Tài liệu Nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty bảo hiểm dầu khí trong lĩnh vực bảo hiểm hàng hải

  • Số trang: 98 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 37 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG KHOA KINH TẾ NGOẠI THƢƠNG CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP TÊN ĐỀ TÀI: NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM DẦU KHÍ TRONG LĨNH VỰC BẢO HIỂM HÀNG HẢI Họ và tên sinh viên : Vũ Thị Thơ Líp : Nga Kho¸ : 41 Giáo viên hƣớng dẫn:: TS. Trịnh Thị Thu Hương Hà Nội, tháng 11/ 2006 Vũ Thị Thơ - Lớp Nga K41 2 LỜI MỞ ĐẦU Với bờ biển dài trên 3.260 km chạy suốt chiều dài đất nƣớc, có nhiều vịnh, cửa sông nối liền với Thái Bình Dƣơng, Việt Nam có một lợi thế mà nhiều quốc gia khác không có. Lợi thế đó là tiềm năng, động lực để phát triển kinh tế hƣớng ra biển, nhất là phát triển kinh tế hàng hải. Lịch sử đã chứng minh bảo hiểm hàng hải ra đời, phát triển song hành cùng với ngành kinh tế biển. Bảo hiểm Việt Nam tuy ra đời muộn nhƣng ngày càng thể hiện vai trò quan trọng của mình đối với sự phát triển của kinh tế nói chung và ngành kinh tế biển nói riêng. 1. Tính cấp thiết của khóa luận tốt nghiệp Việt Nam - là một nƣớc đang phát triển có tốc độ tăng trƣởng kinh tế cao, với sự tác động tích cực đó (GDP, kim ngạch xuất khẩu không ngừng tăng; công nghiệp đóng tàu và vận tải biển trở thành một ngành kinh tế mũ nhọn của đất nƣớc…), bảo hiểm hàng hải đã ngày một phát triển. Tuy nhiên trên thực tế bảo hiểm hàng hải vẫn chƣa tận dụng hết những cơ hội có đƣợc, chƣa phát triển hết sức mạnh của mình. Làm thế nào để ngành kinh doanh bảo hiểm hàng hải ngày càng phát triển? Điều này đã buộc các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm hàng hải phải tính toán đến hiệu quả kinh doanh. Hiệu quả kinh doanh có vai trò hết sức quan trọng - quyết định sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp. Công ty Bảo hiểm Dầu khí là một Công ty mới đƣợc thành lập nhƣng đã nhanh chóng trở thành một trong những công ty đứng đầu thị trƣờng bảo hiểm hàng hải Việt Nam. Bên cạnh những mặt đạt đƣợc, hoạt động kinh doanh bảo hiểm hàng hải của Công ty vẫn còn những tồn tại, vẫn chƣa khai thác hết thị trƣờng tiềm năng. Hơn nữa, trên đà phát triển chung của nền kinh tế đất nƣớc, xu thế hội nhập đã và sẽ có những ảnh hƣởng lớn đến thị trƣờng bảo hiểm Việt Nam: cơ hội sẽ nhiều hơn, tính cạnh tranh đang ngày một gay Vũ Thị Thơ - Lớp Nga K41 3 gắt và khốc liệt hơn. Để có thể đứng vững và duy trì một vị thế đáng kể trên thị trƣờng, Công ty Bảo hiểm Dầu khí, cần có sự nghiên cứu sâu sắc hơn cả về mặt lý luận và thực tiễn hoạt động kinh doanh bảo hiểm hàng hải của Công ty, từ đó tìm ra một hệ thống giải pháp góp phần giải quyết những tồn tại. Với mục đích nhƣ trên, ngƣời viết đã chọn đề tài: "Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh bảo hiểm hàng hải tại Công ty Bảo hiểm Dầu khí”. 2. Mục tiêu của khóa luận. Thông qua việc trình bày, phân tích, đánh giá thực trạng tình hình bảo hiểm hàng hải tại Công ty Bảo hiểm Dầu khí qua một số năm, ngƣời viết muốn phân tích hiệu quả kinh doanh trong hoạt động này của Công ty. Từ đó, ngƣời viết sẽ đƣa ra một số định hƣớng và giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn, thúc đẩy sự phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải tại Công ty Bảo hiểm Dầu khí. 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Lấy hoạt động kinh doanh bảo hiểm hàng hải trong phạm vi Công ty Bảo hiểm Dầu khí làm đối tƣợng nghiên cứu, từ đó tìm ra các giải pháp giúp Công ty phát triển hơn trong lĩnh vực bảo hiểm hàng hải. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu Đề tài đƣợc nghiên cứu bằng phƣơng pháp duy vật biện chứng, phƣơng pháp hệ thống, so sánh, phân tích, tổng hợp, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn thông qua các tài liệu và việc tìm hiểu, học hỏi trực tiếp từ Công ty Bảo hiểm Dầu khí. Vận dụng các quan điểm, đƣờng lối, chính sách phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nƣớc đối với nền kinh tế thị trƣờng để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu. Vũ Thị Thơ - Lớp Nga K41 4 5. Những đóng góp của khóa luận Khóa luận đã cung cấp hệ thống lý luận về hiệu quả kinh doanh nói chung và về hiệu quả kinh doanh bảo hiểm hàng hải nói riêng. Đƣa ra những đánh giá cụ thể về thực trạng kinh doanh của nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải tại Công ty Bảo hiểm Dầu khí, từ đó chỉ rõ và phân tích ƣu, nhƣợc điểm của hoạt động này ở Công ty. Xây dựng đƣợc một hệ thống các giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh bảo hiểm hàng hải tại Công ty Bảo hiểm Dầu khí. 6. Kết cấu của khóa luận Khóa luận ngoài phần mở đầu và kết luận gồm 3 chƣơng:  Chƣơng I: Những vấn đề chung về hiệu quả kinh doanh.  Chƣơng II: Thực trạng hiệu quả kinh doanh bảo hiểm hàng hải của Công ty Bảo hiểm Dầu khí.  Chƣơng III: Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty Bảo hiểm Dầu khí. Em xin gửi lời cám ơn chân thành đến cô giáo TS. Trịnh Thị Thu Hƣơng đã giúp đỡ em trong quá trình viết khóa luận này. Em xin gửi lời cảm ơn đến Phòng Bảo hiểm Hàng hải thuộc Công ty Bảo hiểm Dầu khí đã giúp đỡ em trong quá trình thu thập tài liệu. Vũ Thị Thơ - Lớp Nga K41 5 CHƢƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH I. KHÁI QUÁT VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH 1. Khái niệm hiệu quả kinh doanh Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố của quá trình kinh doanh (lao động, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, tiền vốn…) ở doanh nghiệp để đạt đƣợc kết quả cao nhất trong hoạt động kinh doanh với chi phí thấp nhất. Nó không chỉ là thƣớc đo trình độ tổ chức quản lý kinh doanh mà còn là vấn đề sống còn của doanh nghiệp. Để hiểu rõ bản chất của phạm trù hiệu quả kinh doanh, cần phân biệt ranh giới giữa hai khái niệm hiệu quả và kết quả kinh doanh. Có thể hiểu kết quả kinh doanh của doanh nghiệp là những gì mà doanh nghiệp đạt đƣợc sau một quá trình sản xuất kinh doanh nhất định, kết quả cần đạt là mục tiêu cần thiết của doanh nghiệp. Kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp có thể là những đại lƣợng cân đo đong đếm đƣợc nhƣ số sản phẩm tiêu thụ mỗi loại, doanh thu, lợi nhuận, thị phần… và cũng có thể chỉ là những đại lƣợng chỉ phản ánh mặt chất lƣợng hoàn toàn có tính định tính nhƣ uy tín của doanh nghiệp,… Trong khi đó, ngƣời ta sử dụng hai chỉ tiêu kết quả và chi phí (các nguồn lực đầu vào) để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh. Cả hai chỉ tiêu là kết quả (đầu ra) và chi phí (các nguồn lực đầu vào) đều có thể đƣợc xác định bằng đơn vị hiện vật và đơn vị giá trị. Tuy nhiên, sử dụng đơn vị hiện vật để xác định hiệu quả kinh doanh sẽ vấp phải khó khăn là giữa “đầu vào” và “đầu ra” không có cùng một đơn vị đo lƣờng còn việc sử dụng đơn vị giá trị luôn luôn đƣa các đại lƣợng khác nhau về cùng một đơn vị đo lƣờng - tiền tệ. Vũ Thị Thơ - Lớp Nga K41 6 Nâng cao hiệu quả kinh doanh là mối quan tâm hàng đầu của bất kỳ doanh nghiệp nào. Hiện nay hội nhập kinh tế quốc tế là xu hƣớng chung của tất cả các quốc gia trên thế giới, nó tạo ra nhiều cơ hội thuận lợi để phát triển kinh tế, đồng thời cũng làm gia tăng áp lực cạnh tranh đối với doanh nghiệp. Rõ ràng, để tồn tại và phát triển buộc doanh nghiệp phải tính toán đến hiệu quả kinh doanh, tìm mọi cách để tăng tối đa thu nhập, giảm tối đa chi phí và tính toán đến một loạt các yếu tố ảnh hƣởng đến hiệu quả kinh doanh. 2. Phân loại hiệu quả kinh doanh Phạm trù hiệu quả kinh doanh đƣợc biểu hiện ở những dạng khác nhau, mỗi dạng thể hiện những đặc trƣng, ý nghĩa cụ thể của hiệu quả. Việc phân loại hiệu quả kinh doanh theo những tiêu thức khác nhau có tác dụng thiết thực cho công tác quản lý thƣơng mại. Nó là cơ sở để xác định các chỉ tiêu và mức hiệu quả kinh doanh, đồng thời đề ra những biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. 