Tài liệu Nâng cao chất lượng quản lý thu bảo hiểm xã hội tại bảo hiểm xã hội tỉnh vĩnh phúc

  • Số trang: 84 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 280 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGUYỄN THỊ THÚY NGA NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI TỈNH VĨNH PHÚC Chuyên ngành: KINH TẾ HỌC Mã số: 60.31.01.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH KINH TẾ HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN THỊ HƯƠNG HÀ NỘI, 2016 HÀ NỘI, 2016 LỜI CAM ĐOAN Tên đề tài: “Nâng cao chất lượng quản lý thu Bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội Tỉnh Vĩnh Phúc” Học viên thực hiện: Nguyễn Thị Thúy Nga Lớp: Kinh tế học đợt 2 năm 2014, Học viện Khoa học xã hội Số điện thoại liên lạc: 0976262276 Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Hương Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình do chính tôi nghiên cứu và soạn thảo, tôi không sao chép bất kỳ một bài viết nào đã được công bố mà không trích dẫn nguồn gốc, nếu có sự vi phạm nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm. Hà Nội, ngày 26 tháng 07 năm 2016 Học viên Nguyễn Thị Thúy Nga MỤC LỤC MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1 Chương 1: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN ...................................................... 5 1.1. Khái niệm và vai trò của Bảo hiểm xã hội: .................................................... 5 1.2. Quản lý thu Bảo hiểm xã hội: ....................................................................... 13 1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu BHXH: ............................................ 21 1.4. Mục tiêu Quản lý thu BHXH: ....................................................................... 24 1.5. Vai trò của quản lý thu Bảo hiểm xã hội: ..................................................... 25 1.6. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thu bảo hiểm xã hội............................. 27 1.7. Kinh nghiệm quản lý thu BHXH một số địa phương ở Việt Nam ............... 29 Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC ........................................................ 31 2.1 Giới thiệu chung về cơ quan BHXH Tỉnh Vĩnh Phúc: .................................. 31 2.2. Thực trạng thu BHXH tại BHXH Tỉnh Vĩnh Phúc. ..................................... 35 2.3. Thực trạng kiểm tra, giám sát công tác quản lý thu BHXH: ........................ 44 2.4. Những nhân tố tác động đến quản lý thu BHXH tại BHXH tỉnh Vĩnh Phúc: .................................................................................................................... 46 2.5. Đánh giá công tác quản lý thu BHXH tại tỉnh Vĩnh Phúc: ......................... 48 2.6. Nguyên nhân cơ bản của những tồn tại trên ................................................. 51 Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ THU BHXH TẠI TỈNH VĨNH PHÚC ................................................................ 54 3.1. Định hướng phát triển hoạt động BHXH Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030:.............................................................................................. 54 3.2. Định hướng phát triển quản lý thu BHXH Tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2015 - 2020 .......................................................................................................... 56 3.3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng quản lý thu BHXH tại Tỉnh Vĩnh Phúc: .................................................................................................................... 57 3.4. Một số kiến nghị: .......................................................................................... 70 KẾT LUẬN .......................................................................................................... 76 TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 78 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT BHXH Bảo hiểm xã hội BHYT Bảo hiểm Y tế BHTN Bảo hiểm thất nghiệp DN Doanh nghiệp DNNN Doanh nghiệp nhà nước HCSN Hành chính sự nghiệp HĐND Hội đồng nhân dân LĐTB&XH Bộ Lao động thương binh và xã hội NLĐ Người lao động NSDLĐ Người sử dụng lao động QLNN Quản lý Nhà nước UBND Ủy ban nhân dân DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ Bảng 1.1: Mức đóng BHXH bắt buộc .................................................................... 16 Bảng 2.1: Kết quả thu BHXH bắt buộc tại tỉnh Vĩnh Phúc .................................... 