Tài liệu Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp huyện ở tỉnh bến tre hiện nay (Hỗ trợ tải tài liệu liên hệ zalo: 0587998338)

  • Số trang: 95 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 18 |
  • Lượt tải: 0
taitruongtan

Tham gia: 11/09/2019

Mô tả:

1 MỞ ĐẦU 1-Tính cấp thiết của đề tài Công tác tư tưởng là một bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong toàn bộ hoạt động của Đảng; là lĩnh vực trọng yếu để xây dựng, bồi đắp nền tảng chính trị của chế độ; tuyên truyền, giáo dục, động viên và tổ chức nhân dân thực hiện các nhiệm vụ cách mạng; khẳng định và nâng cao vị trí, vai trò tiên phong của Đảng về lý luận chính trị, về văn hóa và đạo đức; thể hiện vai trò đi trước, mở đường trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn coi trọng công tác tư tưởng. Trong hơn 20 năm đổi mới, công tác tư tưởng đã góp phần bảo đảm sự thống nhất trong Đảng, xây dựng và củng cố niềm tin của toàn dân vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc; tạo cơ sở để tập hợp lực lượng, đoàn kết dân tộc, hình thành sức mạnh to lớn giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế-xã hội; tạo tiền đề cho sự phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế của đất nước. Trong những năm tới, trước yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi phải nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả công tác tư tưởng. Công tác tư tưởng là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị, trong đó, có trách nhiệm của đội ngũ cán bộ tuyên giáo. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng chúng ta phải giải quyết nhiều vấn đề, nhưng trước hết, trên hết là nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tuyên giáo- những chiến sỹ xung kích trên mặt trận tư tưởng. Sau hơn 20 năm góp phần cùng cả nước thực hiện đường lối đổi mới, đội ngũ cán bộ tuyên giáo nước ta từng bước được kiện toàn, năng lực chuyên 2 môn, nghiệp vụ được nâng lên, đại đa số được rèn luyện và trưởng thành qua thực tiễn công tác, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt, giản dị, gắn bó với nhân dân. Bên cạnh đó, đội ngũ này hiện nay vẫn còn một số mặt hạn chế cần phải khắc phục như: thiếu về số lượng, đa phần chưa được đào tạo chuyên nghiệp, một số cán bộ nắm lý luận không sâu, thiếu tính nhạy bén nên năng lực tham mưu còn yếu, khả năng xử lý tình huống còn hạn chế... Đội ngũ cán bộ tuyên giáo của tỉnh Bến Tre nói chung, cấp huyện nói riêng thời gian qua đã thực hiện khá tốt chức năng, nhiệm vụ của mình tại địa phương: tham mưu giúp cấp uỷ lãnh chỉ đạo kịp thời trong từng thời điểm, giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng; tăng cường sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân, giữ vững niềm tin vào sự nghiệp cách mạng, sự lãnh đạo của Đảng, góp phần xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp. Cụ thể là, Bến Tre sau hơn 20 năm đổi mới đã đạt được những thành tựu đáng kể. Những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Bến Tre tiếp tục phát triển. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, kết cấu hạ tầng được tập trung đầu tư, nâng cấp, nhiều công trình trọng điểm hoàn thành đưa vào sử dụng. Bước đầu hình thành được một số khu, cụm công nghiệp tạo điều kiện thuận lợi thu hút đầu tư phát triển. Văn hóa – xã hội có nhiều tiến bộ. Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa tiếp tục được củng cố, phát triển. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Hệ thống chính trị tiếp tục được củng cố, kiện toàn; năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và đảng viên được nâng lên; dân chủ ở cơ sở được phát huy. Tỉ lệ hộ nghèo giảm khá nhanh. Đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện. Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ này cũng còn một số mặt cần phải quan tâm giải quyết như: trình độ, năng lực chưa đồng bộ, khả năng phát hiện, nắm 3 bắt, đề xuất, xử lý những vấn đề đột xuất, nổi cộm diễn ra trên địa bàn còn yếu, đa số chưa được đào tạo đúng chuyên ngành, phần lớn cán bộ tuyên giáo được tuyển từ các lĩnh vực khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu trước mắt, và giải quyết sự thiếu hụt về biên chế đã được phân bổ,... Từ đó, đã ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả công tác tư tưởng trên địa bàn. Chính từ những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp huyện của tỉnh Bến Tre hiện nay” nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tư tưởng của tỉnh nhà góp phần cùng toàn Đảng, toàn quân và nhân dân Bến Tre vươn lên trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. 2- Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Về công tác tư tưởng nói chung và xây dựng đội ngũ cán bộ tuyên giáo nói riêng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Đến nay có nhiều bài viết của nhiều tác giả ở các góc độ khác nhau được đăng tải trên sách, báo, tạp chí. Một số công trình có liên quan trực tiếp đến vấn đề này như: - Trần Xuân Sầm (1998): Xác định cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị đổi mới , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. - Lương Khắc Hiếu (2008), Nguyên lý công tác tư tưởng tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. - Ban Tuyên giáo Trung ương (2009), Tập bài giảng lớp bồi dưỡng cán bộ tuyên giáo cấp tỉnh, cấp huyện năm 2009. - Đào Duy Quát (2001), Một số vấn đề về công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. - Viện Xây dựng Đảng Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Giáo trình công tác tư tưởng của Đảng, Nxb Lý luận chính trị, 2004, Hà Nội. 4 - “Năng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp huyện ở tĩnh Hà Tĩnh hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Khoa học chính trị của tác giả Trần Đình Tuấn, bảo vệ tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, năm 2007. - ‘Nâng cao năng lực sáng tạo của cán bộ tuyên giáo ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay’, Luận văn thạc sĩ …. của tác giả Trần Quang Huy, bảo vệ tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, năm…. Các công trình trên cho thấy, các tác giả đi sâu phân tích ở góc độ lý luận công tác tư tưởng, vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nói chung, vấn đề đào tạo cán bộ làm công tác tư tưởng nói riêng, khái quát về tình hình cán bộ tuyên giáo của cả nước, hoặc đề cập ở một khía cạnh nào đó về năng lực của đội ngũ cán bộ tuyên giáo tại một địa phương. Có thể nói rằng đề tài luận văn “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp huyện ở tỉnh Bến Tre hiện nay” là một đề tài mới, không bị trùng lặp với các đề tài nghiên cứu trước đó. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về chất lượng đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp huyện của tỉnh Bến Tre, luận văn đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp huyện của tỉnh Bến Tre hiện nay. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu - Làm rõ cơ sở lý luận của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp huyện. - Đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp huyện của tỉnh Bến Tre hiện nay. 5 - Đề xuất các phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp huyện của tỉnh Bến Tre hiện nay. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Chất lượng đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp huyện của tỉnh Bến Tre hiện nay. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Luận văn tập trung nghiên cứu, khảo sát đội ngũ cán bộ công tác tại Ban Tuyên giáo các huyện, thành phố của tỉnh Bến Tre hiện nay. Thời gian khảo sát: từ tháng 1 năm 2010 đến tháng 6 năm 2010. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Cơ sở lý luận Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả dựa trên cơ sở lý luận, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm, đường lối và các chính sách của Đảng, Nhà nước về xây dựng đội ngũ cán bộ và đội ngũ cán bộ tuyên giáo của Đảng. Đồng thời, tác giả kế thừa và tiếp thu có chọn lọc những kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan. 5.2. Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp như: phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử, phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh và các phương pháp xã hội học như: quan sát, phân tích tài liệu và các phương pháp điều tra. 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 6.1.