Tài liệu Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty cổ phần ô tô asc

  • Số trang: 86 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 98 |
  • Lượt tải: 0
thuvientrithuc1102

Đã đăng 15893 tài liệu

Mô tả:

CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TRONG DOANH NGHIỆP 1.1. Tổng quan về tài sản của doanh nghiệp 1.1.1.Khái niệm về tài sản của doanh nghiệp Tài sản của doanh nghiệp là tất cả các nguồn lực thực có của doanh nghiệp kiểm soát nắm giữ và có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó. Tài sản trong doanh nghiệp được biểu hiện dưới các hình thái vật chất như nhà xưởng, máy móc, thiết bị,vật tư hàng hóa ,tiền, giấy tờ có giá hoặc không biểu hiện dưới các hình thái vật chất như bản quyền, bằng sáng chế… 1.1.2. Phân loại tài sản trong doanh nghiệp Trong quá trình sản xuất kinh doanh, mỗi doanh nghiệp đều có một phương thức và hình thức kinh doanh khác nhau. Nhưng mục tiêu của họ vẫn là tạo ra được lợi nhuận cho mình. Nhưng điều đó chỉ đạt được khi tài sản của doanh nghiệp được quản lý và sử dụng một cách hợp lý. Tài sản của doanh nghiệp được phân tổ theo các dạng khác nhau. 1.1.2.1.Tài sản phân chia theo hình thái biểu hiện T i sản hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất do chủ tài sản nắm giữ để sử dụng phục vụ các mục đích của mình; nó bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn.  Tài sản ngắn hạn: Là những tài sản có giá trị thấp, thời gian sử dụng ngắn trong vòng 12 tháng hoặc 1 chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp và thường xuyên thay đổi hình thái giá trị trong quá trình sử dụng. + + +  Được dự tính để bán hoặc sử dụng trong khuôn khổ của chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp. Được nắm giữ chủ yếu cho mục đích thương mại hoặc cho mục đích ngắn hạn Là tiền hoặc tài sản tương đương mà việc sử dụng không gặp một hạn chế nào. Tài sản dài hạn: Là những tài sản của đơn vị có thời gian sử dụng, luân chuyển và thu hồi dài (hơn 12 tháng hoặc trong nhiều chu kỳ kinh doanh) và ít khi thay đổi hình thái giá trị trong quá trình kinh doanh, bao gồm: tài sản cố định, tài sản đầu tư tài chính dài hạn và tài sản dài hạn khác. 1 Thang Long University Library T i sản vô hình là tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị do chủ tài sản nắm giữ để sử dụng phục vụ mục đích của mình; nó bao gồm: kỹ năng quản lý, bí quyết marketing, danh tiếng, uy tín, tên hiệu, biểu tượng doanh nghiệp và việc sở hữu các quyền và công cụ hợp pháp (quyền sử dụng đất, quyền sáng chế, bản quyền, quyền kinh doanh hay các hợp đồng). 1.2.2.2.Tài sản chia theo hình thức chu chuyển Tài sản lưu động: Là những tài sản tham gia một lần vào quy trình sản xuất và chuyển hóa hoàn toàn hình thái vật chất của nó vào sản phẩm hoặc những tài sản được mua, bán hoặc có chu kỳ sử dụng từ 01 năm trở xuống. Ví dụ: nguyên, nhiên, vật liệu, các khỏan nợ ngắn hạn, các khỏan đầu tư ngắn hạn của doanh nghiệp.. Tài sản cố định: Là những tài sản có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài (>1năm), tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh, trong quá trình sử dụng bị hao mòn dần.Tài sản cố định phải bao gồm các điều kiện sau: + Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó. + Thời gian sử dụng ước tính trên 1 năm. + Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định (từ 30 triệu đồng trở lên). + Nguyên giá của tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy. + Trong đó, phân loại tài sản cố định theo hình thái biểu hiện thì có 2 loại đó là: TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình. - TSCĐ hữu hình: Là những tài sản có hình thái vật chất cụ thể do doanh nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận tài sản cố định do Bộ Tài chính quy định. Đó là loại tài sản tham gia nhiều lần vào quy trình sản xuất chuyển một phần giá trị vào sản phẩm và vẫn giữ nguyên hình thái vật chất của nó bao gồm: + Nhà cửa, vật kiến trúc gồm: trụ sở làm việc, nhà kho, hàng rào, tháp nước, sân bãi, các công trình trang trí cho nhà cửa, đường xá, cầu cống, đường sắt, cầu tàu, bến cảng... + Máy móc, thiết bị gồm: máy móc chuyên dùng, thiết bị công tác, dây chuyền công nghệ, những máy móc đơn lẻ... + Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn gồm: phương tiện vận tải đường sắt, đường thủy, đường