34 Bảng 2.2: Bảng cân đối thu – chi BHXH................................................................ 35 Bảng 2.3. Chi trả các chế độ BHXH tại BHXH tỉnh Vĩnh Phúc ............................ 37 Bảng 2.4: Cơ cấu thu BHXH theo khối, loại hình .................................................. 38 Bảng 2.5: Cơ cấu đơn vị và số lao động tham gia BHXH bắt buộc theo khối, loại hình.......................................................................................................................... 39 Bảng 2.6: Tình hình biến động đối tượng tham gia BHXH tỉnh Vĩnh Phúc .......... 41 Bảng 2.7: Tình hình kiểm tra doanh nghiệp đóng BHXH trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc ......................................................................................................................... 43 Bảng 2.8: Kết quả thu hồi nợ đọng BHXH tại tỉnh Vĩnh Phúc .............................. 44 Bảng 2.9: Công tác phối hợp trong quá trình quản lý thu tại BHXH tỉnh Vĩnh Phúc Bảng 2.10: Công tác thông tin tuyên truyền của BHXH tỉnh Vĩnh Phúc ............... 45 Bảng 2.11: Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thu BHXH của BHXH tỉnh Vĩnh Phúc ........................................................................................................ 46 Biểu đồ 2.1: Tốc độ tăng thu BHXH bắt buộc tỉnh Vĩnh Phúc .............................. 47 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Bảo hiểm xã hội là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta, nhiệm vụ chủ yếu là tổ chức thực hiện tốt chính sách BHXH, BHYT, BHTN bao gồm các chế độ: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất, khám chữa bệnh BHYT, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động và nhân dân trên phạm vi cả nước. Thực hiện Bộ Luật lao động trong đó có Chương XII về bảo hiểm xã hội (BHXH) nhất là từ khi Chính phủ ban hành Nghị định số 12/NĐ-CP ngày 23/01/1995 thì các đối tượng tham gia đóng, hưởng BHXH đã được mở rộng đến tất cả các thành phần kinh tế. Vì vậy, số lao động tham gia BHXH tăng hàng năm khoảng 7,5%; Số thu BHXH tăng bình quân hàng năm 10%, quỹ BHXH độc lập với ngân sách nhà nước. Đây là bước chuyển đổi căn bản về sự nghiệp BHXH từ cơ chế bao cấp chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước sang cơ chế quỹ BHXH chủ yếu dựa trên nguồn thu do người lao động, người chủ sử dụng lao động đóng góp… để chi trả các chế độ BHXH. Tính đến hết năm 2015, cả nước có 71 triệu người tham gia BHXH. Số lao động còn lại chưa tham gia BHXH tập trung chủ yếu ở khu vực ngoài nhà nước như: Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, tổ hợp tác, người buôn bán nhỏ...trốn tránh không tham gia BHXH cho người lao động hoặc còn cố tình tìm mọi cách trốn đóng BHXH mặt khác nợ đọng BHXH thời gian dài, thậm chí có những đơn vị sử dụng lao động lạm dụng quỹ BHXH, lạm dụng tiền đóng BHXH của người lao động để làm vốn sản xuất kinh doanh… Do đó, đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện chế độ, chính sách BHXH cho người lao động và việc thực hiện công tác quản lý thu BHXH, ảnh hưởng đến việc thu, nộp BHXH. Trong những năm qua, BHXH tỉnh Vĩnh Phúc đã có nhiều cố gắng trong việc triển khai thu BHXH và quản lý thu BHXH bắt buộc của lao động thuộc các thành phần kinh tế. Kết quả đã đem lại nhiều khả quan trong việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH. Tuy nhiên, đến số đơn vị và số lao động tham gia BHXH vẫn còn thấp, chưa tương xứng tiềm năng. Đến thời điểm 30/06/2015, mặc dù đã có 1 nhiều cố gắng, Toàn tỉnh mới có trên 2.500 đơn vị, với trên 106.845 lao động đã tham gia BHXH bắt buộc, chiếm 72,5 % trong tổng số đơn vị thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, và chiếm khoảng 65% số lao động thuộc trách nhiệm phải tham gia BHXH bắt buộc. Tổng số thu BHXH của Tỉnh Vĩnh Phúc tăng cao qua các năm nhưng đồng thời nợ đọng cũng ngày càng tăng. Với lý do đó tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: "Nâng cao chất lượng quản lý thu Bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội Tỉnh Vĩnh Phúc". ` 2. Tình hình nghiên cứu đề tài BHXH là một trong những đề tài được toàn xã hội quan tâm, vì đây là một chính sách an sinh xã hội quan trọng của Đảng và Nhà nước, cũng từ đó đã có nhiều công trình nghiên cứu nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác quản lý và thu, chi chế độ chính sách BHXH. Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã thu thập được một số tài liệu công trình có liên quan. Cụ thể một số đề tài: - Đề tài cấp Bộ: “Các giải pháp đảm bảo cân đối quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc khi thực hiện luật bảo hiểm xã hội”, của tiễn sĩ Phạm Đỗ Nhật Tân (năm 2007). Đã sử dụng phương pháp tài liệu, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp điều tra xã hội học. Nội dung đề tài đã làm rõ vấn đề lý luận liên quan đến BHXH. - Nguyễn Dương, 2010. “Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý thu BHXH tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hà Nội”. Sử dụng phương pháp tổng quan tài liệu, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phân tích, phương pháp suy luận. Nội dung: Luận văn đã tập trung giải quyết ba nhiệm vụ chủ yếu bao gồm: Hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về BHXH; phân tích và đánh giá thực trạng quản lý thu BHXH bắt buộc tại BHXH thành phố Hà Nội. - Phạm Trường Giang, 2010. “Hoàn thiện cơ chế thu BHXH ở Việt Nam” Luận án Tiến sĩ đã làm rõ cơ sở khoa học và thực tiễn cơ chế thu BHXH ở Việt Nam. - Cao Thị Lan Mây, 2014. “Hoàn thiện công tác thu BHXH khối ngoài quốc doanh trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh”. Đề tài này đã nghiên cứu quá trình tổ chức thực hiện thu BHXH khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh; làm rõ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thu BHXH khu vực này. Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của 2 quản lý thu BHXH. Với đề tài này, luận văn xin kế thừa một số phương pháp nghiên cứu và hướng tiếp cận vấn đề của các tác giải trên để làm rõ vấn đề nghiên cứu tại BHXH tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn 2011-2015. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu - Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về công tác quản lý thu BHXH. - Tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thu BHXH trên địa bàn, đánh giá thực trạng công tác quản lý thu BHXH tại BHXH tỉnh Vĩnh Phúc. - Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm thúc đẩy công tác quản lý thu BHXH tại tỉnh Vĩnh Phúc. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu a. Phạm vi nghiên cứu: * Phạm vi nội dung: Tập trung nghiên cứu thực trạng công tác quản lý thu của các đơn vị đóng trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Nội dung nghiên cứu chủ yếu đi sâu về quản lý thu BHXH bắt buộc. * Phạm vi thời gian: - Tài liệu sử dụng trong nghiên cứu: Số liệu về công tác thu trên địa bàn từ năm 2011 đến tháng 12 năm 2015. - Thời gian thực hiện đề tài: Thời gian nghiên cứu từ tháng 02/2016 đến tháng 06 / 2016. * Phạm vi không gian: - Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc và kinh nghiệm một số địa phương. b. Đối tượng nghiên cứu: - Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác Quản lý thu BHXH trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng công tác quản lý thu BHXH bắt buộc (không nghiên cứu quỹ khám chữa bệnh, BHXH tự nguyện và Bảo hiểm thất nghiệp) 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp dựa trên các văn bản pháp quy, báo cáo đánh giá, kinh nghiệm thực tiễn trong công tác quản lý thu, nghiên cứu 3 thực trạng công tác quản lý thu BHXH trên địa bàn Tỉnh Vĩnh Phúc và đề xuất một số biện pháp chống thất thu nhằm hoàn thiện việc quản lý thu BHXH trên địa bàn Tỉnh Vĩnh Phúc Phương pháp phân tích số liệu nghiên cứu sử dụng chuỗi dữ liệu thời gian từ năm 2011 đến năm 2015, nhằm phân tích hoạt động quản lý thu, mở rộng đối tượng quản lý và đề ra các biện pháp chống thất thu BHXH, nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu BHXH trên địa bàn Tỉnh Vĩnh Phúc. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn - Về khoa học: Qua quá trình nghiên cứu, đề tài đã giúp cho tôi nâng cao được khả năng tư duy, phương pháp nghiên cứu khoa học, khả năng phân tích và đánh giá vấn đề sâu sắc và toàn diện hơn. - Về thực tiễn: Đề tài làm tài liệu tham khảo có giá trị cho công tác nghiên cứu khoa học, làm luận văn của các Cao học viên và sinh viên các trường đại học, cao đẳng khối kinh tế. Kết quả nghiên cứu của đề tài còn là tài liệu tham khảo có ý nghĩa không chỉ cho cơ quan quản lý thu bảo hiểm xã hội tại tỉnh Vĩnh Phúc mà còn cho các cơ quan quản lý thu bảo hiểm xã hội tại các tỉnh khác trên cả nước. 7. Cơ cấu của luận văn Để phục vụ cho quá trình nghiên cứu ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn được cấu trúc bao gồm 3 chương: Chương 1: Tổng quan cơ sở lý luận Chương 2: Thực trạng quản lý thu BHXH tại Bảo hiểm xã hội Tỉnh Vĩnh Phúc Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng quản lý thu BHXH tại Bảo hiểm xã hội Tỉnh Vĩnh Phúc Tôi hy vọng một số kết quả nghiên cứu của luận văn này sẽ góp phần làm rõ thêm các nguyên nhân làm thất thu BHXH, quản lý thu Bảo hiểm xã hội tại Tỉnh Vĩnh Phúc, biện pháp chống thất thu BHXH tại Tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng và Bảo hiểm xã hội Việt Nam nói chung. 