Tài liệu Một số lỗi sử dụng tiếng việt trên báo phụ nữ việt nam

  • Số trang: 126 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 298 |
  • Lượt tải: 3
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

MỞ ĐẦU 1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người, ngôn ngữ có thể tồn tại dưới hai dạng: âm thanh và chữ viết. Khi chữ viết ra đời, tuy không thể thay thế cho ngôn ngữ nói nhưng nú cú những ưu thế riêng và ngày càng đóng vai trò không thể thiếu trong đời sống. Chữ viết xuất hiện trờn cỏc tác phẩm văn học, các văn bản cá nhân, các phương tiện thông tin đại chúng như báo chí, v.v. Ra đời từ thế kỷ XVI, báo chí là phương tiện truyền thông đại chúng vô cùng phổ biến, đặc biệt trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay thì có thể nói báo chí là phương tiện thông tin nhanh nhất, hiệu quả nhất và có nhiều công chúng nhất. Ở nhiều nước trên thế giới, người ta gọi báo chí là cơ quan quyền lực thứ tư - nghĩa là chỉ đứng sau “tam quyền” của bộ máy chính quyền là lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đõy là kiểu quyền lực không quy định thành văn bản mà được tạo ra từ công luận xã hội. Đó là cách tôn vinh vai trò, sức mạnh của báo chí. Báo chí tác động mạnh mẽ đến mọi mặt đời sống của con người, là động lực quan trọng cho sự phát triển của xã hội. Với việc truyền tải lượng thông tin lớn hàng ngày, người đọc báo có thể tiếp nhận tin tức, bắt chước, làm theo những trào lưu trên báo chí. Vì vậy việc sử dụng ngôn từ trên báo chí cần được chú trọng, chính xác, chuẩn mực. Giáo sư John Hohenberg (Đại học báo chí Columbia) đã khẳng định: “Không thể cẩu thả trong việc sử dụng ngôn ngữ ở các ngành truyền thông được. Ngôn ngữ ở đây phải truyền tải được tin tức, ý kiến và tư tưởng tới nhân dân càng hữu hiệu 1 càng tốt. Cũng không thể hạ giá văn phạm. Trình độ văn phạm của báo chí ít ra cũng phải cao bằng trình độ của độc giả có học thức, nếu không báo chí mất ngay sự kính trọng của quần chúng. Sự chuẩn xác của ngôn ngữ làm sắc bén thêm ý nghĩa của các sự kiện. Vì thế sự kiện và sự chuẩn xác phải đi đôi với nhau” [44;11]. Vậy liệu việc sử dụng tiếng Việt trên báo chí hiện nay đã hợp chuẩn mực chưa? Điều này có ảnh hưởng gì đến khả năng truyền đạt tư tưởng và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt? Ngôn ngữ báo chí tác động như thế nào đến việc sử dụng ngôn từ trong cuộc sống hiện nay từ trong khoa học đến cuộc sống hằng ngày. Đặc biệt, đối với nữ giới những vấn đề trên có tác động như thế nào qua tờ báo được coi là cơ quan ngôn luận của nữ giới Việt Nam. Đó cũng là lí do chúng tôi chọn “Một số lỗi sử dụng tiếng Việt trờn bỏo Phụ nữ Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu. 2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ Vấn đề chuẩn ngôn ngữ đã trở thành đối tượng nghiên cứu của ngành ngôn ngữ học và của nhiều nhà khoa học ngôn ngữ. Các công trình nghiên cứu về chuẩn ngôn ngữ cũng như liên quan đến lỗi ngôn ngữ cú cỏc tác phẩm như “Tiếng Việt thực hành” của nhóm tác giả Bùi Minh Toỏn, Lờ A, Đỗ Việt Hựng, cựng công trình “Tiếng Việt thực hành” của nhóm tác giả Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp. Tác giả Hà Quang Năng với công trình nghiên cứu “Từ điển lỗi dùng từ” , tác giả Cao Xuân Hạo với “Lỗi ngữ pháp và cách khắc phục”. Nhóm tác giả Hồ Lê, Trần Thị Ngọc Lang, Tụ Đỡnh Nghĩa đã nêu lên “Lỗi từ vựng và cách khắc phục”, tác giả Lê 2 Trung Hoa với “Lỗi chính tả và cách khắc phục”. Bên cạnh đó, luận án tiến sĩ của Nguyễn Thiện Nam về “Khảo sát lỗi ngữ pháp tiếng Việt của người nước ngoài và những vấn đề liên quan” đã nêu lên những lỗi ngữ pháp