bộ, đường không, đường sông và hệ thống thông tin, hệ thống điện, đường ống nước, băng tải... + Thiết bị dụng cụ quản lý gồm: máy vi tính phục vụ quản lý, thiết bị điện tử, thiết bị, dụng cụ đo lường, kiểm tra chất lượng máy hút ẩm, hút bụi, chống mối mọt. + Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc và sản phẩm, gồm: vườn cà phê, vườn chè, vườn cao su, vườn cây ăn cỏ, thảm cỏ, thảm cây xanh, đàn voi, đàn ngựa, đàn trâu, đàn bò. 2 Các loại tài sản cố định khác là toàn bộ các loại tài sản chưa liệt kê vào các loại trên như: tranh ảnh, tác phẩm nghệ thuật. - TSCĐ vô hình: Là những tài sản không có hình thái vật chất cụ thể nhưng xác định được giá trị của nó và do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận tài sản cố định vô hình do Bộ Tài chính quy định; tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh như một số chi phí liên quan trực tiếp đến đất sử dụng, chi phí về quyền phát hành, bằng phát minh, bằng sáng chế, bản quyền tác giả, nhãn hiệu thương mại. + 1.2. Những vấn đề cơ bản về tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp 1.2.1. Khái niệm, đặc điểm của tài sản ngắn hạn 1.2.1.1. Khái niệm về tài sản ngắn hạn Quá trình sản xuất của doanh nghiệp luôn gắn liền với quá trình lưu thông. Mà mỗi chu kỳ hoạt động của tài sản ngắn hạn là một chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, tài sản ngắn hạn phản ánh quy mô sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Để hình thành nên tài sản ngắn hạn doanh nghiệp cần phải có một số vốn tương ứng để đầu tư, số tiền ứng trước về những tài sản ấy cũng được gọi là tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp. Tài sản ngắn hạn là những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp mà thời gian sử dụng, luân chuyển và thu hồi vốn thường là dưới một năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh. Tài sản ngắn hạn là những tài sản thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh.Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, tài sản ngắn hạn được thể hiện ở các bộ phận tiền mặt và các khoản tương đương tiền, các giấy tờ có giá ngắn hạn, khoản phải thu, dự trữ tồn kho và một số tài sản ngắn hạn khác. Giá trị của tài sản ngắn hạn thường chiếm tỉ trọng lớn trong tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp. Do vậy, việc quản lý và sử dụng hợp lý các loại TSNH có ảnh hưởng rất quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chung của doanh nghiệp. 1.2.1.2. Đặc điểm tài sản ngắn hạn Tài sản ngắn hạn rất quan trọng trong doanh nghiệp bởi đó là những tài sản được sử dụng trong cho hoạt động hàng ngày và chi trả cho các chi phí phát sinh. Đồng thời, nó phản ánh sức mạnh tài chính của doanh nghiệp. 3 Thang Long University Library Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh: dự trữ - sản xuất - lưu thông quá trình này gọi là quá trình tuần hoàn và chu chuyển của tài sản ngắn hạn. Tài sản ngắn hạn có thời gian luân chuyển ngắn, có tính thanh khoản cao. Tài sản ngắn hạn tham gia vào mọi quá trình kinh doanh của doanh nghiệp thương mại. Nó vận động theo một vòng tuần hoàn, từ hình thái này sang hình thái khác rồi trở về hình thái ban đầu với một giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Nó được phân tán ở nhiều dạng khác nhau, dễ dàng chuyển hoá từ dạng vật chất sang tiền tệ và ngược lại. Do vậy, doanh nghiệp thương mại muốn nâng cao chất lượng phục vụ, cung cấp hàng hóa kịp thời, đồng bộ, đúng quy cách, chất lượng thì phải nâng cao trình độ quản lý tài sản ngắn hạn. Tuy nhiên, quản lý tài sản ngắn hạn là vấn đề rất phức tạp. 1.2.2. Phân loại tài sản ngắn hạn 1.2.2.1. Phân loại theo quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn Theo cách phân loại này, tài sản ngắn hạn được chia thành: Tài sản ngắn hạn dự trữ là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong khâu dự trữ của doanh nghiệp mà không tính đến hình thái biểu hiện của chúng, bao gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, hàng mua đang đi trên đường, nguyên nhiên vật liệu tồn kho, công cụ dụng cụ trong kho, hàng gửi đi gia công, khoản trả trước cho người bán. Tài sản ngắn hạn sản xuất là những vật tư dự trữ để chuẩn bị cho quá trình sản xuất được liên tục, vật tư đang nằm trong quá trình sản xuất chế biến và những tư liệu lao động không đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định. Thuộc về TSNH sản xuất gồm: Nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, sản phẩm dở dang, công cụ lao động nhỏ, … Tài sản ngắn lưu hạn thông là toàn bộ các sản phẩm hàng hoá chưa tiêu thụ, vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán của doanh nghiệp, bao gồm thành phẩm tồn kho, hàng gửi đi bán, các khoản phải thu của khách hàng. Cách phân loại này giúp nhà quản lí doanh nghiệp xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình luân chuyển của TSNH để đưa ra biện pháp quản lí phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng chúng. 