Tài liệu Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doạnh tại công ty cổ phần hợp thành phát

  • Số trang: 64 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 112 |
  • Lượt tải: 0
nguyetha

Đã đăng 8489 tài liệu

Mô tả:

CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1.1. Tổng quan về hiệu quả sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp 1.1.1. Khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh Khái niệm hiệu quả “Hiệu quả là chỉ tiêu chất lượng phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố của quá trình sản xuất được xây dựng bằng cách đối chiếu so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí, nguồn lực, thời gian để tạo ra kết quả đó”. Theo quan điểm này, nói đến kết quả sản xuất đó là nói đến mặt lượng của quá trình sản xuất, còn nói đến hiệu quả là nói đến mặt chất của hoạt động sản xuất đó, nó phản ánh trình độ sử dụng lao động đã hao phí. Khái niệm sản xuất kinh doanh Kinh doanh là hoạt động của cá nhân hay tổ chức nhằm đạt mục tiêu vốn sinh lời cao nhất thông qua hoạt động sản xuất Các khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế, gắn với cơ chế thị trường có quan hệ với tất cả các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh như lao động, vốn, máy móc,… nên doanh nghiệp chỉ có thể đạt hiệu quả cao khi việc sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh có hiệu quả. Khi đề cập đến hiệu quả sản xuất kinh doanh nhà kinh tế dựa vào từng góc độ xem xét để đưa ra các định nghĩa khác nhau. Theo P.Samuellson và W. Nordhaus thì : "hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loạt hàng hoá mà không cắt giảm một loạt sản lượng hàng hoá khác. Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của nó". Thực chất của quan điểm này đã đề cập đến khía cạnh phân bổ có hiệu quả các nguồn lực của nền sản xuất xã hội. Việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực sản xuất trên đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ làm cho nền kinh tế có hiệu quả cao. Có thể nói mức hiệu quả ở đây mà tác giả đưa ra là cao nhất, là lý tưởng và không thể có mức hiệu quả nào cao hơn nữa. Hai tác giả Whohe và Doring lại đưa ra hai khái niệm về hiệu quả kinh tế. Đó là hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị hiện vật và hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị giá trị. Theo hai ông thì hai khái niệm này hoàn toàn khác nhau. "Mối quan hệ tỷ lệ giữa sản lượng tính theo đơn vị hiện vật (chiếc, kg...) và lượng các nhân tố đầu vào (giờ lao động, đơn vị thiết bị,nguyên vật liệu...) được gọi là tính hiệu quả có tính chất kỹ thuật hay hiện vật", "Mối quan hệ tỷ lệ giữa chi phí kinh doanh phải chỉ ra trong điều kiện thuận lợi nhất và chi phí kinh doanh thực tế phải chi ra được gọi là tính hiệu quả xét về 1 mặt giá trị" và "Để xác định tính hiệu quả về mặt giá trị người ta còn hình thành tỷ lệ giữa sản lượng tính bằng tiền và các nhân tố đầu vào tính bằng tiền" Khái niệm hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị hiện vật của hai ông chính là năng suất lao động, máy móc thiết bị và hiệu suất tiêu hao vật tư, còn hiệu quả tính bằng giá trị là hiệu quả của hoạt động quản trị chi phí. Nhiều tác giả khác coi hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Quan điểm này đã đánh giá được tốt nhất trình độ lợi dụng các nguồn lực ở mọi điều kiện động của hoạt động kinh tế. Theo quan điểm này thì hoàn toàn có thể tính toán được hiệu quả kinh tế cùng sự biến động và vận động không ngừng của các hoạt động kinh tế, chúng phụ thuộc vào quy mô và tốc độ biến động khác nhau. Nếu ký hiệu: H – Hiệu quả kinh doanh K – Kết quả đạt được C – Hao phí nguồn lực gắn với kết quả đó Nếu so sánh về mặt tuyệt đối thì hiệu quả kinh doanh bằng: H=K–C Mục đích so sánh ở đây là để thấy được mức chênh lệch giữa kết quả và chi phí. Mức chênh lệch này càng lớn thì hiệu quả càng cao. Ưu điểm của phương pháp này là dễ tính toán nhưng lại có những nhược điểm sau: - Không cho phép đánh giá chất lượng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp - Không có khả năng so sánh hiệu quả giữa các thời kỳ, giữa các doanh nghiệp với nhau - Không phản ánh được năng lực tiềm tàng để nâng cao hiệu quả - Dễ đồng nhất hai phạm trù hiệu quả và kết quả. So sánh tương đối là tỷ lệ so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. H= K C Phương pháp này có ưu điểm là không những khắc phục được hết những nhược điểm của phương pháp tuyệt đối mà còn cho phép phản ánh hiệu quả ở mọi góc độ khác nhau. Tuy nhiên cách đánh giá này khá phức tạp đòi hỏi phải có quan điểm thống nhất khi lựa chọn hệ thống chỉ tiêu đo lường và đánh giá hiệu quả. [4,tr.29] 2 Thang Long University Library Có thể nói với cùng chi phí bỏ ra, kết quả mà doanh nghiệp đạt được theo hướng mục tiêu trong hoạt động của mình càng cao bao nhiêu thì hiệu quả càng lớn bấy nhiêu. Do đó hiệu quả tuyệt đối là tiền đề để xây dựng hiệu quả tương đối. Khi đánh giá hiệu quả kinh tế doanh nghiệp phải biết kết hợp cả hai cả hai phương pháp đánh giá trên. Như vậy qua các định nghĩa cơ bản đã trình bày ở trên, chúng ta hiểu được rằng hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh tế, nó phản ánh trình độ khai thác và sử dụng các nguồn lực trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh mà doanh nghiệp đã đặt ra với chi phí bỏ ra thấp nhất mà có được hiệu quả cao nhất. 1.1.2. Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh Trong cơ chế thị trường ngày càng có nhiều đối thủ cạnh tranh đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới, phát triển và nâng cao chất lượng sản phẩm của mình để đạt được hiệu quả kinh doanh ngày càng cao. Thực chất hiệu quả kinh doanh phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất (lao động, máy móc thiết bị khoa học công nghệ, vốn…) để đạt được mục tiêu cuối cùng trong hoạt động kinh doanh là tối đa hóa lợi nhuận. Các nhà quản lý thường dựa vào các chỉ tiêu tài chính để đánh giá mức độ hoạt động hiệu quả của doanh nghiệp từ đó đưa ra những quyết định trong tương lai. Để đánh gia chính xác các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh nhà quản trị cần xem xét trong mối quan hệ với hiệu quả xã hội và quan điểm về hiệu quả. Hiệu quả kinh doanh = Kết quả đầu ra Chi phí đầu vào Công thức này thể hiện cứ 1 đồng chi phí đầu vào (vốn, nhân công, nguyên vật liệu, thiết bị máy móc…) thì tạo ra bao nhiêu đồng kết quả đầu ra như doanh thu, lợi nhuận… trong một kỳ kinh doanh. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng tốt. 1.1.3. Vai trò của hiệu quả sản xuất kinh doanh Hiệu quả sản xuất kinh doanh là công cụ hữu hiệu để các nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ quản trị kinh doanh : Khi tiến hành bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào thì các doanh nghiệp đều phải huy động và sử dụng các nguồn lực mà doanh nghiệp có khả năng có thể tạo ra kết quả phù hợp với mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra. Ở mỗi giai đoạn phát triển của doanh nghiệp thì doanh nghiệp đều có nhiều mục tiêu khác nhau, nhưng mục tiêu cuối cùng bao trùm toàn bộ qúa trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận trên cơ sở sử dụng tối ưu các nguồn lực của doanh nghiệp. Để thực hiện mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận cũng như các 3 mục tiêu khác, các nhà doanh nghiệp phải sử dụng nhiều phương pháp, nhiều công cụ khác nhau. Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một trong các công cụ hữu hiệu nất để các nhà quản trị thực hiện chức năng quản trị của mình. Thông qua việc tính toán hiệu quả sản xuất kinh doanh không những cho phép các nhà quản trị kiểm tra đánh giá tính hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (các hoạt động có hiệu quả hay không và hiệu quả đạt ở mức độ nào), mà còn cho phép các nhà quản trị phân tích tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, để từ đó đưa ra được các biện pháp điều chỉnh thích hợp trên cả hai phương diện giảm chi phí tăng kết quả nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Với tư cách là một công cụ quản trị kinh doanh hiệu quả sản xuất kinh doanh không chỉ được sử dụng để kiểm tra, đánh giá và phân tích trình độ sử dụng tổng hợp các nguồn lực đầu vào trong phạm vi toàn doanh nghiệp mà còn được sử dụng để kiểm tra đánh giá trình độ sử dụng từng yếu tố đầu vào trong phạm vi toàn doanh nghiệp cũng như ở từng bộ phận cấu thành của doanh nghiệp. Do vậy xét trên phương diện lý luận và thực tiễn thì phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh đóng vai trò rất quan trọng và không thể thiếu được trong việc kiểm tra đánh giá và phân tích nhằm đưa ra các giải pháp tối ưu nhất, lựa chọn được các phương pháp hợp lý nhất để thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp đã đề ra. 1.1.4. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh  Đối với doanh nghiệp  Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh giúp doanh nghiệp khai thác tốt tiềm lực sẵn có của mình, đạt kết quả cao nhất trong khả năng tài chính của mình, tăng khả năng tự chủ về mặt tài chính, thúc đẩy mở rộng quá trình tái đầu tư, khuyến khích lao động thông qua việc tăng thêm tiền lương cho người lao động  Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là doanh nghiệp thực hiện mục tiêu tận dụng tối đa tài sản, tài nguyên, trí tuệ con người vào đầu tư tạo ra lợi nhuận mới gấp nhiều lần vốn ban đầu giúp doanh nghiệp đạt được những phát triển vượt bậc về kinh tế góp phận phát triển kinh tế đất nước.  Nền kinh tế phát triển ngày càng cao thì sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng trở nên khốc liệt. Vì vậy nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh sẽ giúp doanh nghiệp thu được lợi nhuận cao hơn với cùng số vốn ban đầu bỏ ra. Nó giúp doanh nghiệp tiết kiệm vốn, có khả năng đầu tư vào lĩnh vực mới hoặc mở rộng sản xuất kinh doanh tạo chỗ đứng vững chắc trên thị trường. 4 Thang Long University Library  Đối với nền kinh tế  Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh có tầm quan trọng lớn không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn đối với cả nền kinh tế. Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh giúp thúc đẩy sản xuất phát triển, kích thích tiêu dùng góp phần nâng cao mức sống cho người dân.  Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp đảm bảo thực hiện tốt nghĩa vụ nộp thuế và các khoản đóng góp xã hội khác cho nhà nước và địa phương, thúc đẩy quá trình tái sản xuất mở rộng thị trường, góp phần làm giảm lạm phát, nâng cao giá trị của đồng tiền. 1.1.5. Các phương pháp phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Phân tích hoạt động kinh doanh là sử dụng những số liệu thu thập được trong quá trình kinh doanh để nghiên cứu với mục tiêu cuối cùng là tìm ra được những ưu điểm, tồn tại, cơ hội, thách thức… Từ đó, doanh nghiệp sẽ có nhìn nhận đúng đắn hơn về công ty và khả năng phát triển công ty để xác định đúng mục tiêu, phương án kinh doanh để mang lại lợi nhuận cao nhất cho công ty.  