2.1. Hiệu quả kinh doanh cá biệt và hiệu quả kinh tế xã hội của nền kinh tế quốc dân. Hiệu quả kinh doanh cá biệt là hiệu quả kinh doanh thu đƣợc từ hoạt động kinh doanh của từng doanh nghiệp. Biểu hiện chung của hiệu quả cá biệt là doanh lợi mà mỗi doanh nghiệp đạt đƣợc. Hiệu quả kinh tế xã hội là sự đóng góp của hoạt động sản xuất kinh doanh vào việc phát triển sản xuất, đổi mới cơ cấu kinh tế, tăng năng suất lao động xã hội, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống nhân dân. Giữa hiệu quả kinh doanh cá biệt và hiệu quả kinh tế xã hội có mối quan hệ nhân quả và tác động qua lại với nhau. Hiệu quả kinh tế quốc dân chỉ có thể đạt đƣợc trên cơ sở hoạt động có hiệu quả của doanh nghiệp. Tuy vậy, có thể có những doanh nghiệp kinh doanh không đảm bảo đƣợc hiệu quả, bị lỗ Vũ Thị Thơ - Lớp Nga K41 7 nhƣng nền kinh tế vẫn thu đƣợc hiệu quả. Tuy nhiên tình hình thua lỗ của một doanh nghiệp nào đó chỉ có thể chấp nhận đƣợc trong ngắn hạn do những nguyên nhân khách quan mang lại. Các doanh nghiệp phải quan tâm đến hiệu quả kinh tế xã hội của nền kinh tế quốc dân vì đó là tiền tề, là điều kiện cho doanh nghiệp kinh doanh đạt hiệu quả. Nhƣng để doanh nghiệp quan tâm đến hiệu quả kinh tế xã hội nói chung của nền kinh tế quốc dân, nhà nƣớc cần có chính sách đảm bảo kết hợp hài hòa giữa lợi ích xã hội với lợi ích doanh nghiệp và cá nhân ngƣời lao động. 2.2. Hiệu quả của chi phí tổng hợp và bộ phận Mỗi doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trong điều kiện cụ thể về nguồn tài nguyên, trình độ trang bị kỹ thuật, trình độ tổ chức và quản lý lao động, quản lý kinh doanh. Họ đƣa ra thị trƣờng sản phẩm của mình với một chi phí cá biệt nhất định và ngƣời nào cũng muốn tiêu thụ đƣợc hàng hóa của mình với giá cao nhất. Tuy vậy, khi đƣa hàng hóa của mình ra bán trên thị trƣờng, họ chỉ có thể bán theo một mức là giá cả thị trƣờng nếu sản phẩm hoàn toàn giống nhau về chất lƣợng. Sở dĩ nhƣ vậy là vì thị trƣờng hoạt động theo quy luật giá trị. Quy luật giá trị đã đặt tất cả các doanh nghiệp với mức chi phí cá biệt khác nhau trên cùng một mặt bằng trao đổi thông qua mức giá thị trƣờng. Suy đến cùng, chi phí bỏ ra là chi phí lao động xã hội. Tại mỗi doanh nghiệp mà chúng ta cần đánh giá hiệu quả thì chi phí lao động xã hội đó lại đƣợc thể hiện dƣới dạng chi phí cụ thể :  Giá thành sản xuất  Chi phí ngoài sản xuất … Bản thân mỗi loại chi phí trên lại có thể phân chia chi tiết cụ thể hơn. Đánh giá hiệu quả kinh doanh không thể không đánh giá hiệu quả tổng hợp của Vũ Thị Thơ - Lớp Nga K41 8 các loại chi phí và cũng rất cần thiết phải đánh giá hiệu quả từng loại chi phí cá biệt của doanh nghiệp nhằm tăng hiệu quả kinh doanh. Nhƣ vậy, hiệu quả kinh doanh nói chung đƣợc tạo thành trên cơ sở hiệu quả của các loại chi phí cấu thành. Vì vậy bản thân các doanh nghiệp phải quan tâm xác định những biện pháp đồng bộ để thu đƣợc hiệu quả toàn diện trên các yếu tố đó. 2.3. Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh Trong công tác quản lý hoạt động kinh doanh, việc xác định hiệu quả nhằm đạt hai mục đích cơ bản : Một là, thể hiện và đánh giá trình độ sử dụng các dạng chi phí trong hoạt động kinh doanh. Hai là, phân tích luận chứng về kinh tế các phƣơng án khác nhau trong việc thực hiện một nhiệm vụ cụ thể nào đó, từ đó lựa chọn lấy một phƣơng án có lợi nhất. Hiệu quả quả tuyệt đối là lƣợng hiệu quả đƣợc tính toán cho từng phƣơng án cụ thể bằng cách xác định mức lợi ích thu đƣợc với lƣợng chi phí bỏ ra. Chẳng hạn, tính toán mức lợi nhuận thu đƣợc từ một đồng chi phí sản xuất (giá thành), hoặc từ một đồng vốn bỏ ra… Ngƣời ta xác định hiệu quả tuyệt đối khi phải bỏ chi phí ra để thực hiện một thƣơng vụ nào đó, để biết đƣợc với những chi phí bỏ ra sẽ thu đƣợc những lợi ích cụ thể và mục tiêu cụ thể gì, từ đó đi đến quyết định có nên bỏ chi phí ra hay không cho từng thƣơng vụ đó. Vì vậy, trong công tác quản lý kinh doanh, bất kỳ công việc gì đòi hỏi phải bỏ ra chi phí dù với một lƣợng lớn hay nhỏ cũng đều phải tính toán đến hiệu quả tuyệt đối. Hiệu quả so sánh đƣợc xác định bằng cách so sánh các chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối của các phƣơng án với nhau. Nói cách khác, hiệu quả so sánh Vũ Thị Thơ - Lớp Nga K41 9 chính là mức chênh lệch về hiệu quả tuyệt đối của các phƣơng án. Mục đích chủ yếu của việc tính toán này là so sánh mức độ hiệu quả của các phƣơng án (hoặc cách làm khác nhau cùng thực hiện một nhiệm vụ), từ đó cho phép lựa chọn một cách làm hiệu quả nhất. Trên thực tế, để thực hiện một nhiệm vụ nào đó, ngƣời ta không chỉ tìm thấy một cách (một phƣơng án, một con đƣờng, một giải pháp), mà còn có thể đƣa ra nhiều cách làm khác nhau. Mỗi cách làm đó đòi hỏi lƣợng đầu tƣ vốn, lƣợng chi phí khác nhau, thời gian thực hiện và thời gian thu hồi vốn đầu tƣ cũng khác nhau. Vì vậy, muốn đạt đƣợc hiệu quả kinh tế cao, ngƣời làm công tác quản lý và kinh doanh không nên tự chói mình vào một cách làm mà vận dụng mọi sự hiểu biết để đƣa ra nhiều phƣơng án khác nhau, rồi so sánh hiệu quả kinh tế của các phƣơng án đó nhằm chọn ra một phƣơng án tối ƣu. Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, song chúng có tính độc lập tƣơng đối. Hiệu quả tuyệt đối là cơ sở để xác định hiệu quả so sánh. Cụ thể là, trên cơ sở những chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối của từng phƣơng án ngƣời ta so sánh mức hiệu quả ấy của các phƣơng án với nhau. Mức chênh lệch của hiệu quả tuyệt đối chính là hiệu quả so sánh. Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh có tính độc lập tƣơng đối, thể hiện ở chỗ, có những chỉ tiêu hiệu quả so sánh đƣợc xác định không phụ thuộc vào việc xác định hiệu quả tuyệt đối. Lúc này, hiệu quả tuyệt đối không là cơ sở để xác định hiệu quả so sánh. Chẳng hạn, việc so sánh giữa mức chi phí của phƣơng án với nhau để chọn ra phƣơng án có chi phí thấp nhất, thực chất chỉ là so sánh mức chi phí của các phƣơng án chứ không phải là so sánh mức hiệu quả tuyệt đối của các phƣơng án Vũ Thị Thơ - Lớp Nga K41 10 3. Các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Trong cơ chế thị trƣờng, không phải cứ xây dựng đƣợc một phƣơng án kinh doanh tốt là doanh nghiệp có thể đạt đƣợc hiệu quả kinh doanh tối đa, mà việc đạt hiệu quả kinh doanh cao hay thấp, tốt hay xấu còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố cả bên trong lẫn bên ngoài doanh nghiệp. Doanh nghiệp chỉ đạt đƣợc hiệu quả kinh doanh khi đảm bảo chi phí tối thiểu và lợi nhuận tối đa, nghĩa là doanh nghiệp biết quản lý chi phí và sử dụng nguồn lực hiệu quả. Xét cho cùng, các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp cũng là các nhân tố ảnh hƣởng đến lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp, bao gồm các nhân tố ảnh hƣởng đến doanh thu và chi phí của doanh nghiệp. 3.1. Môi trường pháp lý và các chính sách của nhà nước Một trong những nhân tố của môi trƣờng bên ngoài ảnh hƣởng đến hiệu quả kinh doanh là môi trƣờng pháp lý và chính sách của nhà nƣớc. Luật quốc tế và luật quốc gia có ảnh hƣởng trực tiếp đến tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Luật pháp sẽ quy định và cho phép những lĩnh vực hoạt động và hình thức kinh doanh nào mà doanh nghiệp có thể thực hiện và những lĩnh vực nào doanh nghiệp không đƣợc phép tiến hành hoặc đƣợc phép tiến hành nhƣng có hạn chế ở quốc gia đó cũng nhƣ ở khu vực đó. Luật pháp mỗi quốc gia cũng liên hệ và ảnh hƣởng đến tình hình kinh doanh giữa các nƣớc với nhau. Trong điều kiện này buộc các quốc gia phải điều chỉnh hoạt động của mình cho thích ứng, các doanh nghiệp phải phản ứng linh hoạt để đáp ứng nhanh với những quy định mới về luật quốc gia mà doanh nghiệp đang hoạt động. Những tác động, ảnh hƣởng chủ yếu của luật đối với hoạt động của doanh nghiệp thể hiện ở những điểm cơ bản sau: Vũ Thị Thơ - Lớp Nga K41 11  Các quy định về giao dịch: hợp đồng, sự bảo vệ các bằng sáng chế, phát minh, luật bảo hộ nhãn hiệu thƣơng mại, bí quyết công nghệ, quyền tác giả…  Môi trƣờng pháp luật chung: luật môi trƣờng, tiêu chuẩn về an toàn lao động,…  Luật thành lập doanh nghiệp, các ngành, các lĩnh vực kinh doanh  Luật lao động  Luật giá cả  Luật chống độc quyền  Luật thuế. Ngoài ra, các chính sách của nhà nƣớc nhƣ: chính sách về tài chính tiền tệ, chính sách thuế, tỷ giá hối đoái,… cũng ảnh hƣởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Chính sách này vừa có tác động vĩ mô đến nền kinh tế, vừa tạo cơ hội, thách thức đối với hoạt động kinh doanh của từng doanh nghiệp. Nhƣ chính sách về tỷ giá hối đoái, chính sách về thuế xuất nhập khẩu nếu không ổn định sẽ ảnh hƣởng đến doanh thu, chi phí của từng doanh nghiệp, từ đó ảnh hƣởng đến hiệu quả kinh doanh. Ngoài luật pháp và các chính sách quốc gia, luật quốc tế có ảnh hƣởng đến kết quả kinh doanh