Ý nghĩa khoa học 6 Kết quả luận văn là cái nhìn toàn cảnh về thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp huyện ở tỉnh Bến Tre hiện nay. Trên cơ sở phác họa diện mạo chung của đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp huyện ở tỉnh Bến Tre, luận văn cho thấy vai trò, tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ này trong việc thực hiện nhiệm vụ của công tác tư tưởng trên địa bàn tỉnh Bến Tre. 6.2.Ý nghĩa thực tiễn Với kết quả nghiên cứu đạt được, Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cấp lãnh đạo địa phương, những người trực tiếp làm nhiệm vụ công tác tuyên giáo ở các huyện, thành phố của tỉnh Bến Tre và những ai quan tâm đến vấn đề này. Những giải pháp của đề tài có thể tham khảo và ứng dụng vào thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp huyện, thành phố góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của đội ngũ này trên lĩnh vực công tác tư tưởng. 7. Kết cấu luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương, tiết, trang. Chương 1 7 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ TUYÊN GIÁO CẤP HUYỆN HIỆN NAY 1.1. Cán bộ tuyên giáo và cán bộ tuyên giáo cấp huyện 1.1.1. Khái niệm cán bộ, cán bộ tuyên giáo, cán bộ tuyên giáo cấp huyện - Khái niệm “cán bộ” Cán bộ được hiểu theo nhiều nghĩa và rất phong phú. Nó xuất hiện trong đời sống xã hội nước ta khoảng mấy chục năm gần đây, để chỉ một lớp người là những chiến sĩ cách mạng,lớp người mới, sẵn sang chịu đựng gian khổ, hy sinh, gắn bó với nhân dân, phục vụ cho sự nghiệp cao cả giành độc lập, tự do cho dân tộc. Từ cán bộ được du nhập vào nước ta từ Trung Quốc và được dung phổ biến trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Ban đầu, từ này được dung nhiều trong quân đội để phân biệt chiến sĩ và cán bộ. Từ cán bộ được dùng để chỉ những người làm nhiệm vụ chỉ huy từ tiểu đội phó trở lên. Dần dần từ cán bộ được dùng để chỉ tất cả những người hoạt động kháng chiến thoát ly, để phân biệt với nhân dân. Trong từ điển Nhật-Việt, từ cán bộ được dùng với nghĩa là người ở hạng cao (trong một đoàn thể), là yếu nhân (nhân vật quan trọng). Trong Từ điển Tiếng Việt, từ “cán bộ” được định nghĩa là: - Người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan Nhà nước, Đảng và đoàn thể. - Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người không có chức vụ. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cán bộ là người đem chính sách của Đảng, Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem 8 tình hình dân chúng báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng”[45,tr.269]. Cho đến nay, từ cán bộ đã được dùng với rất nhiều nghĩa khác nhau: - Trong tổ chức đảng và đoàn thể, từ cán bộ được dùng với hai nghĩa: một là, để chỉ những người được bầu vào các cấp lãnh đạo, chỉ huy từ cơ sở đến Trung ương (cán bộ lãnh đạo) để phân biệt với đảng viên thường, đoàn viên, hội viên; hai là, những người làm công tác chuyên trách có hưởng lương trong các tổ chức đảng và đoàn thể. - Trong quân đội là những chỉ huy từ tiểu đội trở lên (cán bộ tiểu đội, cán bộ trung đoàn, v.v.) và là sĩ quan từ cấp úy trở lên. - Trong hệ thống nhà nước, từ cán bộ được hiểu cơ bản là trùng với từ công chức, chỉ những người làm việc trong cơ quan nhà nước thuộc ngành hành chính, tư pháp, kinh tế, văn hóa và xã hội. Đồng thời, cán bộ cũng được hiểu là những người có chức vụ chỉ huy, phụ trách, lãnh đạo (trưởng, phó phòng, vụ, cục,v.v.). Tóm lại, có thể hiểu Cán bộ là người có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ nhất định, làm việc trong các tổ chức, cơ quan, đơn vị của hệ thống chính trị; là người giữ chức vụ trong các tổ chức, cơ quan của hệ thống chính trị. - Cán bộ tuyên giáo Cán bộ tư tưởng của Đảng và Nhà nước ta là người hoạt động chuyên nghiệp trong lĩnh vực tư tưởng – văn hóa, bao gồm: cán bộ nghiên cứu và giảng dạy lý luận, cán bộ tuyên giáo, cán bộ báo chí, xuất bản, cán bộ văn hóa-thông tin, cán bộ hoạt động trong lĩnh vực văn hóa-nghệ thuật, cán bộ chính trị trong lực lượng vũ trang, trong các trường đại học, cao đẳng…Ở đây chỉ đề cập đến đội ngũ cán bộ tuyên giáo- những cán bộ có chức năng tham mưu, giúp cấp ủy chỉ đạo, quản lý, kiểm tra các mặt hoạt động của công tác tư tưởng và khoa giáo. 9 Trong lịch sử Đảng ta, cán