Tài liệu Nâng cao hiệu quả cho vay tiêu dùng tại ngân hàng thương mại cổ phần á châu

  • Số trang: 84 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 74 |
  • Lượt tải: 0
sakura

Đã đăng 11429 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM ---- K --- PHẠM VŨ THANH HÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU Chuyên ngành: Kinh tế tài chính – Ngân hàng Mã số:60.31.12 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS.TRẦN HOÀNG NGÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2010 MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Mục lục Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt Danh mục các bảng, biểu PHẦN MỞ ĐẦU CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY TIÊU 1 DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về Ngân hàng thương mại 1 1.1.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại 1 1.1.2 Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại 1 1.2 Cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại 6 1.2.1 Khái niệm về cho vay tiêu dùng 6 1.2.2 Đặc điểm cho vay tiêu dùng 6 1.2.3 Các hình thức cho vay tiêu dùng 7 1.2.4 Quy trình cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại 1.3 Phương pháp đánh giá hiệu quả cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại 13 16 1.3.1 Khái niệm về hiệu quả cho vay tiêu dùng 16 1.3.2 Một số chỉ tiêu phản ánh và đánh giá hiệu quả cho vay tiêu dùng 17 1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay tiêu dùng 24 Kết luận chương 1 29 CHƯƠNG 2: 31 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU 2.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu 31 2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Á Châu 31 2.1.2 Sơ đồ bộ máy tổ chức của Ngân hàng TMCP Á Châu 34 2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Á Châu thời 36 gian qua 2.2 Thực trạng hiệu quả cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Á Châu 43 2.2.1 Tình hình cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Á Châu 43 2.2.2 Thực trạng hiệu quả cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Á Châu 2.3 Đánh giá chung hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Á 52 58 Châu 2.3.1 Kết quả đạt được 58 2.3.2 Hạn chế 59 Kết luận chương 2 61 CHƯƠNG 3: 64 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU 3.1 Định hướng phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng của Ngân hàng TMCP Á 64 Châu 3.1.1 Định hướng chung của Ngân hàng TMCP Á Châu 64 3.1.2 Định hướng phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng 65 3.2 Một số kiến nghị 66 3.2.1 Kiến nghị đối với các cơ quan quản lý vĩ mô của Nhà nước 66 3.2.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 67 3.2.3 Kiến nghị đối với Ngân hàng TMCP Á Châu 67 3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Á Châu 68 3.3.1 Giải pháp từ phía Nhà nước 68 3.3.2 Giải pháp từ phía Ngân hàng TMCP Á Châu 69 KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO 76 DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT ACB : Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (Á Châu Commercial Bank) CBTD : Cán bộ tín dụng CS&QLTD : Chính sách và quản lý tín dụng CV : Cho vay GCNQSDĐ : Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất GTVT : Giao thông vận tải HĐQT : Hội đồng quản trị KHCN : Khách hàng cá nhân KHDN : Khách hàng doanh nghiệp TCBS : Hệ thống ngân hàng lõi, hệ quản trị nghiệp vụ ngân hàng trọn gói (The Complete Banking Solution) TCTD : Tổ chức tín dụng TMCP : Thương mại cổ phần TNDN : Thu nhập doanh nghiệp DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU Trang Biểu số 2.1: Sơ đồ tổ chức Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu 35 Biểu số 2.2: Tổng hợp tình hình hoạt động tại ACB 36 Biểu số 2.3: Khả năng thanh toán 39 Biểu số 2.4: Khả năng sinh lời 40 Biểu số 2.5: Cơ cấu dư nợ theo thành phần kinh tế 40 Biểu số 2.6: Biến động cơ cấu dư nợ theo thành phần kinh tế 41 Biểu số 2.7: Cơ cấu dư nợ phân theo ngành nghề kinh doanh 42 Biểu số 2.8: Biến động cơ cấu dư nợ theo ngành nghề kinh doanh 42 Biểu số 2.9: Dư nợ cho vay tiêu dùng qua các năm tại ACB 49 Biểu số 2.10: Tăng trưởng cho vay tiêu dùng qua các năm tại ACB 50 Biểu số 2.11: Tỷ trọng dư nợ cho vay tiêu dùng trong tổng dư nợ cho vay tại 51 ACB Biểu số 2.12: Cơ cấu dư nợ cho vay tiêu dùng theo sản phẩm 51 Biểu số 2.13: Tỷ trọng dư nợ cho vay tiêu dùng theo sản phẩm 52 Biểu số 2.14: Đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng đối với ACB theo từng 53 yếu tố chi phối Biểu số 2.15: Doanh thu từ cho vay tiêu dùng qua các năm tại ACB 55 Biểu số 2.16: Tập hợp chi phí liên quan đến cho vay tiêu dùng tại ACB 56 Biểu số 2.17: Lợi nhuận thu được từ cho vay tiêu dùng tại ACB 56 Biểu số 2.18: Tỷ trọng thu nhập từ lãi vay tiêu dùng tại ACB 57 Biểu số 2.19: Bảng tính hiệu quả cho vay tiêu dùng dạng thuận 57 Biểu số 2.20: Bảng tính hiệu quả cho vay tiêu dùng dạng nghịch 58 Biểu số 3.1: 65 Các mục tiêu chủ yếu năm 2010 của ACB PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cần thiết của đề tài - Nền kinh tế thị trường với xu hướng toàn cầu hóa và quốc tế hóa các luồng tài chính đã làm thay đổi căn bản hệ thống ngân hàng, đòi hỏi các ngân hàng thương mại phải cải cách mạnh mẽ để nâng cao năng lực cạnh tranh, nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực quản trị rủi ro. - Ngân hàng thương mại xác định cho vay tiêu dùng là thị trường lớn, nhiều tiềm năng và đem lại lợi nhuận ngày càng cao cho ngân hàng. Bên cạnh việc đẩy mạnh cho vay sản xuất kinh doanh, các ngân hàng thương mại đua nhau triển khai các sản phẩm cho vay tiêu dùng với thủ tục đơn giản, lãi suất thỏa thuận để thu hút khách hàng. - Ngân hàng TMCP Á Châu đã xác định mục tiêu là trở thành ngân hàng bán lẻ hàng đầu tại Việt Nam, trong đó cho vay tiêu dùng luôn chiếm thị phần cao. Tuy nhiên thực tế hoạt động trong những năm qua tại ACB, dư nợ và lợi nhuận từ cho vay tiêu dùng vẫn còn thấp, hoạt động cho vay chưa đem lại hiệu quả cao. Để nâng cao hiệu quả cho vay, ACB phải giải quyết rất nhiều vấn đề như yếu tố nguồn lực, thủ tục cho vay, đa dạng hóa sản phẩm … Vì vậy, đề tài: “Nâng cao hiệu quả cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu” sẽ góp phần thực hiện mục tiêu trên. 2. Mục đích nghiên cứu - Thực hiện nghiên cứu các vấn đề cơ bản về hoạt động cho vay tiêu dùng và hiệu quả cho vay tiêu dùng - Phân tích, đánh giá hiệu quả cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu, từ đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị để nâng cao hiệu quả cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Á Châu. 3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu là hiệu quả cho vay tiêu dùng tại NH TMCP Á Châu. - Phạm vi nghiên cứu là hiệu quả cho vay tiêu dùng tại NH TMCP Á Châu từ năm 2007 đến nay. 4. Phương pháp nghiên cứu Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng gồm: phương pháp phân tích định tính, phân tích định lượng, thống kê, so sánh. 5. Kết cấu của Luận văn Tên luận văn: Nâng cao hiệu quả cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 03 chương: Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hiệu quả cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu 1 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về Ngân hàng thương mại 1.1.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối với cộng đồng địa phương nói riêng. Có nhiều quan điểm khác nhau về Ngân hàng thương mại: - Theo Peter S.Rose: Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. - Theo Luật các tổ chức tín dụng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng: Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. - Có quan điểm cho rằng: Ngân hàng thương mại là nơi trực tiếp giao dịch với công chúng để nhận ký thác, cho vay và cung ứng những dịch vụ tài chính. - Các quan điểm trên đều định nghĩa chính xác về ngân hàng thương mại trên các góc độ khác nhau. Một cách chung nhất, Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp đặc biệt, chuyên kinh doanh tiền tệ với hoạt động thường xuyên là huy động vốn, chiết khấu, cho vay, bảo lãnh, cho thuê và cung cấp các dịch vụ tài chính. 