1.2.2.2. Phân loại theo các khoản mục trên bảng cân đối kế toán Theo cách phân loại này tài sản ngắn hạn được chia thành: Tiền và các khoản tương đương tiền gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển,và vàng, bạc,các loại đá quý… Đây là những tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có tính thanh khoản cao nhất.Là những tài sản đặc biệt của doanh nghiệp, nó 4 được sử dụng vào mục đích để dự trữ và đảm bảo các khoản thanh toán nhanh cho doanh nghiệp. Các khoản đầu tư ngắn hạn gồm các tài sản tài chính ngắn hạn có khả năng chuyển đổi cao, tức là dễ bán, dễ chuyển đổi thành tiền khi cần thiết như: tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu, hối phiếu ngân hàng, thương phiếu… Đây là những giấy tờ có giá ngắn hạn mà doanh nghiệp đang nắm giữ. Các tài sản này giúp doanh nghiệp có thể đa dạng hóa các khoản mục đầu tư và giảm thiểu lượng tiền nhàn rỗi. Các khoản phải thu gồm nhiều khoản mục khác nhau tuỳ theo tính chất của quan hệ mua bán ,quan hệ hợp đồng.Trong nền kinh tế thị trường việc mua bán chịu với nhau diễn ra một cách thường xuyên.Các doanh nghiệp bán hàng nhưng có thể lại không nhận được tiền hàng ngay, mà lại được nhận vào một thời điểm xác định trong tương lai mà hai bên có sự thỏa thuận trước. Do vậy nó đã hình thành nên các khoản phải thu của doanh nghiệp. Việc các doanh nghiêp cho nợ tiền hàng lẫn nhau như vậy đã hình thành nên tín dụng thương mại. Chính điều này đã giúp doanh nghiệp đứng vững trên thị trường và trở nên giàu có. Các khoản phải thu trong doanh nghiệp giữ một vai trò rất quan trọng trong doanh nghiệp đặc biệt là các Công ty kinh doanh thương mại, mua bán hàng hoá bởi lẽ nếu không được quản lí tốt thì nó rất dễ gây ra khó khăn trong vấn đề thanh toán, thậm chí dẫn đến phá sản. Hàng tồn kho là tất cả những nguồn lực dự trữ nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại hoặc tương lai. “Hàng tồn kho” trong khái niệm này không có nghĩa là hàng hoá bị ứ đọng, không bán được, mà thực chất bao hàm toàn bộ các hàng hoá vật liệu, nguyên liệu đang tồn tại ở các kho, quầy hàng hoặc trong xưởng. Nó gồm nhiều chủng loại khác nhau như: nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, vật liệu bổ trợ, nhiên liệu và các loại dầu mỡ, thành phẩm… Trong quá trình luân chuyển của TSNH để phục vụ sản xuất, kinh doanh thì việc tồn tại vật tư hàng hóa dự trữ, tồn kho lại là bước đệm cần thiết cho quá trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp. Hàng tồn kho gồm 3 loại: nguyên vật liệu thô, sản phẩm dở dang và thành phẩm. Những nguyên vật liệu dự trữ này tuy không trực tiếp tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp nhưng nó có vai trò quan trọng, nó đảm bảo cho quá trình sản xuất và tái sản xuất được diễn ra bình thường. Tuy nhiên nếu dự trữ quá nhiều sẽ gây ứ đọng vốn và tốn kém nhiều chi phí quản lí, bảo quản. Nếu dự trữ quá ít sẽ gây ra sự gián đoạn trong qua trình sản xuất. Vì thế doanh nghiệp phải tính toán mức độ dự trữ cho hợp lí, mức dự trữ này tùy thuộc vào tình hình thực tế của từng doanh nghiệp. Tài sản ngắn hạn khác ngoài những loại tài sản trên thì loại này bao gồm: tạm ứng, tiền đặt cọc, các khoản tiền cầm cố, kí quỹ, các chi phí chờ phân bổ… Những loại này thường có tỷ trọng rất nhỏ trong cơ cấu tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp. 5 Thang Long University Library 1.2.2.3. Phân loại theo hình thái biểu hiện Theo cách này tài sản ngắn hạn được chia thành: Tài sản lưu động là những tài sản chỉ tham gia vào 1 chu kỳ sản xuất kinh doanh. Loại này bao gồm tất cả các loại tài sản có hình thái vật chất nhất định như: nguyên nhiên vật liệu, hàng hóa, thành phẩm … Tài sản tài chính ngắn hạn là những giấy tờ có