Tài liệu Nâng cao chất lượng cho vay tiêu dùng tại ngân hàng việt nam thịnh vượng (vpbank) - chi nhánh cầu diễn

  • Số trang: 62 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 125 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

Chuyên đề tốt nghiệp 1 Học viện Ngân hàng LỜI MỞ ĐẦU Hoạt động cho vay của Ngân hàng là một trong những hoạt động chính đem lại phần lớn lợi nhuận cho Ngân hàng. Với cách thức hoạt động “ vay để cho vay ” nên các NHTM phải tìm mọi cách để cho vay với khả năng tối đa. Tìm kiếm đối tượng để cho vay, vận dụng các loại hình tín dụng, trong đó có cho vay tiêu dùng để đầu tư vốn có hiệu quả, luôn là mục tiêu quan trọng của NHTM. Trong những năm gần đây, CVTD đã đạt được một số kết quả nhất định. Song CVTD của các NHTM còn bộc lộ nhiều hạn chế. Trước yêu cầu của nền kinh tế xã hội đòi hỏi ngày càng cao, sự cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt giữa các ngân hàng, đặt ra cho các NHTM phải tập trung nâng cao chất lượng CVTD nhằm tăng lợi nhuận đồng thời đáp ứng được nhu cầu của khách hàng và nâng cao vị thế của mình trên thị trường. Xuất phát từ thực tế đó, em đã chọn đề tài“Nâng cao chất lượng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Việt Nam thịnh vượng (VPBank) - Chi nhánh Cầu Diễn ” làm chuyên đề tốt nghiệp với hi vọng góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động CVTD nói riêng cũng như hoạt động kinh doanh của VPBank nói chung trong những năm tới. Chuyên đề này gồm 3 chương sau: Chương 1: Cơ sở lý thuyết về chất lượng cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng chất lượng cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam thịnh vượng (VPBank) - Chi nhánh Cầu Diễn Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay tiêu dùng tại ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam thịnh vượng (VPBank) - Chi nhánh Cầu Diễn Nguyễn Thị Dung Lớp: 35N2 Chuyên đề tốt nghiệp 2 Học viện Ngân hàng CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1. Hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại Cho vay tiêu dùng(CVTD) là việc Ngân Hàng Cho Vay giao cho KH một khoản tiền theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi trong một thời gian nhất định để sử dụng cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt và các nhu cầu phục vụ đời sống. Nhìn chung, CVTD được coi là khoản tiền vay cấp cho các cá nhân, hộ gia đình để chi dùng cho các mục đích không kinh doanh. CVTD cho phép cá nhân, hộ gia đình được sử dụng trước khả năng mua hàng hoá của mình trong tương lai, tức là tạo điều kiện thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trước khi họ có khả năng chi trả. Do đó ngoài việc nâng cao mức sống về mặt vật chất, thì CVTD còn gián tiếp kích thích sản xuất. "Cho vay tiêu dùng" cách đây khoảng 20 mươi năm về trước còn là khái niệm "khá mới" đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng Việt Nam, nhưng chỉ một vài năm trở lại đây, hoạt động cho vay tiêu dùng đã trở thành mục tiêu của nhiều TCTD, nhất là các TCTD ngoài nhà nước. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, đời sống của nhân dân đã được cải thiện đáng kể, nhu cầu chi tiêu phục vụ đời sống ngày càng cao, đó là điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngân hàng nói chung, lĩnh vực cho vay tiêu dùng nói riêng phát triển. Nếu như ở các nước phát triển, tỷ trọng cho vay tiêu dùng thường chiếm khoảng từ 40% đến 50% trên tổng dư nợ, thì tỷ lệ này của các TCTD Việt Nam hiện chỉ chiếm tỷ trọng khoảng 5% trên tổng dự nợ tín dụng. Qua đó cho thấy, với tốc độ phát triển kinh tế mạnh mẽ như hiện nay và với số dân trên 82 triệu người đang mở ra thị trường cho vay tiêu dùng vô cùng rộng lớn và đầy tiềm năng . Nguyễn Thị Dung Lớp: 35N2 Chuyên đề tốt nghiệp 3 Học viện Ngân hàng 1.1.1. Đặc điểm của CVTD CVTD là những khoản cho vay đối với nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng. CVTD là một hình thức tài trợ cho chính sự tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình. Các khoản CVTD giúp người tiêu dùng có thể sử dụng hàng hoá và dịch vụ trước khi họ có khả năng chi trả, tạo cho họ có cơ hội hưởng một mức sống cao hơn. Những khoản cho vay như thế thường