Tài liệu Nâng cao chất lượng vệ sinh thực phẩm bằng cách ứng dụng hệ thống

  • Số trang: 58 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 42 |
  • Lượt tải: 0
tranphuong

Đã đăng 59174 tài liệu

Mô tả:

LUẬN VĂN Nâng cao chất lượng vệ sinh thực phẩm bằng cách ứng dụnghệ thống HACCP vào hoạt động sản xuất của doanh nghiệp Lời Mở Đầu Xu thế toàn cầu hoá xuất hiện trở thành một dòng thác lớn khi cuộc cáchmạng khoa học và công nghệ hiện đại phát triển lên một đỉnh cao mới đưa đến những kỹ thuật mũi nhọn tạo ra năng suất lao động rất cao. Lực lượng sản xuất lớn mạnh vượt bậc theo hướng quốc tế hoá ngày càng tăng. Các thành tựu của cuộc cách mạng thông tin và giao thông hiện đại cho phép tổ chưc sản xuất vận chuyển, lưu thông buôn bán trên quy mô toàn thế giới, thúc đẩy su thế toàn cầu hoá kinh tế và thương mại tăng lên mạnh mẽ. Do đó bất cứ một quốc gia nào nếu không muốn bị gạt ra khỏi guồng máy đó, thì phải chủ động hội nhập.Với su thế chuyển từ đối đầu sang đối thoai và với phương châm Việt Nammuốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới, hợp tác trên tất cả các lĩnh vực văn hoá, khoa học kỹ thuật…. đặc biệt là lĩnh vực kinh tế, trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và cùng có lợi, Việt Nam và Mỹ đã khép lại quá khứ đắng cay, mở ra một tương lai tốt đẹp hơn, hai nước đã tiến hanh thiết lập quan hệ ngoại giao không ngừng cải thiện quan hệ kinh tếthương mại hai nước ra sức thúc đẩy quan hệ buôn bán giữa Việt Nam và Mỹlên một tầm cao mới đIũu này được thể hiện bằng hành động cụ thể, đó là xúc tiến quá trình đàm phánđể đi tới mmột quan hệ thương mại bình thường trên cơ sở đó” hiệp định thương mại ” đã được kí kết. đây là một bước tiến quan trọng trong quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Một khi thương mạicó hiêu lực tạo ra cơ sở pháp lí cho quan hệ quốc tế giữa hai nước trên cơ sở hai bên cùng có lợi`,phù hợp với mong muốn của nhân dân hai nước.Theo như lời thứ trưởng thương mại Mai Văn Dậu :”Hiệp định thương mại Việt Mĩ được kí kết đáp ứng lòng mong mỏi không chỉ riêng các doanh nghiệp Việt Nam và Mĩ,mà cả các doanh nghiệp nước ngoài khác. Chẳng những có lợi cho hai nước, mà còn có lợi cho sự hợp tác ở Đông Nam á, Châu á- Thái Bình Dương cũng như trên thế giới. Kí kết hiệp định thương mại Việt Mỹ là thành tựu mới của việc triển khai đường lối đối ngoại độc lập tự chủ , rộng mở ,đa phương hoá ,đa dạng hoá của Đảng và nhà nước Việt Nam và là một bước tiến mới trong quá trình Việt Nam chủ động gia nhập với nền kinh tề thế giới , và hiệp định này là bước tiến quan trọng của Việt Nam khi tham gia vào tổ chức thương mại thế giới WTO”. Bên cạnh những cơ hội thuận lợi hiệp định thương mại Việt - Mỹ cũng lập ra những thách thức lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập đó là khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam nhìn chung còn yếu kém xuất phát từ lý do đó em xin chọn đề tài: “Hiệp định thương mại Việt Mỹ-Cơ hội và thách thức” làm đề tài nghiên cứu môn học” . Đề tàI này gồm có ba phần: Phần I :Tổng quan về hiệp định thương mại Việt – Mĩ. Phần II:Cơ hội - Thách thức của Việt Nam khi thực hiện hiệp định thương mại ViệtMỹ. Phần III:Một số biện pháp phát triển thương mại Việt – Mĩ. Phần I: tổng quan về hiệp định thương mại Việt Mỹ I.bối cảnh đi đến kí kết Hiệp Định: I .1, Mỹ –thị trường lớn nhất và hấp dẫn nhất: Mỹ là nền kinh tế vào loai lớn nhất thế giới với tổng sản phẩm trong nước(GDP)năm 1999 là 9250 tỷ USD. Gần mười năm liên tục kinh tế mỹ luôn duy trìđược tốc độ tăng trưởng cao chưa từng có trong lịch sửcủa mình kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II (trung bình từ 3% đến 4%) vài năm gần đây kinh tế Mỹ liên tục được xếp là nền kinh tế cạnh tranh nhấtthế giới. đây là mmột điều rất có ý nghĩanếu như chúng ta biết rằng, chỉ cần 1% tăng trưởngcủa nền kinh tế mỹ cũng sẽ tạo ra gí trị tuyệt đốicòn lớn hơn 15% tăng trươngr của lền kinh tế Trung Quốc. Chính tốc độ tăng trưởng ngoại mục nàycùng với đặc điểm là một nước đông dân với hơn 250 triệu người đã khiến cho nhu cầu về tiêu dùngcá nhân tại Mỹ không ngừng tăng lên, tiêu dùng cá nhân chiếm tới 70% . điều đố có nghĩa là nhu cầu mua sắm hàng hoá , đặc biệt là hàng hoá cá nhân như quần áo, giáy dép, đồ điện gia dụng …. Vẫn sẽ ở mức cao. Tổng dung lượng nhập khẩu của Mỹ ở mức cao nhất thế giới trên cả EU. Hầu như mọi hạng hoá của mọi quốc gia đều có mặt trên thị trường Mỹ .bên cạnh đó ,nền kinh tế Mỹ có sức mua cực lớn với các phân đoạn thị trường rộng vì thế có thể thu hút và tiêu thụ nhiêu chủng loại hàng hoá khác nhau với số lượng rất lớn