1.1.2 Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp đặc biệt chuyên kinh doanh tiền tệ và có nhiều hoạt động kinh doanh đa dạng xuất phát từ nhu cầu thực tế thị trường. Nhìn chung, Ngân hàng thương mại có các hoạt động chủ yếu sau: 2 1.1.2.1 Mua bán ngoại tệ: Một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi (mua bán) ngoại tệ - một ngân hàng đứng ra mua bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác và hưởng phí dịch vụ. Trong thị trường tài chính ngày nay, mua bán ngoại tệ thường chỉ do các ngân hàng lớn nhất thực hiện bởi vì những giao dịch như vậy có mức độ rủi ro cao, đồng thời yêu cầu phải có trình độ chuyên môn cao. 1.1.2.2 Nhận tiền gửi Cho vay được coi là hoạt động sinh lừoi cao, do đó các ngân hàng đã tìm mọi cách để huy động được tiền. Một trong những nguồn vốn quan trọng là các khoản tiền gửi (thanh toán và tiết kiệm của khách hàng). Ngân hàng mở dịch vụ nhận tiền gửi để bảo uqarn hộ người có tiền với cam kết hoàn trả đúng hạn. Trong cuộc cạnh tranh để tìm và giành được các khoản tiền gửu, các ngân hàng đã trả lãi cho tiền gửi như là phần thưởng cho khách hàng về việc bỏ nhu cầu tiêu dùng trước mắt và cho phép ngân hàng sử dụng tạm thời để kinh doanh. 1.1.2.3 Cho vay Sau khi huy động nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trên thị trường, Ngân hàng thương mại sẽ dùng một phần để dự trữ bắt buộc tại Ngân hàng Nhà nước, phần còn lại được dùng để cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay như sau: Cho vay thương mại Ngay ở thời kỳ đầu, các ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực tế là cho vay đối với người bán (người bán chuyển các khoản phải thu cho ngân hàng để lấy tiền trước). Sau đó là bước chuyển tiếp từ chiết khấu thương phiếu sang cho vay trực tiếp đối với khách hàng (là người mua), giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh. Cho vay tiêu dùng Trong giai đoạn đầu hầu hết các ngân hàng không tích cực cho vay đối với cá nhân và hộ gia đình vì họ tin rằng các khoản vay tiêu dùng có khả năng xảy ra rủi ro vỡ nợ tương đối cao. Sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh trong 3 cho vay đã bắt buộc các ngân hàng phải hướng tới người tiêu dùng như là một khách hàng tiềm năng. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, tín dụng tiêu dùng đã trở thành một trong những loại hình tín dụng tăng trưởng nhanh nhất ở các nước có nền kinh tế phát triển. Tài trợ cho dự án Bên cạnh cho vay truyền thống là cho vay ngắn hạn, các ngân hàng ngày nay càng trở nên năng động trong việc tài trợ cho xây dựng nhà máy mới …, đặc biệt là trong các ngành công nghệ cao. 1.1.2.4 Bảo quản vật có giá Các ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng và các vật có giá khác cho khách hàng trong kho bảo quản, Ngân hàng giữ vàng và giao cho khách hàng tờ biên nhận (giấy chứng nhận do ngân hàng phát hành). Do khả năng chi trả bất cứ lúc nào cho giấy chứng nhận, nên giấy chứng nhận đã được sử dụng như tiền – dùng để thanh toán các khoản nợ trong phạm vi ảnh hưởng của ngân hàng phát hành. Lợi ích của việc sử dụng phương tiện thanh toán bằng giấy thay cho bằng kim loại đã khuyến khích khách hàng gửi tiền vào ngân hàng để đổi lấy giấy chứng nhận của ngân hàng. Đó là hình thức đầu tiên của giấy bạc ngân hàng. Ngày nay, vật có giá được tách khỏi tiền gửi và khách hàng phải trả phí bảo quản. 1.1.2.5 Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán Khi các doanh nhân gửi tiền vào ngân hàng, họ nhận thất ngân hàng không chỉ bảo quản mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng của họ. Thanh toán qua ngân hàng đã mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, tức là người gửi tiền không cần phải đến ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết giấy chi trả cho khách (còn được gọi là séc), khách hàng mang giấy đến ngân hàng sẽ được nhận tiền. Các tiện ích của thanh toán không dùng tiền mặt (an toàn, nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm chi phí) đã góp phần rút ngắn thời gian kinh doanh và nâng cao thu nhập cho các doanh nhân. Khi ngân hàng mở chi nhánh, thanh toán qua ngân hàng được mở rộng phạm vi, càng tạo nhiều tiện ích cho các doanh nhân. Điều này khuyến khích các doanh nhân gửi tiền vào ngân hàng để nhờ ngân hàng thanh toán hộ. Như 4 vậy, một dịch vụ mới, quan trọng nhất được phát triển đó là tài khoản tiền gửi giao dịch, cho phép người gửi tiền viết séc thanh toán cho việc mua hàng hoá và dịch vụ. Việc đưa ra loại tài khoản tiền gửi mới này được xem là một trong những bước đi quan trọng nhất trong công nghiệp ngân hàng. Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, nhiều thể thức thanh toán được phát triển như Ủy nhiệm chi, nhờ thu, thanh toán bằng điện, thẻ … 1.1.2.6. Quản lý ngân quỹ Các ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền của phần lớn các doanh nghiệp và nhiều cá nhân. Nhờ đó, ngân hàng thường có mối liên hệ chặt chẽ với nhiều khách hàng. Do có kinh nghiệm trong quản lý ngân quỹ và khả năng trong việc thu ngân, nhiều ngân hàng đã cung cấp cho khách dịch vụ quản lý ngân quỹ, trong đó ngân hàng đồng ý quản lý việc thu chi cho một công ty kinh doanh và tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh lợi và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán. 1.1.2.7. Tài trợ các hoạt động của Chính Phủ Khả năng huy động và cho vay với khối lượng lớn của ngân hàng đã trở thành trọng tâm chú ý của các Chính Phủ. Do nhu cầu chi tiêu lớn và thường là cấp bách trong khi thu không đủ, Chính Phủ các nước đều muốn tiếp cận với các khoản cho vay của ngân hàng. Trong điều kiện các ngân hàng tư nhân không muốn tài trợ cho Chính Phủ vì rủi ro cao, Chính Phủ thường dùng một số đặc quyền trao đổi lấy các khoản vay của những ngân hàng lớn. Khi ngân hàng Trung ương thành lập, Chính Phủ đều tìm cách tham dự hoặc trực tiếp can thiệp để có được các khoản tín dụng lớn. Ngày nay, Chính Phủ giành quyền cấp phép hoạt động và kiểm soát các ngân hàng. Các ngân hàng được cấp giấy phép thành lập với điều kiện là họ phải cam kết thực hiện với mức độ nào đó các chính sách của Chính Phủ và tài trợ cho Chính Phủ. Các ngân hàng phải mua trái phiếu Chính Phủ theo một tỷ lệ nhất định trên tổng lượng tiền gửi mà ngân hàng huy động được hoặc phải cho vay với các điều kiện ưu đãi cho các doanh nghiệp của Chính Phủ. 5 1.1.2.8. Bảo lãnh Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho một khách hàng rất lớn và do ngân hàng nắm giữ tiền gửi của các khách hàng, nên ngân hàng có uy tín trong bảo lãnh cho khách hàng. Trong những năm gần đây, nghiệp vụ bảo lãnh ngày càng đa dạng và phát triển mạnh. Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của mình mua chịu hàng hoá và trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn của tổ chức tín dụng khác … 1.1.2.9. Cho thuê thiết bị trung và dài hạn Nhằm để bán được các thiết bị, đặc biệt là các thiết bị có giá trị lớn, nhiều hãng sản xuất và thương mại đã cho thuê (thay vì bán) các thiết bị. Cuối hợp đồng thuê, khách hàng có thể mua (do vậy còn gọi là hợp đồng thuê mua). Rất nhiều ngân hàng tích cực cho khách hàng kinh doanh quyền lựa chọn thuê các thiết bị, máy móc cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua, trong đó ngân hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê. Hợp đồng cho thuê thường phải đảm bảo yêu cầu khách hàng phải trả tới hơn 2/3 giá trị của tài sản cho thuê. Do vậy, cho thuê của ngân hàng cũng có nhiều điểm