được dùng vào mục đích: mua nhà, xây sửa nhà, mua ô tô… Do đó, CVTD có những đặc điểm sau: Thứ nhất, khách hàng vay là các cá nhân và hộ gia đình, kết quả nghiên cứu cho thấy những người có thu nhập cao thường có xu hướng vay tiền nhiều hơn những người có thu nhập thấp. Người có thu nhập cao có nhu cầu vay nhiều hơn so với thu nhập hàng năm của mình. Với họ, việc vay mượn được xem là công cụ để đạt được mức sống như mong muốn hơn là một sự lựa chọn chỉ được dùng trong tình trạng khẩn cấp. Thứ hai, mục đích vay là nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cá nhân chứ không phải mục đích kinh doanh. Các nhu cầu như : mua nhà, mua sắm xe ô tô, xe gắn máy, xây dựng sửa chữa nhà, mua sắm vật dụng gia đình, chữa bệnh, đi học... Thứ ba, việc sử dụng tài sản hình thành từ vốn vay của người tiêu dùng thường không đem lại thu nhập, nên nguồn trả nợ thường được lấy từ lương hoặc thu nhập từ các hoạt động kinh doanh khác. Việc sử dụng tiền vay Ngân hàng sẽ tạo cho người vay một tâm lý tích luỹ, tăng động lực làm việc của khách hàng. Thứ tư, quy mô khoản vay nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lại lớn. Thông thường không có một ngân hàng nào cho vay tiêu dùng với 100% nhu cầu vốn, khách hàng phải tích luỹ một tỷ lệ nhất định so với tổng nhu cầu vốn cần đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng. Mặt khác các sản phẩm mà khách hàng có nhu cầu tiêu dùng thường có giá trị không lớn. Nhu cầu vốn CVTD nhỏ hơn Nguyễn Thị Dung Lớp: 35N2 Chuyên đề tốt nghiệp 4 Học viện Ngân hàng rất nhiều so với các món vay kinh doanh phổ biến, thường xuyên đối với mọi tầng lớp dân cư. Thứ năm, các khoản CVTD có rủi ro cao vì tình hình tài chính của các cá nhân và hộ gia đình có thể thay đổi nhanh chóng tuỳ theo tình trạng công việc hay sức khoẻ của họ. Việc thẩm định và quyết định cho vay đối với các khoản vay tiêu dùng thường gặp khó khăn do vấn đề thông tin không đầy đủ. Thứ sáu, chi phí quản lí khoản vay tiêu dùng lớn do các ngân hàng thường phải tốn nhiều thời gian và nhân lực để điều tra, thu thập các thông tin về người vay tiền trước khi đưa ra các quyết định phê duyệt khoản vay, thêm vào đó việc quản lý các khoản vay tiêu dùng với giá trị nhỏ nhưng số lượng lớn cũng không phải là vấn đề đơn giản đối với các NHTM nên chi phí tính trên một đơn vị tiền tệ CVTD cao hơn so với loại hình cho vay khác. Thứ bảy, CVTD là một trong những khoản mục mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng. Các khoản CVTD có chi phí và rủi ro cao nên các khoản vay này thường có lãi suất cao, nó bù đắp cho các khoản vay trên và mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Lãi suất CVTD luôn là một trong những lãi suất hấp dẫn nhất trên thị trường tài chính. Do số lượng món vay điều nên lợi nhuận ngân hàng thu được từ hoạt động này là rất đáng kể so với tổng lợi nhuận của ngân hàng. 1.1.2. Lợi ích của hoạt động cho vay tiêu dùng Hoạt động cho vay của NHTM có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội. Hoạt động cho vay giúp khai thông dòng tài chính, để những luồng vốn được luân chuyển liên tục. Đối với nền kinh tế, việc NHTM cho KH cá nhân vay vốn cho mục đích tiêu dùng còn có nhiều ý nghĩa hơn thế.  Đối với Ngân hàng: Trước hết, CVTD giúp NH nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Như đã phân tích, CVTD tuy có chi phí cao nhưng đồng thời cũng tạo ra lợi nhuận lớn hơn trên đồng vốn bỏ ra so với các hình thức cho vay Nguyễn Thị Dung Lớp: 35N2 Chuyên đề tốt nghiệp 5 Học viện Ngân hàng khác. CVTD cũng giúp NH thu hút KH sử dụng thêm các hình thức dịch vụ khác như chuyển tiền hoặc sử dụng dịch vụ trả lương qua tài khoản tại Ngân hàng để thuận lợi cho hoạt động thanh toán lãi theo kỳ hạn, sử dụng các dịch vụ thẻ, quảng bá thương hiệu NH thông qua KH. Khách hàng cũng có xu hướng sử dụng kèm các dịch vụ tại NH mình đã có quan hệ tín dụng. Đây là điều kiện giúp NH nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng thị phần. Ngoài ra CVTD góp phần đa dạng hoá các lĩnh vực đầu tư, nâng cao thu nhập, phân tán rủi ro cho NH.  