bộ tư tưởng xuất hiện đồng thời và trưởng thành cùng với quá trình phát triển của Đảng. Trước khi Đảng ta ra đời, một bộ phận tiên tiến đại diện cho dân tộc và giai cấp công nhân nước ta đã tiếp thu và tiến hành truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng vào ngày 3/2/1930. Họ chính là những cán bộ tư tưởng mà người đầu tiên là Nguyễn Ái Quốc. Những cán bộ tư tưởng này đã trưởng thành, lớn mạnh cùng với quá trình phát triển của Đảng. Sau khi Đảng ta giành được chính quyền, lực lượng làm công tác tư tưởng chuyên nghiệp được tập hợp lại trong Ban Tuyên giáo, trong cơ quan tư tưởng-văn hóa các cấp, ngành, các đoàn thể và trở thành bộ phận hữu cơ trong đội ngũ cán bộ chính trị, cán bộ tham mưu của Đảng và Nhà nước. Trải qua lịch sử 80 năm xây dựng và phát triển, cơ quan chuyên trách làm công tác tuyên giáo của Đảng đã có những tên gọi khác nhau và có những lần chia tách, hợp nhất cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của mỗi giai đoạn cách mạng. Từ năm 1930 đến tháng 8 năm 1945, cơ quan tham mưu của Trung ương Đảng về công tác tư tưởng-văn hóa gọi là Ban Cổ động và Tuyên truyền của Đảng. Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, ngày 7/9/1945, Bộ Tuyên truyền được thành lập. Tháng 3/1949, Ban Thường vụ Trung ương ra quyết nghị về việc thành lập Ban Văn hóa Trung ương. Ngày 14/9/1950, Trung ương ban hành Quyết định số 55-QĐ/TW về tổ chức Ban tuyên truyền và Ban giáo dục Trung ương Đảng. Ngày 16/4/1951, Trung ương ban hành Quyết định số 09-QĐ/TW thành lập Ban Tuyên huấn. 10 Ngày 22/5/1957, Ban Bí thư ban hành Quyết định số 13-QĐ/TW về việc thành lập Tiểu ban văn nghệ Trung ương và đảng đoàn các ngành văn học nghệ thuật. Ngày 24/5/1957, Ban Bí thư ban hành Quyết định số 14-QĐ/TW về việc thành lập Tiểu ban Khoa học giáo dục Trung ương và chấn chỉnh sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với công tác giáo dục. Ngày 23/8/1958, Ban Bí thư có Nghị quyết số 50-NQ/TW về việc thành lập Ban Văn hóa giáo dục Trung ương, gọi tắt là Ban Văn giáo Trung ương. Ngày 01/12/1959, Ban Bí thư có Quyết định số 91-QĐ/TW về việc hợp nhất hai Ban Tuyên huấn và Ban Văn giáo thànhBan Tuyên huấn văn giáo, gọi tắt Ban Tuyên giáo Trung ương. Ngày 30/01/1968, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 1584-NQ/TW về tách Ban Tuyên giáo Trung ương thành hai Ban là Ban Tuyên huấn Trung ương và Ban Khoa học giáo dục Trung ương (gọi tắt là Ban Khoa giáo Trung ương). Tháng 8/1980, Bộ Chính trị thông báo thành lập Ban Văn hóa-Văn nghệ. Ngày 11/4/1989, Bộ Chính trị có Quyết định số 85-QĐ/TW thống nhất Ban Văn hóa – Văn nghệ Trung ương với Ban Tuyên huấn Trung ương thành Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương. Ngày 28/8/2007, Bộ Chính trị có Quyết định số 80-QĐ/TW nhập Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương và Ban Khoa giáo Trung ương thành lập Ban Tuyên giáo Trung ương. Ban Tuyên giáo Trung ương là cơ quan tham mưu chỉ đạo và kiểm tra của Ban chấp hành Trung ương mà trực tiếp là Bộ Chính trị và 11 Ban Bí thư Trung ương về công tác tư tưởng – văn hóa, công tác khoa giáo trong Đảng và trong xã hội. [ 50,tr.488] Từ những phân tích nêu trên, chúng tôi xin nêu ra một cách hiểu về cán bộ tuyên giáo như sau: Cán bộ tuyên giáo là những người hoạt động trong cơ quan tham mưu các cấp của Đảng về công tác tuyên giáo, có chức năng tham mưu, giúp cấp ủy chỉ đạo, quản lý, kiểm tra các mặt hoạt động của công tác tư tưởng -văn hóa và khoa giáo. - Cán bộ tuyên giáo cấp huyện Hệ thống tổ chức của Đảng ta theo bốn cấp: đảng bộ cơ sở (xã, phường, thị trấn …), đảng bộ huyện (quận, thị xã…), đảng bộ tỉnh, thành phố và Trung ương. Do đó, Ban Tuyên giáo được thành lập theo bốn cấp trên: Trung ương, tỉnh (thành phố trực thuộc Trung ương), huyện (quận, thị xã) và xã (phường, thị trấn…). Song, với tư cách làmột tổ chức có bộ máy chuyên trách thì có ở ba cấp: Trung ương, tỉnh và huyện. Về cơ bản, chức năng, nhiệm vụ của ban tuyên giáo huyện ủy cũng như của ban tuyên giáo cấp trên; khác nhau là ở cấp độ, ở việc xác định những nhiệm vụ cụ thể để thực hiện trong phạm vi và hoàn cảnh cụ thể của cấp huyện. Ban tuyên giáo huyện ủy là cơ quan tham mưu của huyện ủy về công tác tư tưởng-văn