giống như cho vay, và được xếp vào tín dụng trung và dài hạn. 1.1.2.10. Cung cấp dịch vụ ủy thác và tư vấn Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính các ngân hàng có rất nhiều chuyên gia về quản lý tài chính. Vì vậy, nhiều cá nhân và doanh nghiệp đã nhờ ngân hàng quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ. Dịch vụ uỷ thác phát triển sang cả uỷ thác vay hộ, uỷ thác cho vay hộ, uỷ thác phát hành, uỷ thác đầu tư… Thậm chí, các ngân hàng đóng vai trò là người được uỷ thác trong di chúc, quản lý tài sản cho khách hàng đã qua đời bằng cách công bố tài sản, bảo quản các tài sản có giá. Nhiều khách hàng còn coi ngân hàng như một chuyên gia tư vấn tài chính. Ngân hàng sẵn sàng tư vấn về đầu tư, quản lý tài chính, về thành lập, mua bán, sáp nhập doanh nghiệp. 1.1.2.11. Cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán Ngân hàng thương mại cung cấp các dịch vụ tài chính cho khách hàng nhằm thoả mãn mọi nhu cầu. Ngân hàng bắt đầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác 6 mà không phải nhờ đến người kinh doanh chứng khoán. Trong một vài trường hợp, các ngân hàng thành lập công ty chứng khoán hoặc công ty môi giới chứng khoán. 1.1.2.12. Cung cấp các dịch vụ đại lí Trong quá trình hoạt động, Ngân hàng thương mại không thể thiết lập chi nhánh hoặc văn phòng ở khắp mọi nơi. Trong hệ thống các ngân hàng thương mại, ngân hàng này cung cấp dịch vụ ngân hàng đại lý cho các ngân hàng khác như thanh toán hộ, phát hành hộ các chứng chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ … 1.2 Cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại 1.2.1 Khái niệm về cho vay tiêu dùng - Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình. Đây là nguồn tài chính quan trọng giúp cho những người này trang trải nhu cầu nhà ở, đồ dùng gia đình và phương tiện đi lại … Bên cạnh đó, những chi tiêu cho nhu cầu giáo dục, y tế và du lịch … cũng có thể được tài trợ bởi cho vay tiêu dùng. - Cho vay tiêu dùng đóng vai trò ngày càng quan trọng và đem lại thu nhập ngày càng cao cho ngân hàng, đồng thời giúp cho cá nhân, hộ gia đình có thể mua sắm, chi tiêu phục vụ cuộc sống hàng ngày mà không cần phải chờ đến khi tích lũy đủ tiền. 1.2.2 Đặc điểm cho vay tiêu dùng - Khách hàng vay: là cá nhân và hộ gia đình - Mục đích: đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cá nhân như mua nhà, xây dựng, sửa chữa nhà, chữa bệnh, đi học … Nhờ vay tiêu dùng, các cá nhân và hộ gia đình được hưởng các tiện ích trước khi tích luỹ đủ tiền và đặc biệt quan trọng hơn nó rất cần thiết cho những trường hợp khi cá nhân có các chi tiêu có tính cấp bách. Tuy vậy, nếu lạm dụng việc đi vay để tiêu dùng thì cũng rất tai hại vì nó có thể làm cho người đi vay chi tiêu vượt quá mức cho phép, làm giảm khả năng tiết kiệm và chi tiêu trong tương lai, còn nghiêm trọng hơn, nếu mất khả năng chi trả thì người này có thể gặp rất nhiều phiền toái trong cuộc sống. 7 - Thời hạn vay: đây là các khoản cho vay ngắn hạn, trung dài hạn. - Quy mô của từng hợp đồng vay thường nhỏ, dẫn đến chi phí tổ chức cho vay cao, vì vậy lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao hơn so với lãi suất của các loại cho vay trong lĩnh vực thương mại và công nghiệp. - Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng thường phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế - Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng hầu như ít co dãn với lãi suất. Thông thường, người đi vay quan tâm tới số tiền phải thanh toán hơn là lãi suất mà họ phải chịu. Việc đưa ra một lịch trả nợ phù hợp với thu nhập của người đi vay trong một kỳ hạn nhất định sẽ là yếu tố mang tính quyết định trong việc chấp thuận vay vốn. - Mức thu nhập và trình độ học vấn là hai biến số có quan hệ rất mật thiết tới nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng - Chất lượng các thông tin tài chính của khách hàng vay thường không cao - Nguồn trả nợ chủ yếu của người đi vay có thể biến động lớn, phụ thuộc vào quá trình làm việc, kỹ năng và kinh nghiệm đối với công việc của những người này. - Tư cách của khách hàng là yếu tố khó xác định song lại rất quan trong, quyết định sự hoàn trả của khoản vay. - Lợi nhuận từ cho vay tiêu dùng cao: Do rủi ro và chi phí cho vay tiêu dùng lớn nên các ngân hàng thường quy định lãi suất cho vay tiêu dùng cao, nhằm đảm bảo nguồn thu nhập của ngân hàng và giúp ngân hàng hạn chế được tổn thất có thể xảy ra. 1.2.3. Các hình thức cho vay tiêu dùng Cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau. Nhìn chung, cho vay tiêu dùng bao gồm các hình thức chủ yếu sau: 1.2.3.1. Căn cứ vào mục đích vay: Cho vay tiêu dùng được phân chia thành hai loại: Cho vay đối với bất động sản Cho vay đối với bất động sản là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm, xây dựng và cải tạo nhà ở của khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình. Cho 8 vay tài trợ đối với bất động sản khác với phần lớn các hình thức cho vay khác trên một số khía cạnh chủ yếu sau: - Thứ nhất, quy mô của khoản vay bất động sản thường lớn hơn nhiều so với các khoản vay tiêu dùng khác như mua sắm phương tiện đi lại, đồ dùng gia đình … - Thứ hai, đây là khoản vay có thời hạn dài nhất so với khoản cho vay khác. Các khoản vay có thời hạn càng dài thì càng chứa đựng nhiều nguy cơ rủi ro, trong quá trình cho vay có thể xảy ra rất nhiều vấn đề ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng như ốm đau, bệnh tật, sự thay đổi môi trường làm việc làm ảnh hưởng đến thu nhập … - Thứ ba, cần đặc biệt quan tâm đến định giá tài sản đảm bảo của khoản vay. Tài sản đảm bảo cho khoản vay này chủ yếu là bất động sản. Do thời hạn cho vay dài, để hạn chế rủi ro tín dụng có thể xảy ra cũng như biến động giá bất động sản trên thị trường, việc định giá tài sản đảm bảo có vai trò đặc biệt quan trọng. Việc đánh giá giá trị tài sản đảm bảo phải tuân theo tiêu chuẩn của Ngành, của Chính Phủ và cần phải đánh giá tính khả mại của tài sản, đảm bảo việc tiến hành phát mại được thuận lợi, dễ dàng. Cho vay tiêu dùng thông thường Cho vay tiêu dùng thông thường là các khoản cho vay tài trợ cho việc trang trải các chi phí mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí học hành và du lịch … Khi xem xét, đồng ý cho vay, yếu tố cần phải quan tâm đầu tiên là thu nhập để trả nợ của người vay, mức độ ổn định của nguồn thu nhập, tư cách đạo đức, địa vị xã hội của khách hàng, sau đó mới xem xét đến giá trị của tài sản đảm bảo. 1.2.3.2. Căn cứ vào phương thức hoàn trả: Cho vay tiêu dùng được phân chia thành ba loại: Cho vay trả góp Cho vay trả góp là hình thức cho vay tiêu dùng trong đó người đi vay trả nợ (gồm số tiền gốc và lãi) cho ngân hàng nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định trong thời hạn cho vay. Phương thức này thường được áp dụng cho các khoản vay có giá trị 9 lớn và thu nhập từng định kỳ của người vay không đủ khả năng thanh toán hết một lần số nợ vay. Cho vay trả một lần Theo phương thức này tiền vay được khách hàng thanh toán cho ngân hàng chỉ một lần khi đến hạn. Hình thức cho vay này được áp dụng đối với các khoản vay có giá trị nhỏ với thời hạn không dài, đáp ứng nhu cầu từng lần, không thường xuyên của khách hàng như khoản vay để chi trả cho những chuyến đi nghỉ, tiền viện phí, mua các dụng cụ gia đình … Cho vay tuần hoàn Cho vay tuần hoàn là khoản cho vay tiêu dùng trong đó ngân hàng cho phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành loại séc được phép thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai. Theo phương pháp này, trong thời hạn tín dụng được thoả thuận trước, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm được từng kỳ, khách hàng được ngân hàng cho phép thực hiện việc vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo một hạn mức tín dụng. 1.2.3.3. Căn cứ vào phương thức cho vay: Căn cứ vào phương thức cho vay, cho vay tiêu dùng được phân thành Cho vay tiêu dùng gián tiếp và Cho vay tiêu dùng trực tiếp. Cho vay tiêu dùng gián tiếp Cho vay tiêu dùng gián tiếp là hình thức cho vay trong đó ngân hàng mua các khoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hoá hay dịch vụ cho người tiêu dùng. Thông thường cho vay tiêu dùng gián tiếp được thực hiện theo sơ đồ sau: 10 1- Ngân hàng và công ty bán lẻ ký kết hợp đồng mua bán nợ. Trong hợp đồng, ngân hàng thường đưa ra các điều kiện về đối tượng khách hàng được bán chịu, số tiền bán chịu tối đa và loại tài sản bán chịu … 2- Công ty bán lẻ và người tiêu dùng ký kết hợp đồng mua bán chịu hàng hoá. Thông thường người tiêu dùng phải trả trước một phần giá trị tài sản. 3- Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng. 4- Công ty bán lẻ bán bộ chứng từ bán chịu hàng hoá cho ngân hàng. 5- Ngân hàng thanh toán tiền cho Công ty bán lẻ. 6- Người tiêu dùng thanh toán tiền trả góp cho ngân hàng.  Cho vay tiêu dùng gián tiếp có một số ưu điểm sau: - Cho phép ngân hàng dễ dàng tăng doanh số cho vay tiêu dùng. - Cho phép ngân hàng giảm được chi phí trong cho vay. - Là nguồn gốc của việc mở rộng quan hệ với khách hàng và các hoạt động ngân hàng khác. - Trong trường hợp có quan hệ với những công ty bán lẻ tốt, cho vay tiêu dùng gián tiếp an toàn hơn cho vay tiêu dùng trực tiếp.  Bên cạnh một số ưu điểm vừa kể, cho vay tiêu dùng gián tiếp có một số nhược điểm sau: - Ngân hàng không tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng đã được bán chịu nên không đánh giá chính xác khả năng trả nợ, tư cách đạo đức của người mua…. Do vậy, loại hình cho vay này tiềm ẩn rủi ro tín dụng có thể xảy ra đối với NH. - Thiếu sự kiểm soát của ngân hàng khi công ty bán lẻ thực hiện việc bán chịu hàng hoá. Ngân hàng không thể kiểm tra chính xác việc mua bán hàng, công ty bán lẻ và người mua có thể thông đồng để thực hiện hành vi lừa đảo vay vốn ngân hàng, khai khống hóa đơn chứng từ mua bán hàng hóa. - Kỹ thuật nghiệp vụ cho vay tiêu dùng gián tiếp có tính phức tạp cao. Do những nhược điểm kể trên nên có rất nhiều ngân hàng không mặn mà với cho vay tiêu dùng gián tiếp. Còn những ngân hàng nào tham gia vào hoạt động này thì đều có các cơ chế kiểm soát tín dụng rất chặt chẽ. 11  Cho vay tiêu dùng gián tiếp thường được thực hiện thông qua các phương thức sau: - Tài trợ truy đòi toàn bộ: Theo phương thức này khi bán cho ngân hàng các khoản nợ mà người tiêu dùng đã mua chịu, công ty bán lẻ cam kết sẽ thanh toán cho ngân hàng toàn bộ các khoản nợ nếu, khi đến hạn, người tiêu dùng không thanh toán cho ngân hàng. - Tài trợ truy đòi hạn chế: Theo phương thức này, trách nhiệm của công ty bán lẻ đối với các khoản nợ người tiêu dùng mua chịu không thanh toán chỉ giới hạn trong một chừng mực nhất định, phụ thuộc vào các điều khoản đã được thoả thuận giữa ngân hàng với công ty bán lẻ. Ngân hàng yêu cầu công ty bán lẻ phải thực hiện các cam kết sau: + Công ty bán lẻ phải chịu trách nhiệm thanh toán một phần nợ trong trường hợp người mua chịu không đủ các tiêu chuẩn tín dụng do ngân hàng đề ra. + Công ty bán lẻ cam kết chịu trách nhiệm cho toàn bộ số nợ đã bán chịu cho đến khi ngân hàng thu hồi được các khoản nợ đúng hạn. + Toàn bộ trách nhiệm thanh toán nợ của công ty bán lẻ được giới hạn trong phạm vi số tiền dự phòng ký gửi tại ngân hàng. Số tiền dự phòng có tác dụng hạn chế rủi ro cho ngân hàng khi người mua chịu không trả nợ. - Tài trợ miễn truy đòi: Theo phương thức này sau khi bán các khoản nợ cho ngân hàng, công ty bán lẻ không còn trách nhiệm cho việc chúng có được hoàn trả hay không. Phương thức này chứa đựng rủi ro cao cho ngân hàng nên chi phí tài trợ thường được ngân hàng tính cao hơn so với các phương thức nói trên và các khoản nợ được mua cũng được kén chọn rất kỹ. Ngoài ra, chỉ có những công ty bán lẻ rất được ngân