mà người nước ngoài học tiếng Việt mắc phải. Nguyễn Linh Chi cũng có công trình tìm hiểu “Lỗi ngôn ngữ của người nước ngoài học tiếng Việt”. Việc nghiên cứu ngôn ngữ trờn cỏc phương tiện thông tin đại chúng cũng thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả. Luận án tiến sĩ của Hà Văn Hậu “Mạch lạc trong một số văn bản phóng sự báo in”. Luận án tiến sĩ của Nguyễn Hoà “Nghiên cứu diễn ngôn về chính chị - xã hội trên tư liệu báo chí tiếng Anh và Tiếng Việt”. Luận án thạc sĩ của Bùi Trọng Ngoãn “Sự chi phối của hiện thực được nói tới đối với các loại hình văn bản viết về tham nhũng trong tuần báo pháp luật”. Cỏc công trình đi sâu vào nghiên cứu những vấn đề lí luận của báo chí nhìn từ góc độ ngôn ngữ chưa xuất hiện nhiều. Chẳng hạn, có “Ngôn ngữ báo chí” của Hoàng Anh, “Tác phẩm báo chí” của Nguyễn Văn Dũng đề cập đến lỗi ngôn ngữ, đặc điểm về ngôn ngữ trong từng thể loại báo chí. Các tác giả như Đinh Hường với công trình “Các tác phẩm thông tấn”, Trần Quang với “Các tác phẩm báo chí chính luận”, Nguyễn Xuân Sơn với “Các tác phẩm báo chí chính luận” đều có nhắc đến việc sử dụng từ ngữ trong thể loại báo chí nhưng không đi sâu. Công trình “Ngôn ngữ báo chí” của Vũ Quang Hào và “Ngôn ngữ báo chí – những vấn đề cơ bản” của Nguyễn Đức Dân nghiên cứu tương đối trọn vẹn về vấn đề ngôn ngữ báo chí. 3 Tác phẩm “Ngôn ngữ báo chí” của Vũ Quang Hào đã tìm hiểu những vấn đề cụ thể như: Ngôn ngữ chuẩn mực của báo chí; ngôn ngữ các phong cách báo chí; ngôn ngữ của thuật ngữ khoa học; kí hiệu khoa học; ngôn ngữ tớt bỏo…[44; 5]. Cụng trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đức Dân đề cập đến những nội dung cơ bản của ngôn ngữ báo chí như: đặc điểm ngôn ngữ báo chí, thông tin chìm trong báo chí và kĩ thuật xây dựng thông tin chìm bằng các thao tác ngôn ngữ cụ thể, ngôn từ của nhà báo và các yêu cầu về lụgớc diễn đạt trong báo chí. Ngoài ra, chuyên luận còn đi sâu vào tìm hiểu đặc điểm và khả năng hoạt động của tiếng Việt trên báo chí, chỉ ra những kĩ năng sử dụng tiếng Việt một cách có hiệu quả [44; 3]. Tuy nhiên, việc xem những vấn đề từ vựng trên báo chí như đối tượng trung tâm thì chưa được các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều. Vì vậy, luận văn này trên cơ sở những công trình đã được công bố và quan điểm chủ quan, chúng tôi sẽ xin làm nổi bật một số lỗi về sử dụng tiếng Việt trờn bỏo “Phụ nữ Việt Nam”. 3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những lỗi sử dụng tiếng Việt thường gặp trên báo chí hiện nay. Trong đó đối tượng khảo sát là những bài báo được đăng tải trờn bỏo “Phụ nữ Việt Nam” với việc sử dụng từ, câu, chữ, v.v. chưa phù hợp với chuẩn chung của tiếng Việt. 4 3.2. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi đề tài: Khảo sát một số lỗi sử dụng tiếng Việt trờn bỏo “Phụ nữ Việt Nam”. Phạm vi tư liệu: Khảo sát lỗi chủ yếu trờn cỏc số báo năm 2010 trong đó chú trọng từ số 50 đến số 110. 4. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU - Về mặt lí thuyết: Luận văn sử dụng lí thuyết chung trong việc sử dụng tiếng Việt như ở các giáo trình ngữ pháp tiếng Việt, từ vựng tiếng Việt, ngữ âm tiếng Việt để làm rõ những hiện tượng chưa tốt trong cách sử dụng tiếng Việt trên báo chí. - Về mặt thực tiễn: Luận văn khảo sỏt cỏc lỗi và những hiện tượng chưa thống nhất trong cách sử dụng tiếng Việt trên một tờ báo cụ thể để chỉ ra tại sao một số chỗ sai sót khiến cho bài báo trở nên khó hiểu hoặc có thể hiểu nhầm, từ đó gợi ý một số biện pháp khắc phục. 5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Các phương pháp cơ bản sử dụng trong luận văn: 5.1. Phương pháp thống kê