thuộc đủ mọi chất lượng từ trung bình đến cao . hơn nữa hiện nay Mỹ về cơ bản đã thực hiện xong việc chuyển đổi kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức (thông tin ,điện tử…) Mỹ tập trung vào phát triển các nghành dịch vụ công nghệ cao và công nghệ thông tin .một mặt họ gia sức tìm cách mở rộng thi trường xuất khẩu dịch vụ (ngân hàng, tài chính…) ,hàng công nghệ cao như máy vi tính điện tử ,viễn thông, … Mặt khác họ khuyến khích nhập khẩu hàng hoá cần nhiều lao động tứ nước khác bởi chi phí nhân công của họ rất cao. Điều này tạo ra sức cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường trong nước Mỹ ,để dân chúng được mua hàng hoá với giá cả rẻ hơn, chất lượng cao hơn. I .2, Tình hình Việt Nam: Việt Nam là một nước đang phát triển có trình độ khoa học, cơ sỏ hạ tầng kém ,dân số trên 80 triệu người, có nhiều tài nguyên thiên nhiên và lực lượng lao động rồi rào, có trình độ tay nghềtương đối cao ,cần cù chịu khó và thông minh. Lợi thế này Việt Nam có thể tận dụng để tiến hành sản xuất những hàng hoá cần nhiều lao động . mặt khác Việt Nam với dân số đông cũng hứa hẹn nhiều tiềm năng về sức mua , tiêu dùng , khi thu nhập của người dân tăng. Khi đó không chỉ có nhu cầu về những hàng hoá thopong thường ,mà còn có nhu cầu về hàng hoá cao cấp hơn như vậy Việt Nam là một thị trường đầy tiềm năngvà khá hấp dẫn đối với các doanh nghiệp trong và ngoài nước trong thời gian tới. Việt Nam hiện nay đang tiến hành công cuộc Công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, tạo cơ sở hạ tầng , kinh tế kỹ thuật … cho cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Lịch sử đã chứng minh rằng từ một nền kinh tế sản xuất nhỏ lên một nền kinh tế sản xuất lớn , nền kinh tế hàng hoá thì có hai con đường . con đương thứ nhất là con đường lịch sử tự nhiên đi từ sản xuất nhỏ rôi đến hình thành nền công trường thủ công sau đó hình thành sản xuất lớn . còn con đường thứ hai là con đường mà nó diễn ra thông qua hình thức thương mại trao đổi giữa nươcs này với nước khác, trao đỏi với nhiều nước. Nừu thực hiện bằng con đường thứ nhất phải mất một khoảng thời gian rất dài là 200 đến 300 năm . còn con đường thứ hai thì chỉ mất khoảng 60 năm . trong tình hình hiện nay , Việt Nam so với các nước trong khu vực và trên thé giới đã tụt hậu quá xa. để rút ngắn khoảng cách tụt hậu , đồng thời thực hiện xong CNH-HĐH trong một thời gian nhanh nhất thì không có cách nào khác Việt Nam phải tiến hành bằng con đương thương maịo hoá, tiến hành mở cửa , quan hệ kinh tế thương mại với nhiều nước. ý thức ĐƯẻc vấn đề này Đảng ta đã đưa ra đường nôi tiến hành quan hệ với nhiều nước trên mọi lĩnh vực kinh tế, văn hoá , xã hội … theu hướng đa phương hoá đa dạng hoá trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và cùng có lợi . Thực hiện đường nôi đối ngoại độc lập tự chủ , đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế với phương châm “Việt Nam muốn là bạn với tất cảcác nứơc kể cả nhưng nước trước đây là kẻ thù của mình “ .Đảng và nhà nước ta đã chủ trương bình thường hoá quan hệ với Hoa Kỳ. Việc lập quan hệ ngoại giao với Mỹ vào tháng 5 năm 1995 đánh dấu cho quan hệ thương mại giữa hai nước, đem lại cho cả người dan Mỹ có thể tiêu dùng những hàng hoá được sản xuất tại Việt Nam, và đem lại cả cho nhân đân Việt Nam được tiêu dùng hàng hoá mỹ trên đất nước Việt Nam có các nhà đầu tue Mỹ , Việt Nam là mảnh đất mà các nhà đầu tư kinh doanh mỹ có thể kiếm lời. Tuy nhiên , do Việt Nam là nước mà Mỹ chưa cho hưởng quy chế tối huệ quốc, nên hàng hoá Việt Nam xuất khẩu sang mỹ phải chịu thuế xuất cao hơn, ngược lạ phía Mỹ cũng có những bất lợi trên thị trường Việt Nam do bị đáng thuế cao . trước tình hình đó Việt Nam và Hoa Kỳ đã tiến hành các cuộc đàm phán và hiệp định thương mại , hai nước đã có những bước đi cụ thể để tạo khuôn khổ phýap lý cho các hoật động thương mại . hai bên đã ký kết các hiệp định về xử lý nợ , cơ cấu lại số nợ cũ . việc Việt Nam trả 145tỷ USD mà chính quyền Sài Gòn còn nợ Mỹ - điều này chứng tỏ Việt Nam rất thiện trí trong việc bình thường hoá quan hệ với Mỹ. Tiếp theu đó là hiệp định về hoạt động của tổ chức đầu tư tư nhân ở hải ngoại ( OPIC) hai hiệp định với nghân hàng xuất nhập khẩu Mỹ ( EXIM BANK)nhằm khuyến khích các dự án đầu tư của Mỹ tai Việt Nam. Hai bên đã thương lượng hiệp định hợp tác khoa học công nghệ , hiệp định hàng không , thoả thuận phòng chống ma tuý , hợp tác y tế , hiệp định về bản quyền , quyền tác giả…. Ngày 13 – 07- 2000, tại WASHINGTON ( 14-07 theo giờ Việt Nam) bộ trưởng thương mại Việt Nam Vũ Khoan và bà Chacleen Barshefski, Đại diện