Đối với khách hàng: CVTD giúp người tiêu dùng thoả mãn và nâng cao chất lượng tiêu dùng, cho phép người tiêu dùng sử dụng trước khả năng thanh toán của mình trong tương lai, hưởng các dịch vụ tiện ích trước khi có đủ nguồn tài chính, đặc biệt trong trường hợp chi tiêu cấp bách. Trong những trường hợp cần gấp thì lãi suất cho vay của NH hợp lý hơn nhiều so với lãi suất vay “nóng”bên ngoài thị trường. Thời hạn cho vay và phương thức trả nợ linh hoạt căn cứ vào khả năng trả nợ của KH. Điều kiện và thủ tục để có được khoản vay tiêu dùng không quá phức tạp.  Đối với toàn bộ nền kinh tế: Có thể nói, hoạt động CVTD là đòn bẩy kích thích sản xuất phát triển, tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống dân cư, góp phần thực hiện xoá đói giảm nghèo. CVTD góp phần cải thiện môi trường thanh toán, giảm lượng tiền mặt lưu thông trên thị trường. Xét trên góc độ kinh tế vĩ mô: dịch vụ ngân hàng bán lẻ đẩy nhanh quá trình lưu chuyển tiền tệ, tận dụng tiềm năng lớn trong dân cư để phát triển kinh tế, cải thiện đời sống người dân, hạn chế dùng tiền mặt và tiết kiệm chi phí thời gian, tiền bạc cho xã hội 1.1.3. Các hình thức CVTD Dựa vào các căn cứ khách nhau, CVTD được phân chia thành các hình Nguyễn Thị Dung Lớp: 35N2 Chuyên đề tốt nghiệp 6 Học viện Ngân hàng thức sau: Nguyễn Thị Dung Lớp: 35N2 Chuyên đề tốt nghiệp 7 Học viện Ngân hàng 1.1.3.1. Căn cứ theo mục đích vay - Cho vay tiêu dùng cư trú: là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm, xây dựng hay cải tạo nhà ở của khách hàng là cá nhân, hộ gia đình. Đây là khoản cho vay có giá trị lớn, tài sản hình thành vốn thường là tài sản đảm bảo. -Cho vay tiêu dùng phi cư trú: là khoản cho vay nhằm tài trợ cho việc trang trải các chi phí mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí học hành, giải trí và du lịch...Đây là khoản cho vay mang tính chất nhỏ lẻ với thời hạn ngắn. 1.1.3.2. Căn cứ vào phương thức hoàn trả Theo cách phân loại này CVTD được chia thành 3 loại : -CVTD trả góp : Đây là hình thức CVTD, trong đó, người đi vay trả nợ cho ngân hàng nhiều lần,theo những kì hạn nhất định trong thời hạn cho vay. Phương thức này thường được áp dụng cho các khoản vay có giá trị lớn như mua nhà, ô tô...hoặc thu nhập định kì của người đi vay không đủ khả năng thanh toán hết một lần số nợ vay. Hình thức này đem lại sự thuận lợi cho người vay hơn đối với việc cho vay mà thu hồi lãi và gốc một lần, cũng như giảm được rủi ro cho ngân hàng. Chính vì vậy, CVTD trả góp chiếm một tỉ trọng cao trong các hình thức CVTD. -CVTD phi trả góp : là hình thức CVTD mà tiền vay được khách hàng thanh toán cho ngân hàng chỉ một lần khi đến hạn. Thường thì các khoản CVTD phi trả góp được áp dụng cho các khoản vay co giá trị nhỏ với thời hạn ngắn. Phần lớn khách hàng vay theo hình thức này để chi trả cho các việc như: sửa chữa, nâng cấp nhà cửa, sửa chữa ô tô, trả tiền viện phí... -CVTD tuần hoàn: là các khoản CVTD trong đó ngân hàng cho phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành các séc được phép thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai. Theo phương thức này, trong thời hạn tín dụng được thỏa thuận trước,căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm được từng kì, khách hàng được ngân Nguyễn Thị Dung Lớp: 35N2 Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng 8 hàng cho phép thực hiện việc vay và trả nợ nhiều kì một cách tuần hoàn, theo một hạn mức tín dụng. Hình thức này áp dụng cho các khách hàng có nhu cầu vay thường xuyên. Khách hàng chỉ cần làm thủ tục một lần nhưng có thể vay nhiều lần. Trong tất cả các hình thức CVTD thì đây là hình thức có mức lãi suất cao nhất do có các rủi ro đi kèm và các chi phí liên quan để quản lý tài khoản thấu chi. 1.1.3.3. Căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ Theo cách phân loại này CVTD được chia thành 2 loại : Cho vay tiêu dùng gián tiếp : là hình thức cho vay trong đó ngân hàng mua lại các khoản nợ phát sinh do những Công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hoá cho người tiêu dùng. Hình thức này ngân hàng cho vay thông qua các CTBL mà không trực tiếp tiếp xúc với khách hàng. Sơ đồ 1.1: Cho vay tiêu dùng gián tiếp Ngân hàng (1) Công ty bán lẻ (4) (5) (6) (2) (3) Người tiêu dùng (1): Ngân hàng và Công ty bán lẻ ký kết hợp đồng mua bán nợ. Trong hợp đồng, ngân