Tài liệu Một số giải pháp nhằm tăng khả năng cạnh tranh trong dự thầu xd ở công ty cổ phần xd số i thái nguyên

  • Số trang: 82 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 71 |
  • Lượt tải: 0
tranbon

Đã đăng 976 tài liệu

Mô tả:

Khóa luận tốt nghiệp  Trường ĐH Kinh tế và QTKD LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết Đấu thầu trong XD cơ bản là một hoạt động có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp XD. ở nước ta hiện nay hoạt động đấu thầu đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng đấu thầu trong XD cơ bản luôn được quan tâm, cải tiến để từng bước được hoàn thiện. Hoạt động đấu thầu xây lắp có đặc thù của nó là tính cạnh tranh giữa các NT rất cao. Thực tế cho thấy để đứng vững và chiến thắng trong cuộc cạnh tranh này, bất kỳ một Công ty XD nào cũng phải vận dụng hết tất cả các khả năng mình có, luôn nắm bắt những cơ hội của môi trường kinh doanh. Tuy nhiên trong thời gian tới với môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt thì vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty trong tham gia đấu thầu xây lắp phải được quan tâm thực hiện. Chính vì vậy, trong quá trình thực tập tại Công ty cổ phần XD số 1 Thái Nguyên, em nhận thấy vấn đề trên là rất cần thiết đối với Công ty, do đó Em đã chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm tăng khả năng cạnh tranh trong dự thầu XD ở Công ty Cổ phần XD số I Thái Nguyên ” với mong muốn góp một phần nào đó cho sự phát triển đi lên của Công ty. 2. Mục đích nghiên cứu. Luận văn được nghiên cứu nhằm mục đích đưa ra “ Một số giải pháp nhằm tăng khả năng cạnh tranh trong dự thầu XD ở Công ty Cổ phần XD số I Thái Nguyên” 3. Phương pháp nghiên cứu. 3.1. Thu thập số liệu thông qua: - Thu thập thông tin trực tiếp tại công ty, cũng như tham khảo tài liệu số liệu các năm trước qua sổ sách chứng từ cũ còn lưu giữ ở công ty. - Tham khảo tài liệu sách báo, giáo trình học tập trước đây cũng như trên mạng Nguyễn Thị Minh 1 Lớp K3-KTĐT Khóa luận tốt nghiệp  Trường ĐH Kinh tế và QTKD 3.2 Phương pháp thống kê kinh tế Là phương pháp dùng để tổng hợp, phân loại, phân tích số liệu phản ánh tình hình sản xuất kinh doanh sau khi đã thu thập, chỉnh lý trên cơ sở đánh giá mức độ, tình hình biến động cũng như mối quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau giữa các hiện tượng kinh tế. 3.3. Phương pháp so sánh, phân tích Là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích để đánh giá kết quả; xác định mức độ, xu hướng biến động của các chỉ tiêu phân tích. Áp dụng phương pháp này cần đảm bảo điều kiện : thống nhất về nội dung, phương pháp thời gian và đơn vị tính. Ta tiến hành lập bảng để xem xét mức độ biến động của các năm theo thời gian, không gian nghiên cứu khác nhau, dùng chỉ tiêu tuyệt đối và tương đối để xem xét lấy số bình quân chung, lập bảng phân tích so sánh qua các năm xem tăng giảm như thế nào? 3.4. Phương pháp phân tích SWOT Là kỹ thuật để phân tích và xử lý kết quả nghiên cứu về môi trường, giúp doanh nghiệp đề ra chiến lược một cách khoa học. SWOT có thể đưa ra sự liên kết từng cặp một cách ăn ý hoặc là sự liên kết giữa 4 yếu tố. Qua đây giúp cho doanh nghiệp hình thành các chiến lược của mình một cách có hiệu quả nhằm khai thác tốt nhất cơ hội có được từ bên ngoài, giảm bớt hoặc né tránh các đe dọa, trên cơ sở phát huy những mặt mạnh và khắc phục những yếu kém. Mối liên hệ giữa SWOT được thể hiện theo sơ đồ sau: S (Strengths): các mặt mạnh W (Weaknesses): các mặt yếu O (Opportunities): các cơ hội T (Threats): các nguy cơ Nguyễn Thị Minh 2 Lớp K3-KTĐT Khóa luận tốt nghiệp  Trường ĐH Kinh tế và QTKD 4. Phạm vi nghiên cứu. - Thời gian: Tập trung nghiên cứu giai đoạn từ 2007 – 2009. - Không gian: Tại Công ty Cổ phần XD số I Thái Nguyên - Nội dung: Do giới hạn về nhiều mặt nên trong khóa luận này em chỉ tập trung nghiên cứu cụ thể về đấu thầu xây lắp – loại hình đấu thầu cơ bản của các công ty XD. 5. Đối tượng nghiên cứu. Khả năng cạnh tranh trong dự thầu XD tại Công ty Cổ phần XD số I Thái Nguyên. 