đặc biệt đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Luật quốc tế theo nghĩa rộng bao gồm những luật ảnh hƣởng đến hoạt động kinh doanh quốc tế. Theo nghĩa hẹp bao gồm các hiệp định chi phối mối quan hệ giữa các quốc gia liên quan đến dòng di chuyển hàng hóa, tiền tệ, lao động,… Các hiệp định song phƣơng và đa phƣơng không chỉ tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh quốc tế tiến hành trôi chảy hơn, mà còn góp phần giúp giải quyết các vấn đề mới phát sinh trong kinh doanh, cũng nhƣ tranh chấp giữa các quốc gia và giữa các nhà kinh doanh. Vũ Thị Thơ - Lớp Nga K41 12 3.2. Tổ chức quản lý và kinh doanh Trong doanh nghiệp, việc tổ chức kinh doanh đƣợc coi là nhân tố có ý nghĩa vô cùng quan trọng ảnh hƣởng đến tổ chức quản lý các hoạt động kinh tế vi mô của doanh nghiệp bao gồm các khâu cơ bản nhƣ: định hƣớng chiến lƣợc cơ bản phát triển doanh nghiệp, xây dựng kế hoạch, phƣơng án kinh doanh, đánh giá kiểm tra và điều chỉnh các hoạt động kinh doanh. Các khâu của quá trình quản lý hoạt động kinh tế vi mô làm tốt sẽ làm tăng sản lƣợng, nâng cao chất lƣợng, hạ giá thành sản phẩm, giảm chi phí quản lý. Đó là điều kiện quan trọng để tăng thêm lợi nhuận. Để tổ chức, quản lý và kinh doanh có hiệu quả thì bộ máy quản lý phải hợp lý giúp doanh nghiệp quản lý chi phí hiệu quả, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận. Muốn vậy, trong quá trình xây dựng, tổ chức phải quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm từng bộ phận. Cơ cấu tổ chức phải chỉ ra đƣợc các vị trí khác nhau, những ngƣời nắm giữ các vị trí đó, và các mối liên quan quyền lực giữa ngƣời này với ngƣời khác. Cụ thể là, mỗi nhân viên của doanh nghiệp phải biết rõ vị trí của họ trong cơ cấu và xác định đƣợc mối liên quan về quyền lực giữa họ và ngƣời khác của tổ chức. Đồng thời doanh nghiệp cần xây dựng bộ máy gọn nhẹ, linh hoạt và mềm dẻo để thích ứng đƣợc trƣớc những thay đổi của môi trƣờng kinh doanh. Ngày nay, tồn tại rất nhiều cơ cấu bộ máy tổ chức quản trị, tuy nhiên tùy theo từng đặc điểm kinh doanh, từng thời kỳ mà mỗi doanh nghiệp chọn một cơ cấu tổ chức hợp lý. 3.3. Nguồn nhân lực Lao động là một trong ba yếu tố chủ yếu của sản xuất. Sự tác động của yếu tố lao động đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh đƣợc thể hiện trên hai mặt đó là số lƣợng lao động và năng suất lao động. Trong mỗi thời kỳ Vũ Thị Thơ - Lớp Nga K41 13 nhất định, số lƣợng lao động nhiều hay ít, năng suất lao động cao hay thấp, trực tiếp ảnh hƣởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Trong mỗi doanh nghiệp, số lƣợng lao động nhiều hay ít tùy thuộc vào nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, trình độ trang thiết bị kỹ thuật và trình độ tổ chức quản lý. Dù là lao động thƣờng xuyên hay là lao động theo hợp đồng, toàn bộ lực lƣợng lao động của doanh nghiệp bao gồm hai loại sau:  Lao động trực tiếp: là những ngƣời trực tiếp sản xuất kinh doanh, trực tiếp quản lý kỹ thuật.  Lao động gián tiếp: là những ngƣời làm nhiệm vụ tổ chức, quản lý và phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh (bộ máy tổ chức hành chính sự nghiệp…). Cả hai loại lao động này đều cần thiết cho mọi doanh nghiệp. Song xác định cấu thành hợp lý giữa lao động trực tiếp và gián tiếp là một biện pháp có ý nghĩa quan trọng, quyết định năng suất lao động và hiệu suất công tác của mỗi loại lao động. Cấu thành lực lƣợng lao động đƣợc coi là hợp lý khi số lƣợng lao động trực tiếp đảm bảo toàn diện và hiệu quả cho mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và số lƣợng lao động gián tiếp đủ đảm bảo đảm bảo quản lý phục vụ tốt quá trình sản xuất kinh doanh. Khi có đủ lực lƣợng lao động với trình độ và cơ cấu hợp lý sẽ tạo ra khả năng thuận lợi để nâng cao hiệu quả kinh doanh. Muốn vậy đội ngũ cán bộ công nhân viên phải có thể lực tốt, có kiến thức vững về chuyên môn, giỏi ngoại ngữ, có nghệ thuật trong giao tiếp, có khả năng tiếp thu với khoa học tiên tiến hiện đại. Tuy nhiên, trình độ lao động cao và cơ cấu hợp lý mới chỉ là điều kiện cần, là khả năng thuận lợi nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh. Khả năng đó trở Vũ Thị Thơ - Lớp Nga K41 14 