hàng thường đưa ra các điều kiện về đối tượng khách hàng được bán chịu, số tiền bán chịu tối đa và loại tài sản bán chịu. Nguyễn Thị Dung Lớp: 35N2 Chuyên đề tốt nghiệp 9 Học viện Ngân hàng (2): Công ty bán lẻ và người tiêu dùng ký kết hợp đồng mua bán chịu hàng hoá. Thông thường, người tiêu dùng phải trả trước một phần giá trị tài sản. (3): Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng. (4): Công ty bán lẻ bán toàn bộ chứng từ bán chịu hàng hoá cho ngân hàng. (5): Ngân hàng thanh toán tiền cho Công ty bán lẻ. (6): Người tiêu dùng thanh toán tiền trả góp cho ngân hàng. * CVTD gián tiếp được thực hiện thông qua các phương thức sau: - Tài trợ truy đòi toàn bộ : theo phương thức này khi bán cho ngân hàng các khoản nợ mà người tiêu dùng đã mua chịu hàng hoá, CTBL cam kết sẽ thanh toán cho ngân hàng toàn bộ các khoản nợ nếu khi đến hạn người tiêu dùng không thanh toán cho ngân hàng. - Tài trợ truy đòi hạn chế : theo phương thức này trách nhiệm của CTBL đối với khoản nợ người tiêu dùng mua chịu không thanh toán chỉ giới hạn trong một chừng mừng nhất định, phụ thuộc vào các điều khoản đã thoả thuận giữa ngân hàng và CTBL. - Tài trợ miễn truy đòi : theo phương thức này, sau khi bán các khoản nợ cho ngân hàng, CTBL không còn chịu trách nhiệm cho việc các khoản nợ có được hoàn trả hay không. Phương thức này chứa đựng rủi ro cao nên chi phí tài trợ thường được ngân hàng tính cao hơn so với các phương thức nói trên và các khoản nợ được mua cũng được lựa chọn rất kỹ. Ngoài ra, chỉ có những CTBL có uy tín mới được áp dụng phương thức này. - Tài trợ có mua lại : khi thực hiện CVTD gián tiếp theo phương thức miễn truy đòi hoặc truy đòi một phần, nếu rủi ro xảy ra, người tiêu dùng không trả nợ thì NHTM phải thanh lý tài sản để thu hồi nợ. Trong trường hợp này, nếu có thoả thuận trước thì ngân hàng có thể bán lại cho CTBL phần nợ của mình chưa được thanh toán, kèm với tài sản đã được sử dụng trong một thời hạn nhất định. Nguyễn Thị Dung Lớp: 35N2 Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng 10 * Ưu , nhược điểm của CVTD gián tiếp : + Ưu điểm - Cho phép ngân hàng dễ dàng tăng doanh số CVTD - Cho phép ngân hàng tiết kiệm, giảm được chi phí trong cho vay. - Là nguồn gốc của việc mở rộng quan hệ với khách hàng, tạo điều kiện cho việc bán chéo sản phẩm ở quá trình tiếp theo. + Nhược điểm - Ngân hàng không tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng đã được các CTBL bán chịu. - Thiếu sự kiểm soát của Ngân hàng khi Công ty bán lẻ thực hiện việc bán chịu hàng hoá đặc biệt trong việc sàng lọc khách hàng. - Kỹ thuật nghiệp vụ CVTD gián tiếp có tính chất phức tạp cao. Cho vay tiêu dùng trực tiếp: là các khoản cho vay trong đó ngân hàng trực tiếp tiếp xúc với khách hàng và cho khách hàng vay cũng như trực tiếp thu nợ từ người vay. Sơ đồ 1.2. Cho vay tiêu dùng trực tiếp Ngân hàng Công ty bán lẻ (3) (1) (5) (2) (4) Người tiêu dùng (1): Ngân hàng và người tiêu dùng ký kết hợp đồng vay. (2): Người tiêu dùng trả trước một phần số tiền mua tài sản cho Công ty bán lẻ. Nguyễn Thị Dung Lớp: 35N2 Chuyên đề tốt nghiệp 11 Học viện Ngân hàng (3): Ngân hàng thanh toán số tiền mua tài sản còn thiếu cho công ty (4): Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng. (5): Người tiêu dùng thanh toán tiền vay cho ngân hàng. * CVTD trực tiếp được thực hiện theo các phương thức sau: - Tín dụng trả theo định kỳ : đây là phương thức được sử dụng phổ biến nhất hiện nay. Theo phương thức này, ngân hàng cấp cho khách hàng toàn bộ số tiền vay và khách hàng trả nợ cho ngân hàng theo từng kỳ hạn cụ thể. Kỳ hạn hoàn trả có thể khác nhau tuỳ thuộc vào nhu cầu của người vay, thường là 1 lần/ tháng. - Thấu chi: đây là hình thức cấp tín dụng ứng trước đặc biệt trên cơ sở hạn mức tín dụng, được thực hiệnbằng cách cho phép khách hàng được sử dụng dư nợ trong một giới hạn nhất định trên tài khoản vãng lai và mức dư nợ tối đa bằng với hạn mức tín dụng đã cam kết. - Thẻ tín dụng : là hình thức cấp tín dụng trong đó ngân hàng phát hành thẻ tín dụng cho những người có tài khoản ở ngân hàng đủ điều kiện cấp thẻ và ấn định mức giới hạn tín dụng tối đa mà người có thẻ được phép sử dụng. * CVTD trực tiếp có ưu điểm hơn