi trong cạnh tranh, chính sách tín dụng thương mại là một công cụ hữu hiệu và không thể thiếu đối với các doanh nghiệp. Tín dụng thương mại như con dao 2 lưỡi, có thể đem đến cho doanh nghiệp nhiều lợi thế nhưng cũng có thể gặp nhiều rủi ro trong kinh doanh. Do vậy, nếu quản lý tốt chính sách bán chịu, doanh nghiệp có thể nhanh chóng thu hồi vốn lưu động để phục vụ các chu kỳ kinh doanh tiếp theo, làm tăng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn. Ngược lại, nếu không nhanh chóng thu hồi được các khoản phải thu, sẽ làm ứ đọng vốn và làm ảnh hưởng tới chu kỳ sản xuất tiếp theo, làm giảm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn. Do đó, các doanh nghiệp cần phải đưa ra những phân tích về khả năng tín dụng của khách hàng, từ đó quyết định có nên cấp tín dụng thương mại hay không. Đây là nội dung chính của quản lý các khoản phải thu. Chính sách tín dụng thương mại có những tác động cơ bản sau:  Do thực hiện chính sách bán chịu nên khách hàng mua nhiều hàng hóa hơn, từ đó làm tăng doanh thu và gián chi phí hàng tồn kho.  Tín dụng thương mại làm tăng lượng hàng hóa sản xuất ra, do đó góp phần làm tăng hiệu quả sử dụng tài sản.  Khi cấp tín dụng thương mại cho khách hàng có thể làm tăng thêm chi phí đòi nợ, chi phí trả cho nguồn tài trợ để bù đắp cho thiếu hụt ngân quỹ.  Nếu thời hạn cấp tín dụng càng dài dẫn đến rủi ro càng cao và làm cho lợi nhuận bị giảm. Phân tích tín dụng thƣơng mại: Trước khi doanh nghiệp cấp tín dụng cho khách hàng thì công việc đầu tiên phải làm là phân tích tín dụng khách hàng. Khi phân tích tín dụng khách hàng, người ta thường đề ra các tiêu chuẩn, nếu khách hàng đáp ứng được các tiêu chuẩn đó thì có thể được mua chịu. Các tiêu chuẩn người ta sử dụng để phân tích tín dụng khách hàng là:  Phẩm chất, tƣ cách tín dụng: Tiêu chuẩn này nói lên tinh thần trách nhiêm của khách hàng trong việc trả nợ. Điều này được phán đoán trên cơ sở việc 11 Thang Long University Library thanh toán các khoản nợ trước đây đối với doanh nghiệp hoặc đối với các doanh nghiệp khác.  Năng lực trả nợ: Dựa vào các chỉ tiêu về khả năng thanh toán nhanh, dự trữ ngân quỹ của doanh nghiệp…  Vốn của khách hàng: Đánh giá sức mạnh tài chính dài hạn của khách hàng.  Thế chấp: Xem xét khả năng tín dụng của khách hàng trên cơ sở các tài sản riêng mà họ sử dụng để đảm bảo các khoản nợ.  Điều kiện kinh tế: Tiêu chuẩn này đánh giá đến khả năng phát triển của khách hàng trong hiện tại và tương lai. Phân tích các khoản tín dụng đƣợc đề nghị: Sau khi phân tích năng lực tín dụng của khách hàng, doanh nghiệp tiến hành việc phân tích đánh giá các khoản tín dụng thương mại được đề nghị. Việc đánh giá khoản tín dụng thương mại được đề nghị để quyết định có nên cấp hay không được dựa vào việc tính NPV của luồng tiền. NPV  -P.Q  V.Q'-Q  C.P'.Q'   1 - r .P'.Q' 1 R Trong đó:  NPV: Giá trị hiện tại ròng của việc chuyển từ chính sách bán trả ngay sang chính sách bán chịu.  Q, P: Sản lượng hàng bán được trong một tháng và giá bán đơn vị nếu khách hàng trả tiền ngay.  Q’, P’: Sản lượng và giá bán đơn vị nếu bán chịu.  C: Chi phí cho việc đòi nợ và tài trợ bù đắp cho khoản phải thu.  V: Chi phí biến đổi cho một đơn vị sản phẩm.  