Phương pháp thống kê áp dụng cụ thể vào việc thu thập, thống kê các lỗi sử dụng tiếng Việt trên các số báo “Phụ nữ Việt Nam” được khảo sát. 5.2. Phương pháp phân tích Luận văn sử dụng phương pháp này mục đích để phân loại ngữ liệu thu thập được thành các tiểu loại dùng cho việc nghiên cứu. 5 5.3. Phương pháp so sánh, đối chiếu Phương pháp này giúp phát hiện những điểm tương đồng và khác biệt trong số các kiểu lỗi thu nhận được. 5.4. Phương pháp quy nạp Luận văn tiến hành theo phương pháp quy nạp: Từ các lỗi khảo sát được trên thực tế rút ra kết luận thoả đáng và cần thiết. 6. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN Về mặt lí luận, luận văn sẽ có tác dụng phát hiện một số khuynh hướng chung trong việc sử dụng ngôn ngữ, qua đó có thể góp phần vào việc xây dựng chuẩn ngôn ngữ trong giai đoạn mới. Về mặt thực tiễn, hi vọng luận văn sẽ có tác dụng giỳp các nhà quản lí văn hoá, quản lí báo chí, các biên tập viên, phóng viên, v.v. quan tâm hơn nữa đến việc sử dụng ngôn ngữ văn hoá trong công tác truyền thông đại chúng, qua đó góp phần vào việc giữ gìn và nâng cao sự trong sáng của tiếng Việt, cũng như năng lực đáp ứng nhu cầu sử dụng ngôn ngữ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Kết quả nghiên cứu của luận án đồng thời cũng có thể là tài liệu tham khảo hữu ích đối với những ai quan tâm đến vấn đề chuẩn của ngôn ngữ Việt Nam. 7. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của luận văn chia làm 4 chương như sau: Chương 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1.1. Ngôn ngữ báo chí 1.2. Chuẩn ngôn ngữ 6 1.3. Quan niệm về lỗi ngôn ngữ Chương 2: CÁC LỖI VỀ CÂU 2.1. Lỗi về cấu tạo câu 2.2. Lỗi về quan hệ ngữ nghĩa trong câu 2.3. Lỗi về phong cách 2.4. Lỗi về dấu câu 2.5. Gợi ý một số biện pháp khắc phục lỗi về câu Chương 3: CÁC LỖI VỀ TỪ VỰNG 3.1. Lỗi dùng từ không chính xác 3.2. Lỗi dùng từ không hợp phong cách 3.3. Lỗi lặp từ 3.4. Lỗi thiếu từ 3.5. Lỗi dùng từ địa phương 3.6. Hiện tượng tạo từ mới 3.7. Hiện tượng sử dụng từ ít dùng 3.8. Gợi ý một số biện pháp khắc phục Chương 4: CÁC LỖI VỀ CHÍNH TẢ 4.1. Lỗi chính tả sai so với quy tắc chính tả hiện hành 4.2. Lỗi chính tả do viết sai với phát âm chuẩn 4.3. Lỗi chính tả do in ấn, chế bản KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO 7 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1.1. NGễN NGỮ BÁO CHÍ 1.1.1. Khái niệm Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ dùng để thông báo tin tức, thời sự trong nước và quốc tế, nó phản ánh chính kiến của tờ báo và dư luận quần chúng nhằm nâng cao tiến bộ xã hội. 1.1.2. Phong cách ngôn ngữ báo chí Do những yêu cầu và đặc điểm của báo chí mà hình thành đặc điểm của ngôn ngữ báo chí, cựng với đó văn bản báo chí thuộc một thể loại phong cách riêng: phong cách ngôn ngữ truyền thông đại chúng. Các tác giả Hữu Đạt, Vũ Quang Hào, Hoàng Anh đều có những nghiên cứu, đóng góp cho phong cách ngôn ngữ báo chí, chúng tôi sơ lược lại một số đặc điểm những phong cách ấy như sau. 1.1.2.1. Quan niệm về phong cách ngôn ngữ báo chí của Hữu Đạt Hữu Đạt đưa ra những nghiên cứu về phong cách ngôn ngữ báo chí rất rõ ràng. Khi nghiên cứu phong cách trong tiếng Việt hiện đại, chúng tôi chú trọng vào các luận điểm về phong cách dùng từ ngữ. a. Cách dùng từ ngữ của nhà báo Báo chí là phương tiện thông tin đại chúng, vì vậy từ ngữ phải mang tính phổ thông, dễ hiểu. Đó là các từ toàn dân, có tính thông dụng cao, các tiếng lóng, biệt ngữ, từ địa phương chỉ xuất hiện rất cá biệt. Các thuật ngữ khi bắt 8 buộc sử dụng cũng phải là những thuật ngữ phổ biến và được giải thích nhiều lần trờn cỏc phương tiện thông