CVTD gián tiếp : Sử dụng phương thức này, ngân hàng có thể tận dụng các sở trường của nhân viên tín dụng - những người được đào tạo chuyên môn và có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực tín dụng. Do đó, các quyết định tín dụng trực tiếp của ngân hàng thường có chất lượng cao hơn so với trường hợp chúng được quyết định bởi những CTBL. Hình thức này cũng linh hoạt hơn và cho phép ngân hàng thắt chặt mối quan hệ tín dụng với các khách hàng có quan hệ trực tiếp với ngân hàng. Thông qua CVTD trực tiếp, ngân hàng có thể bán các sản phẩm khác, tăng cường quảng bá hình ảnh của ngân hàng. Nguyễn Thị Dung Lớp: 35N2 Chuyên đề tốt nghiệp 12 Học viện Ngân hàng 1.2. Chất lượng cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại 1.2.1. Khái niệm nâng cao chất lượng cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại Chất lượng của các khoản cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mạithể hiện ở hiệu quả sử dụng vốn của người vay tiêu dùng. Khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích, đạt được nhu cầu tiêu dùng thông qua sự tài trợ của ngân hàng. Chất lượng cho vay tiêu dùng tốt giúp ngân hàng thu hồi được gốc và lãi, bù đắp chi phí và thu được lợi nhuận. Điều này có nghĩa là ngân hàng vừa tạo ra hiệu quả kinh tế lại tạo được hiệu quả xã hội,tác động rất tích cực tới sự phát triển kinh tế. Tuy nhiên, vay vốn NH vẫn đang là khó khăn lớn của người tiêu dùng. Không kể nguồn vốn vay tại NH, để thoả mãn và nâng cao nhu cầu tiêu dùng, người tiêu dùng thường phải vay mượn từ những nguồn không chính thức. Nguồn vốn này mang tính chắp vá, không ổn định, và chi phí cao, gây ảnh hưởng tới đời sống người tiêu dùng, và tác động xấu đến nền kinh tế. Chính vì vậy, vấn đề quan trọng hiện nay là làm thế nào đển nâng cao chất lượng CVTD của NHTM. Nâng cao chất lượng CVTD là việc NHTM cải thiện hiệu quả vốn vay tiêu dùng của KH cá nhân cho mục đích tiêu dùng, qua đó thu hút thêm nhiều KH đến với NH. Nâng cao chất lượng CVTD biểu hiện ở sự gia tăng tổng dư nợ, tổng doanh số cho vay, giảm tỷ lệ nợ quá hạn, tăng trưởng số lượng KH được vay vốn tại NHTM. 1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá nâng cao chất lượng cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại Mức độ nâng cao chất lượng CVTD được xem xét ở một số chỉ tiêu cơ bản như sau:  Số lượng KH vay tiêu dùng vay vốn tại NH: chỉ tiêu này được tính trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. Sự tăng trưởng của nó qua các năm cho thấy chất lượng cho vay tiêu dùng đang được cải thiện. Nguyễn Thị Dung Lớp: 35N2 Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng 13  Dư nợ cho vay và doanh số cho vay đối với các khoản vay tiêu dùng: Dư nợ là số tiền mà NH đang cho vay vào thời điểm cuối kỳ. Doanh số cho vay là tổng số tiền NH đã cho vay ra trong kỳ. Dư nợ là chỉ tiêu tích luỹ qua các thời kỳ, tính theo công thức: DNCV kỳ này = DNCV kỳ trước + DSCV trong kỳ - DS thu nợ trong kỳ Đây là chỉ tiêu phản ảnh rõ nhất chất lượng CVTD của NH. Nếu dư nợ CVTD kỳ này lớn hơn kỳ trước, hoặc doanh số cho vay trong kỳ lớn hơn kỳ trước, có thể khẳng định rằng, chất lượng CVTD đang được nâng cao.  Tốc độ tăng trưởng dư nợ CVTD: DNCV kỳ này – DNCV kỳ trước Tốc độ tăng trưởng dư nợ = DNCV kỳ trước Đây là chỉ tiêu phản ánh tốc độ nâng cao chất lượng cho vay của NH nhanh hay chậm. Xem xét trong nhiều năm, tỷ lệ này cho biết tốc độ đó tăng hay giảm. Nếu như chỉ tiêu tăng dần qua các năm thì có thể thấy rằng tốc độ nâng cao chất lượng ngày càng tăng. Tuy nhiên, khi sử dụng chỉ tiêu này, cần phải kết hợp với các chỉ tiêu khác thì mới rút ra được kết luận đúng. Nếu như tốc độ tăng dư nợ CVTD nhỏ hơn so với các nhóm cho vay khác thì không thể nói rằng chất lượngCVTD được nâng cao.  Tỷ trọng dư nợ CVTD trong tổng dư nợ cho vay của NHTM: Tỷ trọng dư nợ CVTD = Dư nợ CVTD Tổng dư nợ cho vay của NH Sự tăng lên của con số này cũng đồng nghĩa với chất lượng CVTD được nâng cao. Tóm lại, sự tăng hoặc giảm của những chỉ tiêu trên cho biết chất lượng CVTD của NH đang được cải thiện hay giảm sút. Tuy nhiên, kết luận rút ra chỉ chính xác khi có sự kết hợp cả bốn chỉ tiêu. Nguyễn Thị Dung Lớp: 35N2 Chuyên đề tốt nghiệp 14 Học viện Ngân hàng 1.2.