Phương pháp so sánh Đây là phương pháp chủ yếu dùng trong phân tích hoạt động kinh doanh để xác định xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích. Khi sử dụng phương pháp so sánh cần đảm bảo những điều kiện như các chỉ tiêu phải thống nhất về nội dung kinh tế; đảm bảo tính thống nhất về phương pháp tính; đảm bảo tính thống nhất về đơn vị tính các chỉ tiêu về cả số lượng, thời gian và giá trị. Trên cơ sở đó, phương pháp so sánh dùng để:  So sánh số liệu của kỳ phân tích với số liệu của kỳ kế hoạch để thấy được mức độ hoàn thành của doanh nghiệp  So sánh số liệu của doanh nghiệp mình với các doanh nghiệp khác hoặc với trung bình ngành, để thấy được khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp  So sánh số liệu của kỳ này với số liệu của các kỳ trước để đánh giá xu hướng biến động (tăng hay giảm) của các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh. Việc so sánh có thể được phân tích qua các giá trị tuyệt đối hoặc tương đối, theo chiều dọc (phản ánh tỷ trọng của từng chỉ tiêu đối với tổng thể) hay theo chiều ngang (phản ánh sự thay đổi về lượng, về tỷ lệ qua từng thời điểm). Ngoài ra doanh nghiệp còn phải nắm rõ tình hình của mình bằng cách so sánh với các công ty cùng ngành, cùng quy mô,… để xác định được vị trí hiện tại của doanh nghiệp. 5  Phương pháp tỷ lệ Phương pháp tỷ lệ là các tỷ số đơn giữa các chỉ tiêu này so với chỉ tiêu khác, ví dụ như:  Tỷ lệ về khả năng sinh lời (phản ánh hiệu quả lợi nhuận tổng quan của doanh nghiệp)  Tỷ lệ về khả năng thanh toán (đánh giá khả năng chi trả các khoản nợ của doanh nghiệp). Những chỉ tiêu này có thể được thể hiện bằng nhiều cách khác nhau phụ thuộc vào từng mục tiêu, ý nghĩa của chỉ tiêu muốn biểu thị. Một số tỷ số được thể hiện theo hình thức tỷ số, phần trăm hoặc số lần. Phương pháp này giúp các nhà quản trị điều chỉnh hợp lý hơn các khoản mục tài chính, cũng như phán đoán về khả năng thực hiện hoạt động kinh doanh trong tương lai dựa trên tình hình đã phân tích.  Phương pháp đồ thị Phương pháp đồ thị là phương pháp mô tả và phân tích các hiện tượng kinh tế dưới dạng khác nhau của đồ thị: biểu đồ tròn, cột, các đường cong của đồ thị…  Biểu đồ tròn, doughnut thường phản ánh quy mô, các thành phần trong một yếu tố nào đó.  Biểu đồ đường, thanh, miền, cột biểu thị nhiều yếu tố, nhiều mối quan hệ chi tiết hơn trong một khoảng thời gian dài. Phương pháp đồ thị có tính khái quát cao, đặc biệt có tác dụng khi mô tả, phân tích các hiện tượng kinh tế tổng quát. 1.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh 1.2.1. Nhóm chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán Khả năng thanh toán của doanh nghiệp thể hiện tình trạng tài chính của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có tình trạng tài chính tốt, lành mạnh cho thấy doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả và có đủ khả năng thanh toán. Khả năng thanh toán của doanh nghiệp được thể hiện ở nhiều chỉ tiêu như: Khả năng thanh toán ngắn hạn, khả ngăng thanh toán nhanh và khả năng thanh toán tức thời. 6 Thang Long University Library  Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn dùng để đo lường khả năng trả các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp (như nợ và các khoản phải trả) bằng các tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp (như tiền mặt, các khoản phải thu, hàng tồn kho)… Hệ số thanh toán tổng quát = Tổng tài sản Nợ phải trả Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn = Tài sản ngắn hạn Nợ ngắn hạn Khả năng thanh toán ngắn hạn cho biết mỗi đồng nợ ngắn hạn được bù đắp bằng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn, vì vậy đây là chỉ tiêu phản ánh tổng quát nhất khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền để thanh toán nợ ngắn hạn cho doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng cao càng thể hiện khả năng các khoản nợ ngắn hạn sẽ được thanh toán kịp thời, mức độ an toàn và tự chủ tài chính của doanh nghiệp tốt. Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn < 1 là tài sản ngắn hạn không đủ bù đắp cho nợ ngắn hạn. Mặc dù với tỷ lệ nhỏ hơn 1, có khả năng không đạt tình hình tài chính tốt nhưng điều đó không có nghĩa là công ty sẽ bị phá sản vì có rất nhiều cách để công ty huy động thêm vốn.  Khả năng thanh toán nhanh Khả năng thanh toán nhanh được hiểu là khả năng doanh nghiệp dùng tiền hoặc tài sản có thể chuyển đổi thành tiền để trả nợ ngay khi đến hạn hoặc quá hạn. Khả năng thanh toán nhanh= TSNH Hàng tồn kho Nợ ngắn hạn Nếu chỉ tiêu này lớn hơn 1 chứng tỏ doanh nghiệp hoản toàn đảm bảo được khả năng thanh toán nhanh các khoản nợ đến hạn, doanh nghiệp đang ở trạng thái an toàn. Ngược lại nếu chỉ tiêu này nhỏ hơn 1, kéo dài liên tiếp qua các thời điểm, chứng tỏ doanh nghiệp không bảo đảm khả năng thanh toán nợ đến hạn, quá hạn và do vậy rủi ro lâm vào tình trạng phá sản có thể xảy ra.  