thành hiện thực hay không còn tùy thuộc vào tình hình sử dụng lao động đƣợc biểu hiện ở chỉ tiêu năng suất lao động. Các nhân tố ảnh hƣởng đến năng suất lao động cũng là một trong những nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả kinh doanh vì năng suất lao động là một chỉ tiêu bộ phận phản ánh hiệu quả kinh doanh.Có thể nêu ra một số nhân tố ảnh hƣởng đến năng suất lao động là:  Trình độ nghiệp vụ của lao động;  Trình độ cơ khí hóa sản xuất và tình trạng thiết bị kỹ thuật của doanh nghiệp;  Chất lƣợng của nguyên liệu sản xuất hay sản phẩm kinh doanh;  Trình độ tổ chức quản lý kinh doanh và sử dụng lao động… Nhƣ vậy, lực lƣợng lao động là nhân tố trực tiếp ảnh hƣởng đến hiệu quả kinh doanh, tạo ra “giá trị thặng dƣ” cho doanh nghiệp. Mác - Lênin chỉ ra rằng, hiệu quả kinh tế bắt nguồn từ sự tiết kiệm lao động sống (tăng năng suất) và lao động quá khứ (giảm chi phí sản xuất kinh doanh). Vì vậy, việc sắp xếp hợp lý tổ chức kinh doanh là một biện pháp để giảm chi phí lao đống sống và lao động quá khứ, cũng có nghĩa là nâng cao hiệu quả kinh doanh. 3.4. Vốn kinh doanh Để tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải có một khối lƣợng nhất định về vốn. Nói cách khác, vốn là yếu tố có tính chất quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Vốn lớn không những giúp doanh nghiệp mở rộng sản xuất, đa dạng hóa mặt hàng, mở rộng thị trƣờng kinh doanh mà còn là nền tảng vững chắc giúp doanh nghiệp phát triển lâu dài, ổn định, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Vũ Thị Thơ - Lớp Nga K41 15 Vốn kinh doanh thực chất là nguồn của cải xã hội tích lũy lại, là một điều kiện, một nguồn khả năng để đẩy mạnh hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, vốn kinh doanh chỉ biết phát huy tác dụng khi biết quản lý, sử dụng vốn một cách đúng hƣớng, hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả. Nhƣ vậy, vốn kinh doanh kết hợp với khả năng sử dụng vốn là nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả sử dụng vốn, khái quát hơn là hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. 3.5. Chất lượng của nguyên vật liệu và hàng hóa, dịch vụ Với doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh nguyên vật liệu có ý nghĩa quyết định, là một trong ba yếu tố cơ bản của sản xuất. Cơ cấu nguyên vật liệu hợp lý cả về số lƣợng, chất lƣợng, giá cả chủng loại sẽ góp phần tạo ra sản phẩm có chất lƣợng cao giá cả hợp lý. Chất lƣợng sản phẩm tốt cùng với việc nâng cao chất lƣợng dịch vụ góp phần tăng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, giảm hợp lý chi phí sẽ làm tăng lợi nhuận, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh. 3.6. Thị trường và môi trường cạnh tranh Kinh tế thị trƣờng là nền kinh tế đƣợc điều tiết chủ yếu bởi thị trƣờng và quy luật cạnh tranh là cơ chế vận động của thị trƣờng, nói khác đi thị trƣờng là nơi gặp gỡ của đối thủ cạnh tranh. Trong thƣơng mại quốc tế, các doanh nghiệp cần nâng cao không ngừng năng lực cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trƣờng nhằm đạt hiệu quả tối ƣu. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện ở chất lƣợng sản phẩm dịch vụ và giá hàng hóa. Xét đến cùng, để nâng cao năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp cần giảm giá thành và nâng cao chất lƣợng sản phẩm, dịch vụ hay quản lý chi phí và nguồn lực hiệu quả. Nhƣ vậy, chính sức ép cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thị trƣờng đã làm cho giá cả các “yếu tố đầu vào” và “yếu tố đầu ra” biến động theo những xu hƣớng khác nhau. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp cần phải linh hoạt điều chỉnh các hoạt động của Vũ Thị Thơ - Lớp Nga K41 16 mình nhằm giảm thách thức, tăng thời cơ giành thắng lợi trong cạnh tranh. Muốn vậy doanh nghiệp cần nhanh chóng chiếm lĩnh thị trƣờng, đƣa ra thị trƣờng những sản phẩm dịch vụ mới, chất lƣợng cao và giá thành hợp lý. Tóm lại : Các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp cũng chính là những nhân tố tác động đến doanh thu và chi phí. Vì vậy, ngoài các biện pháp vĩ mô từ phía nhà nƣớc, các biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp sẽ bao gồm các biện pháp tăng doanh