hóa và khoa giáo. Ban tuyên giáo huyện ủy có chức năng tham mưu, chỉ đạo và kiểm tra năm mặt công tác: tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị, văn hóa-văn nghệ, khoa giáo và nghiên cứu, biên soạn lịch sử đảng bộ địa phương. [50,tr.493] Theo đó, có thể hiểu cán bộ tuyên giáo cấp huyện là những người công tác tại ban tuyên giáo huyện ủy. Đó là những cán bộ có chức năng tham mưu, giúp cấp ủy huyện chỉ đạo, quản lý, kiểm tra năm mặt công tác tuyên 12 truyền, giáo dục lý luận chính trị, văn hóa văn nghệ, khoa giáo và nghiên cứu, biên soạn lịch sử đảng bộ địa phương, 1.1.2. Chức năng, nhiệm vụ của cán bộ tuyên giáo cấp huyện - Nghiên cứu, đề xuất + Nghiên cứu, tổng hợp, phân tích tình hình tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân; những âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta trên lĩnh vực tư tưởng - văn hoá của các thế lực thù địch; dự báo những diễn biến và xu hướng tư tưởng có thể xảy ra, kịp thời báo cáo, kiến nghị với Ban Thường vụ, Thường trực cấp uỷ phương hướng, nhiệm vụ, nội dung, biện pháp giải quyết. + Chủ trì và tham gia chuẩn bị các đề án, các chương trình, các nghị quyết, chỉ thị, quyết định… của cấp ủy, Ban Thường vụ cấp ủy về công tác tư tưởng - văn hóa, khoa giáo và biên soạn lịch sử Đảng bộ huyện. + Giúp cấp uỷ, Ban Thường vụ cấp uỷ trong việc đánh giá các hoạt động và nghiên cứu đề xuất phương hướng, chính sách, cơ chế và các giải pháp trên lĩnh vực công tác tư tưởng - văn hoá, khoa giáo và biên soạn lịch sử Đảng bộ cơ sở. + Tham gia ý kiến với các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể huyện và cơ sở trong việc tổ chức nghiên cứu quán triệt, vận dụng thể chế hoá các chỉ thị, nghị quyết, quyết định của Trung ương và Tỉnh uỷ về các lĩnh vực tư tưởng - văn hoá, khoa giáo và biên soạn lịch sử Đảng bộ cơ sở. - Thẩm định Chủ trì hoặc tham gia thẩm định các chương trình, kế hoạch, đề án của các cơ quan Đảng, chính quyền, các đoàn thể huyện và cơ sở có liên quan đến lĩnh vực tư tưởng - văn hoá, khoa giáo và lịch sử Đảng. - Hướng dẫn, kiểm tra 13 + Giúp cấp uỷ, Ban Thường vụ cấp uỷ tổ chức nghiên cứu quán triệt, hướng dẫn triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng; kiểm tra các tổ chức Đảng, các ban, ngành, đoàn thể huyện và cơ sở trong việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương và Tỉnh uỷ về công tác tư tưởng - văn hoá, khoa giáo và lịch sử Đảng. + Tổ chức phổ biến thông tin thời sự, chính sách theo hướng dẫn của Trung ương, tỉnh và thực hiện sự chỉ đạo của cấp uỷ Ban Thường vụ cấp uỷ cho cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng bộ. + Tổ chức mạng lưới báo cáo viên, tuyên truyền viên từ huyện đến cơ sở; hướng dẫn và kiểm tra nội dung thông tin của các phương tiện thông tin Đài Truyền thanh, hoạt động thông tin cổ động, văn hóa - thông tin, khoa giáo trên địa bàn huyện. + Hướng dẫn và chỉ đạo tuyên truyền các ngày lễ lớn, các phong trào thi đua yêu nước trong nội bộ Đảng và nhân dân. + Tổ chức bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ công tác khoa giáo, nghiệp vụ công tác nghiên cứu dư luận xã hội, nghiệp vụ công tác sưu tầm và biên soạn lịch sử Đảng bộ cơ sở, ngành… cho đội ngũ cán bộ tuyên giáo cơ sở. + Sưu tầm, biên soạn, bổ sung lịch sử Đảng bộ huyện, địa chí huyện; hướng dẫn sưu tầm, biên soạn lịch sử Đảng bộ xã, lịch sử ngành; đưa lịch sử địa phương vào giảng dạy ở các trường phổ thông, nhằm phát huy truyền thống cách mạng của quê hương Bến Tre Đồng Khởi anh hùng; giáo dục truyền thống cách mạng của địa phương. + Chỉ đạo và tham gia tổng kết thực tiễn, phát hiện và nhân rộng những mô hình mới, nhân tố mới trên địa bàn huyện. Tổng kết kinh nghiệm công tác tuyên giáo cơ sở và định kỳ có báo cáo Ban Thường vụ cấp uỷ, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ. 