4 Chương 1 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 . Khái niệm và vai trò của Bảo hiểm xã hội 1.1.1. Khái niệm Bảo hiểm xã hội: Bảo hiểm và BHXH đã hình thành rất sớm trong lịch sử phát triển của xã hội loài người và đã được nhiều nhà khoa học đề cập và nghiên cứu một cách sâu sắc dưới nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau. Bảo hiểm xã hội đã xuất hiện và phát triển theo cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nhân loại. Theo Tổ chức lao động Quốc tế (ILO) thì nước Phổ (nay là Cộng hòa Liên bang Đức) là nước đầu tiên trên thế giới ban hành chế độ bảo hiểm ốm đau vào năm 1883, đánh dấu sự ra đời của BHXH. Đến nay, hầu hết các nước trên thế giới đã thực hiện chính sách BHXH và coi nó là một trong những chính sách xã hội quan trọng nhất trong hệ thống chính sách bảo đảm an sinh xã hội. Mặc dù đã có quá trình phát triển tương đối dài, nhưng cho đến nay còn có nhiều khái niệm về BHXH, chưa có khái niệm thống nhất. Bởi lẽ, BHXH là đối tượng nghiên cứu của nhiều môn khoa học khác nhau như kinh tế, xã hội, pháp lý... Theo từ điển Bách khoa: "BHXH là sự đảm bảo, thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm đảm bảo, an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội" [1] Công ước 102 của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đưa ra khái niệm về BHXH như sau: “BHXH là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội dẫn đến việc ngừng hoặc giảm sút đáng kể về thu nhập gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già, và chết; đồng thời bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con”. Khái niệm này đã phản ánh được sự kết hợp hai mặt của BHXH là mặt kinh tế và mặt xã hội. 5 Theo khái niệm của BHXH Việt Nam: “BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với người lao động thông qua việc huy động các nguồn đóng góp để trợ cấp cho họ, nhằm khắc phục những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm thu nhập gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn, thất nghiệp, mất khả năng lao động, tuổi già và chết. Đồng thời, bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các thân nhân trong gia đình người lao động, để góp phần ổn định cuộc sống của bản thân người lao động và gia đình, góp phần an toàn xã hội”[2] Như vậy, có thể khái quát về BHXH như sau: BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động, khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm suy giảm sức khỏe, mất khả năng lao động, mất việc làm, chết; gắn liền với quá trình tạo lập một quỹ tiền tệ tập trung được hình thành bởi các bên tham gia BHXH đóng góp và việc sử dụng quỹ đó cung cấp tài chính nhằm đảm bảo mức sống cơ bản cho bản thân người lao động và những người ruột thịt (bố, mẹ, vợ/ chồng, con) của người lao động trực tiếp phải nuôi dưỡng, góp phần đảm bảo an toàn xã hội. 1.1.2 . Bản chất của Bảo hiểm xã hội: Cùng với quá trình phát triển, tiến bộ của loài người, BHXH được coi là một chính sách xã hội quan trọng của bất kỳ nhà nước nào, nhằm bảo đảm an toàn cho sản xuất, cho đời sống vật chất và tinh thần cho mọi người trong xã hội. Với tư cách là công cụ quan trọng nhất để quản lý xã hội, nhà nước phải can thiệp và tổ chức bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người lao động, đặc biệt là để giải quyết mối quan hệ thuê mướn lao động giữa chủ và thợ. Yêu cầu giới chủ phải thực hiện những cam kết đảm bảo điều kiện làm việc và nhu cầu đời sống vật chất, tinh thần cho giới thợ, trong đó có nhu cầu về tiền lương, về chăm sóc y tế, về chăm sóc khi bị ốm đau, tai nạn, trả lương khi người lao động đến tuổi hưu... Đồng thời bản thân người lao động cũng phải có trách nhiệm giành một khoản thu nhập chi trả cho bản thân mình khi có những rủi ro xảy ra. Mặt khác, nhà nước được coi như là một người chủ sử dụng lao động của mọi người lao động, vì vậy người lao động không đủ để trang trải cho những khoản chi cho người lao động khi họ gặp phải rủi ro thì Nhà nước phải có trách nhiệm trích một phần ngân sách để bảo đảm đời sống cơ bản cho người lao động. 6 Như vậy, BHXH ra đời, tồn tại và phát triển là một nhu cầu khách quan. Nền kinh tế hàng hóa càng phát triển, việc thuê mướn lao động trở nên phổ biến thì càng đòi hỏi sự phát triển và đa dạng của BHXH. Nền kinh tế hàng hóa phát triển là nền tảng, là cơ sở của BHXH. BHXH được hình thành trên cơ sở quan hệ lao động, giữa các bên cùng tham gia và được hưởng BHXH. Nhà nước ban hành các chế độ, chính sách BHXH, tổ chức ra cơ quan