hàng tin cậy mới được áp dụng phương thức này. - Tài trợ có mua lại: Khi thực hiện cho vay tiêu dùng gián tiếp theo phương thức miễn truy đòi hoặc truy đòi hạn chế, nếu rủi ro xảy ra, người tiêu dùng không trả nợ thì ngân hàng thường thanh lý tài sản để thu hồi nợ. Trong trường hợp này, nếu có thoả thuận trước thì ngân hàng có thể bán trở lại cho công ty bán lẻ phần 12 nợ mình chưa được thanh toán, kèm với tài sản đã được sử dụng trong một tài sản nhất định. Thông qua tài trợ có mua lại sẽ giúp ngân hàng hạn chế được rủi ro và tìm kiếm được nhiều khách hàng hơn thông qua hệ thống các cửa hàng bán lẻ. Cho vay tiêu dùng trực tiếp: Cho vay tiêu dùng trực tiếp là các khoản cho vay tiêu dùng trong đó ngân hàng trực tiếp tiếp xúc và cho khách hàng vay cũng như trực tiếp thu nợ từ người này. Cho vay tiêu dùng trực tiếp được thực hiện qua sơ đồ sau: 1- Ngân hàng và người tiêu dùng ký kết hợp đồng vay 2- Người tiêu dùng trả trước một phần số tiền mua tài sản cho công ty bán lẻ 3- Ngân hàng thanh toán số tiền mua tài sản còn thiếu cho công ty bán lẻ 4- Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng 5- Người tiêu dùng thanh toán tiền vay cho ngân hàng  So với cho vay tiêu dùng gián tiếp, cho vay tiêu dùng trực tiếp có một số ưu điểm sau: - Trong cho vay tiêu dùng trực tiếp ngân hàng có thể tận dụng được sở trường của nhân viên tín dụng. Những người này thường được đào tạo chuyên môn và có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực tín dụng cho nên các quyết định tín dụng trực tiếp của ngân hàng thường có chất lượng cao hơn so với trường hợp chúng được quyết định bởi những công ty bán lẻ hoặc nhân viên tín dụng của công ty bán lẻ. Ngoài ra, trong hoạt động của mình, nhân viên tín dụng ngân hàng có xu hướng chú trọng đến việc tạo ra các khoản cho vay có chất lượng tốt trong khi nhân viên của những công ty bán lẻ thường chú trọng đến việc bán cho được nhiều hàng. 13 Bên cạnh đó, tại các điểm bán hàng, các quyết định tín dụng được đưa ra vội vàng và như vậy có thể có nhiều khoản tín dụng được cấp ra một cách không chính đáng. Hơn nữa, trong một số trường hợp, do quyết định nhanh, công ty bán lẻ có thể từ chối cấp tín dụng đối với khách hàng tốt của mình. Nếu người cấp tín dụng là ngân hàng, điều này có thể được hạn chế. - Cho vay tiêu dùng trực tiếp có ưu điểm là linh hoạt hơn so với cho vay tiêu dùng gián tiếp. - Khi khách hàng có quan hệ trực tiếp với ngân hàng, có rất nhiều lợi thế có thể phát sinh, có khả năng làm thoả mãn quyền lợi cho cả hai phía khách hàng lẫn ngân hàng. - Thông qua cho vay tiêu dùng trực tiếp, nhân viên ngân hàng sẽ tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, giới thiệu sản phẩm phù hợp với nhu cầu của khách hàng, tư vấn tài chính cho khách hàng, đồng thời bán chéo sản phẩm ngân hàng, quảng bá hình ảnh của ngân hàng … 1.2.4 Quy trình cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại - Quy trình cho vay giúp cho quá trình vay diễn ra thống nhất, khoa học, hạn chế, phòng ngừa rủi ro và nâng cao chất lượng tín dụng, góp phần đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu vay vốn của khách hàng. Quy trình này cũng xác định người thực hiện công việc và trách nhiệm của các cán bộ liên quan trong quá trình cho vay. - Quy trình cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại gồm các bước sau đây: Bước 1: Phỏng vấn ban đầu - Cán bộ tín dụng phỏng vấn khách hàng và xác định nhu cầu của khách hàng. - CBTD hướng dẫn các tiêu chuẩn cho vay của ngân hàng, xác định yêu cầu vay vốn của khách hàng có phù hợp với các quy định cho vay tiêu dùng hay không. - Trong giai đoạn này, CBTD có đủ thông tin chi tiết về khách hàng (thu nhập, việc làm, tài sản …) để ra quyết định từ chối đối với khách hàng không đủ điều kiện vay vốn. - Nếu khách hàng đủ điều kiện vay vốn, CBTD hướng dẫn khách hàng về các tài liệu cần thiết để làm hồ sơ vay vốn.
- Xem thêm -