14 - Tham gia công tác xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ tuyên giáo cơ sở, cán bộ khoa học kỹ thuật trong địa bàn huyện. + Đề xuất với cấp uỷ, Ban Thường vụ cấp uỷ về cơ chế chính sách đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng, quản lý và đãi ngộ đối với đội ngũ cán bộ tuyên giáo, đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật trong huyện. + Tham gia ý kiến trong việc bố trí, sử dụng, khen thưởng, kỷ luật cán bộ trong khối tuyên giáo và Ban Tuyên giáo cơ sở. + Phối hợp với các Ban Đảng của cấp uỷ, tham gia công tác xây dựng Đảng đối với các cơ sở, đơn vị và các ngành trong khối tuyên giáo; xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực khoa giáo. - Thực hiện các nhiệm vụ do Ban Thường vụ cấp uỷ uỷ nhiệm + Chủ trì, chỉ đạo định hướng chính trị, tư tưởng trong hoạt động của các cơ quan: Đài Phát thanh, Phòng Văn hoá - Thông tin thể thao, giúp đỡ và tạo điều kiện cho các ngành này hoạt động theo đúng định hướng chính trị của Trung ương, tỉnh và cấp uỷ địa phương. + Chủ trì, chỉ đạo nội dung giáo dục lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ trương, đường lối của Đảng, Pháp luật của Nhà nước; các chương trình bồi dưỡng, đào tạo ở Trung tâm bồi dưỡng chính trị và hệ thống giáo dục phổ thông trên địa bàn. + Lãnh đạo, chỉ đạo công tác chính trị, tư tưởng, lãnh đạo công tác chuyên môn của khối khoa giáo thực hiện theo chủ trương, nghị quyết của Đảng và cấp uỷ (Giáo dục, Uỷ ban dân số, gia đình và trẻ em, Y tế, thể dục thể thao, khoa học công nghệ và môi trường, Hội Đông y), định hướng chính trị cho hoạt động của khối. 1.1.3. Vị trí, vai trò của cán bộ tuyên giáo cấp huyện “Những tư tưởng thống trị của một thời đại bao giờ cũng chỉ là những tư tưởng của giai cấp thống trị”.[,tr.625] C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, 15 Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.4. Để biến hệ tư tưởng của mình thành hệ tư tưởng thống trị trong một chế độ xã hội, giai cấp thống trị nào cũng phải tổ chức việc truyền bá hệ tư tưởng trong quảng đại quần chúng. Việc truyền bá này, một mặt xuất phát từ yêu cầu xác lập địa vị thống trị của hệ tư tưởng của giai cấp thống trị xã hội, mặt khác xuất phát từ yêu cầu động viên, cổ vũ quần chúng tham gia hoạt động thực tiễn nhằm xây dựng và bảo vệ chế độ đương thời. Hệ tư tưởng tự nó không xâm nhập vào ý thức quần chúng nếu không thông qua các công tác tuyên truyền, giáo dục. Kể từ khi xã hội loài người phân chia thành giai cấp đối kháng, hệ tư tưởng xuất hiện thì đồng thời cũng hình thành tầng lớp những nhà tư tưởng những cán bộ tuyên truyền. Đội ngũ này lấy việc truyền bá hệ tư tưởng cho một giai cấp làm nghề nghiệp của mình. Xã hội càng phát triển, đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực tư tưởng càng phức tạp thì yêu cầu về số lượng và chất lượng đối với đội ngũ này càng cao, tính chuyên nghiệp của nghề này càng sâu. Từ kinh nghiệm lịch sử của xã hội loài người và từ quá trình truyền bá lý luận khoa học vào phong trào công nhân, C.Mác đã khẳng định: “Muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn”[31,tr.181].Trong điều kiện lịch sử cụ thể của cách mạng đang ở thời kỳ Đảng chưa nắm chính quyền, C.Mác và Ph.Ăngghen rất quan tâm đến việc xây dựng một đội ngũ những nhà tuyên truyền, cổ động, truyền bá tư tưởng cộng sản; lãnh đạo, tổ chức các phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản, trên cơ sở đó, kết hợp với phong trào công nhân để lập ra những chính đảng của giai cấp công nhân. Những nhà tuyên truyền, cổ động đó chính là những cán bộ cách mạng chuyên nghiệp của Đảng trong thời kỳ hoạt động bí mật. Đội ngũ cán bộ tuyên giáo nói chung, đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp huyện nói riêng giữ vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình phát triển và 16 truyền bá hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Thông qua hoạt động của đội ngũ này mà hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển và được truyền bá rộng rãi trong quần chúng, trở thành yếu tố chi phối, thống trị trong đời sống tinh thần xã hội. Cách mạng xã hội chủ nghĩa là hoạt động tự giác và sáng tạo của hàng chục triệu quần chúng. Đảng Cộng sản, thông qua đội ngũ đảng viên trong toàn Đảng và đội ngũ cán bộ tuyên giáo đưa tinh thần tự giác vào giai cấp công nhân, vào quảng đại quần chúng nhân dân lao động. Nhờ có trình độ tự giác trong hành động của quần chúng ngày càng cao, ý thức xã hội chủ nghĩa ngày càng ăn sâu bám rễ vào quần chúng và trở thành lực lượng vật chất thúc đẩy tiến trình phát triển và đổi mới xã hội. Cán bộ tuyên giáo đóng vai trò quan trọng