tin đại chúng. Báo chí có ưu thế về tương tác giữa tác giả và độc giả. Do đó, để thu hút sự chú ý của độc giả, nhà báo có thể đổi mới cách dùng từ, tạo ra một lớp từ mang phong cách cá nhân “ Đó là những khả năng tìm tòi phát hiện những năng lực ẩn chứa trong từ” [32;76] b. Tính ngắn gọn và biểu cảm Tính ngắn gọn của báo chí là một yêu cầu tất yếu xuất phát từ chức năng thông báo của báo chí. Muốn thông tin được truyền đạt nhanh, đầy đủ, nhà báo phải lựa chọn cách diễn đạt cô đọng, tránh rườm rà không cần thiết. Tuy nhiên, không giống như yêu cầu ngắn gọn của văn bản hành chính, tính ngắn gọn của báo chí “ít nhiều gắn với xúc cảm chủ quan của cá nhân, với quan điểm của mỗi tờ bỏo” [32;147], vì thế ngôn ngữ phải có tính biểu cảm để đạt được mục tiêu tác động đến độc giả. c. Tính hấp dẫn và thuyết phục Ở phương diện hình thức, ngôn ngữ phải có sức lôi cuốn độc giả, bằng cách sử dụng các biện pháp như dùng từ độc đáo, kiến tạo các kết hợp từ gây ấn tượng bất ngờ, sử dụng nghệ thuật chơi chữ, thành ngữ, ca dao, v.v. một cách sáng tạo và hiệu quả. d. Tính thẩm mĩ và giáo dục Báo chí là món ăn tinh thần phổ biến nên ngôn ngữ báo chí phải đảm bảo các nguyên tắc thẩm mĩ, không lạm dụng các từ ngữ thông tục trong khẩu ngữ, sinh hoạt. Khi đảm bảo tính thẩm mĩ, ngôn ngữ báo chí cũng đồng thời 9 thực hiện chức năng giáo dục. Tính giáo dục của ngôn ngữ báo chí được tạo nên từ “ việc đưa tin trung thực, đầy đủ, khách quan” [32;170]. 1.1.2.2. Quan niệm về phong cách ngôn ngữ báo chí của Vũ Quang Hào Vũ Quang Hào coi phong cách ngôn ngữ báo chí là sự tích hợp của cả bốn phong cách là khẩu ngữ, chính luận, khoa học và hành chính. Trong đó “ xét về phương diện truyền thông, phong cách khoa học, phong cách hành chính, phong cách chính luận đáng chú ý hơn cả” [44;55]. a. Phong cách ngôn ngữ chính luận Các bài báo chính luận chủ yếu nằm trong nhóm thể loại chính luận. Phong cách chính luận có hai chức năng là truyền đạt thông tin và tuyên truyền, giáo dục, cổ vũ, động viên (tác động) vào nhận thức người đọc bằng những lí lẽ, dẫn chứng. Từ ngữ trong phong cách này có đặc điểm là lớp từ chính trị xuất hiện nhiều và đã xuất hiện các từ ngữ mang sắc thái biểu cảm. Về câu cho phép viết những cõu cú độ dài lớn, chứa đựng nhiều ý có quan hệ qua lại, đặc biệt là sự có mặt của những câu nghi vấn và câu cảm thán với tần số khá cao. Ở phương diện diễn đạt đòi hỏi lí luận phải vững chắc rõ ràng, lập luận phải chặt chẽ, lụgớc. Nhưng đồng thời cũng phải thấy rằng “tính đại chúng là một yêu cầu bắt buộc, một nguyên tắc diễn đạt văn bản chính luận” [44;64]. b. Phong cách ngôn ngữ khoa học Những bài viết mang hình thức giới thiệu, nhận xét, phê bình khoa học như phản ánh hội thảo, hội nghị khoa học, cuộc triển lãm, phê bình phim, sách v.v. thuộc nhóm phong cách ngôn ngữ khoa học. Đặc điểm nổi bật của 10 ngôn ngữ khoa học về yêu cầu từ ngữ là các lớp từ chung được dùng với nghĩa đen, nghĩa định danh chiếm ưu thế, ít thấy những từ có màu sắc biểu cảm. Từ mang tính chất khái quát hoá, trừu tượng hoỏ, tớnh hệ thống cao và trung hoà về sắc thái. Về phương diện ngữ pháp thì thường sử dụng những cõu cú cấu trúc phức hợp, những cõu cú độ dài lớn để có thể diễn đạt trọn vẹn nội dung. Về phương pháp diễn đạt, người ta thường sử dụng một số cách diễn đạt theo những khuôn mẫu nhất định và khai thác tối đa lượng thông tin từ kênh thông tin phi văn tự. Phong cách này không chấp nhận lối diễn đạt dư thừa, những thán từ, trợ từ, những quán ngữ đưa đẩy. Mạch trình bày phải mang tính logic rõ rệt, “loại bỏ hoàn toàn cách diễn đạt mà theo đó độc giả muốn hiểu theo nghĩa gì cũng