thương mại thuộc phủ tổng thống Hoa Kỳ đã thay mặt chính phủ Hoa Kỳ , đã khép lại quá trình đàm phán 4 năm ròng đánh dấu một bước tiến mới trong quan hệ thương mại Việt – Mỹ, ký kết “hiệp định thương mại giữa nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và hợp chủng quốc Hoa Kỳ” Việc đàm phán và kí kết hiệp định thương mại Việt – Mỹ là bước đi cần thiết để hoàn tất quá trình bình thường hoá quan hệ Việt- Mỹ và cũng nằm trong qúa trình nước ta hội nhập từng bước với nền kinh tế khu vực và thế giới theo tinh thần của mghị quyết đại hội VIII là “Nhiệm vụ đối ngoại trong thời gian tới là củng cố môi trường hoà bình và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi hơn nữa đảy mạnh phát triển kinh tế xã hội ‘ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước ”,”xây dựng một nền kinh tế mở ” và nhấn mạnh sự cần thiết “đảy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới ” nhầm mở rộng thị trường ‘ có thêm đối tác ,tranh thủ vốn ,công nghệ từ bên ngoài nhằm phục vụ sự nghiệp xây dưng đát nước trong bối cẩnh mới . Đồng thời nhận thức rõ những thách thức có thể nảy sinh , nghị quyết 04 của ban chấp hành trung ương đảng (Khoá VIII) ngày 29-12-1997 đã nhấn mạnh nhiệm vụ “chủ động chuẩn bị các điều kiện cần thiết về cán bộ, luật pháp, và nhất là nhưng sản phẩm mà chúng ta có khả năng cạnh tranh để hôi nhập thị trường khu vực và quôcs tế”đồng tjhời “ tiến hành khẩn trương vững chắc việc đàm phán hiệp định thương mại với Hoa Kỳ, gia nhập APEC, WTO, Có kế hoạch cụ thể để chủ động thực hiện các cam kết trong khuôn khổ AFTA” II. Sơ lược về hiệp định thương mại Việt Mỹ: II.1, Nguyên tắc ký kết của hiệp định thương mại Việt Mỹ: Hiệp định thương mại Việt Mỹ được ký kết trên 5 nguyên tăc sau + tôn trọng độc lập chủ quyền quốc gia, không can thiệp vào công việc nôi bộ của mỗi nước bình đẳng cùng có lợi. +Việc Hoa Kỳ và Việt Nam dành cho nhau quy chế tối huệ quốc không phải chỉ đem lại lợi ích cho phía Việt Nam mà còn cho cả phía Hoa Kỳ, các công ty Hoa Kỳ. + Việt Nam tôn trọng các luật kệ và tập quán quốc tế, sẽ từng bước điều chỉnh bổ sung các luật lệ , cơ chế của mình theo hướng đó , phú hợp với mức độ phát triển của nền kinh tế, hoàn cảnh, điều kiện của Việt Nam. Việt nam chấp nhận việc tuân thủ các quy định của GATT, WTO nhưng sẽ thực hiện từng bước phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế cóvận dụng những ngoại lệ dành cho một nước đang phát triển có thu nhập thấp. + Việt Nam là nước đang phát triển, đang chuyển đổi nền kinh tế, do đó có quyền được hưởng sự hỗ trợ của các nước phát triển trong đó có Hoa Kỳ. Những nôi dung mà Hoa Kỳ không đặt ra với nước khác thì cũng không có quyền đòi hỏi Việt Nam phải đáp ứng. Đây là những nguyên tắc mà Việt Nam cần thiết để chuyển đổinền kinh tế của mình. Có thể nói hiệp định thương mại được xây dựng trên hai khái niệm cơ bản nhất đó là Quy Chế Tối Huệ Quốc và quy chế Đối Xử Quốc Gia. - Về quy chế tối huệ quốc Theo đIều 1 của GATT quy định rằng : tối huệ quốclà bất cứ mộtthuận lợi đặc ân ,đặc miễn đặc quyền nào đó do bất cứ một bên kết ước nào dành cho bất cứ một sản phẩm nào xuất phát từ hoặc gửi đến bất cứ một nước nào khác sẽ dành cho sản phẩm tương tự, xuất phát từ hoặc gửi đến lãnh thổ của tất cả các bên kết ước khác một cách tức thì và vô đIều kiện.Quy chế tối huệ quốc(đồng nghĩa với quan hệ thương mại bình thường)(MFN- Most Favoured Nation) mang ý nghĩa hai bên cam kết đối xử với hàng hoá dịch vụ , đầu tư của nước kia không kém phần thuận lợi hơn so với cách đối xử hàng hoá dịch vụ , đầu tư của nước thứ ba.Trong hiệp định thương mại việt – mỹ, việt nam và hoa kỳđã thoả thuận nguyên tắc dành cho nhau ngay lập tức và vô đIều kiện quy chế tôí huệ quốc theo như quy định của GATT/WTO tuy nhiên do quy định của luật pháp hoa kỳ liên quan tời đIều khoản Jacksonvanik, hoa kỹ chỉ có thể dành cho việt nam quy chế thương mại bình thườngvinh viễn(tối huệ quốc vĩnh viễn) khi việt nam ra nhập WTO. đối với trung quốc hoa kỳ đã ký hiệp định thương mại song phươngtừ năm 1979, song mãI tới năm 2000, khi quốc hội thông qua thoả thuận về việc trung quốc gia nhập WTO, hoa kỳ mới dành cho trung quốc quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn. Do đó hàng năm quốc hội hoa kỳ sẽ vẫn xem xét gia hạn miễn trừ đIều khoản Jackson-vanik đối với việt nam, cho tới khi nước ta ra nhập WTO để bảo lưu nguyên tắc có đI có lại, hiệp định nói rõ việt nam cũng có quyền huỷ bỏ quy chế tôI huệ quốc. Quy chế đối xử quốc gia(dành cho hàng hoá được nhập khẩu được đối xủ như hàng hoá trong nước) Việt nam và hoa kỳ chấp nhận dành cho nhau quy chế