6. Nội dung của khóa luận Khóa luận gồm 3 phần chính - Chương 1: Cơ sở khoa học của đề tài Chương này đưa ra nhằm giới thiệu về Công ty Cổ phần XD số I Thái Nguyên. - Chương 2 : Thực trạng dự thầu xây lắp ở Công ty Cổ phần XD số I Thái Nguyên. Chương này mô tả tổng quan địa điểm nghiên cứu và trình bày kết quả về các vấn đề đã nghiên cứu. - Chương 3 : Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh trong dự thầu ở Công ty Cổ phần XD số I Thái Nguyên. Chương này đưa ra các giải pháp, các đề xuất để thực hiện đề tài được tốt nhất. Kết luận và kiến nghị Trên cơ sở các kết quả phân tích đưa ra các kết luận và các kiến nghị ….. Tài liệu tham khảo. Nguyễn Thị Minh 3 Lớp K3-KTĐT Khóa luận tốt nghiệp  Trường ĐH Kinh tế và QTKD CHƯƠNG 1 CỞ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lý luận 1.1.1. Khái quát về đấu thầu 1.1.1.1. Một số khái niệm về đấu thầu Theo từ điển Tiếng Việt (do Viện ngôn ngữ khoa học biên soạn, xuất bản năm 1998) đấu thầu được giải thích là : đọ công khai, ai nhận làm, nhận bán với điều kiện tốt nhất thì được giao cho làm hoặc được bán hàng. Theo quy chế đấu thầu của Việt Nam ban hành theo nghị định số 88/ 1999/NĐ- CP ngày 01/09/1999, thì đấu thầu là quá trình lựa chọn NT đáp ứng yêu cầu của BMT. Theo Hiệp hội quản lý mua sắm Canada năm 1999, thì đấu thầu là một phương pháp mua sắm mà người mua yêu cầu những nhà cung cấp có năng lực nộp cho mình những bản chào hàng cho các hàng hóa, dịch vụ hay công trình và trên cơ sở đó người mua sẽ lựa chọn được người bán thích hợp nhất. Theo Luật đấu thầu năm 2005, thì đấu thầu là quá trình lựa chọn NT đáp ứng các yêu cầu của BMT trên cơ sở đảm bảo tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế. 1.1.1.2. Đặc điểm Thứ nhất : Đấu thầu với bản chất là một hoạt động mua bán. Tuy nhiên đây là một hoạt động mua bán đặc biệt, và khi đó người mua (hay còn gọi là BMT) có quyền lựa chọn cho mình người bán (hay còn được gọi là NT) tốt nhất một cách công khai và theo một quy trình nhất định. Thứ hai : Đấu thầu mang tính cạnh tranh gay gắt, do vậy mà hoạt động này chỉ có trong nền kinh tế thị trường khi xã hội đó phát triển đến một mức độ tương đối ổn định. Lúc này, những khách hàng được tùy ý lựa chọn người bán phù hợp với yêu cầu và chủng loại hàng hóa mà mình cần mua. Nguyễn Thị Minh 4 Lớp K3-KTĐT Khóa luận tốt nghiệp  Trường ĐH Kinh tế và QTKD 1.1.1.3. Sự cần thiết phải thực hiện đấu thầu  Đối với chủ đầu tư Thông qua đấu thầu chủ đầu tư sẽ lựa chọn được NT có khả năng đáp ứng được tốt nhất các yêu cầu về kinh tế kỹ thuật, tiến độ đặt ra của công trình. Trên cơ sở đó giúp cho chủ đầu tư vừa sử dụng hiệu quả, tiết kiệm vốn đầu tư; đồng thời vẫn đảm bảo được chất lượng cũng như tiến độ công trình. Thông qua đấu thầu, chủ đầu tư cũng sẽ nắm bắt được quyền chủ động quản lý có hiệu quả và giảm thiểu được các rủi ro phát sinh trong quá trình thực hiện DAĐT do toàn bộ quá trình tổ chức đấu thầu và thực hiện kết quả đấu thầu được tuân thủ chặt chẽ theo quy định của pháp luật và sau khi chủ đầu tư đã có sự chuẩn bị kỹ lưỡng đầy đủ về mọi mặt.  Đối với các NT Hoạt động đấu thầu được tổ chức theo nguyên tắc công khai và bình đẳng, nhờ đó các NT (các đơn vị xây lắp) sẽ có điều kiện để phát huy đến mức cao nhất cơ hội tìm kiếm công trình và khả năng của mình để trúng thầu, tạo công ăn việc làm cho người lao động phát triển sản xuất kinh doanh. Tham gia hoạt động đấu thầu giúp các NT có cơ hội tiếp cận với khách hàng mới, đối thủ cạnh tranh mới và với những quy định về mua sắm của các cơ quan quản lý nhà nước. Từ đó NT thấy được khả năbg của mình : cái có và cái chưa có để dần hoàn thiện mình. Qua đó, giúp cho các NT nâng cao năng lực về mọi mặt của mình, đồng thời giúp NT mở rộng thị trường, khẳng định vị trí và nâng cao uy tín. Công việc thực tế sẽ giúp cho các NT hoàn thiện về tổ chức quản lý, tổ chức sản xuất, nâng cao trình độ và năng lực của cán bộ công nhân viên của mình.  Đối với Nhà nước Đấu thầu góp phần nâng cao hiệu quả của công tác quản lý Nhà nước về đầu tư và XD, quản lý và sử dụng vốn một cách có hiệu quả hạn chế và loại trừ được các tình trạng như: thất thoát lãng phí vốn đầu tư, đặc biệt là vốn ngân sách, các hiện tượng tiêu cực khác phát sinh trong XD cơ bản. Nguyễn Thị Minh 5 Lớp K3-KTĐT Khóa luận tốt nghiệp  Trường ĐH Kinh tế và QTKD Đấu thầu tạo lên sức cạnh tranh mới và lành mạnh trong lĩnh vực XD cơ bản, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá trong ngành cũng như trong nền kinh tế quốc dân. Vì những lợi ích trên nên việc thực hiện công tác đấu thầu là một đòi hỏi tất yếu. 1.1.1.4. Nguyên tắc và phương thức đấu thầu  Nguyên tắc Để đảm bảo mục đích là nâng cao hiệu quả sử dụng vốn thì hoạt động đấu thầu cần tuân thủ các nguyên tắc sau : Hiệu quả: được tính cả trên hai phương diện hiệu quả về mặt thời gian và hiệu quả cả về mặt tài chính. Về thời gian, sẽ được đặt lên hàng đầu khi yêu cầu về tiến độ là cấp bách. Còn nếu thời gian không yêu cầu phải cấp bách thì quy trình đấu thầu phải được thực hiện từng bước theo đúng kế hoạch để lựa chọn NT đạt hiệu quả về mặt tài chính . Cạnh tranh: là nguyên tắc nổi bật trong đấu thầu, BMT phải tạo điều kiện thuận lợi để nhiều NT có thể tham gia, không được đưa ra những quy định không hợp lý để hạn chế số lượng NT. Công bằng: khi tham gia dự thầu các NT đều phải được đối xử như nhau (thông tin đều được cung cấp như nhau), không có NT nào được hưởng điều kiện thuận lợi hơn những NT khác, trừ trường hợp có quy định cụ thể. Những quy định này cần phải thông báo cho tất cả các NT biết trong HSMT. Minh bạch: quy trình đấu thầu phải được tuân thủ một cách nghiêm túc, không có sự thông đồng giữa BMT với các NT cũng như giữa NT với nhau.  