được” [44;72]. c. Phong cách hành chính Các tác phẩm viết theo phong cách này không nhiều, chủ yếu là các bài viết hướng dẫn tìm hiểu pháp luật, hộp thư bạn đọc, tin công bỏo,v.v. Từ ngữ ở phong cách này thường lựa chọn lớp từ vựng hành chính và trung hoà về sắc thái biểu cảm, không dùng những từ ngữ khẩu ngữ, “đặc biệt, sự mơ hồ của từ ngữ cần phải hoàn toàn triệt tiêu ở phong cách này” [44;75]. Ở phương tiện ngữ pháp chủ yếu dựng cõu tường thuật, cõu cú độ dài lớn tuy vậy phải đảm bảo sự diễn đạt không bị hiểu theo hai cách. Về phương pháp diễn đạt, phong cách này đòi hỏi trong diễn đạt phải đảm bảo tính nghiêm trang, tính khuôn phép cao nên không chấp nhận lối diễn đạt mang sắc thái cá nhân, “giọng văn trung tính, khách quan là chuẩn mực của phong cách hành chớnh…tớnh khách quan, phi cá tính của phương tiện ngôn ngữ kết hợp với 11 những luận cứ chính xác sẽ làm cho văn bản có sức thuyết phục cao” [44;76]. Ngoài ra, diễn đạt theo phong cách này còn phải diễn đạt theo mẫu đã quy định cho mỗi loại văn bản và cụ thể nhất là những văn bản giải đáp pháp luật, chế độ chính sách, v.v. 1.1.2.3. Quan niệm về phong cách ngôn ngữ của Hoàng Anh Hoàng Anh cho rằng nét đặc trưng của ngôn ngữ báo chí là có tính sự kiện, chính điều này đã tạo cho ngôn ngữ các tính chất cụ thể sau. a. Tính chính xác Với ngôn ngữ báo chí, tính chính xác có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Vì báo chí có chức năng định hướng dư luận xã hội, một sơ suất nhỏ cũng dễ làm cho độc giả khó hiểu hoặc hiểu sai thông tin, có thể gây ra những hậu quả xã hội nghiêm trọng. Điều này đòi hỏi nhà báo phải nắm vững ngữ pháp; có vốn từ vựng rộng, chắc, và không ngừng được trau dồi; thành thạo về ngữ âm; hiểu biết về phong cách. Sử dụng ngôn từ chính xác giúp nhà báo không chỉ đạt hiệu quả giao tiếp cao, mà còn góp phần vào việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Vì rất nhiều độc giả “xem cơ quan báo chí là ngọn đèn chỉ dẫn trong việc dùng ngôn từ” [3;10]. b. Tính cụ thể Tính cụ thể của ngôn ngữ báo chí thể hiện ở mảng hiện thực được nhà báo trình bày phải cặn kẽ tới từng chi tiết nhỏ và ở việc tạo ra sự xác định cho đối tượng được phản ánh. c. Tính đại chúng Ngôn ngữ báo chí phải là thứ ngôn ngữ dành cho tất cả và của tất cả, tức là có tính phổ cập rộng rãi, điều này không có nghĩa là dễ dãi, thấp kém. Như 12 V.G.Kostomarov, nhà nghiên cứu ngôn ngữ báo chí nổi tiếng người Nga, cú núi: “Ngôn ngữ báo chí phải thích ứng với mọi tầng lớp công chúng sao cho một nhà bác học với kiến thức uyên thâm nhất cũng không cảm thấy chán và một em bé có trình độ còn non nớt cũng không thấy khó hiểu” [3;11], điều này khiến cho người ta ít dùng các thuật ngữ chuyên ngành hẹp, tiếng lóng, từ ngữ địa phương,v.v. Ngoài các tính chất đặc trưng này, ngôn ngữ báo chí cũn cú những đặc điểm khác như: Tính ngắn gọn, tính định lượng, tính bình giá, tính biểu cảm, tính khuôn mẫu mà chúng tôi không đi sâu vào. 1.2. CHUẨN NGÔN NGỮ BÁO CHÍ Trong các phương tiện thông tin đại chúng, có thể nói báo chí nằm ở vị trí trung tâm. Nội dung và hình thức của thông điệp báo chí phải đảm bảo được tính phổ biến, tính đại chúng và tính công khai. Dù ở bất cứ loại hình nào (báo viết, bỏo nói, báo hình, báo điện tử) thì nội dung của thông tin cũng phải sử dụng văn bản để dàn dựng, sắp xếp và truyền tải thông điệp. Vì vậy, ngôn ngữ là gốc căn bản của quá trình hình thành, xây dựng và truyền thông điệp. Có thể truyền thông tin bằng ngôn ngữ nói hay chữ viết, ngôn ngữ báo chí trước hết và chủ yếu là lĩnh vực ngôn ngữ học – xã hội. Vấn đề sử dụng ngôn ngữ có tác động trực tiếp và quyết định tới hiệu