Khả năng thanh toán tức thời Khả năng thanh toán tức thời= Tiền+tương đương tiền Nợ ngắn hạn Chỉ tiêu này thể hiện khả năng bù đắp nợ ngắn hạn bằng số tiền đang có của doanh nghiệp. Do tiền có tầm quan trọng đặc biệt quyết định tính thanh toán nêm chỉ tiêu này được sử dụng nhằm đánh giá khắt khe khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp. Hệ số khả năng thanh toán tức thời cao cho thấy doanh nghiệp luôn có 7 khả năng thanh toán tức thời các khoản nợ, mức độ an toàn của doanh nghiệp ổn định, thúc đẩy hoạt động kinh doanh phát triển. 1.2.2. Nhóm chỉ tiêu đánh giá khả năng hoạt động  Số vòng quay hàng tồn kho Hệ số vòng quay hàng tồn kho thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho. Vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hóa hàng tồn kho bình quân lưu chuyển trong kỳ. Hệ số vòng quay hàng tồn kho được xác định bởi công thức: Số vòng quay hàng tồn kho = HTK trung bình= Giá vốn hàng bán Hàng tồn kho trung bình HTK đầu kỳ + HTK cuối kỳ 2 Hệ số vòng quay hàng tồn kho thường được so sánh qua các năm để đánh giá năng lực quản trị hàng tồn kho là tốt hay xấu qua từng năm. Hệ số này lớn cho thấy hàng tồn kho vận động không ngừng đó là nhân tố để tăng doanh thu, góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Hệ số vòng quay hàng tồn kho càng cao cho thấy doanh nghiệp bán hàng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều. Có nghĩa là doanh nghiệp sẽ ít rủi ro hơn nếu khoản mục hàng tồn kho trong báo cáo tài chính có giá trị giảm qua các năm. Tuy nhiên nếu hệ số này quá cao có nghĩa là lượng hàng dự trữ trong kho không nhiều, nếu nhu cầu thị trường tăng đột ngột thì rất có khả năng doanh nghiệp sẽ bị mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần. Vì vậy, doanh nghiệp cần phải tính toán để hệ số quay vòng hàng tồn kho thật hợp lý để vừa đảm bảo mức độ sản xuất và đáp ứng được nhu cầu khách hàng, vừa đảm bảo doanh nghiệp gặp ít rủi ro nhất.  Thời gian quay vòng hàng tồn kho Thời gian quay vòng hàng tồn kho = 365 Số vòng quay hàng tồn kho Chỉ tiêu này cho biết một vòng quay của hàng tồn kho mất bao nhiêu ngày, chỉ tiêu này càng thấp, chứng tỏ hàng tồn kho vận động nhanh đó là nhân tố góp phần tăng doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp. Chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho và thời gian quay vòng hàng tồn kho tỷ lệ nghịch với nhau. Vòng quay tăng thì số ngày chu chuyển giảm và ngược lại.  Vòng quay các khoản phải thu Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ biến đổi các khoản phải thu thành tiền mặt. Hệ số này là một thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. 8 Thang Long University Library Vòng quay các khoản phải thu = Doanh thu thuần Các khoản phải thu trung bình Chỉ tiêu này cho biết mức hợp lý của số dư các khoản phải thu và hiệu quả của việc đi thu hồi nợ. Hệ số quay vòng các khoản phải thu càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi nợ của doanh nghiệp càng nhanh, khả năng chuyển đổi các khoản nợ phải thu sang tiền mặt cao, điều này giúp cho doanh nghiệp nâng cao luồng tiền mặt, tạo ra sự chủ động trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất và ngược lại. Tuy nhiên nếu chỉ tiêu này quá cao có thể do phương thức thanh toán tiền của doanh nghiệp quá chặt chẽ, khi đó ảnh hưởng đến sản lượng tiêu thụ.  Thời gian một vòng quay phải thu của khách hàng Phát sinh nợ phải thu khách hàng là điều không thể tránh khỏi trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp bán hàng trả chậm là một trong các biện pháp để thu hút khách hàng, tăng cường doanh thu cho doanh nghiệp. Tuy nhiên nếu khách hàng nợ nhiều trong thời gian dài sẽ chiếm dụng nhiều vốn của doanh nghiệp, vì vậy ảnh hưởng không tốt tới dòng tiền và suy giảm khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Thời gian một vòng quay phải thu khách hàng được xác định theo công thức: Thời gian một vòng quay phải thu khách hàng = 365 Số vòng quay các khoản phải thu Chỉ tiêu này càng ngắn chứng tỏ tốc độ thu hồi tiền hàng càng nhanh, doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn. Ngược lại thời gian của một vòng quay càng dài chứng tỏ tốc độ thu hồi tiền hàng càng chậm, số vốn doanh nghiệp bị chiếm dụng nhiều.  Vòng quay các khoản phải trả Giá vốn hàng bán + Chi phí chung, chi phí lãi vay Chi phí quản lý Số vòng quay các khoản phải trả = PTNB +Lương, thưởng, thuế phải nộp Chỉ số vòng quay các khoản phải trả nhỏ (các khoản phải trả lớn) chứng tỏ doanh nghiệp chiếm dụng vốn lớn, tuy việc chiếm dụng vốn này có thể sẽ giúp doanh nghiệp giảm được chi phí lãi vay nhưng sẽ làm giảm uy tín về quan hệ thanh toán của doanh nghiệp đối với nhà cung cấp. Ngược lại nếu chỉ số vòng quay các khoản phải trả cao chứng tỏ doanh nghiệp thanh toán tiền hàng kịp thời, ít chiếm dụng vốn. Tuy nhiên chỉ tiêu này cao quá có thể do doanh nghiệp thừa tiền luôn thanh toán trước thời hạn, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn. Thời gian quay vòng các khoản phải trả 9 360 Số vòng quay các khoản phải trả Người phân tích có thể so sánh chỉ tiêu số ngày của một vòng quay các khoản phải trả với thời hạn thanh toán thông thường của các hợp đồng mua hàng. Nếu chỉ tiêu này lớn hơn có nghĩa là doanh nghiệp đã không kiểm soát tốt các khoản nợ phải trả của mình. Điều này có thể sẽ gây ra ảnh hưởng xấu đối với hoạt động kinh doanh  Thời gian quay vòng của tiền