Phương thức đấu thầu Dựa vào cách thức nộp HSDT mà BMT yêu cầu, người ta chia phương thức đấu thầu thành 3 loại cơ bản:  Đấu thầu một túi hồ sơ, một giai đoạn Khi đưa ra yêu cầu thực hiện theo phương thức một túi hồ sơ, một giai đoạn tức là NT phải bỏ cả hai đề xuất : đề xuất kỹ thuật (cách tiến hành công việc) và đề xuất tài chính (giá cả cụ thể và phương thức thanh toán) vào chung Nguyễn Thị Minh 6 Lớp K3-KTĐT Khóa luận tốt nghiệp  Trường ĐH Kinh tế và QTKD một túi hồ sơ và túi đó được niêm phong. NT nộp HSDT gồm đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về tài chính theo yêu cầu của HSMT. Việc mở thầu được tiến hành một lần, túi HSDT của các NT sẽ được mở công khai khi mở thầu (trong đó công khai cả giá dự thầu và bảo đảm dự thầu của các NT). Phương thức đấu thầu một túi hồ sơ được áp dụng đối với hình thức đấu thầu rộng rãi và đấu thầu hạn chế cho gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, gói thầu EPC.  Đấu thầu hai túi hồ sơ, một giai đoạn NT nộp đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về tài chính riêng biệt theo yêu cầu của HSMT. Việc mở thầu được tiến hành hai lần; trong đó, đề xuất về kỹ thuật sẽ được mở trước để đánh giá, đề xuất về tài chính của tất cả các NT có đề xuất kỹ thuật được đánh giá là đáp ứng yêu cầu được mở sau để đánh giá tổng hợp. Trường hợp gói thầu có yêu cầu kỹ thuật cao thì đề xuất về tài chính của NT đạt số điểm kỹ thuật cao nhất sẽ được mở để xem xét, thương thảo. Phương thức đấu thầu hai túi hồ sơ được áp dụng đối với đấu thầu rộng rãi và đấu thầu hạn chế trong đấu thầu cung cấp dịch vụ tư vấn.  Đấu thầu hai giai đoạn một túi hồ sơ Phương thức đấu thầu hai giai đoạn được áp dụng đối với hình thức đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế cho gói thầu mua sắm hang hóa, xây lắp, gói thầu EPC có kỹ thuật, công nghệ mới, phức tạp, đa dạng và được thực hiện theo trình tự sau đây: Trong giai đoạn một, theo HSMT giai đoạn một, các NT nộp đề xuất về kỹ thuật, phương án tài chính nhưng chưa có giá dự thầu; trên cơ sở trao đổi với từng NT tham gia giai đoạn này sẽ xác định HSMT giai đoạn hai; Trong giai đoạn hai, theo HSMT giai đoạn hai, các NT đã tham gia giai đoạn một được mời nộp HSDT giai đoạn hai bao gồm: đề xuất về kỹ thuật; đề xuất về tài chính, trong đó có giá dự thầu; biện pháp bảo đảm dự thầu. 1.1.1.4. Các loại hình đấu thầu Dựa vào đặc điểm hay bản chất của đấu thầu (là hoạt động mua bán) có thể chia đấu thầu làm bốn loại hình: Nguyễn Thị Minh 7 Lớp K3-KTĐT Khóa luận tốt nghiệp  Trường ĐH Kinh tế và QTKD Đấu thầu tuyển chọn tư vấn: trong lĩnh vực đầu tư, tư vấn được hiểu là việc cung cấp những kinh nghiệm, chuyên môn cần thiết cho chủ đầu tư trong quá trình xem xét, kiểm tra và ra quyết định ở tất cả các giai đoạn của một DAĐT. Như vậy đấu thầu tuyển chọn tư vấn là quá trình lựa chọn NT tư vấn cung cấp kinh nghiệm, kiến thức và chuyên môn cho BMT một cách tốt nhất hay nói một cách khác là lựa chọn NT tư vấn có chất lượng dịch vụ tốt và giá cả hợp lý. Đấu thầu xây lắp: là quá trình lựa chọn NT để thực hiện các gói thầu trong lĩnh vực xây lắp như XD và lắp đặt thiết bị cho các công trình, hạng mục công trình. Chúng ta sẽ xem xét cụ thể hơn về đấu thầu xây lắp ở phần sau đây. Đấu thầu mua sắm hàng hóa và các dịch vụ khác: Đây chính là quá trình lựa chọn NT cung cấp hàng hoá, dịch vụ đạt yêu cầu về chất lượng và có giá cả hợp lý. Đấu thầu lựa chọn đối tác thực hiện dự án: Khi chủ đầu tư có ý tưởng về một DAĐT nhưng do một hạn chế nào đó (có thể là hạn chế về tài chính hoặc kỹ thuật ) mà không thể tiến hành chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và có thể là cả vận hành kết quả đầu tư thì chủ đầu tư có thể tổ chức đấu thầu để chọn một đối tác thực hiện ý tưởng của mình và sau đó có thể bàn giao dự án vào một thời điểm thoả thuận giữa hai bên. Đối với loại hình này, đối tượng mà BMT muốn mua là toàn bộ một dự án chứ không phải một phần công việc cụ thể nào.  