giá có thời gian đáo hạn dưới 1 năm. Loại này bao gồm những tài sản không có hình thái vật chất nhất định như: tín phiếu, kỳ phiếu, hối phiếu… 1.2.3.Vai trò của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Tài sản ngắn hạn được phân bố đủ trong tất cả các khâu, các công đoạn nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục, ổn định, tránh lãng phí và tổn thất vốn do ngừng sản xuất, không làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và đảm bảo khả năng sinh lời của tài sản. Tài sản ngắn hạn rất quan trọng trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bởi đó là những tài sản được sử dụng trong cho hoạt động hàng ngày và chi trả cho các chi phí phát sinh. Không chỉ cần TSCĐ như các loại máy móc, thiết bị, nhà xưởng...doanh nghiệp còn cần bỏ ra một lượng tiền nhất định để sử dụng vào mục đícfh mua sắm hàng hóa, nguyên vật liệu... phục vụ cho quá trình sản xuất. Có thể nói, TSNH là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp đi vào hoạt động kinh doanh. Hay có thể nói là điều kiện cần và đủ để cho một doanh nghiệp có thể đi vào quá trình sản xuất kinh doanh. TSNH còn quyết định đến quy mô hoạt động, là tiền đề cho sự tăng trưởng cũng như sự phát triển, giúp doanh nghiệp chớp thời cơ kinh doanh và tạo lợi thế cạnh tranh. Bản thân TSNH còn đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được diễn ra thường xuyên và liên tục. Nó còn là công cụ để phản ánh, kiểm tra, kiểm soát, đánh giá khách quan quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp... giúp doanh nghiệp nhận ra ưu nhược điểm cần khắc phục của bản thân mình, cũng như những điểm mạnh, hay điểm yếu trong vấn đề khả năng thanh toán, tiền vốn... giúp doanh nghiệp đưa ra những đề xuất khả quan, đúng đắn nhất. Trong rất nhiều yếu tố chủ yếu cấu thành nên giá thành, ta không thể nào không nhắc đến TSNH. Đó là do chính đặc điểm luân chuyển một lần vào toàn bộ giá trị sản phẩm. Giá trị của hàng hóa bán ra được tính toán trên cơ sở bù đắp được giá thành sản phẩm cộng thêm một phần lợi nhuận. Do vậy, TSNH đóng vai trò quyết định giá cả hàng hóa bán ra. 6 TSNH thường được so sánh với nợ ngắn hạn để xác định khả năng thanh toán ngắn hạn và TSNH ròng của doanh nghiệp từ đó hoạch định các chính sách tín dụng, chính sách đầu tư và quản lý các khoản nợ của doanh nghiệp. Nói chung, TSNH đóng vai trò khá quan trọng, quyết định đến tình hình hoạt động của doanh nghiệp. Việc khai thác sử dụng TSNH ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nếu như khai thác hợp lý sẽ đem lại hiệu quả và ngược lại. Do đó, trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh đòi hỏi doanh nghiệp cần định hướng quy mô, cơ cấu lượng TSNH phân bổ hợp lý, tránh tình trạng thiếu hụt hay dư thừa. Như vậy, TSNH sẽ phát huy hết tác dụng trong cơ cấu vốn kinh doanh. 1.3. Nội dung quản lý tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Tài sản ngắn hạn là những tài sản thường xuyên luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh. Quản lý và sử dụng hiệu quả TSNH có ảnh hưởng rất quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chung của doanh nghiệp. Do đó, để quản lý TSNH tốt việc đầu tiên cần phải đưa ra một chính sách quản lý TSNH phù hợp với doanh nghiệp. 1.3.1. Chính sách quản lý tiền mặt Tiền mặt được hiểu là tiền tồn quỹ, tiền trên tài khoản thanh toán của doanh nghiệp ở ngân hàng. Tiền mặt bản thân nó là tài sản không sinh lãi, tuy nhiên việc giữ tiền mặt trong kinh doanh rất quan trọng xuất phát từ những lý do sau. Đảm bảo giao dịch hàng ngày, bù đắp cho ngân hàng về việc ngân hàng cung cấp các dịch vụ cho doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu dự phòng trong trường hợp biến động không lường trước của các luồng tiềm vào và ra, hưởng lợi thế trong thương lượng mua hàng. Quản lý tiền mặt đề cập đến việc quản lý tiền giấy và tiền gửi ngân hàng. Sự quản lý này liên quan chặt chẽ đến việc quản lý các loại tài sản gắn liền với tiền mặt như các loại chứng khoán khả năng thanh khoản cao. Trong kinh doanh, doanh nghiệp phải lưu giữ tiền mặt cần thiết cho các hoá đơn thanh toán khi tiền mặt xuống thấp doanh nghiệp sẽ phải bổ sung tiền mặt bằng cách bán các chứng khoán thanh khoản cao. Chi phí cho việc lưu giữ tiền mặt ở đây chính là chi phí cơ hội; là lãi suất mà doanh nghiệp bị mất đi. Chi phí đặt hàng chính là chi phí cho việc bán các chứng khoán.  