quả, mục đích của thông tin báo chí. Do vậy, ngôn ngữ báo chí trước hết phải là một thứ ngôn ngữ văn hoá chuẩn mực. 1.2.1. Chuẩn mực ngôn ngữ là một vấn đề lớn trong ngôn ngữ học. Nó được bàn luận trong nhiều tài liệu ngôn ngữ học nước ngoài cũng như ở Việt 13 Nam. Nhưng chuẩn mực ngôn ngữ báo chí nói riêng và ngôn ngữ báo chí nói chung vẫn còn là một địa hạt khá mới mẻ ở Việt Nam. Khái niệm Chuẩn mực của ngôn ngữ (còn gọi tắt là chuẩn ngôn ngữ) theo Vũ Quang Hào, trong “ Ngôn ngữ báo chí”[44; 14], cần xột trờn hai phương diện: Chuẩn mang tính chất quy ước xã hội tức là phải được xã hội chấp nhận, sử dụng và chuẩn phải phù hợp với quy luật phát triển nội tại của ngôn ngữ trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Từ đó khi xác định chuẩn ngôn ngữ, đặc biệt là chuẩn ngôn ngữ báo chí, thì cần phải: - Dựa trên những cứ liệu thực tế của ngôn ngữ để nắm được những quy luật biến đổi và phát triển của ngôn ngữ trên tất cả các cấp độ của nó là ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và phong cách. - Xét đến những lí do ngoài ngôn ngữ vốn ảnh hưởng đến sự phát triển, thay đổi của tiếng Việt. Những lí do đó là: Những biến đổi lớn lao trong xã hội (Cách mạng Tháng Tám thành công, hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ thắng lợi, những cuộc sơ tán cư dân từ thành thị về nông thôn trong chiến tranh, cuộc tập kết của cư dân từ Nam ra Bắc sau hiệp định Giơ-ne-vơ, các cuộc chuyển dân đi xây dựng vùng kinh tế mới, v.v.); vai trò ảnh hưởng to lớn của các nhà hoạt động chính trị có uy tín, các nhà văn, nhà thơ, nhà báo nổi tiếng vốn lưu tâm đến sự phát triển và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt như Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Ngô Tất Tố, Xuân Diệu, Thép Mới; vai trò tác động của các trào lưu, cỏc nhúm xã hội cùng với công cuộc đổi mới đất nước và sự mở cửa cho một nền kinh tế mới,v.v. Những yếu 14 tố xã hội đó dù muốn dù không đều có ảnh hưởng trực tiếp đến cấu trúc nội tại của tiếng Việt ở từng thời đại lịch sử. 1.2.2. Xung quanh khái niệm chuẩn ngôn ngữ còn nhiều ý kiến chưa thống nhất, không chỉ ở các nhà ngữ văn học nước ngoài mà cả ở trong nước. Tác giả Vũ Quang Hào [44; 15] tạm hệ thống hoá năm cách hiểu về chuẩn ngôn ngữ như sau: - Một nhúm cỏc nhà khoa học Nga Xô Viết (U-sa-cốp, ễ-giờ-gốp, Pụ-liva-nốp, v.v.) nhấn mạnh đến tính chất xã hội của chuẩn ngôn ngữ, xem tính chất chuẩn là một hiện tượng xã hội và phát triển có tính lịch sử. “Quan niệm này đúng nhưng có phần phiến diện vỡ nú không tính đến bản thân ngôn ngữ, bỏ qua quy luật phát triển bên trong của cấu trúc ngôn ngữ” [44;15]. - Cụ-sờ-ri-u (Tiệp Khắc cũ) thì cho rằng chuẩn ngôn ngữ là tổng hợp những sự thể hiện các yếu tố trong cấu trúc ngôn ngữ đã được tách ra và củng cố trong sử dụng thực tế. Nghĩa là “hệ thống ngôn ngữ là những hình mẫu trừu tượng còn chuẩn ngôn ngữ là sự thể hiện hình mẫu đó bằng chất liệu ngôn ngữ” [44;15] - Trường phái ngôn ngữ học Pra-ha lại xem chuẩn là một hiện tượng bên trong của cấu trúc ngôn ngữ, còn việc thể hiện chuẩn là một hiện tượng ngoài ngôn ngữ, có tính chất xã hội. Họ phân biệt chuẩn với quy phạm vốn là những sự thể hiện của chuẩn bằng các quy tắc (chẳng hạn trong từ điển, sách giáo khoa, sách ngữ pháp, v.v.). Trường phái này không chấp nhận có một cái chuẩn chung “tổng hợp”, vì không thể đánh giá đồng đều những biểu hiện 15 ngôn ngữ bằng những tiêu chuẩn định sẵn mà phải dựa trên những chức năng hoạt động của các yếu tố ngôn ngữ trong từng bối cảnh giao tiếp cụ thể. - Quan điểm của Kụ-xtụ-ma-rốp và Lờ-ụn-chộp cho rằng chuẩn ngôn ngữ chỉ có thể xác định trong từng