chuyên trách, thực hiện nhiệm vụ quản lý hoạt động sự nghiệp BHXH. Chủ sử dụng và người lao động có trách nhiệm đóng góp để hình thành quỹ BHXH. Người lao động (bên được BHXH) và gia đình của họ được cung cấp tài chính từ quỹ BHXH khi họ có đủ điều kiện theo chế độ BHXH quy định. Đó chính là mối quan hệ của các bên tham gia BHXH. Phân phối trong BHXH là phân phối không đều, nghĩa là không phải ai tham gia BHXH cũng được phân phối với số tiền giống nhau. Phân phối trong BHXH vừa mang tính bồi hoàn vừa không mang tính bồi hoàn. Những biến cố xảy ra mang tính tất nhiên đối với con người là thai sản (đối với lao động nữ), tuổi già và chết, trong trường hợp này, BHXH phân phối mang tính bồi hoàn vì người lao động đóng BHXH chắc chắn được hưởng khoản trợ cấp đó. Còn trợ cấp do những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm, những rủi ro xảy ra trái ngược với ý muốn của con người như ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, là sự phân phối mang tính không bồi hoàn; có nghĩa là chỉ khi nào người lao động gặp phải tổn thất do ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp... thì mới được hưởng khoản trợ cấp đó. BHXH hoạt động theo nguyên tắc: "cộng đồng - lấy số đông bù cho số ít" tức là dùng số tiền đóng góp nhỏ của số đông người tham gia BHXH để bù đắp, chia sẻ cho một số ít người với số tiền lớn hơn so với số đóng góp của từng người, khi họ gặp phải những biến cố rủi ro gây tổn thất. Hoạt động BHXH là một loại hoạt động dịch vụ công, mang tính xã hội cao; lấy hiệu quả xã hội làm mục tiêu hoạt động. Hoạt động BHXH là quá trình tổ chức, triển khai thực hiện các chế độ, chính sách BHXH của tổ chức quản lý sự nghiệp BHXH đối với người lao động tham gia và hưởng các chế độ BHXH. Là quá trình tổ chức thực hiện các nghiệp vụ thu BHXH đối với người sử dụng lao động và người lao động; giải quyết các chế độ, chính sách và chi BHXH cho người 7 được hưởng; quản lý quỹ BHXH và thực hiện đầu tư bảo tồn và tăng trưởng quỹ BHXH. BHXH có những nguyên lý mang tính phổ biến và nhất quán là: Thứ nhất, bảo hiểm là một hình thức hoạt động nhằm phân tán rủi ro, hỗ trợ lẫn nhau giữa những đơn vị, cá nhân cùng tham gia bảo hiểm thực hiện theo nguyên tắc "cộng đồng - lấy số đông bù cho số ít". Vì vậy, dịch vụ bảo hiểm cần phải có đông người tham gia mới đạt được mục đích phân tán rủi ro, tổn thất. Số người tham gia bảo hiểm càng đông thì mức độ tổn thất được phân tán càng rộng, mức độ gánh chịu tổn thất của từng thành viên càng ít hơn. Hình thành được quỹ bảo hiểm tập trung càng lớn, mức độ an toàn quỹ bảo hiểm càng cao, đảm bảo đủ nguồn lực tài chính đáp ứng yêu cầu chi trả càng kịp thời, đầy đủ hơn cho người được thụ hưởng. Thứ hai, quỹ bảo hiểm được hình thành chủ yếu từ sự đóng góp của những bên tham gia bảo hiểm. Quỹ bảo hiểm phải được tính toán cân đối thu - chi một cách khoa học dựa trên quy luật số lớn để xác định mức đóng góp của đối tượng tham gia và mức hưởng thụ do quỹ phải chi trả; sao cho quỹ bảo hiểm phải được ổn định, vững chắc trong bất kỳ hoàn cảnh nào vẫn phải đảm bảo đủ nguồn lực tài chính để chi trả kịp thời, đầy đủ các khoản bồi thường, trợ cấp cho đối tượng được thụ hưởng. Thứ ba, quỹ bảo hiểm được quản lý và sử dụng theo chế độ tài chính và luật pháp của nhà nước quy định. Quỹ bảo hiểm tạm thời nhàn rỗi được thực hiện các hoạt động đầu tư vừa góp phần cung cấp nguồn vốn để phát triển nền kinh tế - xã hội; vừa để bảo toàn và tăng trưởng quỹ. Khi thực hiện hoạt động đầu tư quỹ phải đảm bảo an toàn; hạn chế rủi ro, thất thoát quỹ đến mức thấp nhất, đạt hiệu quả kinh tế - xã hội và đảm bảo khả năng thanh toán linh hoạt. 1.1.3 Đối tượng của BHXH: BHXH là một hệ thống đảm bảo khoản thu nhập bị giảm hoặc bị mất đi do người lao động bị giảm hoặc bị mất khả năng lao động, bị mất việc làm vì các nguyên nhân rủi ro như ốm đau, tai nạn lao động, già yếu… Chính vì vậy, đối tượng của BHXH chính là thu nhập của người lao động bị biến động giảm hoặc 8 mất đi do bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm của những người tham gia BHXH. Đối tượng tham gia BHXH là người lao động và người sử dụng lao động. Tuy vậy, tuỳ theo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước mà đối tượng này có thể là tất cả hoặc một bộ phận những người lao động nào đó. Hầu hết các nước khi mới có chính sách BHXH, đều thực hiện BHXH đối với các viên chức Nhà nước, những người làm công hưởng lương. Việt Nam cũng không vượt ra khỏi thực tế này, mặc dù biết rằng như vậy là không bình đẳng giữa tất cả những người lao động. Nếu xem xét trên mối quan hệ ràng buộc trong BHXH, ngoài người lao động cũng có người sử dụng lao động và cơ quan BHXH, dưới sự bảo trợ của Nhà nước. Người sử dụng lao động đóng góp vào quỹ BHXH là trách nhiệm của họ để bảo hiểm cho người lao động mà họ sử dụng. Các cơ quan BHXH nhận sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động, phải có trách nhiệm quản lý và sử dụng quỹ để thực hiện mọi công việc về BHXH đối với người lao động. Nó quyết định sự tồn tại và phát triển của BHXH một cách ổn định và bền vững. 1.1.4 Vai trò và chức năng của BHXH: Chức năng: BHXH thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động tham gia BHXH khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do mất khả năng lao động hoặc mất việc làm. Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ tính chất và cơ chế tổ chức của BHXH. BHXH tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH. Các bên tham gia BHXH đều phải đóng góp vào quỹ BHXH. Quỹ này dùng để trợ cấp cho một số người lao động tham gia BHXH khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập. Theo quy luật “số đông bù số ít” BHXH thực hiện phân phối lại thu nhập cả theo chiều dọc và chiều ngang. Thực hiện chức năng này BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội. BHXH góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất, góp phần nâng cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội. Người lao động khi bị đau, thai sản, tai nạn lao động, về già đã có BHXH trợ cấp thay thế 9 nguồn thu nhập bị mất. Do đó cuộc sống của họ và gia đình họ luôn được bảo đảm, tạo cho người lao động luôn yên tâm làm việc. BHXH gắn bó lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động, giữa người lao động với xã hội, giải quyết được mâu thuẫn giữa giới chủ và giới thợ, đồng thời làm cho họ gắn bó và hiểu nhau hơn. Đối với Nhà nước và xã hội, chi cho BHXH là cách thức chi ít nhất và có hiệu quả nhất, giải quyết được khó khăn về đời sống cho ngưòi lao động. Vai trò: Một là, BHXH góp phần ổn định đời sống của người lao động tham gia BHXH, những người tham gia BHXH sẽ được thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi họ bị suy giảm, mất khả năng lao động, mất việc làm, chết. Nhờ có sự thay thế hoặc bù đắp thu nhập kịp thời mà người lao động khắc phục nhanh chóng được những tổn thất về vật chất, nhanh phục hồi sức khỏe, ổn định cuộc sống để tiếp tục quá trình hoạt động bình thường. Hai là, BHXH góp phần đảm bảo an toàn, ổn định cho toàn bộ nền kinh tế–xă hội. Để phòng ngừa, hạn chế tổn thất, các đơn vị kinh tế phải đề ra các quy định chặt chẽ về an toàn lao động buộc mọi người phải tuân thủ. Khi có rủi ro xảy ra với người lao động, quỹ BHXH kịp thời hỗ trợ, tạo điều kiện cho người lao động nhanh ổn định cuộc sống và sản xuất… Tất cả những yếu tố đó góp phần quan trọng làm ổn định nền kinh tế – xă hội. Ba là, BHXH làm tăng thêm mối quan hệ gắn bó giữa người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước. Người lao động, người sử dụng lao động, Nhà nước đều tham gia đóng góp vào quỹ BHXH, điều đó làm cho người lao động có trách nhiệm hơn trong công việc, trong lao động sản xuất. Người sử dụng lao động tham gia đóng góp vào quỹ BHXH cho người lao động được hưởng các chế độ BHXH cũng thấy rõ trách nhiệm của mình đối với người lao động. Nhà nước vừa tham gia đóng góp, vừa điều hành hoạt động của quỹ BHXH, đảm bảo sự công bằng, bình đẳng cho mọi đối tượng thụ hưởng… Điều đó làm tăng thêm mối quan hệ gắn bó giữa Nhà nước – người sử dụng lao động – người lao động, góp phần ổn định nền kinh tế – xă hội. Bốn là, BHXH góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và công bằng xă hội. Quỹ BHXH được sử dụng để chi trả các chế độ BHXH cho người lao động và gia 10 đình họ, phần nhàn rỗi được đầu tư vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh để bảo tồn và tăng trưởng quỹ. Như vậy, xét trên cả phương diện chi trả các chế độ BHXH cũng như đầu tư tăng trưởng quỹ, hoạt động của quỹ BHXH đều góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế. Mặt khác, phân phối trong BHXH là sự phân phối lại theo hướng có lợi cho những người có thu nhập thấp; là sự chuyển dịch thu nhập của những người khỏe mạnh, may mắn có việc làm ổn định cho những người ốm, yếu, gặp phải những biến cố rủi ro trong lao động sản xuất và trong cuộc sống. Vì vậy, BHXH góp phần làm giảm bớt khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, góp phần bảo đảm sự công bằng xă hội. 1.1.5. Hệ thống các chế độ: Hệ thống các chế độ trong BHXH là những quy định cụ thể về điều kiện mức trợ cấp, thời gian trợ cấp mức đóng góp và mức hưởng BHXH. Hệ thống này được xây dựng trên cơ sở điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và cơ sở pháp lý của mỗi nước. Tổ chức lao động Quốc tế (ILO) có khuyến cáo BHXH gồm 9 chế độ: 1.Chế độ chăm sóc y tế. 2.Chế độ trợ cấp ốm đau. 3.Chế độ trợ cấp thất nghiệp. 