R: Doanh lợi yêu cầu thu được hàng tháng.  r: Tỷ lệ phần trăm của hàng bán chịu không thu được tiền. (Nguồn: PGS.TS.Lưu Thị Hương, Giáo trình Tài chính doanh nghiệp, NXB Đại học Kinh Tế Quốc Dân, năm 2011) Nếu NPV > 0: doanh nghiệp sẽ cấp tín dụng thương mại cho khách hàng Nếu NPV < 0: doanh nghiệp sẽ không cấp tín dụng thương mại cho khách hàng Nếu NPV = 0: doanh nghiệp sẽ xem xét kèm theo các điều kiện khác rồi sẽ quyết định có nên cấp tín dụng thương mại hay không. Theo dõi các khoản phải thu: Thực hiện tốt công việc này sẽ giúp cho doanh nghiệp có thể kịp thời thay đổi các chính sách tín dụng thương mại phù hợp với tình 12 hình thực tế. Thông thường, để theo dõi các khoản phải thu, ta dùng các chỉ tiêu, phương pháp sau:  Thứ nhất, theo dõi kỳ thu tiền bình quân.  Thứ hai, sắp xếp “tuổi” của các khoản phải thu theo độ dài thời gian, qua đó các nhà quản lý doanh nghiệp theo dõi và có biện pháp thu hồi nợ khi đến hạn trả.  Thứ ba, xác định số dư khoản phải thu: bằng phương pháp này, doanh nghiệp có thể thấy được nợ tồn đọng của khách hàng nợ doanh nghiệp. Cùng với các biện pháp theo dõi và quản lý khác, doanh nghiệp có thể thấy được ảnh hưởng của chính sách tín dụng thương mại và có những điều chỉnh kịp thời, hợp lý, phù hợp với từng đối tượng khách hàng, từng khoản mục cụ thể. Như vậy, nếu quản lý tốt các khoản phải thu sẽ giúp doanh nghiệp góp phần nhanh chóng thu hồi doanh thu về bằng tiền để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của chu kỳ kế tiếp, làm giảm thời gian bị ứ đọng vốn, góp phần giảm chi phí sản xuất và tăng doanh thu, làm tăng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn. Ngược lại, nếu quản lý không tốt các khoản phải thu làm khả năng thanh toán trong doanh nghiệp giảm xuống, dẫn tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn thấp. (3) Chính sách quản lý hàng tồn kho: Đối với các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh thì dự trữ là yếu tố quan trọng quyết định việc doanh nghiệp có sản xuất được ổn định hay không. Do vậy việc quản lý tồn kho dự trữ đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn. Khi doanh nghiệp tiến hành dự trữ hàng hóa sẽ kéo theo hàng loạt các chi phí như chi phí bốc xếp hàng hóa, chi phí bảo quản, chi phí đặt hàng, chi phí bảo hiểm…Ta có bốn loại chi phí chính sau: Chi phí tồn trữ: Những chi phí liên quan đến việc tồn trữ hàng hóa và có thể được chia thành 2 loại là chi phí hoạt động và chi phí tài chính: Chi phí hoạt động: bao gồm chi phí bốc xếp hàng hóa, chi phí bảo hiểm hàng hóa, chi phí do giảm giá trị hàng hóa, chi phí hao hụt mất mát, chi phí bảo quản… Chi phí tài chính: bao gồm chi phí sử dụng vốn, trả tiền lãi vay cho nguồn kinh phí vay mượn để mua hàng dự trữ, chi phí về thuế, khấu hao… Chi phí đặt hàng: Bao gồm chi phí quản lý, giao dịch và vận chuyển hàng hóa. Chi phí đặt hàng cho mỗi lần đặt hàng thường rất ổn định, không phụ thuộc vào số lượng hàng cần mua. Trong nhiều trường hợp, chi phí đặt hàng thường tỷ lệ thuận với số lần đặt hàng trong năm. 13 Thang Long University Library Chi phí cơ hội: Nếu một doanh nghiệp không thực hiện được đơn đặt hàng khi có nhu cầu, sẽ ảnh hưởng đến quá trình sản xuất và có thể