bối cảnh giao tiếp cụ thể. Họ đề xuất về “tớnh hợp lí trong giao tiếp” với tiêu chí đòi hỏi phải lựa chọn được những phương tiện ngôn ngữ có hiệu suất cao nhất trong từng bối cảnh giao tiếp. Như vậy sẽ không có cái chuẩn chung cho ngôn ngữ được sử dụng giống nhau ở các tình huống giao tiếp, mà chỉ có hệ thống chuẩn được áp dụng tuỳ vào tình huống và tính chất giao tiếp. “Như vậy khái niệm chuẩn là một khái niệm rất cơ động, tuỳ thuộc vào nhiều biến số. Và cố nhiên là không thể nói đến tính chất tuyệt đối của chuẩn” [44;16]. - Phần lớn ý kiến được hệ thống hoá trong các tài liệu ngôn ngữ học Việt Nam đều cho rằng chuẩn ngôn ngữ là mẫu ngôn ngữ đã được xã hội đánh giá, lựa chọn và sử dụng. Cố nhiên sự đánh giá, lựa chọn đó không thể đạt đến sự nhất trí hoàn toàn, do vậy tính chất bắt buộc cũng như tính chất ổn định của chuẩn chỉ là tương đối. Mặt khác, chuẩn không phải là quy định mà là quy ước, không phải luật mà là chỉ dẫn. Tuy nhiên sự lựa chọn nói trên không những không loại trừ mà còn cho phép, thậm chí đòi hỏi một sự lựa chọn cá nhân trong một phạm vi giao tiếp (nói hoặc viết) nhất định. Khi sự lựa chọn của cá nhân đạt đến trình độ sáng tạo nghệ thuật và được cộng đồng đón nhận thì cũng có nghĩa là một chệch chuẩn ra đời. 1.2.3. Chuẩn ngôn ngữ bao gồm hai nội dung căn bản là “cỏi đỳng” và “sự thích hợp”. Viện sĩ V.Vi-nụ-gra-đốp đó lấy tiêu chuẩn nội tại của chính 16 cấu trúc ngôn ngữ để đánh giá “cỏi đỳng”. Ông viết: “Tất cả những cái mới, đang phát triển, được các quy luật nội tại của quá trình phát triển ngôn ngữ thừa nhận, phù hợp với cấu trúc của nó, dựa vào những xu thế sáng tạo của nhân dân, dựa vào các quá trình mang tính tích cực trong lĩnh vực ngữ pháp, ngữ nghĩa, sử dụng từ… đều không thể bị cho là không đúng, không thể bị phủ nhận căn cứ vào thị hiếu và thói quen cá nhân” [44;17]. Như vậy, “Cỏi đúng” hay còn gọi là tiêu chuẩn “đỳng phộp tắc” được cộng đồng ngôn ngữ hiểu và chấp nhận là một trong những điều kiện để thừa nhận tính chuẩn mực của ngôn ngữ. Trái ngược với “cái đúng” là “cái sai”. Đú là cái người tiếp nhận không hiểu hoặc không chấp nhận vỡ nú không phù hợp với chuẩn mực chung mà cộng đồng đã lựa chọn, thừa nhận. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sai: Do không nắm vững ngôn ngữ, bắt chước máy móc, do người viết cố ý tạo ra sự độc đáo khác biệt để gây ấn tượng nhưng lại không đúng chuẩn được thừa nhận. Tóm lại, một hiện tượng ngôn ngữ được coi là đúng, là chuẩn phải đáp ứng được những đòi hỏi ở cấu trúc nội tại của ngôn ngữ, đồng thời phải phù hợp với truyền thống ngôn ngữ, được cộng đồng chấp nhận. Cái đúng là yêu cầu bắt buộc trong sử dụng ngôn ngữ báo chí ở tất cả các cấp độ và ở mỗi cấp độ ấy lại có những yêu cầu, tiêu chuẩn riêng. Như vậy trong chuẩn ngôn ngữ, cái đúng là nhân tố quan trọng bậc nhất bảo đảm cho quá trình giao tiếp. Lép Tôn-xtụi đã nói: “Trước hết phải quan tâm sao cho công cụ truyền đạt khái niệm, tức là ngôn ngữ phải đúng” [44;18]. Tuy nhiên, cỏi đỳng mới chỉ là một mặt của chuẩn mực. Chuẩn mực còn cần phải thích hợp, bởi thông tin đúng 17 mà không thích hợp thì hiệu quả thông tin không cao. Với tư cách là một nội dung của chuẩn ngôn ngữ, tớnh thích hợp còn nâng cao giá trị thẩm mỹ của ngôn từ. Lộp Tụn-xtụi đó khẳng định rằng: “Cần phải xoá bỏ không thương tiếc tất cả những chỗ không rõ ràng, dài dòng, không đúng chỗ, tóm lại là tất cả những gì không thích hợp, mặc dù tự thân chúng là đúng” [44; 19]. 