4.Chế độ trợ cấp tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp. 5.Chế độ trợ cấp tuổi già. 6.Chế độ trợ cấp gia đình. 7.Chế độ trợ cấp thai sản. 8.Chế độ trợ cấp khi tàn phế. 9.Chế độ trợ cấp cho những người còn sống. Tuỳ theo điều kiện kinh tế của mỗi nước mà có thể thực hiện các chế độ khác nhau. Nhưng nhất thiết phải thực hiện được ba chế độ trong đó có các chế độ (3, 4, 5, 8, 9 ). ở nước ta mới thực hiện được 6 chế độ (2, 3, 4, 5, 7, 9 ) đã phần nào đảm bảo được quyền lợi cho những người lao động làm công ăn lương. Quỹ BHXH: Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách Nhà nước. Quỹ có mục đích và chủ thể riêng. Mục đích tạo lập quỹ BHXH là dùng để chi trả cho người lao động, giúp họ ổn định cuộc sống khi gặp các biến cố hoặc rủi ro. 11 Chủ thể của quỹ BHXH chính là những người tham gia đóng góp để hình thành nên quỹ, do đó có thể bao gồm cả: Người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước. Quỹ BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau: - Quỹ ra đời, tồn tại và phát triển gắn với mục đích đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động và gia đình họ khi gặp các biến cố, rủi ro làm giảm hoặc mất thu nhập từ lao động. Hoạt động của quỹ không nhằm mục đích kinh doanh kiếm lời. Vì vậy, nguyên tắc quản lý quỹ BHXH là: Cân bằng thu - chi. - Phân phối quỹ BHXH vừa mang tính chất hoàn trả vừa mang tính chất không hoàn trả. Tính chất hoàn trả thể hiện ở chỗ, người lao động là đối tượng tham gia và đóng góp BHXH đồng thời họ cũng là đối tượng được nhận trợ cấp, được chi trả từ quỹ BHXH cho dù chế độ, thời gian trợ cấp và mức trợ cấp của mỗi người sẽ khác nhau, tuỳ thuộc vào những biến cố hoặc rủi ro mà họ gặp phải, cũng như mức đóng góp và thời gian đóng góp BHXH của họ. Tính không hoàn trả thể hiện ở chỗ, cùng tham gia và đóng góp BHXH, nhưng có người được hưởng trợ cấp nhiều lần và nhiều chế độ khác nhau, nhưng cũng có những người được ít lần hơn, thậm chí không được hưởng. Chính từ đặc điểm này nên một số đối tượng được hưởng trợ cấp từ quỹ BHXH thường lớn hơn nhiều so với mức đóng góp của họ và ngược lại. Điều đó thể hiện tính chất xã hội của toàn bộ hoạt động BHXH. - Quá trình tích luỹ để bảo tồn giá trị và bảo đảm an toàn về tài chính đối với quỹ BHXH là một vấn đề mang tính nguyên tắc - Quỹ BHXH là hạt nhân, là nội dung vật chất của tài chính BHXH. Nó là khâu tài chính trung gian cùng với ngân sách Nhà nước và tài chính doanh nghiệp hình thành nên hệ thống tài chính quốc gia. - Sự ra đời, tồn tại và phát triển BHXH phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia và điều kiện lịch sử trong từng thời kỳ nhất định của đất nước. Kinh tế - xã hội càng phát triển thì càng có điều kiện thực hiện đầy đủ các chế độ BHXH, nhu cầu thoả mãn về BHXH đối với người lao động càng được nâng cao. Đồng thời kinh tế - xã hội phát triển, người lao động và người sử dụng lao động sẽ có thu nhập cao hơn, do đó họ càng có điều kiện tham gia và đóng góp BHXH v.v.. 12 Nguồn hình thành quỹ BHXH: Quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau đây: - Người sử dụng lao động đóng góp. - Người lao động đóng góp. - Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm. - Các nguồn khác (như cá nhân và các tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi do đầu tư phần quỹ nhàn rỗi). Trong nền kinh tế hàng hoá, trách nhiệm tham gia đóng góp BHXH cho người lao động được phân chia cho cả người sử dụng lao động và người lao động trên cơ sở quan hệ lao động. Điều này không phải là sự phân chia rủi ro, mà là lợi ích giữa hai bên. Về phía người sử dụng lao động, sự đóng góp một phần BHXH cho người lao động sẽ tránh được thiệt hại kinh tế do phải chi ra một khoản tiền lớn khi có rủi ro xảy ra đối với người lao động mà mình thuê mướn. Đồng thời nó còn góp phần giảm bớt tình trạng tranh chấp, kiến tạo được mối quan hệ tốt đẹp giữa chủ - thợ. Về phía người lao động, sự đóng góp một phần để BHXH cho mình vừa biểu hiện sự tự gánh chịu trực tiếp rủi ro của chính mình, vừa có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi một cách chặt chẽ. Mối quan hệ chủ - thợ trong BHXH thực chất là mối quan hệ lợi ích. Vì thế, cũng như nhiều lĩnh vực khác trong quan hệ lao động, BHXH không thể thiếu được sự tham gia đóng góp của Nhà nước. Ngoài ra, bằng nhiều hình thức, biện pháp và mức độ can thiệp khác nhau, Nhà nước không chỉ tham gia đóng góp và