đối xử quốc gia như quy định của GATT/WTO có tính đến việt nam là nướcđang phát triển và có trình độ thấp đang chuyển đổi nền kinh tế nên việt nam cần có thời gian thích hợp để đIều chỉnh các cơ chế chính sách của mình cho phù hợp với quy định chung như vậy hai bên sẽ: + Dành cho hàng hoá xuất xứ từ bên kia sự đối xửkhông kém phần thuận lợi hơn so với sự đối xử danhf cho hàng hoá sản xuất trong nước về mặt pháp luật thể lệ và các yêu cầu khác cơ bản ảnh hưởng đến bán hàng, chào bán mua và vận tảI phân phối, lưu kho sử dụng trong nước… + Không trực tiếp hoặc gián tiếp đánh thuế nội địa hoặc bất cứ khoản chi phí nàovào hàng hoá nhập khẩucủa bên kia cao hơn nước đánh vào hàng hoá tương tự trong nước. Pháp luật hoa kỳ đã phù hợp với nguyên tắcnày. trong khi đó pháp luật việt nam chưa phù hợp trong việc đánh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với một số mặt hàng ví dụ như thuốc là đIừu,xì gà sản xuất từ nguyênliệu nhập khẩu việt nam phảI hoàn thành trong 3 năm kể từ khi hiệp định có hiệu lực II.2 Kết cấu hiệp địng thương mại việt mỹ: Đây là một hiệp dịnh thương mại theo nghĩa rộng bao gồm cả lĩnh vực thương mạihàng hoá lẫn sở hữu trí tuệ, thương mai dịch vụ và phát triển quan hệ đầu tư.Hiệp định bao gồm nhiều chương và nhiều phụ lục Chương I:Thương mại hàng hoá Gồm có: + Những quyền thương mại:cả hai bên cam kết thực hiện những quyền thương mại theo chuẩn mực quốc tế và WTO .phía Mỹ sẽ tiến hành áp dụng ngay còn phía Việt Nam sẽ tiến hành trong giai đoạn từ 3 đến 6 năm(và được áp dụng dài hơn đối với mặt hàng nhạy cảm) + Quy chế tối huệ quốc: Cắt giảm thuế quan (mức giảm đIển hình mà Việt Nam cắt là từ 1/3 đến 1/2)đối với các mặt hàng của Mỹ việc cắt giảm này được tiến hành trong 3 năm phía Mỹ áp dụng ngay - Những biện pháp phi quan thuế Về phía Mỹ theo quy định của WTO sẽ không có những rào cản phi quan thuế về phía Việt Nam đồng ý loại bỏ các hạn chế về số lượng đối với một loạt các sản phẩm công nghiệp và nông nghiệp trong giai đoạn từ 3 đến 7 năm phụ thuộc vào từng mặt hàng - Cấp giấy phép nhập khẩu: - Việt Nam sẽ loại bỏ tất cả các thủ tục giấy phép một cách tuỳ ý và sẽ tuân thủ theo các quy định của hiệp đinh WTO phía Mỹ, theo luật thương mại Mỹ các công ty Việt Nam và các nước khác đều được cáp giấy phép hoạt đông khi có yêu cầu - Những thước đo về tiêu chuẩn kỹ thuật và vệ sinh an toàn thực phẩm hai bên cam kết tuân thủ theo các tiêu chuẩn của WTO - Mậu dịch quốc doanh: cần phảI được thực thi theo các tiêu chuẩn của WTO Chương II. Quyền sở hữu trí tuệ Việt Nam nhất trí tuân thủ hoàn toàn các quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (TRIRS) trong tất cả các lĩnh vực như là bản quyền và sở hữu trí tuệ tín hiệu vệ tinh mang chương trình mã hoá…..trong một khuôn khổ Chương III. Thương mại dịch vụ: Chương này áp dụng cho phép các biện pháp của các bên có ảnh hưởng tới dịch vụ thương mại. các cam kết chung bao gồm các quy định của khuôn khổ hiệp định chung về thương maị và dịch vụ (GATT) bao gồm MFN, đãi ngộ quốc gia và pháp luật quốc gia đối với những giấy phép hiện có sẽ được đảm bảo bởi điều khoản Grand father. các nhà quản lý và các cá nhân buôn bán được phép tham gia và làm việc về các lĩnh vực và các nghành cụ thể: + Các dịch vụ pháp lý + Các dịch vụ kế toán ,kiểm toán + Các dịch vụ kiến trúc + Các dịch vụ kỹ thuật + Các dịch vụ về vi tính và các dịch vụ liên quan….. Chương IV. Phát triển các quan hệ đầu tư. Các cam kết chung bao gồm: các hoật động đầu tư của mỗi nước đều được nước đối tác cam kết bảo hộ Việt Nam đảm bảo việc bảo hộ các công ty Hoa Kỳ không bị xung cộng các khoản đầu tư của họ tại Việt Nam còn các biện pháp đâù tư liên quan đến thương mại (TRIMS) phía Mỹ thực hiện ngay từ đầu, Việt Nam huỷ bỏ dần dần các TRIMS không phù hợp với biện pháp đầu tư liên quan thương mai trong 5 năm Chương V. Tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh Phía Mỹ cam kết Tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân kinh doanh và công ty Việt Nam hoạt động tại Mỹ như các công ty sở tại Việt Nam đảm bảo điều kiện cho các cá nhân Hoa Kỳ có thể tiến hành các hoạt động kinh doanh như thành lập các văn phòng tiến hành quảng cáo tiến hành nghiên cứu thị trường một cách thuận lợi ChươngVI. Các quy định liên quan đến tính minh bạch , công khai và quyền khiếu kiện Phiá Mỹ và Việt Nam cung cấp định kì và kịp thời tất cả các luật quy định , các thủ tục hành chính có tính áp dụng chung liên quan đến bất kì vấn đề nào nằm trong hiệp định này. tiến hành công bố các thông tin và các biện pháp nêu trên sao cho các cơ quan chính phủ, các xí nghiệp