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại 1.2.3.1. Những nhân tố chủ quan Những nhân tố chủ quan thuộc về phía NHTM có tác động lớn tới sự nâng cao hay giảm sút chất lượng CVTD. Có 5 nhân tố như sau: Chính sách tín dụng: Chính sách tín dụng phản ánh cương lĩnh tài trợ của một NH. Vì thế nó là nhân tố hàng đầu ảnh hưởng đến hoạt động CVTD. Về cơ bản, nội dung của chính sách tín dụng bao gồm chính sách KH, chính sách marketing, chính sách về quy mô và giới hạn tín dụng, chính sách lãi suất và thời hạn tín dụng, chính sách về các khoản đảm bảo…  Chính sách KH: NH thường tiến hành phân loại KH. Những KH truyền thống, KH mục tiêu, KH được xếp hạng cao thường được hưởng nhiều ưu đãi của NHTM. Một chính sách KH hấp dẫn, chính sách marketing hướng tới nhóm KH là KH vay tiêu dùng sẽ thúc đẩy người tiêu dùng đến vay vốn tại NH. Từ đó, chất lượng CVTD được nâng cao.  Quy mô và giới hạn tín dụng: Bên cạnh các quy định của pháp luật về giới hạn cho vay, mỗi NH thường có quy định riêng về quy mô và các giới hạn đối với từng KH cụ thể. Ví dụ như quy mô cho vay tối đa đối với từng KH, từng ngành nghề, quy mô cho vay trên giá trị vật đảm bảo… Chính sách về quy mô và giới hạn tín dụng ảnh hưởng trực tiếp tới quy mô các khoản tín dụng mà KH nhận được từ NH. Khi muốn nâng cao chất lượng CVTD, NH sẽ phải nới lỏng chính sách này theo hướng tăng quy mô và mở rộng giới hạn cho vay đối với KH vay tiêu dùng.  Chính sách lãi suất: lãi suất cho vay của NHTM có tác động lớn tới nhu cầu vay vốn của KH vay tiêu dùng. Một mức lãi suất cao sẽ hạn chế ý muốn vay mượn của KH, bởi chi phí vốn cao. Ngược lại, NH sẽ áp dụng mức lãi Nguyễn Thị Dung Lớp: 35N2 Chuyên đề tốt nghiệp 15 Học viện Ngân hàng suất cho vay thấp khi muốn nâng cao chất lượng cho vay đối với KH vay tiêu dùng. Chi phí vốn thấp góp phần giảm gánh nặng chi phí cho KH. Khi đó, nhiều KH tìm đến NH để vay vốn cho nhu cầu tiêu dùng. Số lượng KH vay tiêu dùng tại NH tăng lên, nghĩa là chất lượng CVTD được cải thiện.  Chính sách về các khoản đảm bảo: Chính sách đảm bảo bao gồm các quy định về: trường hợp vay vốn phải có tài sản đảm bảo, các hình thức đảm bảo, tỷ lệ phần trăm cho vay trên đảm bảo… Thông thường, các NH chỉ cho vay với giới hạn thấp hơn giá trị thị trường của đảm bảo. Tỷ lệ phần trăm cho vay tuỳ thuộc vào khả năng bán và khả năng thay đổi giá trị của tài sản đảm bảo. Tỷ lệ này càng cao thì quy mô vốn mà KH được nhận từ NH càng lớn. Ngược lại, chính sách về các khoản đảm bảo quá chặt chẽ sẽ cản trở khả năng nâng cao chất lượng CVTD của NHTM. Quy trình cho vay: Một quy trình cho vay rườm rà, phức tạp, tốn thời gian nhiều khi làm mất đi cơ hội kinh doanh của KH. Do đó, quy trình thủ tục cho vay của NH cần phải đơn giản, hợp lý, vừa đảm bảo để NH có được các thông tin cần thiết, vừa không gây phiền hà cho KH. Điều này sẽ thu hút nhiều KH tới NH để vay vốn. Quy mô và cơ cấu vốn của NHTM Đây là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến nâng cao chất lượng CVTD. Với lượng vốn dồi dào, NHTM sẽ dễ dàng hơn đối với các chính sách tín dụng nhằm nâng cao chất lượng cho vay. Ngược lại, nếu hoạt động huy động vốn của NH gặp khó khăn thì NH sẽ không đáp ứng đủ nhu cầu vay của KH. Tình trạng thiếu vốn khiến NH tăng lãi suất huy động, từ đó lãi suất cho vay cũng phải tăng lên. Khi đó, sức cạnh tranh của NH giảm đi và mục tiêu nâng cao chất lượng CVTD khó lòng đạt được. Bên cạnh đó, cơ cấu nguồn vốn của NH cũng ảnh hưởng đến chất lượng CVTD. Nếu tỷ trọng nguồn vốn ngắn hạn quá lớn, NH không đủ nguồn trung Nguyễn Thị Dung Lớp: 35N2 Chuyên đề tốt nghiệp 16 Học viện Ngân hàng dài hạn để tài trợ cho các nhu cầu vốn dài hạn của KH như nhu cầu mua bất động sản. Việc nâng cao chất lượng CVTD cũng khó khăn hơn. Đội ngũ cán bộ nhân viên của NHTM Ngành dịch vụ có đặc điểm nổi bật là chất lượng dịch vụ phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố con người. NH là doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ tài chính. Nhân viên NH thường xuyên tiếp xúc với KH, do đó, là hình ảnh đại diện cho NH trong con mắt KH. Đội ngũ nhân viên có trình độ, có tác phong chuyên nghiệp, thái độ phục vụ chu đáo, nhiệt