không kịp thời hạn giao hàng cho khách hàng. Sự thiệt hại do để lỡ cơ hội này được gọi là chi phí cơ hội. Chi phí khác: Các chi phí khác thuộc quản lý hàng tồn kho bao gồm chi phí thành lập kho (chi phí lắp đặt thiết bị kho và các chi phí hoạt động), chi phí trả lương làm thêm giờ,… Mô hình quản lý hàng tồn kho hiệu quả - Mô hình EOQ Mô hình EOQ (Economic Odering Quantity) là một mô hình quản trị tồn kho mang tính định lượng, có thể sử dụng mô hình để tìm mức tồn kho tối ưu cho doanh nghiệp. Tuy nhiên khi sử dụng mô hình EOQ doanh nghiệp cần phải tuân theo một số quy tắc sau:  Nhu cầu trong một năm được biết trước và ổn định  Thời gian chờ hàng không thay đổi và phải được biết trước  Sự thiếu hụt dữ trữ hoàn toàn không xảy ra nếu đơn hàng được thực hiện  Toàn bộ số hàng đặt mua được về cùng một lúc  Không có chiết khấu theo số lượng Mục tiêu chính của mô hình là dùng để tối thiểu hóa chi phí đặt hàng và chi phí bảo quản hàng tồn kho trong doanh nghiệp. Ta có thể miêu tả mối quan hệ của hai loại chi phí trên bằng mô hinh. Hình 1.2. Mô hình EOQ Như vậy theo lý thuyết về mô hình đặt hàng hiệu quả thì mức dự trữ tối ưu là: Q= 2.D.C 2 C1 Trong đó:  Q: Mức dự trữ tối ưu  D: Tổng nhu cầu số lượng một loại sản phẩm cho một khoảng thời gian nhất định. 14  C2: Chi phí mỗi lần đặt hàng (chi phí giao dịch vận chuyển hàng hoá).  C1: Chi phí lưu kho đơn vị hàng hoá (chi phí bốc xếp, bảo hiểm,…). (Nguồn: PGS.TS.Lưu Thị Hương, Giáo trình Tài chính doanh nghiệp, NXB Đại học Kinh Tế Quốc Dân, năm 2011) Qua công thức trên ta thấy được Mức dự trữ tối ưu tỷ lệ thuận với nhu cầu và chi phí đặt hàng, tỷ lệ nghịch với chi phí bảo quản. Trong mô hình EOQ, việc phân tích dựa trên những giả định. Tuy nhiên, trong thực tế hầu hết các vấn đề phát sinh trong quản lý hàng tồn kho là những giả định này lúc nào cũng diễn ra đúng như vậy. Thường thì nhu cầu hàng tồn kho biến động theo mùa vụ hay biến động có tính chất chu kỳ hoặc biến động bởi những ảnh hưởng ngẫu nhiên và những dự báo không chính xác mức cầu hàng tồn kho trong tương lai. Với những tác động như vậy, khả năng thiếu hụt hàng tồn kho là hoàn toàn có thể xảy ra. Để khắc phục sự thiệt hại trong những trường hợp như vậy, hầu hết các doanh nghiệp sử dụng cách thức bổ sung một lượng hàng tồn kho an toàn để sẵn sàng đáp ứng trước những biến động bất thường đó. Hệ thống quản lý hàng tồn kho đúng lúc là một phần của quá trình quản lý sản xuất nhằm mục đích giảm thiểu chi phí hoạt động và thời gian sản xuất bằng cách loại bỏ bớt những công đoạn kém hiệu quả gây lãng phí. Hệ thống cung ứng đúng thời điểm được dựa trên những ý tưởng cho rằng tất cả các mặt hàng cần thiết có thể được cung cấp trực tiếp cho các giai đoạn hoạt động sản xuất kinh doanh một cách chính xác cả về thời điểm giao hàng lẫn số lượng hàng được giao thay vì phải dự trữ thông qua tồn kho. Mô hình tồn kho bằng 0 tỏ ra có hiệu quả nhất đối với những doanh nghiệp có hoạt động sản xuất mang tính lặp đi lặp lại. Một phần quan trọng của phương pháp cung cấp đúng thời điểm là thay thế việc sản xuất từng lô hàng với một số lượng lớn sản phẩm bằng cách sản xuất theo một dòng liên tục các sản phẩm được sản xuất ra với số lượng nhỏ. Việc