Mô hình Baumol Sử dụng mô hình Baumol để xác định lượng tiền mặt tối ưu cần dự trữ trong doanh nghiệp là bao nhiêu, thông qua việc xác định chi phí giao dịch và chi phí cơ hội cho việc giữ tiền. Với các giả định sau: + Nhu cầu về tiền trong doanh nghiệp là ổn định; + Không có dự trữ tiền mặt cho mục đích an toàn; 7 Thang Long University Library + Doanh nghiệp có hai hình thức dự trữ là tiền mặt và chứng khoán khả thị; + Không có rủi ro trong hoạt động đầu tư chứng khoán. Mô hình này xác định mức tiền mặt mà tại đó, tổng chi phí của việc giữ tiền là nhỏ nhất.Tổng chi phí bao gồm chi phí giao dịch và chi phí cơ hội. Chi phí giao dịch là chi phí liên quan đến việc chuyển đổi từ tài sản đầu tư thành tiền. Chi phí giao dịch (TrC): TrC = x F Trong đó: T: Tổng nhu cầu tiền về tiền trong năm C: Quy mô một lần bán chứng khoán F: Chi phí cố định của một lần bán chứng khoán Chi phí cơ hội là chi phí mất đi do giữ tiền mặt khiến cho tiền mặt không dùng để đầu tư sinh lời Chi phí cơ hội (OC): OC = x K Trong đó: C/2 : Mức dự trữ tiền mặt trung bình K : Lãi suất đầu tư chứng khoán Vậy, tổng chi phí (TC): TC = TrC + OC = x F + x K Tổng chi phí là một hàm của C. Để tổng chi phí là nhỏ nhất thì đạo hàm cấp một của TC phải bằng 0 và mức dự trữ tiền tối ưu là: C* = √ Trong đó: C* là mức dự trữ tối ưu. Vậy, tại mức C = C* ta được TCmin. Biểu đồ 1.1. Mức dự trữ tiền mặt Tiền mặt đầu kỳ (C) C/2 Tiền mặt cuối kỳ (0) 1 Bán CK 8 2 Thời gian Theo mô hình Baumol, khi vốn bằng tiền xuống thấp, doanh nghiệp bán chứng khoán để thu tiền về, từ đó doanh nghiệp phải mất chi phí giao dịch cho mỗi lần bán chứng khoán. Ngược lại, khi doanh nghiệp dự trữ vốn bằng tiền thì doanh nghiệp mất khoản tiền thu được do không đầu tư chứng khoán hay gửi tiết kiệm. Ngoài mô hình Baumol chúng ta có thể áp dụng mô hình Miller – Orr để xác định mức dự trữ tiền mặt tối ưu. - Mô hình quản lý tiền mặt EOQ Quản lý tiền mặt đề cập đến việc quản lý tiền tại quỹ và tiền gửi ngân hàng. Sự quản lý này liên quan chặt chẽ đến việc quản lý các loại tài sản gắn liền với tiền mặt như các loại chứng khoán có khả năng thanh khoản cao. Có một số điển giống nhau giữa mô hình quản lý tiền mặt và mô hình quản lý hàng tồn kho. Về hình thức tiền mặt cũng giống như hàng tồn kho vì cả hai đều là nguyên vật liệu dùng trong sản xuất. Giả sử doanh nghiệp đang lưu giữ một lượng tiền mặt cần thiết để thanh toán cho các hoá đơn , khi tiền mặt xuống thấp doanh nghiệp sẽ bổ sung bằng cách bán các chứng khoán. Chi phí tồn trữ chủ yếu trong trường hợp này chính là lãi suất mà doanh nghiệp đã mất đi. Các chi phí đặt hàng chính là chi phí hành chính quản trị cho mỗi lần bán chứng khoán. Khi dự trữ tiền mặt, doanh nghiệp sẽ đánh mất chi phí cơ hội, tức là lãi suất bị mất đi, chi phí này tương đương với chi phí tồn trữ hàng hóa trong quản lý hang tồn kho. Chi phí đặt hàng chính là chi phí cho việc bán các chứng khoán, khi đó áp dụng mô hình EOQ ta có lượng dự trữ tiền mặt tối ưu (M*) như sau: M* = 2 xM n xCb i Trong đó: M* : Lượng dự trữ tiền mặt tối ưu M n : Tổng mức tiền mặt giải ngân hàng năm Cb: Chi phí cho một lần bán chứng khoán thanh khoản i : Lãi suất. Mô hình quản lý tiền mặt này cho thấy nếu lãi suất càng cao thì doanh nghiệp sẽ nắm giữ số dư bình quân tiền mặt càng thấp và do đó làm cho doanh số bán chứng khoán sẽ nhỏ hơn nhưng với tần suất bán nhiều hơn (nghĩa là M* thấp hơn). Mặt khác, nếu giá phải trả cho mỗi lần bán chứng khoán cao thì doanh nghiệp nên nắm giữ một số lượng tiền mặt lớn hơn. Mô hình này cho còn thấy số dư tiền mặt không thực tiễn ở chỗ giả định rằng doanh nghiệp chi trả tiền mặt một cách ổn định.