1.3. QUAN NIỆM VỀ LỖI NGÔN NGỮ Lỗi ngôn ngữ là sự thể hiện ngôn ngữ làm người tiếp nhận thông tin hiểu sai, không hiểu hoặc không được chấp nhận. Bởi vì nó không phù hợp với tư duy của con người cũng như không phù hợp với chuẩn mực chung mà cộng đồng đã lựa chọn và thừa nhận. Tuy nhiên khi nhìn nhận một lỗi ngôn ngữ nên dựa vào những kiến thức chung về ngôn ngữ mà cộng đồng vẫn chấp nhận (thì không phải lỗi) hoặc không chấp nhận. 1.3.1. Lí do tạo lỗi Khi nói về lỗi ngôn ngữ, ở đây chúng tôi muốn bàn về năng lực sử dụng ngôn ngữ hạn chế, không đúng chuẩn mực, không bàn đến cái sai do sự hiểu biết của người truyền đạt thông tin kộm. Đụi khi có thể do năng lực ngôn ngữ của người phát tin kém mặc dù trong ý nghĩ của người phát tin là đúng mà không truyền đạt hết được những điều cần thông báo, làm người nghe hiểu sai hoặc không hiểu được nội dung. Điều đó đã phá vỡ nguyên tắc tương ứng 1-1 giữa mó hoỏ và giải mã. Chính vì thế năng lực sử dụng ngôn ngữ trong quá trình mó hoỏ là vô cùng quan trọng. 18 1.3.2. Lỗi về phong cách Khi xác định lỗi ngôn ngữ chúng ta phải dựa trên những đặc trưng về phong cách chức năng, tức là dựa trên tu từ học chuẩn mực, nhưng cũng không nên cứng nhắc, rập khuôn. Mỗi một phong cách chức năng khác nhau lại có cách viết, cách sử dụng từ, câu khác nhau với những đặc trưng ngôn ngữ riêng của mình. Tuy nhiên, trên hết chúng ta vẫn phải hướng đến chuẩn ngôn ngữ văn học, đặc biệt là trong văn viết và tính đến cả sự sáng tạo của người viết. 1.3.3. Lỗi về hệ thống ngôn ngữ Lỗi ngôn ngữ cú liờn quan đến nhiều mặt khác nhau của ngôn ngữ học như: từ vựng học, ngữ pháp học, phong cách học, v.v. mỗi mặt đều có hệ thống chuẩn mực riêng cho phép người ta nhận định đâu là lỗi ngôn ngữ. Lỗi ngôn ngữ là một hiện tượng tương đối phức tạp, để nhận biết được lỗi ngôn ngữ chúng ta phải có những kiến thức cơ bản về chuyên ngành ngôn ngữ học cũng như những quy định về chuẩn trong từng thời kì lịch sử nhất định. 1.3.4. Lỗi trên phương tiện thông tin đại chúng Lỗi ngôn ngữ được thể hiện trên nhiều phương diện, trong đó lỗi ngôn ngữ trờn các phương tiện thông tin đại chúng như báo chí là điều chúng ta cần phải xem xét vì chúng có ảnh hưởng rất lớn đến thói quen sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp của cộng đồng. 1.3.5. Sáng tạo không phải lỗi (Hiện tượng chệch chuẩn) Có những hiện tượng ngôn ngữ không đúng với yêu cầu của chuẩn nhưng lại được coi là sự sáng tạo ngôn từ của người viết. Mặc dù là sự sáng 19 tạo của cá nhân nhưng nú cú sức lôi cuốn và phù hợp với cộng đồng, được cả cộng đồng chấp nhận. Những trường hợp như thế không thể coi là lỗi ngôn ngữ. Ngược lại, do người viết muốn sáng tạo ra cái mới để tạo sự hấp dẫn nhưng đôi khi cái mới đó lại làm người đọc hiểu sai nghĩa, không nhận được sự chấp nhận chung của cộng đồng thỡ đú có thể là lỗi ngôn ngữ. Để đánh giá một hiện tượng là đúng hay sai, ta không chỉ đem những quy tắc đã được định sẵn ra để so sánh đối chiếu mà phải xuất phát từ hiệu quả giao tiếp của nó. Vì thế nên mới có hiện tượng chệch chuẩn sáng tạo (hay còn gọi là hiện tượng bất thường) được sử dụng như một cách sáng tạo, hấp dẫn được người tiếp nhận. Hoàng Trọng Phiến cho rằng “chệch chuẩn là một thủ pháp sáng tạo, cách tân phù hợp với chuẩn, với cỏi đỳng, cỏi thích hợp và được thói quen dùng chấp nhận” [44; 21]. 1.3.6. Các lỗi cụ thể thường gặp 1.3.6.1. Các lỗi thông thường về câu trong văn bản a. Tác giả Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp trong “Tiếng Việt thực hành” có nêu ra một số lỗi về câu khi tạo lập văn bản văn bản như sau: (i) Các lỗi về cấu tạo câu - Thiếu các thành phần nòng cốt của câu . Câu thiếu chủ ngữ . Câu thiếu vị ngữ . Câu thiếu cả chủ ngữ lẫn vị ngữ . Câu thiếu bổ ngữ bắt buộc - Thiếu một vế của câu ghép 20
- Xem thêm -