sử dụng phương pháp này đòi hỏi một sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà sản xuất và nhà cung cấp, bởi vì bất kỳ một sự gián đoạn nào trong quá trình cung ứng cũng có thể gây tổn thất cho nhà sản xuất vì phải gánh chịu các chi phí phát sinh do ngừng sản xuất hay mất doanh số bán hàng. Xác định thời điểm đặt hàng mới: Về mặt lý thuyết doanh nghiệp chỉ đặt hàng mới khi đã sử dụng hết số hàng cũ từ kỳ trước nhưng thực tế thì không phải như vậy. Sẽ xảy ra rủi ro nếu khi số hàng mới chưa kịp về kho mà số hàng cũ của doanh nghiệp đã hoàn toàn cạn kiệt, điều đó gây ảnh hưởng đến tình hình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. 15 Thang Long University Library Xác định thời điểm đặt hàng mới: Về mặt lý thuyết doanh nghiệp chỉ đặt hàng mới khi đã sử dụng hết số hàng cũ từ kỳ trước nhưng thực tế thì không phải như vậy. Sẽ xảy ra rủi ro khi số hàng mới chưa kịp về kho mà số hàng cũ của doanh nghiệp đã hoàn toàn cạn kiệt, điều đó gây ảnh hưởng đến tình hình kinh doanh của doanh nghiệp. Do vậy, các doanh nghiệp thường xác định thời điểm đặt hàng mới theo công thức: Thời điểm đặt hàng mới = Số lượng nguyên liệu sử dụng mỗi ngày + Độ dài thời gian giao hàng 1.2.3.3. Phân tích các chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một phạm trù rộng, bao hàm nhiều mặt tác động khác nhau. Vì vậy, khi phân tích các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn ta cần xem xét trên nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau. (1) Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn: Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn = Tài sản ngắn hạn Tổng số nợ ngắn hạn Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn được dùng để đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn đến hạn trả. Hệ số này cho biết bình quân một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn. Nợ ngắn hạn là những khoản nợ mà doanh nghiệp phải thanh toán trong vòng một năm hay một chu kỳ kinh doanh. Khả năng thanh toán ngắn hạn thể hiện mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro, nếu hệ số này đạt trị số cao, nếu lớn hơn hoặc bằng 1, thể hiện doanh nghiệp sau một chu kỳ kinh doanh đã thu được mức lợi nhuận tương đối và đủ để bù đắp những rủi ro như nợ xấu, nợ khó đòi và lượng hàng hóa, thành phẩm tồn trong kho, từ đó làm tăng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn. Ngược lại, nếu hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn thấp và nhỏ hơn 1, cho thấy tổng số nợ ngắn hạn cao hơn tài sản ngắn hạn, dẫn tới rủi ro cho doanh nghiệp tăng lên trong các chu kỳ kinh doanh tiếp theo. Khả năng thanh toán nhanh: Hệ số thanh toán nhanh Tài sản ngắn hạn – hàng tồn kho = Tổng số nợ ngắn hạn Hệ số này cho ta biết bình quân một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn nhưng không bao gồm hàng tồn kho. Chính ví lý do đó mà hàng tồn kho không được tính vào hệ số này bởi hàng tồn kho của doanh nghiệp ít 16 nhất phải qua quá trình tiêu thụ mới có thể chuyển thành tiền, chưa nói là không tiêu thụ được, hàng ứ đọng, vì vậy tính thanh khoản của nó thấp. Hệ số khả năng thanh toán nhanh có trị số cao, thường lớn hơn hoặc bằng 1, cho thấy doanh