Điều này lại gần như là không hề đúng 9 Thang Long University Library trong thực tế.Trong hoạt động của các doanh nghiệp rất hiếm khi lượng tiền vào - ra của doanh nghiệp lại đều đặn và có thể dự kiến trước được. Mô hình quản lý tiền mặt giúp chúng ta hiểu được lý do tại sao mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ lưu giữ một số dư tiền mặt đáng kể trong quỹ. Trong khi đối với các Công ty lớn, các chi phí giao dịch mua bán chứng khoán lại trở nên quá nhỏ so với chi phí cơ hội đã mất đi do giữ một số lượng tiền mặt nhàn rỗi. - Mô hình quản lý tiền mặt Miller Orr Trong thực tế hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp rất hiếm khi mà lượng tiền vào - ra của doanh nghiệp lại đều đặn và dự kiến trước được. Từ đó tác động đến mức dự trữ tiền mặt cũng không thể đều đặn như những gì đã tính toán. Bằng việc nghiên cứu và phân tích thực tiễn, Miller Orr đã đưa ra mức dự trữ tiền mặt dự kiến dao động trong một khoảng xác định tức là lượng tiền dự trữ sẽ biến thiên từ cận thấp nhất đến giới hạn cao nhất. Nếu lượng tiền mặt nằm ở mức thấp thì doanh nghiệp phải tiến hành bán chứng khoán để có lượng tiền dự kiến, ngược lại tại giới hạn trên doanh nghiệp sử dụng số tiền vượt quá mức giới hạn mua chứng khoán và điều này sẽ đưa lượng tiền mặt về mức dự kiến. Khoảng dao động của lượng tiền mặt dự kiến phụ thuộc vào ba yếu tố cơ bản sau: - Mức dao động của thu chi ngân quỹ hàng ngày lớn hay nhỏ. Sự dao động này được thể hiện ở phương sai của thu chi ngân quỹ. Phương sai của thu chi ngân quỹ là tổng các bình phương (độ chênh lệch ) của thu chi ngân quỹ thực tế có xu hướng khác biệt nhiều hơn so với thu chi bình quân. Khi đó doanh nghiệp cũng sẽ quy định khoảng dao động tiền mặt cao. - Chi phí cố định của việc mua bán chứng khoán. Khi chi phí này lớn doanh nghiệp có xu hướng muốn giữ tiền mặt trong quỹ nhiều hơn và khi đó khoảng dao động của tiền mặt cũng lớn. - Lãi suất càng cao thì các doanh nghiệp sẽ càng giữ lại ít tiền hơn và do vậy khoảng dao động tiền mặt sẽ giảm xuống. Khoảng dao động tiền mặt được xác định bằng công thức sau: D = 3x 3 3xC b xVb 4 xi Trong đó: D : Khoảng cách của giới hạn trên và giới hạn dưới của lượng tiền mặt dự trữ. C b : Chi phí của mỗi lần giao dịch mua bán chứng khoán V b : Phương sai của thu chi ngân quỹ i : Lãi suất. 10 Hình 1.1. Đồ thị biểu diễn các mức biến động tiền mặt theo thời gian Mức tiền mặt theo thiết kế được xác định như sau: Mức tiền mặt theo Mức giới = + thiết kế hạn dưới Khoảng dao động tiền mặt 3 Đây là mô hình thực tế đã được rất nhiều doanh nghiệp áp dụng. Khi áp dụng mô hình này ta thấy, mức tiền mặt giới hạn dưới thường được lấy là mức tiền mặt tối thiểu và phương sai của tiền mặt thanh toán sẽ được xác định bằng cách dựa vào những số liệu thực tế của một quý kinh doanh trước đó để tính toán. 1.3.2 Chính sách quản lý hàng tồn kho Dự trữ, tồn kho là một bộ phận quan trọng của TSNH, là những bước đệm cần thiết cho quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp không thể tiến hành sản xuất đến đâu mua hàng đến đó mà cần phải có nguyên vật liệu dự trữ. Nguyên vật liệu dự trữ không trực tiếp tạo ra lợi nhuận nhưng nó có vai trò rất lớn để cho quá trình sản xuất kinh doanh tiến hành được bình thường. Quản lý vật liệu dự trữ hiệu quả sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH. Do vậy, doanh nghiệp tính toán dự trữ một lượng hợp lý vật liệu, nếu dự trữ quá lớn sẽ tốn kém chi phí, ứ đọng vốn, còn nếu dự trữ quá ít sẽ làm cho quá trình sản xuất kinh doanh bị gián đoạn gây ra hàng loạt các hậu quả như mất thị trường, giảm lợi nhuận của doanh nghiệp … Tại thời điểm khi doanh nghiệp được hưởng những lợi ích từ việc sử dụng hàng tồn kho thì các chi phí có liên quan cũng phát sinh tương ứng, bao gồm: chi phí đặt hàng, chi phí tồn chữ và chi phí thiệt hại do kho không có hàng. - Chi phí đặt hàng: Chi phí đặt hàng bao gồm chi phí quản lý giao dịch, chi phí vận chuyển và chi phí giao nhận hàng hóa. Chi phí đặt hàng được tính bằng đơn vị tiền tệ cho mỗi lần đặt hàng. Chi phí cho mỗi lần đặt hàng thường bao gồm các chi phí 11 Thang Long University Library cố định và chi phí biến đổi, bởi vì một phần tỷ lệ chi phí đặt hàng thường sẽ biến động theo số lượng hàng được mua. Tuy nhiên, trong mô hình quản lý hàng tồn kho đơn giản EOQ giả định rằng chi phí cho mỗi lần đặt hàng là cố định và hoàn toàn độc lập với số đơn vị hàng hóa được mua. - Chi phí tồn trữ: Chi phí tồn trữ bao gồm tất cả các chi phí lưu giữ hàng trong kho trong một khoảng thời gian xác định trước. Chi phí tồn trữ được tính bằng đơn vị tiền tệ trên mỗi đơn vị hàng lưu kho hoặc được xác định bằng lệ phần trăm trên giá trị hàng lưu kho trong một chu kỳ. Các chi phí tồn trữ bao gồm: chi phí lưu giữ, chi phí bảo hiểm, chi phí bảo quản, chi phí về thuế, chi phí đầu tư vào hàng tồn kho, chi phí hư hỏng hàng tồn kho và chi phí thiệt hại do hàng đang có trong kho bị lỗi thời… - Chi phí thiệt hại khi hàng tồn kho hết: Chi phí thiệt