Đặc điểm của đấu thầu xây lắp Đấu thầu xây lắp là quá trình lựa chọn NT để thực hiện các công việc trong lĩnh vực xây lắp như XD công trình, hạng mục công trình và lắp đặt thiết bị cho các hạng mục công trình. Chính vì có nội dung như vậy mà đấu thầu xây lắp thường mang những đặc điểm cơ bản như sau: Chủ yếu có ở giai đoạn thực hiện dự án khi mà những ý tưởng đầu tư được thể hiện trong khóa luận nghiên cứu khả thi sẽ trở thành hiện thực. Tuy nhiên khi sang đến giai đoạn vận hành kết quả đầu tư nếu chủ đầu tư có nhu cầu sửa chữa nâng cấp thì đấu thầu xây lắp vẫn xuất hiện. NT XD luôn phải Nguyễn Thị Minh 8 Lớp K3-KTĐT  Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐH Kinh tế và QTKD làm việc tại một địa điểm cố định có ghi trong HSMT. NT tư vấn có thể là một cá nhân song NT XD phải là một tổ chức có tư cách pháp nhân. Việc xem xét đánh giá năng lực của NT XD dựa trên hai nội dung chính đó là: về tài chính và kĩ thuật. Năng lực về kỹ thuật rất quan trọng, tuy nhiên năng lực tài chính cũng quan trọng không kém do: đặc điểm quan trọng của đấu thầu xây lắp là NT phải thực hiện trước một phần công việc bằng vốn của mình, chính vì thế mà những đảm bảo về tài chính là rất quan trọng.  Qui trình tổ chức đấu thầu và dự thầu xây lắp của các doanh nghiệp XD. Qui trình tổ chức đấu thầu Trình tự thực hiện đấu thầu hoàn chỉnh bao gồm ba giai đoạn: chuẩn bị đấu thầu, tổ chức đấu thầu, ký kết hợp đồng. Sơ đồ 01: Quá trình tổ chức đấu thầu. Mỗi giai đoạn này lại bao gồm nhiều bước thể hiện ở sơ đồ sau: CHUẨN BỊ ĐẤU THẦU Sơ tuyển Lập HSMT Thông báo mời thầu Phát hành HSMT Tiếp nhận và quản lý HSDT TỔ CHỨC ĐẤU THẦU Mở thầu Đánh giá HSDT Thông báo kết quả đấu thầu HOÀN THIỆN VÀ KÝ KẾT HỢP ĐỒNG Sơ đồ 02: Sơ đồ quá trình dự thầu Tìm kiếm thông tin về công trình cần đấu thấu Tham gia sơ tuyển (nếu có). Chuẩn bị và lập HSDT Lập HSDT và tham gia mở thầu Ký kết hợp đồng thi công nếu trúng thầu Nguyễn Thị Minh 9 Lớp K3-KTĐT Khóa luận tốt nghiệp  Trường ĐH Kinh tế và QTKD Tìm kiếm thông tin về công trình cần đấu thầu Đây được coi là bước đầu tiên của quy trình dự thầu trong các doanh nghiệp XD bởi lẽ nó chính là bước để người bán (các doanh nghiệp XD) tiếp cận được với người mua (chủ đầu tư) và từ đó mới dẫn đến quan hệ giao dịch mua bán thông qua các phương thức đấu thầu. Các NT (các đơn vị xây lắp) có thể tìm kiếm thông tin về công trình cần đấu thầu thông qua kênh thông tin chủ yếu sau: - Thông báo mời thầu của BMT trên các phương tiện thông tin đại chúng. Nội dung thông báo mời thầu gồm: Tên và địa chỉ BMT; Mô tả tóm tắt dự án, địa chỉ và thời gian XD; Chỉ dẫn tìm hiểu HSMT; Thời hạn, địa chỉ HSMT. - Thư mời thầu do BMT gửi đến: do mối quan hệ từ trước giữa BMT với NT hoặc nhờ vào uy tín, vị trí của NT trên thị trường, các NT có thể được BMT trực tiếp mời dự thầu thông qua thư mời thầu trong trường hợp công trình được tổ chức đấu thầu theo hình thức đấu thầu hạn chế. - Thông qua giới thiệu của các bên trung gian: Vì một lý do nào đó đặc biệt là do thị trường chưa hoàn chỉnh, các NT có thể không biết được về công trình cần đấu thầu một cách trực tiếp, họ cũng có thể có thông tin về công trình cần đấu thầu thông qua giới thiệu của một nhà môi giới. Đây là cách thức tìm kiếm thông tin khá phổ biến của các NT ở Việt Nam hiện nay . Điều cần chú ý ở bước này là dù cho NT tìm kiếm thông tin theo hình thức nào thì cũng phải nắm bắt được những thông tin cần thiết ban đầu về công trình cần đấu thầu, lấy đó làm cơ sở phân tích để đưa ra được những quyết định có hoặc không dự thầu. Việc làm này sẽ giúp cho doanh nghiệp tránh được việc phải bỏ ra những chi phí tiếp theo mà không đem lại cơ hội tranh thầu thực tế . Tham gia sơ tuyển (nếu có). Nếu công trình cần đấu thầu được BMT tổ chức có tiến hành sơ tuyển thì các NT sẽ phải nộp cho BMT một bộ tài liệu sơ tuyển. Thông thường, các NT sẽ phải trình bày trong tài liệu sơ tuyển những nội dung chính sau đây : - Cơ cấu tổ chức sản xuất của NT . - Kinh nghiệm trong các loại hình công tác . Nguyễn Thị Minh 10 Lớp K3-KTĐT Khóa luận tốt nghiệp  Trường ĐH Kinh tế và QTKD - Nguồn nhân lực, trình độ quản lý, kỹ thuật, quy mô doanh nghiệp. - Tình trạng tài chính những năm gần đây. Mục tiêu của bước này là vượt qua giai đoạn thi tuyển. Tuy vậy, một số vấn đề khác ở giai đoạn này mà NT cần chú ý đó là nắm bắt được các đối thủ cùng vượt qua vòng sơ tuyển và tiến hành tìm kiếm thông tin về họ làm căn cứ để đưa ra được chiến lược tranh thầu thích hợp trong bước tiếp theo. Chuẩn bị và lập HSDT Trong bước này, trước hết, NT sẽ nhận được một bộ HSMT do BMT cung cấp gồm các nội dung sau: Thư mời thầu; Chỉ dẫn đối với NT; Bảng dữ liệu đấu thầu; Tiêu chuẩn đánh giá; Mẫu đơn dự thầu; Tiến độ thi công; Bản thiết kế kỹ thuật và bảng tiên lượng; Mẫu bảo lãnh dự thầu và bảo lãnh thực hiện hợp đồng; Mẫu thảo thuận hợp đồng và các tài liệu khác. Công việc đầu tiên của NT là tiến hành nghiên cứu kĩ HSMT. Đây là công việc rất quan trọng vì nó là xuất phát điểm để NT lập HSDT và xác định xem khả năng của mình có thể đáp ứng được các yêu cầu của BMT hay không. Đối với những vấn đề chưa rõ trong HSMT, NT có thể tìm được lời giải thông qua hội nghị tiền thầu do BMT tổ chức hoặc trao đổi công khai bằng văn bản với BMT. Để thực hiện tốt những công việc tiếp theo là NT nên thực hiện đúng theo những điều đã chỉ ra trong phần chỉ dẫn đối với NT của HSMT . Tiếp theo, NT có thể xin phép chủ đầu tư cho đi thăm công trường để khảo sát nếu thấy cần thiết. Chi phí cho việc đi thực tế này do NT chịu. Sau khi nắm chắc nhiều thông tin về các phương diện, NT mới tiến hành công việc quan trọng nhất của quá trình dự thầu và quyết địng khả năng thắng thầu đó là lập HSDT. Nội dung của HSDT thường bao gồm: - Đơn dự thầu - Bản chụp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc chứng chỉ nghề nghiệp (có công chứng). - Tài liệu giới thiệu năng lực NT. - Biện pháp thi công tổng thể và biện pháp thi công chi tiết các hạng mục công trình. Nguyễn Thị Minh 11 Lớp K3-KTĐT Khóa luận tốt nghiệp  Trường ĐH Kinh tế và QTKD - Tổ chức thi công và tiến độ thực hiện hợp đồng. - Bản dự toán giá dự thầu. - Bảo lãnh dự thầu. Trong bước công việc này thì những công việc quan trọng và đòi hỏi nhiều công sức đó là: lập biện pháp thi công, tổ chức thi công và bản dự toán giá dự thầu. Các NT cần chú ý rằng giá dự thầu chỉ được đưa ra trên cơ sơ đã có biện pháp thi công và tổ chức thi công hợp lý vì giá dự thầu phản ánh chính sách nhận thầu của NT, phản ánh biện pháp thi công và tổ chức thi công. Do vậy giá dự thầu cũng nằm trong chiến lược cạnh tranh của Công ty. Nộp HSDT và tham gia mở thầu Việc nộp HSDT sẽ diễn ra theo đúng thời gian và địa điểm đã quy định trong HSMT. NT sẽ phải nộp bộ HSDT cho BMT trong tình trạng niêm phong. Thông thường, BMT sẽ yêu cầu NT nộp một bộ HSDT gốc và một số nhất định các bộ sao được bỏ chung vào một túi. Cùng với việc nộp HSDT, NT cũng sẽ phải nộp cho BMT một số tiền bảo lãnh dự thầu bằng từ 1% đến 3% tổng giá trị ước tính giá bỏ thầu hoặc một mức giá nhất định. Tiền bảo lãnh dự thầu sẽ được trả lại cho những NT không đạt kết quả sau khi công bố trúng thầu không quá 30 ngày kể từ ngày công bố. NT không được nhận lại tiền bảo lãnh dự thầu trong các trường hợp : - Rút HSDT sau khi đóng thầu mà HSDT vẫn còn hiệu lực; - Trong thời hạn 30 ngày kể từ khi nhận được thông báo trúng thầu của BMT mà không tiến hành hoặc từ chối tiến hành thương thảo, hoàn thiện hợp đồng hoặc đã thương thảo, hoàn thiện xong nhưng từ chối ký hợp đồng mà không có lý do chính đáng; - Không thực hiện biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng trước khi ký hợp đồng hoặc trước khi hợp đồng có hiệu lực. Đến thời gian quy định (có thể trùng với thời gian nộp HSDT), NT được tham gia vào cuộc mở thầu do BMT tổ chức tại địa điểm mà BMT đã quy định trong HSDT.Trong cuộc họp mở thầu, BMT thường công khai hai chỉ Nguyễn Thị Minh 12 Lớp K3-KTĐT Khóa luận tốt nghiệp  Trường ĐH Kinh tế và QTKD tiêu là giá bỏ thầu và thời gian thi công của từng NT. Đây là những thông tin mà nhà NT cần lưu giữ để làm căn cứ rút kinh nghiệm và đánh giá đối thủ cạnh tranh cho những lần dự thầu tiếp theo. Ký kết hợp đồng thi công (nếu trúng thầu ). Nếu nhận được thông báo trúng thầu của BMT, NT trúng thầu phải gửi cho BMT thông báo chấp nhận đàm phán hợp đồng trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được thông báo trúng thầu. Sau đó, theo lịch đã thống nhất, hai bên tiến hành đàm phán và ký kết hợp đồng. NT trúng thầu cũng phải nộp cho BMT một khoản bảo lãnh hợp đồng bằng từ 10% đến 15%tổng giá trị hợp đồng và được nhận lại bảo lãnh dự thầu .Bảo lãnh thực hiện hợp đồng có hiệu lực đến khi thời gian bảo lãnh của hợp đồng hết hạn. Việc tiến hành đàm phán, ký kết họp đồng bao thầu công trình phải theo đúng luật để hợp đồng phù hợp với luật pháp quy định và kế hoạch của nhà nước, phù hợp với nguyên tắc bình đẳng hai bên cùng có lợi, có thưởng phạt .  Tiêu chuẩn đánh giá và đánh giá HSDT xây lắp Quá trình đánh giá HSDT xây lắp thực hiện theo hai bước, đó là đánh giá sơ bộ và đánh giá chi tiết.  