nghiệp hoàn toàn có khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn mà không nhất thiết phải bán lượng hàng tồn kho, cho thấy doanh nghiệp đang dự trữ tiền mặt, các khoản tương đương tiền, các khoản đầu tư ngắn hạn lớn, có khả năng bù đắp rủi ro từ nguồn nợ phát sinh, từ đó làm tăng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn. Khi trị số của chỉ tiêu này < 1, doanh nghiệp không đảm bảo khả năng thanh toán nhanh, cho thấy tài sản ngắn hạn cho khả năng sinh lời thấp, thu nhập giảm, rủi ro đang tồn tại trong doanh nghiệp lớn hơn lợi nhuận thu về từ việc tiêu thụ sản phẩm, cho thấy việc sử dụng tài sản ngắn hạn là không tốt. Khả năng thanh toán tức thời: Hệ số thanh toán tức thời Tiền và các khoản tương đương tiền = Tổng số nợ ngắn hạn Hệ số này cho biết, với lượng tiền và tương đương tiền hiện có, doanh nghiệp có đủ khả năng trang trải cho các khoản nợ ngắn hạn đến hạn hay không. Trong đó các khoản tương đương tiền bao gồm các khoản đầu tư ngắn hạn có thời gian thu hồi hoặc đáo hạn không quá 3 tháng, dễ dàng chuyển đổi thành một lượng tiền xác định mà không có rủi ro khi chuyển đổi thành tiền kể từ ngày mua khoản đầu tư đó tại thời điểm báo cáo như kỳ phiếu ngân hàng, tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi,... Tiền và các khoản tương đương tiền là một khoản mục không thể thiếu trong cơ cấu tài sản ngắn hạn, nếu trị số của “tiền và các khoản tương đương tiền” cao, cho thấy lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh là lớn và có thể bù đắp những phần nợ rủi ro của doanh nghiệp, chứng tỏ doanh nghiệp đang sử dụng tài sản ngắn hạn hiệu quả và nên tiếp tục sử dụng. Ngược lại, nếu tiền và các khoản tương đương tiền nhỏ hơn tổng nợ ngắn hạn, cho thấy rủi ro trong doanh nghiệp cao hơn lợi nhuận thu về sau một chu kỳ sản xuất kinh doanh, cho thấy doanh nghiệp đang sử dụng không tốt nguồn tài sản ngắn hạn. Khi trị số của chỉ tiêu này > 1, doanh nghiệp bảo đảm và thừa khả năng thanh toán tức thời, thể hiện doanh nghiệp đang sử dụng tài sản ngắn hạn tốt và hợp lý. Ngược lại, khi trị số của chỉ tiêu này < 1, doanh nghiệp không đảm bảo khả năng thanh toán tức thời. Trong thời gian 3 tháng, trị số của chỉ tiêu khả năng thanh toán tức thời có giá trị cảnh báo cao, nếu doanh nghiệp không đảm bảo đủ khả năng thanh toán tức thời, nhà quản trị sẽ phải áp dụng ngay các biện pháp tài chính khẩn cấp để tránh cho doanh nghiệp không bị lâm vào tình trạng phá sản. 17 Thang Long University Library (2) Các chỉ tiêu phản ánh khả năng hoạt động Là các hệ số đo lường khả năng hoạt động của doanh nghiệp. Để nâng cao hệ số hoạt động, các nhà quản trị phải biết những tài sản nào chưa sử dụng, không sử dụng hoặc không tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp. Vì thế doanh nghiệp cần phải biết cách sử dụng chúng sao cho có hiệu quả hoặc loại bỏ khi không cần thiết. Hệ số hoạt động còn được gọi là hệ số luân chuyển. Do đó, khi phân tích các chỉ tiêu hoạt động thì thường sử dụng các chỉ tiêu sau: Tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn Vòng quay tài sản ngắn hạn trong kỳ Doanh thu thuần = Tài sản ngắn hạn bình quân Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích các tài sản ngắn hạn quay được bao nhiêu vòng, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là tốt. Hoặc cho biết 1 đồng giá trị tài sản ngắn hạn đầu tư trong kỳ thu được bao nhiêu đồng doanh thu thuần, chỉ tiêu này thể hiện sự vận động của tài sản ngắn hạn trong kỳ, chỉ tiêu càng cao chứng tỏ tài sản ngắn hạn vận động nhanh, thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn càng lớn. Trong đó: Tài sản ngắn hạn bình quân TSNH đầu kỳ + TSNH cuối kỳ = 2 Vòng quay tài sản ngắn hạn là chỉ tiêu phản ánh số lần quay vòng của tài sản ngắn hạn trong một chu kỳ nhất định. Nói cách khác chỉ tiêu này cho chúng ta thấy được bình quân một đồng tài sản ngắn hạn tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Nếu chỉ số này cao chứng tỏ doanh nghiệp đã có những đầu tư hợp lý vào hàng hóa, thành phẩm, tốc độ thu hồi nợ nhanh,… cho thấy khả năng sử dụng tài sản ngắn hạn tại doanh nghiệp đang vận hành tốt và hợp lý. Ngược lại nếu chỉ số này thấp chứng tỏ doanh nghiệp chưa có những chính sách hợp lý để sử dụng tài sản ngắn hạn như chính sách hàng tồn kho chưa hợp lý, tồn quỹ tiền mặt nhiều, nợ phải thu lớn…. thể hiện khả năng sử dụng tài sản ngắn hạn tại doanh nghiệp kém và còn nhiều sai sót. Thời gian luân chuyển TSNH 365 = Vòng quay tài sản ngắn hạn trong kỳ Chỉ tiêu này cho biết mỗi vòng quay của tài sản ngắn hạn hết bao nhiêu ngày. Chỉ tiêu này càng thấp, chứng tỏ các tài sản ngắn hạn vận động nhanh, góp phần nâng cao doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp, đồng thời cho thấy doanh nghiệp đang sử dụng tài sản ngắn hạn hiệu quả và hợp lý. Ngược lại, nếu thời gian luân chuyển tài 18 sản ngắn hạn cao qua các năm thì cho thấy tài sản ngắn hạn đang được sử dụng không hiệu quả. Hệ số đảm nhiệm tài sản ngắn hạn (hay còn gọi là hàm lƣợng TSNH) TSNH bình quân trong kỳ Hệ số đảm nhiệm TSNH = Doanh thu thuần Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp muốn có 1 đồng doanh thu thuần thì cần bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn đầu tư, chỉ tiêu này càng thấp thì hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn càng cao và hợp lý. Thông qua chỉ tiêu này các nhà quản trị có thể xây dựng kế hoạch về đầu tư tài sản ngắn hạn một cách hợp lý và góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn và mang lại lợi nhuận qua quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tốc độ luân chuyển hàng tồn kho Doanh thu thuần Vòng quay hàng tồn kho = Hàng tồn kho bình quân Trong đó hàng tồn kho bình quân là trung bình của vật tư hàng hóa dự trữ đầu kỳ và cuối kỳ. Chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho của doanh nghiệp hiệu quả như thế nào. Nếu chỉ số này càng lớn cho thấy tốc độ quay vòng hàng hóa trong kho là nhanh, hiệu quả sử dụng hàng tồn kho của doanh nghiệp là cao, từ đó giúp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn thông qua việc tiêu thụ hàng tồn kho. Ngược lại nếu chỉ số này thấp chứng tỏ rằng doanh nghiệp đang đầu tư quá nhiều vào hàng tồn kho hoặc hàng tồn kho khó có khả năng luân chuyển, mang lại nhiều rủi ro cho doanh nghiệp và cũng thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn thấp. Trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì hàng tồn kho thường chiếm tỷ trọng cao trong tổng tài sản ngắn hạn, do vậy hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn bị ảnh hưởng đáng kể của hiệu quả sử dụng hàng tồn kho. Số ngày một vòng quay hàng tồn kho Số ngày một vòng quay hàng tồn kho 365 = Số vòng quay hàng tồn kho Số ngày một vòng quay hàng tồn kho cho biết một vòng quay của hàng tồn kho hết mất bao nhiêu ngày. Nếu chỉ số này càng nhỏ chứng tỏ vòng quay của hàng tồn kho càng nhanh, góp phần tăng doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp. Việc tăng tốc độ luân chuyển hàng tồn kho cũng đồng nghĩa với việc rút ngắn thời gian dự trữ thành phẩm ở các khâu sản xuất khác, điều này giúp cho doanh nghiệp giảm đi được một số chi phí bảo quản, giảm được giá thành sản phẩm giúp doanh nghiệp dễ dàng 19 Thang Long University Library cạnh tranh trên thị trường. Đồng thời, số ngày một vòng quay hàng tồn kho nhỏ còn thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp cao và ngược lại, nếu số vòng quay hàng tồn kho lớn cho thấy hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp thấp. Vòng quay các khoản phải thu Doanh thu thuần Vòng quay các khoản = phải thu Các khoản phải thu bình quân Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích báo cáo các khoản phải thu quay được bao nhiêu vòng, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp thu hồi tiền hàng kịp thời, ít bị chiếm dụng vốn, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn. Tuy nhiên nếu chỉ tiêu này quá cao có thể phương thức thanh toán tiền của doanh nghiệp quá chặt chẽ, khi đó sẽ ảnh hưởng đến sản lượng hàng hóa tiêu thụ, từ đó sẽ làm giảm thu nhập và làm giảm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn. Kỳ thu tiền bình quân Kỳ thu tiền bình quân 365 = Vòng quay các khoản phải thu Chỉ số này thể hiện trung bình bao nhiêu ngày thì doanh nghiệp thu hồi tiền một lần. Như vậy nếu kỳ thu tiền bình quân của doanh nghiệp càng nhỏ thì tốc độ thu hồi nợ của doanh nghiệp càng cao và ngược lại. Tuy nhiên cũng giống như chỉ tiêu vòng quay các khoản phải thu, khi chỉ tiêu này quá nhỏ cũng đồng nghĩa chính sách của doanh nghiệp đang quá khắt khe làm giảm số lượng khách hàng của doanh nghiệp. Thời gian thu tiền trung bình càng ngắn chứng tỏ tốc độ thu hồi tiền hàng càng nhanh, doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn, hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tăng. Ngược lại thời gian thu tiền càng dài, chứng tỏ tốc độ thu hồi tiền càng chậm, số vốn doanh nghiệp bị chiếm dụng nhiều, hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn giảm. Tuy nhiên kỳ thu tiền bình quân cao hay thấp trong nhiều trường hợp chưa thể kết luận chắc chắn mà còn phải xem xét lại mục tiêu và chính sách của doanh nghiệp như mục tiêu mở rộng thị trường, chính sách tín dụng của doanh nghiệp. (3) Các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời Hệ số sinh lời của tài sản ngắn hạn Hệ số sinh lời của TSNH = Lợi nhuận sau thuế TSNH bình quân trong kỳ Chỉ tiêu này cho chúng ta biết được trung bình một đồng tài sản ngắn hạn có thể tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế trong một kỳ kinh doanh của doanh 20
- Xem thêm -