thu và giảm chi phí một cách hợp lý. II. HIỆU QUẢ KINH DOANH NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM HÀNG HẢI 1. Bảo hiểm hàng hải 1.1. Khái niệm Bảo hiểm hàng hải là bảo hiểm những rủi ro trên biển hoặc những rủi ro trên bộ, trên sông liên quan đến hành trình đƣờng biển, gây tổn thất cho các đối tƣợng bảo hiểm chuyên chở trên biển. Bảo hiểm hàng hải có lịch sử rất lâu đời. Một trong những đơn bảo hiểm đầu tiên mà ngƣời ta tìm thấy là đơn bảo hiểm cấp vào năm 1347 tại Genoa (Italia) cho tàu Santaclara đi đến quần đảo Magioca thuộc Tây Ban Nha. Ngƣời ta cho rằng bảo hiểm hàng hải ra đời bắt đầu từ những ngƣời cho vay nặng lãi sống ở miền Bắc Italia. Những ngƣời này thƣờng cho chủ tàu vay nợ với điều kiện là nếu tàu đi trót lọt thì chủ tàu phải trả một khoản lãi rất nặng. Ngƣợc lại, nếu tàu bị đắm thì, mất hết thì đƣợc xoá nợ. Lối cho vay nặng này đƣợc gọi là vay “đƣợc ăn cả ngã về không” hay cho vay kiêm bảo hiểm. Bảo hiểm sau đó phát triển sang Anh. Nƣớc Anh là nƣớc có nền ngoại thƣơng phát triển nên bảo hiểm cũng phát triển sớm và đầy đủ hơn. Ngay từ Vũ Thị Thơ - Lớp Nga K41 17 thế kỷ 17 Anh đã có mẫu đơn bảo hiểm tàu và hàng (Lloy‟s SG form) vẫn đƣợc áp dụng cho đến ngày nay. 1.2. Phân loại bảo hiểm hàng hải Bảo hiểm hàng hải gồm ba loại:  Bảo hiểm thân tàu (Hull Insurance): bảo hiểm thân tàu là bảo hiểm những thiệt hại vật chất xảy ra đối với vỏ tàu, máy móc và các thiết bị trên tàu đồng thời bảo hiểm cƣớc phí, các chi phí hoạt động của tàu và một phần trách nhiệm mà chủ tàu phải chịu trong trƣờng hợp tàu đâm va nhau.  Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu (P&I Insurance): là bảo hiểm những thiệt hại phát sinh từ trách nhiệm của chủ tàu trong quá trình sở hữu, kinh doanh, khai thác tàu biển.  Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đƣờng biển: là bảo hiểm những mất mát hoặc hƣ hỏng của hàng hóa hay trách nhiệm liên quan đến hàng hóa bảo hiểm. Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đƣờng biển bao gồm bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu, hàng hóa vận chuyển trong nội địa. 1.3. Vai trò của bảo hiểm hàng hải Giao thông đƣờng biển có vai trò rất quan trọng trong quá trình quốc tế hóa về thƣơng mại. Không ai có thể phủ nhận đƣợc lợi ích kinh tế của nó. Hàng năm, ngành giao thông đƣờng thủy trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra một khoản lợi nhuận khổng lồ, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập quốc dân. Kinh doanh tàu biển là một loại hình kinh doanh đòi hỏi vốn đầu tƣ khổng lồ vì giá trị của mỗi con tàu là rất lớn, vì vậy mà khi gặp rủi ro thì tổn thất là không nhỏ và khó khôi phục đƣợc. Là một ngành chiếm tỷ trọng Vũ Thị Thơ - Lớp Nga K41 18 lớn trong hoạt động buôn bán ngoại thƣơng nhƣng vận tải biển cũng là ngành chịu nhiều rủi ro xuất phát từ ba yếu tố:  Tự nhiên: Do hoạt động dài ngày trên biển lại có khối lƣợng lớn nên tàu biển dễ bị tác động của các yếu tố tự nhiên bất lợi nhƣ sóng thần, bão tố, núi lửa phun, băng trôi, đá ngầm...và các vụ tổn thất về tàu do các yếu tố tự nhiên chiếm tỷ lệ lớn.  Kỹ thuật: Dù ngày nay khoa học kỹ thuật đã phát triển vƣợt bậc, các con tàu trọng tải lớn có trang bị thiết bị hiện đại, sử dụng hệ thống định vị hàng hải vệ tinh toàn cầu thì những tai nạn đáng tiếc không vì thế mà mất đi và giá trị thiệt hại mỗi vụ rất lớn.  Xã hội, con ngƣời: Các rủi ro chiến tranh, đình công, cƣớp biển cũng gây ra những tổn thất không nhỏ đối với các con tàu. Bảo hiểm hàng hải ra đời đã mang lại những lợi ích to lớn cho các chủ tàu và chủ hàng. Bảo hiểm hàng hải là một phƣơng tiện cung cấp cho họ một sự đảm bảo hữu hiệu về khả năng khắc phục những rủi ro có thể xảy ra đối với tài sản của họ, cũng nhƣ có thể đảm bảo cho các nhà vận chuyển có thể thực hiện trách nhiệm dân sự của họ đối với ngƣời thứ ba và đối với hàng hóa đƣợc giao phó. Nói cách khác, bảo hiểm hàng hải sẽ giúp các tổ chức mua bảo hiểm bảo toàn đƣợc vốn liếng tài sản, duy trì khả năng kinh doanh trong trƣờng hợp không may gặp rủi ro. 2. Hiệu quả kinh doanh bảo hiểm hàng hải 2.1. Khái niệm Hiệu quả kinh doanh của bảo hiểm hàng hải là thƣớc đo sự phát triển của bản