hại khi hàng tồn kho hết xảy ra bất cứ khi nào mà doanh nghiệp không có khả năng giao hàng bởi vì nhu cầu hàng lớn hơn số lượng hàng sẵn có trong kho. Để có thể hiểu hơn về những vấn đề trên, ta đi vào xem xét một số mô hình quản lý chính sách quản lý hàng tồn kho.Những mô hình này đưa ra những giả định khác nhau sẽ cho ta một cách nhìn toàn diện hơn về chính sách quản lý hàng tồn kho. - Mô hình quản lý hàng tồn kho hiệu quả - Mô hình EOQ Mô hình EOQ là một mô hình quản lý hàng tồn kho mang tính định lượng được sử dụng để xác định mức tồn kho tối ưu cho doanh nghiệp. Dựa trên cơ sở giữa chi phí lưu kho và chi phí đặt hàng có mối quan hệ tương quan tỷ lệ nghịch với nhau. Cụ thể, nếu số lượng sản phẩm cho mỗi lần đặt hàng tăng lên thì số lần đặt hàng trong kỳ sẽ giảm xuống và dẫn đến chi phí đặt hàng trong kì giảm trong khi chi phí tồn trữ hàng hóa lại tăng lên. Do đó mục đích của quản lý hàng tồn kho là cân bằng hai loại chi phí này: chi phí lưu kho và chi phí đặt hàng sao cho tổng chi phí tồn kho là thấp nhất. Trong điều kiện giá mua hàng ổn định, tổng chi phí tồn kho chỉ xét đến hai loại là chi phí đặt hàng và chi phí lưu kho. Ta có công thức sau: + Chi phí đặt hàng = Chi phí đặt hàng/lần x Số lần đặt hàng + Chi phí lưu kho = Chi phí lưu kho đơn vị x Số lượng hàng tồn kho bình quân. Gọi Q là lượng hàng tồn kho cho mỗi lần đặt hàng, khi hết hàng doanh nghiệp lại tiếp tục đặt mua Q đơn vị hàng mới. Tại thời điểm đầu kỳ, lượng hàng tồn kho là Q và ở thời điểm cuối kỳ là 0 nên số lượng tồn kho bình quân trong kỳ là: Q0 Q  2 2 Gọi C là chi phí tồn trữ cho mỗi đơn vị hàng tồn kho thì tổng chi phí tồn trữ hàng tồn kho trong kỳ là: Q xC 2 12 Sơ đồ 0.1. Biến động hàng tồn kho trong một chu kỳ, hàng tồn kho bình quân Mức tồn kho (1) Thời gian chờ hàng về Q/2 Điểm đặt hàng Thời điểm đặt hàng Thời điểm nhận hàng (1) Thời gian Thời gian dự trữ tối ưu Sơ đồ 1.2. Đƣờng biểu diễn mối quan hệ giữa chi phí tồn trữ v chi phí đặt hàng tổng chi phí theo các mức sản ƣợng tồn kho Tổng chi phí Tổng chi phí Chi phí lưu kho Chi phí đặt hàng O Q* (lượng đặt hàng tối ưu hay mức dự trữ kho tối ưu) Gọi S là hàng tiêu thụ trong kỳ nên số lần đặt hàng trong kỳ là Gọi T là tổng chi phí thì : T= Sản lượng S Q Q S xC  xO , ta có thể thấy được mối quan hệ qua sơ đồ 2 Q 1.1 Gọi Q* là lượng hàng tồn trữ tối ưu tức tại Q* là lượng hàng cho chi phí thấp nhất dẫn đến: Q* = 2SO C 13 Thang Long University Library Nếu gọi T* là thời gian dự trữ tối ưu được tính bằng cách lấy số lượng hàng tối ưu Q* chia cho nhu cầu sử dụng hàng tồn kho bình quân một ngày, tức S/365 ( giả định một năm có 365 ngày), đơn vị tính ngày. Ta có công thức sau: T* = sau: T* = Q* Công thức trên cũng có thể được viết lại như S / 365 365 xQ * S 1.3.3. Chính sách quản lý các khoản phải thu Trong nền kinh tế thị trường, để thắng lợi trong cạnh tranh các doanh nghiệp có thể áp dụng các chiến lược về sản phẩm, về quảng cáo, về giá cả …Trong đó chính sách tín dụng thương mại là một công cụ hữu hiệu và không thể thiếu đối với các doanh nghiệp tín dụng thương mại có thể làm cho doanh nghiệp đứng vững trên thị trường và trở nên giàu có, nhưng cũng có thể đem đến những rủi ro cho hoạt động của doanh nghiệp. Do đó, các doanh nghiệp cần phải đưa ra những phân tích về khả năng tín dụng của khách hàng và quyết định có nên cấp tín dụng thương mại cho đối tượng khách hàng đó hay không. Đây là nội dung chính của quản lý các khoản phải thu.  Chính sách tín dụng thƣong mại Trong quá trình cạnh tranh của mình, các doanh nghiệp có thể sử dụng các chiến lược về sản phẩm, quảng cáo, giá cả, giao hàng và các dịch vụ hậu mãi … để cạnh tranh với các đối thủ khác.Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường việc mua bán chịu hàng hoá, dịch vụ là việc bình thường, tín dụng thương mại có thể đem đến cho doanh nghiệp nhiều lợi thế nhưng cũng có thể đưa đến cho doanh nghiệp nhiều rủi ro trong kinh doanh. Chính sách tín dụng thương mại có những tác động cơ bản sau: + Do thực hiện chính sách bán chịu nên khách hàng mua nhiều hàng hoá hơn, do đó làm tăng doanh thu và giảm chi phí tồn kho. + Tín dụng thương mại làm tăng lượng hàng hoá sản xuất ra, do đó góp phần làm tăng hiệu quả sử dụng tài sản. + Khi cấp tín dụng thương mại cho khách hàng có thể làm tăng thêm chi phí đòi nợ, chi phí trả cho nguồn tài trợ để bù đắp cho thiếu hụt ngân quỹ. + Nếu thời hạn cấp tín dụng cho khách hàng càng dài thì rủi ro cho doanh nghiệp càng cao và làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp bị giảm. Với những tác động trên ,buộc các nhà quản lý doanh nghiệp phải so sánh hiệu quả thu nhập và chi phí tăng thêm để xem xét kỹ lưỡng hơn có nên áp dụng chính sách tín dụng thương mại hay không. Nếu có thì các ràng buộc trong chính sách tín dụng thương mại phải như thế nào là tốt nhất. 14  Phân tích tín dụng thương mại Phân tích khả năng tín dụng của khách hàng. Để thực hiện được việc cấp tín dụng thì điều quan trọng nhất là phải phân tích khả năng tín dụng của khách hàng. Khả năng tín dụng của khách hàng có thể được xây dựng thông qua các tiêu chuẩn sau: phẩm chất, tư cách tín dụng, năng lực trả nợ, các tài sản có thể thế chấp, nguồn vốn kinh doanh của khách hàng… Nếu khả năng tín dụng của khách hàng phù hợp với một số tiêu chuẩn đó thì tín dụng thương mại có thể được cấp. Phân tích đánh giá khoản tín dụng được đề nghị. Cũng như rất nhiều sự phân tích và sự lựa chọn khác nhau thì việc phân tích đánh giá khoản tín dụng thương mại được đề nghị để quyết định xem có nên cấp hay không, thông thường người ta dựa vào việc tính NPV của luồng tiền. Khi phân tích khả năng tín dụng của khách hàng, ta thường dùng các tiêu chuẩn sau để phán đoán: + Phẩm chất, tư cách tín dụng: Tiêu chuẩn này nói lên tinh thần trách nhiêm của khách hàng trong việc trả nợ. Điều này được phán đoán trên cơ sở việc thanh toán các khoản nợ trước đây đối với doanh nghiệp hoặc đối với các doanh nghiệp khác. + Năng lực trả nợ: Dựa vào các chỉ tiêu về khả năng thanh toán nhanh, dự trữ ngân quỹ của doanh nghiệp… + Vốn của khách hàng: Đánh giá sức mạnh tài chính dài hạn của khách hàng. + Thế chấp: Xem xét khả năng tín dụng của khách hàng trên cơ sở các tài sản riêng mà họ sử dụng để đảm bảo các khoản nợ. + Điều kiện kinh tế: Tiêu chuẩn này đánh giá đến khả năng phát triển của khách hàng trong hiện tại và tương lại. Theo dõi các khoản phải thu. Để quản lý hiệu quả các khoản phải thu, nhà quản lý doanh nghiệp phải biết cách theo dõi các khoản phải thu, trên cơ sở đó có thể thay đổi chính sách tín dụng thương mại kịp thời. Thông thường người ta dựa vào các cách sau: + Kỳ thu tiền bình quân: Khi kỳ thu tiền bình quân tăng lên mà doanh số bán ra và lợi nhuận không tăng thì cũng có nghĩa là vốn của doanh nghiệp bị ứ đọng ở khâu thanh toán. Khi đó nhà quản lý phải có biện pháp can thiệp ngay. + Sắp xếp thời gian cho các khoản phải thu: Theo phương pháp này, nhà quản lý sắp xếp các khoản phải thu theo độ dài thời gian nợ để theo dõi và có biện pháp thu nợ khi đến hạn. + Xác định các khoản phải thu: Theo phương pháp này, các khoản phải thu hoàn toàn không chịu ảnh hưởng bởi yếu tố thay đổi theo mùa vụ của doanh số bán ra. Sử dụng 15 Thang Long University Library phương pháp này các doanh nghiệp hoàn toàn có thể thấy nợ tồn đọng của khách hàng đang nợ doanh nghiệp. Cùng với các cách theo dõi khác, người quản lý có thể thấy được ảnh hưởng của các chính sách tài chính nói chung và chính sách tín dụng thương mại nói riêng. Quyết định tín dụng khi xem xét 1 phương án cấp tín dụng Mô hình cơ bản: NPV = (CFt/k) – CF0 CF0 = VC x S x ACP/365 CFt = [S x (1-VC) – S x BD - CD] x (1 - T) Trong đó: CFt : dòng tiền sau thuế mỗi giai đoạn CF0 : giá trị doanh nghiệp đầu tư vào khoản phải thu khách hàng VC : tỷ lệ chi phí biến đổi trên doanh thu S : doanh thu dự kiến mỗi kì ACP : thời gian thu tiền bình quân tính theo ngày BD : tỷ lệ nợ xấu trên dòng tiền từ bán hàng CD : luồng tiền ra tăng thêm của bộ phận tín dụng T : thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp K : tỉ lệ thu nhập yêu cầu sau thuế Sau khi tính toán NPV, doanh nghiệp quyết định dựa trên cơ sở: NPV>NPV1: Không cấp tín dụng NPV=NPV1: Bàng quan NPVQ0) Giá bán (P) P0 P1 (P1 > P0) Chi phí sản xuất bình quân (AC) AC0 AC1 (AC1 > AC0) Xác suất thanh toán 100% h (h ≤100%) Thời hạn nợ 0 T Tỷ suất chiết khấu 0 R Phương án 1: Không cấp tín dụng: NPV=P0Q0 – AC0Q0 Phương án 2: Cấp tín dụng NPV1= P1Q1h/(1+R) – AC1Q1 Doanh nghiệp đưa ra quyết định dựa trên cơ sở so sánh NPV và NPV1 NPV>NPV1: Không cấp tín dụng NPV=NPV1: Bàng quan 16 NPVNPV2: Không cấp tín dụng sử dụng thông tin rủi ro tín dụng NPV1=NPV2: Bàng quan NPV1 - Xem thêm -