Thời gian quay vòng của tiền là một thước đo được sử dụng trong phân tích tài chính của doanh nghiệp, để đánh giá khả năng quản lý dòng tiền của doanh nghiệp. Thời gian quay vòng của tiền = Thời gian quay vòng kho + Thời gian PTKH Thời gian quay vòng khoản phải trả Thời gian quay vòng của tiền càng cao thì lượng tiền mặt của doanh nghiệp càng khan hiếm cho hoạt động kinh doanh và các hoạt động đầu tư khác. Doanh nghiệp sẽ mất thêm chi phí cho việc vay vốn trong khi vẫn phải chờ khách hàng trả nợ cho mình. Ngược lại nếu chỉ số này nhỏ nghĩa là khả năng quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp tốt. 1.2.3. Nhóm chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời  Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) Mục tiêu cuối cùng của nhà quản trị không phải doanh thu mà là lợi nhuận sau thuế. Vì vậy để tăng lợi nhuận sau thuế doanh nghiệp cần phải duy trì tốc độ tăng của doanh thu nhanh hơn tốc độ tăng của chi phí, khi đó mới có sự tăng trưởng bền vững. Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên doanh thu phản ánh khoản thu nhập ròng của công ty so với doanh thu của nó. Tỷ suất sinh lời của doanh thu (ROS)= Lợi nhuận sau thuế Doanh thu ầ 100 Tỷ suất này phản ánh kết quả cuối cùng của hoạt động kinh doanh, chỉ tiêu này cho biết trong 100 đồng doanh thu thuần thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng chi phí càng tốt. Ngược lại chỉ tiêu này thấp nhà quản trị cần có các chiến lược đẩy nhanh công tác bán hàng và tăng cường kiểm soát chi phí của các bộ phận.  Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) Chỉ tiêu thể hiện khả năng tạo ra lợi nhuận sau thuế của tài sản mà doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động kinh doanh. Tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA)= Thu nhập sau thuế Tổng tài sản 100 10 Thang Long University Library Chỉ tiêu này cho biết 100 đồng tài sản sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế, chỉ tiêu này càng cao phản ảnh hiệu quả sử dụng tài sản tốt, đó là một tiêu chí giúp nhà quản trị xem xét việc có nên đầu tư thêm máy móc thiết bị, nhà xưởng,… phục vụ cho việc kinh doanh.  Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản thông qua mô hình Dupont Mô hình Dupont là kỹ thuật có thể được sử dụng để phân tích khả năng sinh lời của một công ty bằng các công cụ quản lý hiệu quả truyền thống. Sử dụng mô hình Dupont trong phân tích báo cáo tài chính nhà quản trị có thể đánh giá được hiệu quả kinh doanh một cách sâu sắc và toàn diện. Đồng thời đánh giá đầy đủ và khách quan đến những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Thông qua phân tích mô hình Dupont các nhà quản trị sẽ đề ra được các biện pháp nhằm tăng cường công tác cải tiến tổ chức quản lý doanh nghiệp, góp phần không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp qua các kỳ tiếp theo. Mục đích của mô hình tài chính Dupont là phân tích khả năng sinh lời của một đồng tài sản mà doanh nghiệp sử dụng dưới sự ảnh hưởng cụ thể của những bộ phận tài sản, chi phí, doanh thu. Mô hình Dupont thường được vận dụng trong phân tích chỉ tiêu ROA, cụ thể như sau: ROA= Lợi nhuận sau thuế Doanh thu Doanh thu Giá trị bình quân tổng tài sản Hay, ROA=Tỷ suất sinh lời của doanh thu (ROS) Giá trị bình quân tổng tài sản= Số vòng quay của tài sản Tổng tài sản đầu năm + Tổng tài sản cuối năm 2 Từ mô hình chi tiết ở trên có thể thấy để nâng cao khả năng sinh lời của một đồng tài sản mà doanh nghiệp đang sử dụng, các nhà quản trị cần phải nghiên cứu và xem xét để tìm ra những biện pháp giúp nâng cao không ngừng khả năng sinh lời của doanh thu và sự vận động của tài sản. Muốn làm cho tỷ suất sinh lời của tài sản lớn cần phải nâng cao số vòng quay của tài sản. Số vòng quay của tài sản càng cao chứng tỏ sức sản xuất tài sản của doanh nghiệp càng lớn. Doanh nghiệp cần sử dụng tiết kiệm và hợp lý về cơ cấu của tài sản, cần khai thác tối đa công suất của các tài sản đã đầu tư, giảm bớt hàng tồn kho. Tỷ suất sinh lời của doanh thu thuần phụ thuộc vào tổng lợi nhuận thuần và doanh thu thuần. Nếu doanh thu thuần tăng sẽ làm cho lợi nhuận thuần tăng. Để tăng quy mô vầ doanh thu thuần doanh nghiệp cần có các biện pháp giảm chi phí như chi phí giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp… Đồng thời giảm các khoản giảm trừ doanh thu và mở rộng thị phần. 11  Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả tài chính một cách rõ ràng nhất, hữu hiệu nhất và tập trung nhất trong việc đạt được mục tiêu của mọi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh đó là lợi nhuận ròng. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu là thước đo hoàn hảo đánh giá sự thành công của doanh nghiệp. ROE= Lợi nhuận ròng Vốn chủ sở hữu bình quân 100 Chỉ tiêu này cho biết, cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu đầu tư thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp là tốt, góp phần nâng cao khả năng đầu tư của doanh nghiệp Để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu ta có thể biến đổi chỉ tiêu ROE theo mô hình tài chính Dupont: Tỷ suất sinh lời của VCSH (ROE) = LN sau thuế Doanh thu TS bình quân Doanh thu TS bình quân Vốn chủ sở hữu ROE=Tỷ suất sinh lời của doanh thu Số vòng quay của TS Tổng tài sản VCSH Muốn nâng cao khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu ta có thể tác động vào 3 nhân tố: Tỷ suất sinh lời của doanh thu – phản ánh trình độ quản lý doanh thu, nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể gia tăng khả năng cạnh tranh, có những chiến lược nhằm đẩy mạnh công tác bán hàng đồng thời cắt giảm chi phí nhằm gia tăng lợi nhuận ròng biên. Số vòng quay của tài sản – phản ánh trình độ khai thác và sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần có những biện pháp phù hợp nhằm tạo ra nhiều doanh thu hơn từ những tài sản sẵn có của mình nhằm nâng cao vòng quay tài sản. Hệ số tài sản so với vốn chủ sở hữu (đòn bẩy tài chính) – phản ánh trình độ quản trị tổ chức nguồn vốn cho hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách nâng cao đòn bẩy tài chính. Tác động của đòn bẩy tài chính mang tính tích cực khi tỷ suất lợi nhuận so với vốn cao hơn lãi suất tiền vay thì doanh nghiệp cần vay tiền để đầu tư tài sản góp phần nâng cao lợi nhuận. Áp dụng công thức Dupont vào phân tích ta có thể tiến hành so sánh chỉ tiêu ROE của doanh nghiệp qua các năm. Sau đó phân tích xem sự tăng trưởng hoặc tụt giảm của chỉ số này qua các năm bắt nguồn từ nguyên nhân nào từ đó đưa ra nhận định và dự đoán xu hướng của ROE trong các năm sau. 12 Thang Long University Library 1.2.4. Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản  Hiệu quả sử dụng tài sản chung Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp mong muốn tài sản vận động không ngừng để đẩy mạnh tăng doanh, từ đó là nhân tố góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Số vòng quay tổng tài sản có thể xác định bằng công thức sau: Số vòng quay tổng tài sản= Doanh thu thuần Giá trị bình quân tổng tài sản Chỉ tiêu này cho biết trong một kỳ phân tích các tài sản quay được bao nhiều vòng hay một đồng tài sản tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ các tài sản vận động nhanh, góp phần tăng doanh thu, là điều kiện để nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp. Suất hao phí của tài sản so với doanh thu thuần= Tài sản bình quân Doanh thu thuần Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp thu được 1 đồng doanh thu thuần thì cần bao nhiêu đồng tài sản đầu tư. Chỉ tiêu này càng thấp thì hiệu quả sử dụng tài sản càng tốt. Suất hao phí của tài sản so với lợi nhuận sau thuế= Tài sản bình quân Lợi nhuận sau thuế TNDN Chỉ tiêu này phản ánh khả năng tạo ra lợi nhuận sau thuế của các tài sản mà doanh nghiệp đang sử dụng cho hoạt động kinh doanh. Chỉ tiêu này càng thấp hiệu quả sử dụng tài sản càng cao.  Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn  Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn (Số vòng quay của tài sản ngắn hạn) Hiệu suất sử dụng TSNH= Doanh thu thuần Tổng TSNH (Lần) Chỉ số này thể hiện tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, chỉ tiêu này càng cao thể hiện tố độ luân chuyển vốn của doanh nghiệp càng nhanh.  Suất hao phí của TSNH so với doanh thu Suất hao phí của TSNH so với doanh thu= Giá trị TSNH bình quân Doanh thu thuần Chỉ tiêu này cho biết, doanh nghiệp muốn có 1 đồng doanh thu thuần thì cần bao nhiêu đồng TSNH, đây là căn cứ để đầu tư TSNH cho phù hợp. Chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSNH càng cao.  Suất hao phí của tài sản ngắn hạn so với lợi nhuận sau thuế 13 Suất hao phí của TSNH so với LNST= Lợi nhuận sau thuế TSNH bình quân Chỉ tiêu này cho biết để có 1 đồng lợi nhuận sau thuế thì cần bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn bình quân. Chỉ tiêu này càng thấp hiệu quả sử dụng TSNH tốt, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp.  Hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn  Hiệu suất sử dụng TSDH (Số vòng quay của TSDH) Hiệu suất sử dụng TSDH= Doanh thu thuần Tổng TSDH Chỉ tiêu này cho biết một đồng TSDH trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSDH càng cao. Hiệu suất sử dụng TSDH cao từ đó góp phần tạo ra doanh thu thuần càng cao và là cơ sở để tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Vì vậy, để nâng cao chỉ tiêu này đồng thời với việc tăng lượng sản phẩm bán ra, doanh nghiệp phải giảm tuyệt đối những TSDH không tham gia vào sản xuất, bảo đảm tỷ lệ cân đối giữa TSDH tích cực và không tích cực, phát huy và khai thác tối đa năng lực sản xuất hiện có của TSDH  Suất hao phí của TSDH so với doanh thu Suất hao phí của TSDH so với doanh thu= Giá trị TSDH bình quân Doanh thu thuần 100 Chỉ tiêu này cho biết, doanh nghiệp muốn có 1 đồng doanh thu thì cần bao nhiêu đồng TSDH. Chỉ tiêu này là căn cứ xác định nhu cầu vốn dài hạn của doanh nghiệp khi muốn mức doanh thu như mong muốn. Chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ hiệu quả sử dụng TSDH càng cao.  Suất hao phí của TSDH so với LNST Chỉ tiêu này là sự so sánh giữa lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp với TSDH sử dụng trong kỳ. Suất hao phí của TSDH so với LNST= TSDH bình quân Lợi nhuận sau thuế 100 Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng giá trị TSDH tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng thấp, tức khả năng sinh lợi càng cao, hiệu quả sử dụng TSDH của doanh nghiệp càng có hiệu quả và ngược lại. 14 Thang Long University Library 1.2.5. Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn Vốn và tài sản của doanh nghiệp là yếu tố không thể thiếu của mọi quá trình kinh doanh. Do vậy hiệu quả sử dụng vốn trở thành một trong những nội dung cơ bản và quan trọng của hiệu quả hoạt động kinh doanh.  