Đánh giá sơ bộ HSDT Đánh giá sơ bộ được thực hiện đối với đề xuất kỹ thuật nhằm kiểm tra tính hợp lệ của NT cũng như của HSDT. NT không hợp lệ có thể là NT hiện không được phép tham gia vào hoạt động đấu thầu. NT không hợp lệ còn có thể là NT mà năng lực chuyên môn và kinh nghiệm không đáp ứng yêu cầu tối thiểu do BMT đã quy định trong HSMT. BMT sẽ xem xét tính hợp lệ và sự đáp ứng cơ bản của từng HSDT đối với các quy định trong HSMT nhằm xác định các HSDT đủ tư cách để xem xét tiếp . Các HSDT được coi là đáp ứng cơ bản yêu cầu của HSMT khi thoả mãn yêu cầu, điều kiện và đặc điểm kỹ thuật của HSMT, không có những sai lệch hoặc hạn chế về tài liệu làm ảnh hưởng lớn tới quy mô, chất lượng hoặc việc thực hiện gói thầu, không hạn chế quyền hạn của BMT hoặc nghĩa vụ của NT. Nguyễn Thị Minh 13 Lớp K3-KTĐT Khóa luận tốt nghiệp  Trường ĐH Kinh tế và QTKD Các nội dung chính sau đây thường được xem xét, kiểm tra : - Giấy đăng kí kinh doanh - Số lượng bản chính, bản sao chụp HSDT theo yêu cầu của HSMT - Đơn dự thầu được điền đầy đủ và có chữ kí hợp lệ của người được uỷ quyền kèm theo giấy uỷ quyền - Sự hợp lệ của bảo lãnh dự thầu - Biểu giá chào, biểu giá phân tích một số đơn giá chính( nếu có) - Năng lực và kinh nghiệm của NT - Các phụ lục, tài liệu kèm theo khác theo yêu cầu HSMT Kiểm tra năng lực tài chính……  Đánh giá chi tiết HSDT Đánh giá chi tiết HSDT xây lắp được thực hiện theo phương pháp sử dụng giá đánh giá theo hai nội dung kỹ thuật và tài chính. Bước 1: Đánh giá đề xuất kỹ thuật Đề xuất kỹ thuật là bản mô tả năng lực kỹ thuật của NT và biện pháp kỹ thuật cụ thể để thực hiện gói thầu. Đối với NT xây lắp, ngoài kinh nghiệm chuyên môn của đội ngũ nhân sự thì năng lực kỹ thuật còn được thể hiện qua số lượng và chất lượng máy móc, thiết bị thi công XD. Để đánh giá biện pháp kỹ thuật thực hiện gói thầu của các NT thì BMT sử dụng các tiêu chí đánh giá đã được nêu trong HSMT bằng cách cho điểm hoặc dùng cách trả lời Đạt/ Không đạt. * Đối với tiêu chí đánh giá bằng cách cho điểm : tùy theo tính chất và yêu cầu của gói thầu mà có thể quy định mức điểm yêu cầu tối thiểu đối với một số tiêu chuẩn tổng quát (nếu thấy cần thiết). Tổng hợp chung về mặt kỹ thuật, mức điểm yêu cầu tối thiểu không được quy định thấp hơn 70% tổng số điểm. Đối với gói thầu có yêu cầu kỹ thuật cao, mức quy định này không thấp hơn 80%. HSDT có tổng số điểm (cũng như số điểm của từng nội dung nếu có yêu cầu) đạt bằng hoặc vượt mức điểm yêu cầu tối thiểu sẽ được đánh giá là đạt yêu cầu kỹ thuật và được chuyển sang xem xét đề xuất tài chính. Nguyễn Thị Minh 14 Lớp K3-KTĐT Khóa luận tốt nghiệp  Trường ĐH Kinh tế và QTKD * Đối với tiêu chí đánh giá “đạt”, “không đạt”: tùy theo tính chất của từng gói thầu mà xác định mức độ yêu cầu đối với từng nội dung về kỹ thuật. Đối với các nội dung được coi là các yêu cầu cơ bản của HSDT, chỉ sử dụng tiêu chí “đạt”, “không đạt”. Đối với các nội dung yêu cầu không cơ bản, ngoài tiêu chí “đạt”, “không đạt”, được áp dụng thêm tiêu chí “chấp nhận được” nhưng không được vượt quá 30% tổng số các nội dung yêu cầu trong tiêu chuẩn đánh giá. Một HSDT được đánh giá là đáp ứng yêu cầu về mặt kỹ thuật khi có tất cả nộidung yêu cầu cơ bản đều được đánh giá là “đạt”, các nội dung yêu cầu không cơ bản được đánh giá là “đạt” hoặc “chấp nhận được”. Các gói thầu xây lắp khác nhau về quy mô và về yêu cầu kỹ thuật được đánh theo những tiêu chuẩn khác nhau như: - Tính hợp lý và khả thi của các giải pháp kỹ thuật, biện pháp tổ chức thi công và biện pháp đảm bảo kỹ thuật. - Mức độ đáp ứng về các yêu cầu kỹ thuật, chất lượng vật tư. - Mức độ đáp ứng về thiết bị thi công. - Các biện pháp đảm bảo an toàn, vệ sinh môi trường, phòng cháy chữa cháy. - ……………… Bước 2: Đánh giá đề xuất tài chính Trong đấu thầu thì giá chào thầu của các NT không phải là cơ sở duy nhất để lựa chọn NT vì giá chào thầu có thể được các NT XD theo những điều kiện thực hiện khác nhau. Vì vậy để đánh giá được chính xác đề xuất về giá của các NT, BMT cần XD lại giá chào thầu trên cơ sở các điều kiện thực hiện gói thầu như nhau hay còn gọi là mặt bằng đánh giá chung. Giá chào thầu được BMT xác định lại trên cơ sở mặt bằng đánh giá chung gọi là giá đánh giá. Giá đánh giá dùng để so sánh các HSDT và lựa chọn NT. Trình tự xác định giá đánh giá : xác định giá dự thầu; sửa lỗi; hiệu chỉnh sai lệch; giá dự thầu sau sửa lỗi, hiệu chỉnh sai lệch và giảm giá; chuyển đổi giá giá dự thầu sau, hiệu chỉnh sai lệch và giảm giá sang một đồng tiền chung(nếu có); xác định mặt bằng so sánh và giá đánh giá. Nguyễn Thị Minh 15 Lớp K3-KTĐT Khóa luận tốt nghiệp  Trường ĐH Kinh tế và QTKD Mặt bằng giá đánh giá chung bao gồm các yếu tố mặt bằng kỹ thuật, mặt bằng tiến độ, mặt bằng tài chính, ưu đãi trong đấu thầu quốc tế,….NT có HSDT với giá đánh giá thấp nhất sẽ được xếp thứ nhất. 1.1.2. Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình dự thầu XD. 1.1.2.1.Khái niệm về cạnh tranh và khả năng cạnh tranh  Cạnh tranh Khái niệm cạnh tranh: Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong nền kinh tế nói riêng là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau. Khái niệm này được sử dụng cho cả phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc gia vv…điều này chỉ khác nhau ở chỗ mục tiêu được đặt ra đối với quy mô doanh nghiệp hay ở quốc gia mà thôi. Trong khi đối với các doanh nghiệp mục tiêu chủ yếu là tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở cạnh tranh quốc gia hay quốc tế, thì đối với một quốc gia mục tiêu là nâng cao mức sống và phúc lợi cho nhân dân vv… - Theo từ điển kinh doanh (xuất bản năm 1992 ở Anh) thì cạnh tranh trong cơ chế thị trường được định nghĩa là “Sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại hàng hóa về phía mình. - Theo từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 1) Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ có lợi nhất. Cạnh tranh là một đặc trưng cơ bản của cơ chế thị trường. Không có cạnh tranh thì không có nền kinh tế thị trường. Nền kinh tế thị trường khi vận hành phải tuân thủ theo những quy luật khách quan riêng của mình, trong đó có quy luật cạnh tranh. Theo quy luật này, các doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị, công nghệ, nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm để giành ưu thế so với đối thủ của mình. Kết quả là kẻ mạnh cả về khả năng vật chất và trình độ kinh doanh sẽ là người chiến thắng. Nguyễn Thị Minh 16 Lớp K3-KTĐT Khóa luận tốt nghiệp  Trường ĐH Kinh tế và QTKD Tác dụng của cạnh tranh Cạnh tranh là động lực hay như A-đam X-mít gọi là "bàn tay vô hình "thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Nếu lợi nhuận thúc đẩy các cá nhân tiến hành sản xuất kinh doanh thì cạnh tranh lại bắt buộc và thôi thúc họ phải điều hành các hoạt động sản xuất kinh doanh một cách có hiệu quả cao nhất . Ngoài mặt tích cực Cạnh tranh cũng đem lại những hệ quả không mong muốn về mặt xã hội. Nó làm thay đổi cấu trúc xã hội trên phương diện sở hữu của cải, phân hóa mạnh mẽ giàu nghèo, có những tác động tiêu cực khi cạnh tranh không lành mạnh, dùng các thủ đoạn vi phạm pháp luật hay bất chấp pháp luật. Các hình thức cạnh tranh Dựa vào các tiêu chí khác nhau, cạnh tranh được phân ra thành nhiều loại. Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường: Cạnh tranh được chia làm ba loại: Cạnh tranh giữa người mua và người bán: người bán muốn bán hàng hóa của mình với giá cao nhất, còn người mua muốn mua với giá thấp nhất. Giá cả cuối cùng được hình thành sau quá trình thương lượng giữa hai bên. Cạnh tranh giữa những người mua với nhau: Mức độ cạnh tranh phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường. Khi cung nhỏ hơn cầu thì cuộc cạnh tranh trở nên gay gắt, giá cả hàng hóa và dịch vụ sẽ tăng lên, người mua phải chấp nhận giá cao để mua được hàng hóa mà họ cần. Cạnh tranh giữa những người bán với nhau: là cuộc cạnh tranh nhằm giành giật khách hàng và thị trường, kết quả là giá cả giảm xuống và có lợi cho người mua. Trong cuộc cạnh tranh này doanh nghiệp nào tỏ ra đuối sức, không chịu được sức ép phải rút lui khỏi thị trường, nhường thị phần của mình cho các đối thủ mạnh hơn. Căn cứ theo phạm vi ngành kinh tế: Cạnh tranh được phân thành hai loại: Cạnh tranh nội bộ ngành: là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hóa dịch vụ. Kết quả của cuộc cạnh tranh này là làm cho kỹ thuật phát triển. Nguyễn Thị Minh 17 Lớp K3-KTĐT Khóa luận tốt nghiệp  Trường ĐH Kinh tế và QTKD Cạnh tranh giữa các ngành: là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành kinh tế với nhau nhằm thu được lợi nhuận cao nhất. Trong quá trình này có sự phân bổ vốn đầu tư một cách tự nhiên giữa các ngành, kết quả là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân. Căn cứ vào tính chất cạnh tranh: Cạnh tranh được phân thành ba loại Cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition): là hình thức cạnh tranh giữa nhiều người bán trên thị trường trong đó không người nào có đủ ưu thế khống chế giá cả trên thị trường. Các sản phẩm bán ra đều được xem là đồng thức, tức là không khác nhau về quy cách, phẩm chất mẫu mã. Để chiến thắng trong cuộc cạnh tranh các doanh nghiệp buộc phải tìm cách giảm chi phí, hạ giá thành hoặc làm khác biệt hóa sản phẩm của mình so với các đối thủ cạnh tranh. Cạnh tranh không hoàn hảo (Imperfect Competition): là hình thức cạnh tranh giữa những người bán có sản phẩm không đồng nhất với nhau. Mỗi sản phẩm đều mang hình ảnh hay uy tín khác nhau cho nên để giành được ưu thế trong cạnh tranh, người bán phải sử dụng các công cụ hỗ trợ bán như: quảng cáo, khuyến