tình sẽ để lại cho NH ấn tượng tốt. Sự hài lòng của KH sẽ giúp cho việc nâng cao chất lượng CVTD của NHTM thuận lợi hơn. Mạng lưới Ngân hàng và cơ sở vật chất thiết bị của NHTM Số lượng và sự phân bố Ngân hàng của NH cũng tác động tới khả năng nâng cao chất lượng CVTD. KH thường giao dịch với NH có vị trí địa lý gần địa bàn hoạt động của mình để giảm chi phí về thời gian và phương tiện đi lại. Vì thế, việc nâng cao chất lượng CVTD sẽ đạt hiệu quả hơn nếu như NHTM có mạng lưới Ngân hàng dày và rộng, trụ sở, phòng giao dich khang trang, lịch sự… 1.2.3.2. Những nhân tố khách quan Những nhân tố từ phía khách hàng  Nhu cầu vay vốn tiêu dùng của KH Trong nền kinh tế thị trường, khi nhu cầu về một loại hàng hóa nào đó tăng lên thì việc tăng cung để đáp ứng nhu cầu đó là hết sức cần thiết. Trong lĩnh vực tín dụng, điều này cũng hoàn toàn đúng. Người tiêu dùng có nhu cầu lớn về vốn tiêu dùng sẽ thúc đẩy NH nâng cao chất lượng CVTD, qua đó thu hút đông đảo hơn lượng KH đến với NH. Vì thế, cầu về vốn tiêu dùng của KH là nhân tố khách quan tác động tới việc nâng cao chất lượng CVTD của NHTM. Nguyễn Thị Dung Lớp: 35N2 Chuyên đề tốt nghiệp 17 Học viện Ngân hàng  Khả năng đáp ứng điều kiện vay của KH: được xem xét trên các khía cạnh:năng lực tài chính và tào sản đảm bảo của KH. Các yếu tố này quyết định đến việc họ có được vay vốn NH hay không. Phân tích trước khi cấp tín dụng là khâu không thể thiếu trong hoạt động cho vay của NHTM. Thông qua đó, NH nắm được tình hình và năng lực tài chính của KH cần vay vốn. Tình hình và năng lực tài chính của KH càng mạnh thì khả năng đáp ứng các điều kiện cho vay càng lớn. CVTD là hoạt động tín dụng hàm chứa nhiều rủi ro nên NH luôn yêu cầu tài sản đảm bảo cho các khoản vay. Tài sản đảm bảo là căn cứ để NH xác định mức cho vay đối với KH. Nếu KH không có tài sản đảm bảo, không có người bảo lãnh hoặc giá trị tài sản đảm bảo thấp, không đủ tiêu chuẩn thì khó vay được vốn NH. Như vậy,tình hình tài chính, năng lực tài chính và tài sản đảm bảo là những yếu tố quyết định tới khả năng đáp ứng điều kiện vay của KH vay tiêu dùng. Các chỉ số đó càng tốt, việc nâng cao chất lượng CVTD của NHTM càng được thực hiện dễ dàng hơn. Những nhân tố từ phía môi trường kinh doanh  Thực trạng chung của nền kinh tế: Hoạt động NH có liên quan đến tất cả các lĩnh vực trong nền kinh tế. Vì thế, những biến động của nền kinh tế sẽ có tác động tới hoạt động của NH, đặc biệt là hoạt động cho vay. Cụ thể, khi nền kinh tế tăng trưởng, nhu cầu tiêu dùng của người dân tăng lên. Các NHTM có xu hướng nâng cao chất lượng tín dụng CVTD, qua đó thu hút được nhiều KH, mở rộng lĩnh vực đầu tư.  Môi trường pháp lý: Tín dụng là một trong những hoạt động rủi ro nhất của NH, song lại rất quan trọng đối với nền kinh tế. Vì thế, nó chịu sự kiểm soát rất chặt chẽ của pháp luật. Môi trường pháp lý rõ ràng, minh bạch với hệ Nguyễn Thị Dung Lớp: 35N2 Chuyên đề tốt nghiệp 18 Học viện Ngân hàng thống các văn bản pháp luật hợp lý, thống nhất là điều kiện để KH tiếp cận dễ dàng hơn với nguồn vốn của NHTM.  Môi trường chính trị xã hội: Môi trường chính trị xã hội ổn định giúp đời sống người dân được cải thiện, nhu cầu tiêu dùng tăng cả về chất và lượng. Trái lại, môi trường chính trị xã hội kém ổn định sẽ làm cho xu hướng tiêu dùng của người dân giảm sút, dẫn đến sự thu hẹp hoạt động CVTD của NHTM. Tóm lại, việc nâng cao chất lượng CVTD không chỉ chịu ảnh hưởng từ những nhân tố bên trong NHTM, mà còn từ nhiều nhân tố khách quan khác. Hoạt động đó tốt hay xấu, mạnh hay yếu đều do các nhân tố này quyết định. Vậy, thực trạng hoạt động CVTD của Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng đang diễn ra như thế nào? Các nhân tố kể trên có tác động ra sao tới thực trạng ấy? Những vấn đề này sẽ được trình bày rõ ràng ở chương 2. 