các cá nhân tham gia hoạt động thương mại có thể làm quen với chúng trước khi có hiệu lực và áp dụng đúng nội quy .tiến hành một cách thống nhất , công bằng hợp lý tất cả các luật quy định cá thủ tục hành chính có tính chất áp dụng chung .yêu cầu phải có toà án để xem xét và điều chỉnh. Chương VII. Các điều khoản chung Phần II Cơ hội thách thức của Việt Nam khi thực hiện hiệp định thương mại Việt Mỹ I. Tình hình buôn bán Việt Nam Hoa Kỳ trong những năm vừa qua(sau năm năm) I.1 Về tổng kim nghạch xuất nhập khẩu Việt Mỹ trước năm 1975 Mỹ có quan hệ kinh tế thương mại với chính quyền Sài Gòn cũ kim nghạch buôn bán không lớn chủ yếu là hàng viện trợ từ Mỹ, để phục vụ cho cuộc xâm lược Việt Nam . Việt Nam xuất sang Mỹ chủ yếu là hàng thô như cao su, gỗ, hải sản… song kim nghạch không cao. Năm 1964 mỹ thực hiện cấm vận đối với miền bắc và sau khi hai miền nam bắc thống nhất Mỹ thực hiện cấm vận trên toàn lãnh thổ Việt Nam, trên tất cả các lĩnh vực như tài chính, tín dụng ngân hàng và tài sản .đồng thời Mỹ còn áp dụng chế tài khống chế các nước đông minh và cá tổ chức quốc tế do Mỹ thao túng trong mối quan hệ kinh tế với nước ta. lệnh cấm vận này đã kéo dài tới năm 1994. trong thời gian này hoạt đông thương maị giữa Việt Nam và Hoa Kỳ diễn ra rất lẻ tẻ hầu như không có mà nếu có cũng chỉ là thông qua nước thứ 3. tuy nhiên trong giai đoạn này mà đặc biệt là giai đoạn từ 19881993. một số công ty Mỹ đã thông qua chi nhánh hoặc liên doanh đăng kí tại nước khác đã có dự án đầu tuư vào Việt Nam Ngày 3/2/1994 tổng thống Mỹ Bill Clinton chính thức tuyên bố bãI bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam tiếp đó bộ thương mại Mỹ chuyển Viêtn Nam từ nhóm 7 (gồm bắc triều tiên,cu ba và Việt Nam) lên nhóm y ít hạn chế hơn (gồm Mông Cổ, Lào Campuchia,Việt Nam và một số nước thuộc đông Âu, Liên Xô cũ)bộ vận tảI và bộ thương mại Mỹ cũng đã bãI bỏ lệnh cấm tàu biển và máy bay Mỹ vận chuyển hàng hoá sang Việt Nam được cậpcác cảng Mỹ. ngay sau khi lệnh cấm vận được bãI bỏ các hãng lớn của Mỹ với sự chuẩn bị từ trước thông qua cá chi nhánh của mình tại các nước trong vùng đã ngay lập tức tung sản phẩm của mình vào thị trường Việt Nam.các sản phẩm của hangc cocacola,pepsicola,kodaktràn ngập thị trường Việt Nam còn các hãng như mobin,IBM,General moto,microfoft,esso...ngay lập tức đã kí kết các hợp đồng khai thác và cung cấp các thiết bị lớn có giá trị đối với Viêt Nam .tỏng giá trị đầu tư của Mỹ vào Việt Nam từ co số không đến hết tháng 5/1997 đã đạt 1.2tỷ USD cho 69 dự án, khiến Mỹ trở thành nước đầu tư lớn thứ 6 tai Việt Nam trong thời đIểm này, đứng trên cả những nước đã từng có mặt tai Việt Nam như Anh , Pháp, Đức Đối với hàng Việt Nam xuất sang Mỹ đến năm 1993 chưa có tấn hàng nào của Việt Nam xuất sang thị trường Mỹ theo con đường chính nghạch có chăng đôI chút chỉ là thông qua nươcs thứ 3 cuối năm 1993 và đặc biệt là sau khi lệnh cấm vận được huỷ bỏ hàng Việt Nam mới bắt đầu tuừng bước xam nhập vào thi trường rộng lớn này.EPCO là hãng đi tiên phong với 2.150 triệu USD. tôm, cà phê xuất sang Mỹ( cailifornia) tính đến cuối năm 1994. EPCO là công ty đầu tiên mở văn phòng đại diện của mình tại Mỹ. đến năm 1996, doanh số hàng xuất sang Mỹ của EPCO đạt sấp xỉ 8 triệu USD. cùng vớiEPCO, Công ty Bia Sài Gòn đã xuất được sang Mỹ 13445 thùng bia chai, ngay từ năm đầu tiên khi bỏ cấm vận bia SàI Gòn hiện đã có mặt ở các tiếu bang colorado,unshington,oregon,kansas…với chất lượng được đánh giá cao hơn hẳn bia Trung Quốc vốn đã có mặt ở thi trương mỹ từ rát lâu năm 1995 hãng Biti’s đã đặt văn phòng đại diện tại newyork đẻ mở rộng buôn bán hàng dày dép sang Hoa Kỳ Bên cạnh đó hoạt động thương mại giữa hai nước cũng không kém phần náo nhiệt tổng kim ngạch buôn bán giữa hai nước từ vài trục triệu USD đến hết năm 1996 đã nên đến 1 tỷ USD con số cụ thể được biểu hiện qua các năm như sau: 1994 là 224 triệu USD; 1995 đạt 451,8 triệu USD và năm 1996 tăng nên hơn 1039,5 triệu USD chiếm khoảng 1% trong tổng số hơn 100 tỷ USD kim ngạch buôn bán hai chiều giữa Mỹ và ASEAN. Trong đó giá trị xuất khẩu của Việt Nam tương ứng qua từng năm là: 50,6 triệu USD, 198,9 triệu USD và 720,3 triệu USD như vậy chỉ qua hai năm tổng kim ngạch buôn bán Việt - Mỹ đã tăng hơn 4 lần vượt xa giá trị thương mại Việt Nam với các bạn hàng truyền thống tại đông Âu và Liên Xô cũ đây là điều chưa từng có trong quan hệ giữa hai nước khi mà các cản trở chưa được giả toả. Năm 1997 đánh dấu những bước tiến quan trọng trong quan hệ giữa hai nước với việc Việt Mỹ thoả thuận thiết lập quan hệ song phương về bản quyền để tạo điều kiện cho các loại sản phẩm trí tuệ có mặt tại thị trường Việt Nam đây cũng là năm các bộ trưởng tài chính Việt nam - Hoa kỳ thay mặt chính phủ hai nước ký hiệp định xử lý khoả nợ 145 triệu USD của chính quyền Sài Gòn cũ.Song sự kiện đáng chú ý nhất lại là việc đại sứ Mỹ đầu tiên tại CHXHCN Việt Nam ngài Pete Peterson nhận chức vào ngày 9/5/1997. Đây là bước tiến quan trọng để hai nước tiến tới kí hiệp định thương mại và bình thường hoá hoàn toàn về kinh tế. Tuy vậy, những kết quả giao thương giữa hai nước trong năm này lại dừng lại ở những con số hết sức khiêm tốn, đạt 705,8 triệu USD bằng 2/3 so với năm 1996. Hai năm tiếp theo, có lẽ do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực, nên tuy quan hệ thương mại Việt – Mỹ vẫn gia tăng nhưng chưa vượt qua được con số 1 tỷ USD của năm 1996, năm 1998 đạt 822,9 triệu USD và năm 1999 đạt 879,52 USD. Trong đó xuất khẩu trong từng năm là 553,4 triệu USD và 601,9 triệu USD và nhập khẩu tương ứng là 269,5 triệu USD và 277,3 triệu USD. Tiếp theo những tiến bộ đạt được trong năm 1999, như việc hai nước ký thoả thuận sơ bộ về hiệp định thương mại Việt - Mỹ và chính phủ Mỹ tuyên bố ngừng áp dụng từ chính án Jacksonvanik đối với Việt Nam, đã khích lệ các nhà kinh doanh yên tâm và vững tin vào triển vọng bình thường hoá quan hệ kinh tế Việt – Mỹ. Hoạt động xuất khẩu giữa hai nước ngay từ đầu năm 2000 đã diễn ra rất sôi động kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ ngay trong năm 2000 đạt 827 triệu USD tăng 37% so với năm 1999. Trong khi nhập khẩu đạt 367 triệu USD tăng 27% so với năm 1999 nâng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2000 là 1194 triệu USD. Đây thực sự là kết quả đáng khích lệ cho năm Việt Nam – Hoa Kỳ chính thức ký hiệp định thương mại và lẽ tất nhiên đây cũng là kết quả của hàng loạt biện pháp kích thích xuất khẩu trong chính sách thương mại hướng ngoại của Việt Nam. Bảng 1: Tổng kim ngạch xuất khẩu Việt – Mỹ Chỉ tiêu 1995 1996 1997 1998 1999 2000* Xuất khẩu 198,9 319,2 241,8 294,77 601,9 827 Nhập khẩu 252,9 720,3 464 453,62 277,3 367 Tổng 151,8 1039,5 705,8 748,39 879,2 1194 * Lấy từ mạng Intenet W.W.W. Usembassy. Gov/ Việt Nam. Nguồn: Bộ thương mại Việt Nam, trích lại từ Việt Nam Economic news, số 3/2000 riêng số liêu quý I/2000 là của tổng cục hải quan Mỹ trích tại Tạp trí ngoại thương 8-15/6/2000. Tóm lại sau 5 năm bình thường hoá quan hệ thương mại Việt – Mỹ đã có những bước phát triển hết sức nhanh chóng. Năm 1999 tổng kim ngạch xuất khẩu giữa hai nước đã tăng gấp đôi, nguyên nhân dẫn tới sự tăng trưởng nhanh chóng trong quan hệ thương mại giữa hai nước theo em chủ yếu là do tính bổ xung cao giữa hai nền kinh tế. Thứ nhất: Việt Nam là nước đang trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hóa đất nước, nhu cầu về công nghệ và trang thiết bị hiện đại là hết sức lớn mà Mỹ chính là nguồn cung cấp thiết bị máy móc hiện đại hàng đầu thế giới, mặt khác việc gia tăng đầu tư của Mỹ vào Việt Nam cũng đã góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng thương mại giữa hai nước. Thứ hai: Mỹ là thị trường tiêu thụ lớn nhất thế giới về nhu cầu đa dạng phong phú từ cao đến thấp, từ sản phẩm công nghiệp kỹ thuật cao đến hàng nông sản trong đó hàng nông – thuỷ hải sản lại chiếm tới 70% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đây chính là điều mà NIES, Thái Lan, Malaysia và Trung Quốc đã tận dụng được trong tiến trình đẩy nhanh công nghiệp hoá hiện đại hoá của họ. I.2 Cơ cấu thương mại Việt – Mỹ: I.2.1 Về xuất khẩu: Như đã đề cập ở trên, tính bổ xung giữa hai nền kinh tế cùng tính đa dạng hoá về thị hiếu và nhu cầu đã giúp cho Việt Nam tìm được chỗ đứng cao cho các loại hàng hoá cần nhiều lao động phổ thông giá trị thấp chất lượng vừa phải trên thị trường Mỹ ngoại trừ nguyên liệu khoáng và dầu mỏ, các mặt hàng của Việt Nam chủ yếu là nông – thuỷ và hải sản chế biến hàng dệt may, dầy dép, đồ da, bia… Đây là mặt hàng mà Việt Nam có tiềm năng bởi tận dụng được nguồn nhân khẩu rẻ có kỹ thuật, tiềm năng thuỷ hải sản phong phú và hơn hết nó phù hợp với cơ cấu phát triển mặt hàng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Năm 1994 nông sản chiếm 76% giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang mỹ đạt 33,8 triệu USD. Hàng phi nông nghiệp đạt 12,3 triệu USD chiếm 24%. Năm 1995 kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ đạt 151,5 triệu USD và hàng phi nông nghiệp đạt 47,4 triệu USD giữ nguyên tỷ lệ 76 – 24% như năm trước. Như vậy cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ trong thời gian này chủ yếu thuộc nhóm hàng nông lâm thuỷ sản. Trong đó cafe chiếm một lượng