mại, cung cấp dịch vụ, ưu đãi giá cả, đây là loại hình cạnh tranh phổ biến trong giai đoạn hiện nay. Cạnh tranh độc quyền (Monopolistic Competition): trên thị trường có một hoặc một số ít người bán một sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó, giá cả của sản phẩm hoặc dịch vụ đó trên thị trường sẽ do họ quyết định không phụ thuộc vào quan hệ cung cầu. Căn cứ vào thủ đoạn sử dụng trong cạnh tranh: Cạnh tranh được chia thành hai loại Cạnh tranh lành mạnh: là cạnh tranh đúng luật pháp, phù hợp với chuẩn mực xã hội và được xã hội thừa nhận, nó thường diễn ra sòng phẳng, công bằng và công khai. Cạnh tranh không lành mạnh: là cạnh tranh dựa vào kẽ hở của pháp luật, trái với chuẩn mực của xã hội và bị xã hội lên án (trốn thuế, buôn lậu, móc ngoặc, khủng bố…) Nguyễn Thị Minh 18 Lớp K3-KTĐT  Khóa luận tốt nghiệp  Trường ĐH Kinh tế và QTKD Khả năng cạnh tranh Trong tình hình kinh tế thị trường như hiện nay, sự cạnh tranh giữa các quốc gia tăng lên, hầu hết tất cả các thị trường đều quốc tế hoá. Chỉ có những doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh mới tồn tại được trong môi trường này. Vì vậy, việc nghiên cứu khả năng cạnh tranh được sự quan tâm của những người đứng đầu doanh nghiệp. Nhưng phải hiểu khả năng cạnh tranh như thế nào? Sự giải thích và giải thích khái niệm đó chưa được thống nhất. Đối với một số, nó là một khả năng đấu tranh với những người cạnh tranh và đánh bại họ. Đối với số khác, nó có nghĩa là phải sản xuất với giá thành thấp, bán với giá thấp trong khi phải giữ cho được chất lượng . 1.1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp XD trong quá trình dự thầu XD.  Chỉ tiêu số lượng công trình trúng thầu và giá trị trúng thầu hàng năm Tổng hợp và so sánh kết quả dự thầu qua các năm Năm Công trình trúng thầu Công trình Giá trị Mức tăng trưởng (%) Công trình Giá trị Giá trị TB một công trình trúng thầu (1) (2) (3) (4) (5) Về việc xem xét theo từng cột: Cột 1 và cột 2 cho biết qui mô trúng thầu hàng năm : cột 3 và cột 4 cho biết mức tăng trưởng qua từng năm được tính toán bằng việc so sánh qui mô của năm sau với năm trước : cột 5 cho biết qui mô giá trị bình quân một công trình trúng thầu biểu hiện khả năng của doanh nghiệp có thể tham gia đấu thầu và trúng thầu các công trình có qui mô lớn hay nhỏ.  Chỉ tiêu tỷ lệ trúng thầu Chỉ tiêu này được xác định theo hai mặt biểu hiện là: * Tỷ lệ trúng thầu theo = số công trình * Tỷ lệ trúng thầu theo = giá trị Nguyễn Thị Minh Tổng số công trình trúng thầu Tổng số công trình đã dự thầu Tổng giá trị trúng thầu Tổng giá trị công trình đã dự thầu 19 *100% *100% Lớp K3-KTĐT  Khóa luận tốt nghiệp Trường ĐH Kinh tế và QTKD  Chỉ tiêu thị phần và uy tín của doanh nghiệp XD trên thị trường XD . Do đấu thầu là một hình thức cạnh tranh đặc thù của các doanh nghiệp XD nên chất lượng của công tác dự thầu, xét cho đến cùng cũng là một trong các biểu hiện chủ yếu khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp. Mặt khác, khả năng cạnh tranh lại được đánh giá thông qua hai chỉ tiêu tổng quát là thị phần và uy tín của doanh nghiệp . Chỉ tiêu thị phần cũng được đo bằng hai mặt biểu hiện đó là phần thị trường tuyệt đối và thị trường tương đối. * Phần thị trường tuyệt đối = Giá trị SLXL do Doanh nghiệp thực hiện Tổng giá trị SLXLthực hiện của toàn ngành * Phần thị trường tương đối của doanh nghiệp được xác định trên cơ sở so sánh phần thị trường tuyệt đối của doanh với phần thị trường tuyệt đối của một hoặc một số đối thủ cạnh tranh mạnh nhất. Sự thay đổi của chỉ tiêu thị phần qua các năm cũng sẽ cho phép đánh giá chất lượng của công tác dự thầu trong doanh nghiệp . Đối với chỉ tiêu uy tín của doanh nghiệp, đây là chỉ tiêu định tính mang tính chất bao trùm. Nó liên quan tới tất cả các chỉ tiêu nêu trên và nhiều yếu tố khác như: chất lượng xây lắp, hoạt động Marketing, quan hệ của doanh nghiệp với các tổ chức khác ... 1.1.2.3. Những nhân tố ảnh hưởng tới khả nănh cạnh tranh trong dự thầu XD.  Các đối thủ cạnh tranh. Trong hoạt động dự thầu, đối thủ cạnh tranh là một trong những nhân tố ảnh hưởng rất mạnh tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp XD. Các đối thủ này gây sức ép đối với doanh nghiệp chủ yếu trên hai mặt: Cạnh tranh về giá dự thầu; cạnh tranh về tiến độ và biện pháp thi công.  Các nhà cung cấp đầu vào. Hoạt động xây lắp có đặc điểm là phụ thuộc lớn vào tiến độ cung cấp nguyên vật liệu cho thi công. Vấn đề đầu vào thường gây ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp XD trên các mặt sau : Ảnh hưởng đến mức giá đưa ra; ảnh hưởng đến tiến độ thi công. Nguyễn Thị Minh 20 Lớp K3-KTĐT
- Xem thêm -