1.3. Kinh nghiệm quốc tế về cho vay tiêu dùng và bài học đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam 1.3.1. Cho vay tiêu dùng tại Mĩ Có thể khẳng định rằng không có tín dụng tiêu dùng thì nền kinh tế Mỹ không thể phát triển như ngày nay. Đa số người dân Mỹ vay tiền NH để mua nhà với thời hạn hợp đồng 10 năm đến 30 năm. Mua xe ôtô, đồ dùng gia đình từ 3-5 năm, thậm chí mua quần áo với thời hạn tín dụng từ 3-6 tháng. Đó là việc bình thường. Tuy nhiên trong vòng 8 năm trở lại đây thị trường nhà đất phát triển mạnh. Các NH và tổ chức tín dụng đã bất chấp rủi ro cho vay cả những hợp đồng tín dụng nhà ở dưới chuẩn, thậm chí cho vay cả những khách hàng không có khả năng tài chính. Tệ hại hơn, các tổ chức tài chính phố Wall còn gom các hợp đồng cho vay nhà này theo nhóm rủi ro làm tài sản đảm bảo để phát hành trái phiếu chứng khoán hóa ra thị trường Mỹ và thị trường tài chính thế giới (Mortage Nguyễn Thị Dung Lớp: 35N2 Chuyên đề tốt nghiệp 19 Học viện Ngân hàng backed securites-MBS) với sự đánh bóng của các tổ chức PR và công ty giám định hệ số tín nhiệm (CRA). Khi giá BĐS giảm, một số lớn hợp đồng tín dụng để đảm bảo cho MBS trở thành nợ xấu; MBS mất giá trên thịtrường thứ cấp khiến cho NH và các NĐT nắm giữ trái phiếu này lỗ nặng hoặc mất khả năng thanh toán. Nhưvậy bài học ở đây là cho vay dưới chuẩn, cho vay cả những khách hàng không đủ khả năng tài chính, đồng thời phát hành trái phiếu (nhiều vòng) với sự bảo đảm bằng các hợp đồng tín dụng nhà ở dưới chuẩn tới mức không thể kiểm soát được trên thị trường thứ cấp. Nói cách khác đó là sự vi phạm các chuẩn mực quản trị rủi ro và sự lạm dụng các công cụ tài chính tinh xảo khó kiểm soát. Ở VN nhu cầu tín dụng nhà ở còn rất lớn, cầu phát triển mạnh khi mà thu nhập của dân cư tăng lên. Điều quan trọng là cần hình thành cơ chế giám sát rủi ro phù hợp, kể cả với hợp đồng tín dụng và các phương thức tái tài trợ (chứng khoán hóa). 1.3.2. Cho vay tiêu dùng tại Anh Ngày 1/3 Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) cho biết ba tháng cuối năm 2012, tổng giá trị các vụ vỡ nợ cá nhân ở Anh lên tới 1,18 tỷ bảng, tăng gần 60% so với quý trước đó; Số trường hợp khách hàng phải bỏ dở hợp đồng mua trả góp, do không thể tiếp tục trả nợ, đã tăng 22%. Tính chung cả năm 2012, các ngân hàng thương mại ở Anh phải xóa nợ tín dụng tiêu dùng tổng cộng lên tới 9,71 tỷ bảng, bao gồm cả nợ có thế chấp và nợ không có thế chấp. Lương lao động không tăng do các công ty cắt giảm chi phí, cộng thêm chi phí sinh hoạt ngày càng đắt đỏ là hai lý do chính khiến nhiều người không thể tiếp tục trả nợ tín dụng tiêu dùng. Công ty tư vấn thanh toán nợ tiêu dùng CCCS cho biết vẫn còn rất nhiều người tìm đến công ty trong tình trạng hầu như không còn khả năng trả nợ. Nguyễn Thị Dung Lớp: 35N2 Chuyên đề tốt nghiệp 20 Học viện Ngân hàng Một số đối mặt với thu nhập không tăng nhưng chi phí sinh hoạt nhảy vọt, một số khác tệ hơn khi rơi vào tình cảnh mất việc làm. Các số liệu cho thấy có hơn 18 triệu người Anh từng bị âm tài khoản trong năm 2012, trong đó 5 triệu người thường xuyên thấu chi. Phổ biến nhất vẫn là nhóm tiêu dùng trong độ tuổi từ 20-29, có tới 46% có tài khoản bị chi nhiều hơn thu. Trong năm 2012 ở Anh có gần 135.090 người buộc phải tuyên bố phá sản, hoặc dàn xếp trả nợ tự nguyện hoặc đề nghị giải phóng nợ. Ở Anh, khi một người bị vỡ nợ họ sẽ phải ra tòa tuyên bố phá sản để được giải phóng khỏi các khoản nợ, tất nhiên kèm theo sẽ bị hạn chế một số quyền về tài chính. Không lâu như nhiều nước khác, ở Anh một người sau khi tuyên bố phá sản chỉ mất chưa đầy 12 tháng là có thể khôi phục hoàn toàn “uy tín tài chính cá nhân.” Nhưng sẽ phải mất lâu hơn nữa để họ có thể mở lại tài khoản tín dụng và vay tiêu dùng như một người bình thường. 1.3.3. Bài học kinh nghiệm rút ra cho các ngân hàng của Việt Nam Trong thời gian qua, hoạt đọng cho vay bất động sản nói chung và CVTD nói riêng trong hệ thống NHTM Việt Nam tăng trưởng mạnh. Bên cạnh dấu hiệu tích cực trong xu thế đa dạng hóa danh mục cho vay của ngân hàng cũng như đáp ứng nhu cầu dân sinh xã hội, hoạt động này cũng gắn liền với mức rủi ro không nhỏ. Bài học từ khủng hoảng kinh tế và hậu quả chưa được khắc phục hoàn toàn đòi hỏi các NHTM Việt Nam cần quan tâm: -Thường xuyên rà soát lại và kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng. -Chỉ cho vay những khách hàng có tiểu sử tín dụng tốt và tỉ lệ tự tài trợ trong CVTD không quá thấp so với giá trị tài sản cần mua sắm. -Thẩm định thật kĩ các dự án và cố gắng xác định được các rủi ro có thể xảy ra. Nguyễn Thị Dung Lớp: 35N2
- Xem thêm -