lớn với 29,969 triệu USD năm 1994 và 145,174 triệu USD năm 1995. Năm 1995 hàng công nghiệp nhẹ của Việt Nam bắt đầu đạt chân vào thị trường Mỹ với số lượng khiêm tốn 24,4triệu USD , trong đó hàng dệt may chiếm gần 20 triệu USD . Sau một vài bước thăm dò thị trường trong năm 1995 sang năm 1996 mặt hàng nhiên liệu khoáng và dâù mỏ của Việt Nam xuât sang Mỹ đã tăng từ 15000 USD lên 80,6 triệu USD tuy nhiên nhóm hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất vẫn thuộc về càphê, chè, gia vị trong đó càphê chiếm một lượng áp đảo. Năm 1996 cũng là năm ngành dầy dép khẳng định sự có mặt của mình tại thị trường Mỹ với mức tăng gấp 10 lần so với năm 1995 từ 3,308 triệu USD lên 39,196 triệu USD . Tuy vậy cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ vẫn nghiêng về hàng nông nghiệp Các năm tiếp theo 1997, 1998, 1999 tuy có sự biến động đôi chút về số lượng các mặt hàng đã tận dụng được ưu thế về giá cả và sức cạnh tranh như cà phê, giầy dép, thuỷ sản, quần áo, dầu mỏ tiếp tục khẳng định mình trên thị trường Mỹ và tỉ trọng của các mặt hàng nông nghiệp vẫn chiếm ưu thế so với nhóm hàng phi nông nghiệp với tỉ lệ 60 –40 %. Bảng 2: Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ từ 1995 –2000. Đơn vị: 1,000 USD S Mặt hàng TT 1 Cà phê, chè, gia vị 1995 1996 1997 1998* 1999* 2000 14.645 110.91 108.20 142.60 100.10 211.20 2 Giầy dép 3308 0 8 0 0 0 3 Thuỷ sản 19.583 39.196 97.644 114.90 145.70 150.80 Dầu mỏ và nhiên liệu 46.376 0 0 15 33990 0 4 Dệt may 36.670 108.10 185.60 16.867 80.650 79.500 5 0 901 25928 61.100 0 23.601 7973 27900 83.800 130.80 15.900 36.400 0 10.417 23400 23.700 64.800 22.823 13.800 1500 40.000 3031 5300 2900 0 6 7 8 9 Rau quả hạt TP chế biến từ thịt cá Gạo và ngũ cốc Cao su và SP từ cao su 11 417 75 1572 6995 564 3500 9.600 0 15.600 Nguồn: Tạp chí Châu Mỹ ngày nay số 5 năm 2000 và số 4 năm 2001. * Thời báo kinh tế Sài Gòn ngày 10/8/2000. Ngoài một số mặt hàng xuất khẩu ở trên phải kể đến một số mặt hàng xuất khẩu khác trong kim ngạch còn thấp như bươc đầu cũng tìm được chỗ đứng trên thị trường Mỹ như bia Huda Huế, vỏ xe ôtô Hocmon, giầy dép bitis… I.2.2 Về nhập khẩu: Ngay những năm đầu sau khi Mỹ bỏ lệch cấm vận đối với Việt Nam, hàng nhập khẩu từ Hoa Kỳ đã tăng mạnh về số lượng, phong phú, đa dạng về chủng loại. Nếu như năm 1993 chỉ có 4 nhóm hàng được phép xuất khẩu của Mỹ sang Việt Nam chủ yếu là máy móc thiết bị, phân bón, máy móc xây dựng, ôtô, thiết bị viễn thông. Trong năm năm qua, cán cân thương mại luôn nghiêng về phía Mỹ. năm 1994 Việt Nam nhập siêu 121,773 triệu USD, năm 1995 là 53,894 triệu USD và năm 1996 đạt kỉ lục là 401triệu USD. các năm tiếp theo tình hình trên vẫn tiếp diễn với mức độ tương ứng là 1997:222,2triệu USD ;1998:158,85triệu USD ;1999:169,29triệu USD và riêng trong quý I/2000 là 10,02triệu USD Như trong bảng 4(trang sau) cho thấy, nhóm máy móc thiết bị nói chung chiếm phần lớn tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Mỹ. Ngoài ra, Mỹ còn xuất sang Việt Nam một số mặt hàng như ngũ cốc, bột mỳ,các sản phẩm từ sữa và một số nguyên liệu phục vụ cho nghành giấy và dệt may.Điều này phản ánh đúng định hướng nhập khẩu của Việt Nam cũng như thế mạnh trong hoạt đông xuất khẩu cuả Mỹ. Một số sản phẩm trí tuệ của Mỹ như phim, sách báo, băng nghe và nhìn đã có mặt tại Việt Nam mgay sau khi hai nước kí hiệp định về bản quyền và các sản phẩm trí tuệ nhưng chỉ chiếm một tỉ phần rất nhỏ trong quan hệ thương mại Việt - Mỹ . Như vậy, 5 năm sau khi Việt Nam –Hoa Kỳ chính thức bình thường hoá, trao đổi mậu dịch giữa hai nước đã không ngừng phát triển cả về khối lượng lẫn cơ cấu mặt hàng. Mối quan hệ này đã tăng lên một cách nhanh chóng một phần là do phía Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu một số mặt hàng miễn thuế vàoMỹ như cà phê năm 1996 Mỹ là nước nhập khẩu nhiều cà phê nhất của Việt Nam (63.000/230.000 tấn) chè, nông sản, hải sản và một số mặt hàng may mặc có chi phí lao đông thấp như áo sơmi,găng tay mặt khác hàng của Mỹ vào Việt Nam không bị đánh thuế phân biệt nguồn gốc lên có điều kiện cạnh tranh bình đẳng và ngang bằng với hàng hoá từ các bạn hàng truyền thống của Việt Nam về mặt giá cả. Bảng 3: Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam từ Mỹ giai đoạn 1995 - 2000 S Mặt hàng TT 1995 1996 1997 1998* 1999* 2000** 1 Phân bón 35.909 52.259 8943 2 Máy móc 60.583 120.78 135.30 - 3 Thiết bị y tế, phim ảnh... 8.691 4057 4 Nhựa và sản phẩm nhựa 5 Máy bay, thiết bị máy 6 7 8 bay. Ngũ cốc và chế phẩm khác 39170 45.000 88.550 150.10 - 29000 0 12.375 15.218 - 5000 34.000 7.381 7.329 - 1000 7.000 - - 10369 