thân lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm hàng hải và phản ánh trình độ sử dụng chi phí trong việc tao ra những kết quả kinh doanh nhất định, nhằm đạt đƣợc mục tiêu đề ra. Vũ Thị Thơ - Lớp Nga K41 19 Với tƣ cách là thƣớc đo sự phát triển của bảo hiểm hàng hải, hiệu quả kinh doanh thể hiện ở các chỉ tiêu đặc trƣng kinh tế, xã hội khác nhau. Nhƣng vấn đề đáng lƣu ý ở đây là không phải tất cả các chỉ tiêu kinh tế, xã hội đều là chỉ tiêu hiệu quả. Các chỉ tiêu phản ánh chi phí (chẳng hạn: tiền lƣơng so với tổng chi phí) và cơ cấu kết quả kinh doanh (chẳng hạn: lợi nhuận so với doanh thu) đều không phải là chỉ tiêu hiệu quả. Các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh chỉ có thể đƣợc xác định bằng tỷ lệ so sánh giữa kết quả với chi phí. Nếu lấy mỗi chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh so với một chỉ tiêu phản ánh chi phí, ta đƣợc một chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh. Khi đánh giá tốc độ phát triển kinh doanh của bảo hiểm hàng hải có thể dùng nhiều chỉ tiêu phản ánh nhƣ: tốc độ tăng doanh thu, tốc độ tăng lợi nhuận… nhƣng đó chỉ là chỉ tiêu “bề nổi”. Các chỉ tiêu “bề sâu” phải là các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế. Bởi vì, tốc độ tăng doanh thu hay lợi nhuận chỉ nói lên động thái của kết quả kinh doanh, chứ chƣa đề cập đến chi phí trong kinh doanh. Nếu chi phí tăng nhanh và sử dụng lãng phí về lâu dài, tốc độ tăng đó sẽ không có ý nghĩa và hoàn toàn không có hiệu quả. Việc phản ánh tình hình sử dụng các loại chi phí trong việc tạo ra kết quả kinh doanh là nội dung cơ bản của hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả kinh doanh bảo hiểm hàng hải nói riêng. Nội dung này đƣợc phản ánh bởi nhiều chỉ tiêu. Mỗi chỉ tiêu hiệu quả biểu thị một mặt, một yếu tố hay một loại chi phí nào đó trong quá trình sử dụng. Các chỉ tiêu này lại mang tính tƣơng đối, tức là nó phản ánh mức đạt đƣợc của một năm để từ đó so với năm trƣớc đó hoặc những năm trƣớc nữa xem nó tăng giảm và biến động nhƣ thế nào. Xu hƣớng biến động nhanh hay chậm cho thấy sự tốt lên hay xấu đi trong quá trình sử dụng chi phí hoặc các nguồn lực. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm nói chung và lĩnh vực bảo hiểm hàng hải nói riêng luôn gắn liền với mục tiêu kinh tế - xã hội. Trƣớc Vũ Thị Thơ - Lớp Nga K41 20 hết là mục tiêu của doanh nghiệp, sau đó là của ngành bảo hiểm và toàn bộ nền kinh tế - xã hội. Bởi vì bảo hiểm không chỉ mang tính kinh tế, mà còn mang tính xã hội. Cho nên, khi đánh giá hiệu quả kinh doanh của kinh doanh bảo hiểm hàng hải không chỉ xét trên góc độ kinh tế mà còn phải xét trên góc độ phục vụ xã hội. Nguyên tắc “lấy số đông bù số ít” trong kinh doanh bảo hiểm càng làm cho tính chất xã hội của nó rõ nét hơn. Từ đó làm cho công tác xã hội hóa của bảo hiểm ngày càng sâu rộng. Bởi vậy hiệu quả xã hội của kinh doanh bảo hiểm hàng hải cũng phải đƣợc phản ánh ở trình độ sử dụng chi phí trong việc tạo ra những kết quả phục vụ xã hội. 2.2. Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải 2.2.1. Chỉ tiêu chung. Xét trên phƣơng diện thống kê, để biểu hiện và đo lƣờng hiệu quả kinh doanh của bảo hiểm hàng hải, không thể dùng một chỉ tiêu, mà phải có một hệ thống chỉ tiêu. Bởi vì, nội dung của phạm trù hiệu quả kinh doanh rất phức tạp. Tính chất phức tạp thể hiện ở ngay bản chất mối quan hệ giữa kết quả với chi phí. Chi phí với tƣ cách là những yếu tố đầu vào của hoạt động kinh doanh rất đa dạng và bao gồm nhiều loại. Ở góc độ kinh tế vĩ mô, nếu hiểu theo nghĩa rộng, chi phí bao gồm toàn bộ nguồn nhân tài, vật lực huy động vào hoạt động kinh doanh. Còn đại lƣợng kết quả lại đƣợc thể hiện ở nhiều chỉ tiêu khác nhau. Việc tính toán và xác định mỗi chỉ tiêu, việc lựa chọn chỉ tiêu nào để phản ánh hiệu quả là những vấn đề phức tạp. Vì thế để đánh giá hiệu quả kinh doanh của bảo hiểm hàng hải phải sử dụng một hệ thống chỉ tiêu. Mỗi chỉ tiêu phản ánh một mặt, một quá trình kinh tế nào đó. Nếu ký hiệu chỉ tiêu chi phí là C và chỉ tiêu kết quả kinh doanh là K thì chỉ tiêu hiệu quả H đƣợc tính từ hai chỉ tiêu trên sẽ là. H= Vũ Thị Thơ - Lớp Nga K41 K C hoặc H = 21 C K
- Xem thêm -