trong công tác xây dựng Đảng. Thông qua việc phát triển lý luận cách mạng, truyền bá chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách của Đảng cho quần chúng và đảng viên, cán bộ tuyên giáo góp phần vào việc nâng cao trình độ giác ngộ của quần chúng về Đảng, giúp họ hiểu rõ vai trò, sứ mệnh của Đảng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội; góp phần giáo dục bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng cho đảng viên. Nhờ đó đội ngũ của Đảng được phát triển, số lượng, chất lượng đảng viên được nâng cao, sự vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức của Đảng được tăng cường. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh thường căn dặn: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”[47,tr.269], “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”[47,tr.269]. Hiệu quả công tác tư tưởng phụ thuộc vào chất lượng, trình độ am hiểu sâu sắc về chuyên môn, tinh thông về nghiệp vụ, vững vàng về bản lĩnh chính trị, giàu nhiệt tình cách mạng của đội ngũ cán bộ công tác tuyên giáo. 17 Đội ngũ cán bộ tuyên giáo các thế hệ của Đảng đã góp phần bồi dưỡng các thế hệ con người Việt Nam, những chiến sĩ cộng sản thành lớp người “gan vàng dạ sắt”, dũng cảm, kiên cường trong đấu tranh cách mạng. Hiện nay, họ đang góp phần tích cực xây dựng những thế hệ con người Việt Nam mới, đủ sức gánh vác sứ mệnh lịch sử mà đất nước giao phó. 1.2. Chất lượng đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp huyện của tỉnh Bến Tre và tiêu chí đánh giá 1.2.1. Quan niệm về chất lượng đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp huyện - Chất lượng Theo Đại từ điển tiếng Việt: Chất lượng: Cái làm nên phẩm chất, giá trị của con người, sự vật... Cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác sự vật kia [60, tr.331]. Từ điển Bách Khoa Việt Nam cho rằng: Chất lượng là phạm trù triết học biểu hiện những thuộc tính, bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật phân biệt nó với sự vật khác [57,tr.419]. Từ điển Triết học chỉ rõ: Chất lượng (chất) là tính qui định bản chất của sự vật, tính qui định những đặc điểm và tính cách vốn có của sự vật; do tính qui định đó, sự vật là sự vật như nó đang tồn tại, chứ không phải là sự vật khác; tính qui định đó phân biệt sự vật ấy với sự vật khác [58,tr.150]. - Đội ngũ: Trong Đại từ điển Tiếng Việt đưa ra khái niệm như sau: 1.Tổ chức gồm nhiều người tập hợp lại thành một lực lượng. 2. Tập hợp số đông người cùng chức năng, nghề nghiệp. [60 ,tr.659] Từ sự phân tích ở trên có thể hiểu: Chất lượng đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp huyện là tổng hợp các thuộc tính, đặc trưng của tập hợp những người cán bộ tuyên giáo cấp huyện, đảm bảo cho đội ngũ cán bộ đó hoàn thành nhiệm vụ được giao. 18 Chất lượng đội ngũ cán bộ tuyên giáo được tạo nên bởi nhiều yếu tố, bao gồm số lượng cán bộ, cơ cấu cán bộ, cấu trúc bộ máy, cơ chế tổ chức, điều hành,…Chất lượng của đội ngũ cán bộ tuyên giáo được cấu thành từ chất lượng của mỗi cán bộ tuyên giáo. Đó là trình độ lý luận chính trị và tri thức khoa học, trình độ về chuyên môn nghiệp vụ, về phẩm chất chính trị và đạo đức. Chất lượng của đội ngũ cán bộ tuyên giáo đòi hỏi trước hết phải có một số lượng hợp lý. Tính hợp lý được biểu hiện ở sự tinh giản tới mức tối ưu, đảm bảo gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả, trong đó mỗi cá nhân phát huy hết năng lực của mình, có thể đảm đương tốt nhất công việc được giao, đảm bảo cho bộ máy vận hành thông suốt và đạt hiệu quả cao. Một đội ngũ cán bộ quá đông sẽ gây ra sự trì trệ trong công việc, trong điều hành bộ máy, gây ra sự dư thừa và lãng phí nhân lực, và do đó thiếu sự thúc đẩy tính tích sự của mỗi cá nhân. Tính hợp lý về số lượng còn biểu hiện ở sự cân đối và phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh kinh tế- xã hội của đất nước, phù hợp với yêu cầu công việc của từng cấp, từng lĩnh vực. Trong điều kiện nền kinh tế nước ta còn nghèo, thu nhập quốc dân còn thấp, một đội ngũ cán bộ quá đông sẽ là gánh nặng cho nền kinh tế đất nước, đời sống của cán bộ khó có điểu kiện được cải thiện, được nâng cao. Chính vì vậy, tinh giản bộ máy, giảm biên chế đang là vấn đề bức xúc hiện nay. Chất lượng cán bộ tuyên giáo phải có cơ cấu hợp lý. Đó là sự cân đối, phù hợp giữa cán bộ lãnh đạo và chuyên viên, sự cân đối về giới tính, độ tuổi của các thế hệ cán bộ,… Sự hợp lý trong cơ cấu cán bộ sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp, bảo đảm sự chuyển tiếp, hỗ trợ nhau, tạo ra sự phong phú, hài hòa và đa dạng trong đội ngũ cán bộ tuyên giáo. Một cơ cấu hợp lý sẽ tạo ra tính năng động của bộ 19 máy, tạo ra sự phối hợp nhịp nhàng trong hoạt động. Cơ cấu hợp lý là yếu tố quan trọng tạo nên chất lượng cán bộ tuyên giáo. Trong điều kiện hiện nay, xây dựng cơ cấu cán bộ tuyên giáo cần kết hợp chặt chẽ việc trẻ hóa đội ngũ cán bộ với việc sử dụng tốt số cán bộ hiện có, số cán bộ có kinh nghiệm, số cán bộ trẻ được đào tạo cơ bản, có trình độ chuyên môn. Việc xây dựng cơ cấu cán bộ tuyên giáo phải trên cơ sở khoa học, gắn với yêu cầu, nhiệm vụ của cơ quan ban tuyên giáo. Chất lượng của đội ngũ cán bộ tuyên giáo là sự tổng hợp chất lượng của từng người cán bộ tuyên giáo. Mỗi một cán bộ mạnh, có đủ đức, đủ tài sẽ tạo nên chất lượng và sức mạnh tổng hợp của toàn đội ngũ cán bộ tuyên giáo. Chất lượng của mỗi cán bộ tuyên giáo được biểu hiện ở bản lĩnh chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, ở trình độ được đào tạo về chuyên môn, trình độ về lý luận chính trị và tri thức khoa học. Người cán bộ tuyên giáo phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định với mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, là người tiêu biểu cho lý tưởng cách mạng, có lòng trung thành tuyệt đối với Tổ quốc và nhân dân, trung thành với lý tưởng của giai cấp và dân tộc. Bất luận trong hoàn cảnh nào họ cũng phải là người cầm lái giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong điều kiện hiện nay, phẩm chất chính trị của người cán bộ tuyên giáo phải được đặt lên hàng đầu, là tiêu chuẩn quan trọng quyết định chất lượng của mỗi người cán bộ. Người cán bộ tuyên giáo phải thực sự là người có đạo đức cách mạng, đạo đức Hồ Chí Minh. Đạo đức cách mạng của người cán bộ tuyên giáo đó là lòng trung thành với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu hết mình vì sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Nó được thể hiện ở tinh thần trách nhiệm và gắn liền với hiệu quả hoạt động, nói đi đôi với làm, mang lại lợi ích thiết thực cho 20 nước, cho dân, gắn liền với trách nhiệm của mỗi cá nhân, phải thật sự tận tâm, tận lực phụng sự Tổ quốc, là “công bộc”, là “đầy tớ” của dân, trung thành, dám đấu tranh cho lẽ phải, công bằng. Người cán bộ có đạo đức cách mạng là người luôn nghiêm khắc với bản than, không tham nhũng, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, có lối sống mẫu mực, phù hợp với chuẩn mực của xã hội, luôn biết hy sinh lợi ích cá nhân, đặt lợi ích của dân tộc, của tập thể lên trên lợi ích cá nhân. Tóm lại, yêu cầu đạo đức cách mạng của người cán bộ tuyên giáo trong giai đoạn hiện nay là phải thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Đây là tiêu chuẩn quan trọng để lựa chọn, cất nhắc, đề bạt cán bộ. Chất lượng đội ngũ cán bộ tuyên giáo được thể hiện, được tạo thành từ phẩm chất đạo đức của mỗi người cán bộ tuyên giáo. Về trình độ, năng lực, trong bất cứ thời kỳ nào, đây cũng là nhân tố quan trọng, quyết định chất lượng và hiệu quả công việc, là tiêu chí quan trọng đánh giá chất lượng cán bộ tuyên giáo. Yêu cầu về trình độ kiến thức và năng lực của người cán bộ tuyên giáo trong giai đoạn hiện nay phải toàn diện, vừa rộng, vừa sâu. Phải giỏi về chuyên môn, am hiểu về lĩnh vực phụ trách. Đó là đòi hỏi của cuộc sống hiện nay, của sự nghiệp công nghiệp hóa và của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. 1.2.2. Tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ tuyên giáo cấp huyện ở tỉnh Bến Tre 1.2.2.1. Về số lượng cán bộ tuyên giáo cấp huyện của tỉnh Bến Tre Căn cứ Nghị quyết số 16-NQ/TW ngày 18/3/2002 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới; Kết luận Hội nghị Trung ương lần thứ 12 về tăng cường công tác tư tưởng trong tình hình hiện nay; Căn cứ Hướng dẫn liên ban số 2631-HDLB/TTVH-KH-TC ngày 24/01/2003 của Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương, Ban Khoa giáo Trung ương, ban Tổ chức Trung ương về
- Xem thêm -