95.36 40.000 9384 11.877 2590 3621 12.137 4.075 2.417 18.269 18.281 3.800 23742 19920 0 7 6556 3599 37138 22490 16.725 Rau quả tươi Phương tiện vận tải Nguồn: Bộ thương mại Mỹ trích lại từ Thời báo kinh tế Sài Gòn 29/7/1997. * Bộ thương mại, trích lại từ Tạp chí kinh tế và phát triển số 4 /2000 * * Lấy từ mạng Intenet usembassy. Gov/ Việt Nam. Có thể nói trong 5 năm qua, mối quan hệ kinh tế thương mại Việt - Mỹ là hết sức khả quan, song kết quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năng của cả hai bên. Vì vậy, để thúc đẩy sự phát triển quan hệ thương mại song phương, cần phải biết khai thác nhân tố tích cực cũng như hạn chế các vật cản “…cùng nhau tìm ra cơ sở chung nhằm mang lại lợi ích cho nhân dân hai nước” việc kí kết hiệp định thương mại Việt - Mỹ vừa là kết quả vừa tạo thêm điều kiện để Việt Nam tiếp tục triển khai chính sách đối ngoại độc lập tự chủ đa dạng đa phương hoá và chủ động hội nhập vào nền kinh tế thế giới. II Cơ hôi: Như đã giới thiệu ở trên, từ khi Hoa Kỳ xoá bỏ lệnh cấm vận Việt Nam vào năm 1994 thương mai giữa Hoa Kỳ – Việt Nam đã tăng trưởng nhanh tróng thị trường rộng lớn của Hoa Kỳ đã cung cấp những tiềm năng lớn cho Việt Nam tiếp bước nền kinh tế định hướng xuất khẩu của các nước láng giềng tuy vậy Việt Nam vẫn là một trong số ít nước chưa được hưởng ưu đãi ưu tiên từ phía Mỹ. Việc kí kết hiệp định thương mại Việt - Mỹ là một bước tiến mới. Theo như bộ trưởng thương mại Vũ Khoan nhận xét rằng: Quan hệ thương mại Việt - Mỹ sẽ tăng lên có bước phát triển mạnh mẽ hơn khi hiệp định có hiệu lực còn theo tổng thống thứ 42 của Mỹ Bill Clinton nhận xét về hiệp định này trong chuyến thăm Việt Nam vào cuối năm 2000 rằng: “Hiệp định thương mại Việt - Mỹ sẽ mở cửa mạnh mẽ nền kinh tế Việt Nam đưa Việt Nam hội nhập hơn nữa với cộng đồng quốc tế và tăng cừng thương mại giữa hai nước. Nó gieo mầm cho một tương lai tốt đẹp hơn”. Đúng vậy hiệp định thương mại Việt - Mỹ mở ra một chương mới, một nền móng mới, một tương lai sáng hơn cho quan hệ thương mại Việt - Mỹ cụ thể những thuận lợi mà Việt Nam có được là: II.1 Hệp định thương mại Việt - Mỹ mở ra triển vọng xuất khẩu hàng hoá sản xuất tại Việt Nam sang Mỹ: Trước khi hiệp định thương mại đựơc kí kết Việt Nam là nước chưa được Mỹ cho hưởng quy chế tối huệ quốc MFN do đó Hoa Kỳ áp dụng biểu thuế quan cho nhóm nước không được hưởng MFN gồm các thuế suất cao hơn rất nhiều khoảng 50 –60% chính sách này gây thiệt hại đối với cả Việt Nam và Hoa Kỳ khi hiệp định đựơc kí kết và đi vào thực thi thì Việt Nam sẽ được hưởng quy chế tối huệ quốc với biểu thuế suất thấp hơn rất nhiều chỉ khoảng 3 – 4%. Bảng 4: Một số ví dụ về sự chênh lệch của hàng rào thuế khi xuất khẩu hàng hoá vào thị trường Mỹ Mặt hàng STT Thuế có MFN 1 Cà phê đã và chưa rang 0 2 Cà phê có vỏ 0 3 Chất thay cà phê có chứa cà phê $0,030/kg 4 Lúa 0,026/kg 5 Gạo (còn cám và chà trắng sấy) 16,4% Thuế không MFN 0 10% $0,66/kg 0,28/kg 35% 6 7 8 9 10 11 12 13 14 Đồ chơi (xe, búp bê) Đồ đạc (ghế bàn gỗ có bọc đệm) Đồ đạc bằng tre lứa Thịt Hồ tiêu Dầu thô Sợi bông Vải bông áo khoác 0 27,5 –70% 4,2% 40% 0 60% 04,49 xu mỹ/kg 13,2xu mỹ/kg 0 2 xu/ kg 5,25 xu/thùng 21 xu /thùng 5,8% 11% 33% 68,3% 20% Nguồn: Bộ thưong mại 54,5% Như vậy hiệp định thương mại Việt - Mỹ đem lại cho Việt Nam nhiều cơ hội hơn trong hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Mỹ theo báo cáo của ngân hàng thế giới hiệp định thương mại có thể cho phép xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ tăng gấp đôi từ 388 triệu USD vào năm 1996 lên 768 triệu USD sau khi hiệp định có hiệu lực, theo dự báo của thương vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ tới năm 2010 kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ của Việt Nam có thể lên tới 11 tỷ USD chiếm 22% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước: Việc được hưởng quy chế tối huệ quốc sẽ là đòn bảy mạnh giúp Việt Nam có kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Mỹ sẽ có những bước phát triển nhanh tróng tương xứng với tiềm năm của thị trường rộng lớn và rất quan trọng này. Về nhóm hàng nông sản: Mặt hàng này do thị trường Mỹ cần nhiều có nhu cầu cao với mức thuế là không hoặc rất thấp nên hàng Việt Nam vào thị trường này vẫn tiếp tụng tăng như cà phê, hạt tiêu, chè các loại, các mặt hàng gia vị khác, gạo… Hàng dệt may là ngành có nhiều khả năng sản xuất và xuất khẩu với lợi thế nhân công rẻ và đặc biệt được hưởng MFN mà có mức chênh lệch với phi MFN là 30 – 40% do đó mặt hàng này có thể tăng nhanh khi hiệp định thương mại có hiệu lực. Đặc biệt trong thời gian đầu khi
- Xem thêm -