hỗ trợ thêm cho quỹ BHXH mà còn trở thành chỗ dựa để đảm bảo cho hoạt động BHXH chắc chắn và ổn định. 1.2. Quản lý thu Bảo hiểm xã hội 1.2.1. Khái niệm Quản lý thu BHXH là quá trình tác động của các cơ quan BHXH đối với mọi tổ chức cá nhân có liên quan đến Thu BHXH theo một quy trình từ xác định đối tượng thu, mức thu, phương thức thu, lập kế hoạch thu đến tổ chức thực hiện kế hoạch và kiểm tra đánh giá việc thực hiện thu nhằm đạt được mục tiêu thu đúng, thu đủ, thu kịp thời tiền thu BHXH của đối tượng tham gia BHXH vào Quỹ BHXH, nhằm đáp ứng nguồn kinh phí chi trả các chế độ BHXH trên nguyên tắc có 13 đóng, có hưởng. Hoạt động quản lý thu đóng vai trò quan trọng đối với Thu BHXH . Trong quá trình tiến hành công tác thu với phương châm là thu đúng đối tượng, đúng phạm vi thu, đúng thời gian và quan trọng hơn nữa là thu được đủ số tiền đóng BHXH từ các đối tượng tham gia BHXH thì việc tăng cường công tác quản lý thu BHXH là vấn đề được các cơ quan quản lý và mọi người rất quan tâm. Để hình thành nên một kế hoạch thu, một chính sách thu BHXH thích ứng với cơ chế quản lý kinh tế đang trong quá trình đổi mới, đòi hỏi phải nghiên cứu, giải quyết hàng loạt vấn đề cả về lý luận và thực tiễn. “Thu BHXH là việc nhà nước dùng quyền lực của mình bắt buộc các đối tượng phải đóng BHXH theo mức phí qui định hoặc cho phép một số đối tượng tự nguyện tham gia, lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù họp với thu nhập của mình. Trên cơ sở đó hình thành một quỹ tiền tệ tập trung nhằm mục đích đảm bảo cho các hoạt động BHXH”. Thu BHXH thực chất là quá trình phân phối lại một phần thu nhập của các đối tượng tham gia BHXH, phân phối và phân phối lại một phần của cải của xã hội dưới dạng giá trị, nhằm giải quyết hài hòa các mối quan hệ về mặt lợi ích kinh tế, góp phần đảm bảo công bằng xã hội. Theo khái niệm thì thu BHXH bắt buộc là việc Nhà nước bắt buộc các đối tượng phải đóng BHXH theo mức phí nhất định được quy định bởi Luật. 1.2.2. Quy phạm pháp luật điều chỉnh quản lý thu BHXH Như chúng ta biết, thu BHXH có tầm quan trọng đặc biệt, không những có vai trò to lớn trong việc cân đối quỹ, thu BHXH còn đóng vai trò quyết định đến việc bảo tồn và phát triển của quỹ BHXH và sự phát triển của ngành BHXH. Do vậy để hoạt động thu BHXH đạt hiệu quả cao thì nguyên tắc đầu tiên của Thu BHXH là phải đảm bảo thực hiện đúng theo các văn bản pháp luật quy định từ đối tượng thu, số tiền thu, phương thức thu, lập kế hoạch thu cho tới công tác tổ chức và kiểm tra giám sát thu BHX. Hiện nay thu BHXH được thực hiện theo Luật BHXH, và các Thông tư, Nghị định sửa đổi bổ sung như: - Nghị định 152/2006/ NĐ-CP ngày 22/6/2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật BHXH. Thông tư số 03/2007/TT-BLĐTBXH ngày 30/01/2007 của Bộ Lao động thương binh và xã hội, Thông tư số 19/2008/TT- BLĐTB ngày 14 23/9/2008 của Bộ LĐTB&XH hướng dẫn sửa đổi bổ sung Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22/6/2006. - Quyết định số 902/QĐ-BHXH ngày 26/6/2007 về quản lỷ thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế bắt buộc. Quyết định số 1111/QĐ-BHXH ngày 25/10/2011 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành Quy định về quản lý thu BHXH, BHYT, quản lý sổ BHXH, thẻ BHYT. - Quyết định số 959/QĐ-BHXH ngày 09/09/2015 ban hành quy định về quản lý thu BHXH, BHYT, BHTN, quản lý sổ BHXH, thẻ BHYT. Quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 12 năm 2015, thay thế quyết định số 1111/QĐBHXH ngày 25/10/2011 ban hành Quy định về quản lý thu BHXH, BHYT, quản lý sổ BHXH, thẻ BHYT. Bãi bỏ Quyết định số 1018/QĐ-BHXH ngày 10 tháng 10 năm 2014 sửa đổi một số nội dung tại các quyết định ban hành quy định quản lý thu, chi BHXH, BHYT. Các văn bản quy định do BHXH Việt Nam ban hành trước đây trái với Quyết định này đều hết hiệu lực. 1.2.3. Nội dung quản lý thu BHXH: 1.2.3.1. Đối tượng tham gia BHXH: Người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc bao gồm: - Người làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn, HĐLĐ xác định thời hạn, HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả HĐLĐ được ký kết giữa đơn vị với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động. - Người làm việc theo HĐLĐ có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng (thực hiện từ 01/01/2018) - Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ công chức và viên chức. - Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu (trường hợp BHXH Bộ Quốc Phòng, BHXH Công an nhân dân bàn giao cho BHXH các tỉnh). - Người quản lý doanh nghiệp, người điều hành hợp tác xã có tiền lương. 15
- Xem thêm -