Hiệu quả sử dụng vốn vay Tiền vay của doanh nghiệp bao gồm vay ngắn hạn, vay dài hạn để phục vụ cho hoạt động kinh doanh. Phân tích hiệu quả tiền vay là căn cứ để các nhà quản trị kinh doanh đưa ra quyết định có cần vay thêm tiền để đầu tư vào hoạt động kinh doanh hay không, nhằm góp phần đảm bảo và phát triển vốn cho doanh nghiệp.  Hệ số khả năng thanh toán lãi vay còn được gọi là hệ số thu nhập trả lãi định kỳ. Hệ số thanh toán lãi vay= EBIT Lãi vay Hệ số này giúp đánh giá cấu trúc vốn của doanh nghiệp có tối ưu hay không thông qua đánh giá kết cấu lợi nhuận của người cho vay, chính phủ (thuế) và cổ đông. Từ đó đánh giá xem nên vay thêm, giảm tỷ trọng nợ hay tỷ trọng nợ đã tối ưu cần duy trì.  Tỷ suất sinh lời trên tiền vay Tỷ suất sinh lời trên tiền vay = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay Số tiền vay Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp sử dụng 100 đồng tiền vay thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả kinh doanh tốt, đó là tiêu chí giúp nhà quản trị đưa ra quyết định có nên vay tiền để đầu tư vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. 1.2.6. Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng chi phí Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp gồm các quá trình: dự trữ - sản xuất – tiêu thụ. Trong quá trình đó doanh nghiệp phải bỏ ra những chi phí nhất định, việc quản lý tốt các chi phí cũng chính là chìa khóa giúp cho các doanh nghiệp phát triển.  Tổng chi phí Tỷ suất lợi nhuận chi phí= Tổng lợi nhuận trong kỳ 15 Tổng chi phí trong kỳ Chỉ tiêu này phản ánh một đồng chi phí bỏ ra sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ mức lợi nhuận trong chi phí càng lớn, doanh nghiệp đã tiết kiệm được các khoản chi phí chi ra trong kì.  Giá vốn hàng bán Giá vốn hàng bán =Lợi nhuận gộp Doanh thu thuần Sự tăng giảm trong giá vốn hàng bán đều ảnh hưởng trực tiếp tới sự thay đổi của lợi nhuận gộp. Việc phân tích giá vốn hàng bán cũng đồng nghĩa với phân tích lợi nhuận gộp. Tỷ suất sinh lời của giá vốn hàng bán = Lợi nhuận gộp về bán hàng Giá vốn hàng bán 100 Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của giá vốn hàng bán cho ta biết 100 đồng giá vốn hàng bán bình quân đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận gộp. Tỷ suất sinh lời của giá vốn hàng bán càng lớn thể hiện mức lợi nhuận trong giá vốn hàng bán càng lớn.  Chí phí bán hàng, quản lý doanh nghiệp Chi phí bán hàng là những chi phí phát sinh liên quan đến việc tiêu thụ sản phẩm bao gồm toàn bộ chi phí cần thiết để thực hiện và đẩy mạnh quá trình lưu thông, phân phối hàng hóa và đảm bảo việc đưa hàng hóa đến tay người tiêu dùng. Chi phí bán hàng bao gồm các khoản chi phí như quảng cáo, khuyến mại, chi phí tiền lương cho nhân viên bán hàng, bao bì, hoa hồng bán hàng…. Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm các khoản chi phí quản lý kinh doanh, chi phí quản lý hành chính, chi phí chung khác có liên quan đến hoạt động của cả doanh nghiệp như chi phí tiền lương, các khoản phụ cấp, BHXH, BHYT, KPCĐ của nhân viên quản lý doanh nghiệp…. Tỷ suất sinh lời của chi phí bán hàng, QLDN = Lợi nhuận thuần 100 Chi phí bán hàng, QLDN Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của chi phí bán hàng, quản lý doanh nghiệp cho biết một đồng chi phí bán hàng, quản lý doanh nghiệp đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận thuần. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ mức lợi nhuận trong chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp càng lớn, doanh nghiệp đã tiết kiệm được chi phí bán hàng và QLDN 1.2.7. Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động  Chỉ tiêu năng suất lao động năng suất lao động= Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kì Tổng số lao động trong kì 16 Thang Long University Library Chỉ tiêu năng suất lao động cho biết một lao động có thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu trong kì. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kì cao, doanh nghiệp sử dụng hiệu quả số lao động hiện có tạo ra doanh thu cao  Chỉ tiêu lợi nhuận bình quân tính cho một lao động Chỉ tiêu lợi nhuận bình quân tính cho một lao động cho biết một lao đồng tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này cao thể hiện lợi nhuận trong kì của doanh nghiệp cao, doanh nghiệp sử dụng hợp lý số lao động để sản xuất kinh doanh có lãi. 17 1.3. Những nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả kinh doanh 1.3.1. Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp Nhân tố bên ngoài là nhân tố thường phát sinh và tác động không phụ thuộc vào chủ thể tiến hành hoạt động kinh doanh. Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thể chịu tác động của các nhân tố khách quan như: sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, luật pháp chế độ chính sách kinh tế của Nhà nước, tiến bộ khoa học kỹ thuật… Tất cả những nhân tố này tác động đến giá cả hàng hóa, chi phí, giá cả dịch vụ thay đổi, thuế suất, tiền lương… Tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải thiết lập các mối quan hệ kinh tế với bạn hàng, thực hiện các quy định của hệ thống luật pháp,… Do vậy, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng lớn từ môi trường bên ngoài. Sơ đồ 1.1. Nhân tố bên ngoài ảnh hƣởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nhân tố bên ngoài Môi trường pháp luật Môi trường công nghệ Môi trường kinh tế Môi trường cạnh tranh Môi trƣờng pháp luật: bao gồm luật và các văn bản dưới luật, quy trình, quy phạm kỹ thuật sản xuất… Tất cả các quy định về sản xuất kinh doanh đều tác động trực tiếp đến hiệu quả và kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Một môi trường pháp lý ổn định, lành mạnh tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiến hành thuận lợi các hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư trên thị trường. Môi trƣờng công nghệ: Tình hình phát triển khoa học kỹ thuật công nghệ và các ứng dụng của nó vào sản xuất có ảnh hưởng rất lớn đến trình độ kỹ thuật công nghệ và khả năng đổi mới kỹ thuật công nghệ của doanh nghiệp. Tiến bộ khoa học công nghệ ra đời, góp phần giảm các nguồn lực cần thiết cho sản xuất như sức người, sức của, thời gian. Doanh nghiệp sản xuất hiêu quả, đạt được sản lượng mong muốn, chất lượng tốt sẽ có ảnh hưởng thuận lợi đến giá thành của sản phẩm, tạo điều kiện thuận lợi cho việc kinh doanh. 18 Thang Long University Library Môi trƣờng kinh tế: tăng trưởng kinh tế quốc dân, các chính sách kinh tế của nhà nước, tốc độ tăng trưởng kinh tế, lạm phát, biến động tiền tệ, hoạt động của các đối thủ cạnh tranh… luôn tác động mạnh mẽ đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và tác động trực tiếp đến các quyết định cung cầu của từng doanh nghiệp. Môi trƣờng cạnh tranh: Mỗi doanh nghiệp hoạt động trong bất kì lĩnh vực nào đều có đối thủ cạnh tranh. Khi nền kinh tế phát triển, có sự mở rộng về các loại hình doanh nghiệp cũng như lĩnh vực hoạt động, thì yếu tố cạnh tranh của các doanh nghiệp cũng tăng lên. Doanh nghiệp phải quan tâm nhiều hơn đến tính cạnh tranh khi lập kế hoạch mua hàng hóa, nếu không sẽ dẫn đến tình trạng dự trữ hàng hóa chỗ thừa, chỗ thiếu, ách tắc trong khâu lưu thông. Khi thị trường ngày càng cạnh tranh, việc đưa ra các biện pháp nhằm đẩy nhanh lượng hàng tiêu thụ, khiến doanh nghiệp nới lỏng chính sách tín dụng cũng làm cho việc quản lí các khoản phải thu khó khăn. Sự phát triển hay suy thoái của đối thủ cạnh tranh sẽ ảnh hưởng đến kế hoạch tiêu thụ hàng hoá của công ty. Các nhân tố bên ngoài tạo ra cả cơ hội lẫn nguy cơ đối với doanh nghiệp. Nó gắn bó chặt chẽ với môi trường nội bộ tạo nên môi trường kinh doanh của doanh nghiệp. 1.3.2. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp Nhân tố bên trong doanh nghiệp là nhân tố tác động tùy thuộc vào nỗ lực của chủ thể tiến hành kinh doanh. Những nhân tố như trình độ lao động, tiền vốn, thông tin, … làm ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm, mức chi phí, lượng hàng hóa. Sơ đồ 1.2. Nhân tố bên trong ảnh hƣởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nhân tố bên trong Lực lượng lao động Môi trường thông tin bên trong DN Vốn Nhân tố quản trị doanh nghiệp Công nghệ Lực lƣợng lao động: Trong hoạt động kinh doanh của mọi doanh nghiệp, lực lượng lao động tác động trực tiếp đến việc nâng cao hiệu quả kinh tế ở các mặt:  Bằng sự chăm chỉ, bằng trình độ chuyên môn của mình tìm ra được những nguồn hàng mới với giá thành rẻ hơn, có chất lượng hơn hay thiết lập được mối quan hệ mật thiết với khách hàng, tìm ra được những khách hàng tiềm năng của công ty. 19  Sử dụng có hiệu quả những thiết bị máy móc của công ty để tiết kiệm được thời gian và công sức.  Lao động có kỷ luật, chấp hành đúng mọi quy định của công ty. Chăm lo đến việc đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ lao động được coi là nhiệm vụ hàng đầu của nhiều doanh nghiệp hiện nay. Trước hết doanh nghiệp cần có chế độ lương, thưởng cũng như cơ hội thăng tiến trong tương lai của người lao động. Đây là những động lực thúc đẩy lao động công tác, làm việc và cống hiến. Doanh nghiệp cần thực hiện tốt những quy định của nhà nước về quyền và nghĩa vụ đối với người lao động như điều kiện làm việc, bảo hiểm y tế xã hội, chế độ nghỉ ngơi,… Do đó việc xây dựng một chế độ lao động phù hợp trong doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả đạt được, nó đảm bảo cho người lao động yên tâm công tác. Môi trƣờng thông tin: Hệ thống trao đổi thông tin bên trong doanh nghiệp ngày càng lớn hơn bao gồm tất cả các thông tin liên quan đến từng bộ phận, từng phòng ban, từng người lao động trong doanh nghiệp và các thông tin khác. Để thực hiện tốt các hoạt động kinh doanh thì giữa các bộ phận, các phòng ban cũng như những người lao động trong doanh nghiệp luôn có mối quan hệ ràng buộc đòi hỏi phải giao tiếp, phải liên lạc và trao đổi thông tin của doanh nghiệp. Việc hình thành quá trình chuyển thông tin từ người này sang người khác, từ bộ phận này sang bộ phận khác tạo sự phối hợp trong công việc, sự hiểu biết lẫn nhau, bổ sung những kinh nghiệm, những kiến thức và sự am hiểu về mọi mặt cho nhau một cách thuận lợi, nhanh chóng và chính xác là điều kiện cần thiết để doanh nghiệp thực hiện có hiệu quả các hoạt động kinh doanh. Vốn: Đây là một nhân tố tổng hợp phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp thông qua khối lượng nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh. Yếu tố vốn là yếu tố chủ chốt quyết định đến quy mô của doanh nghiệp và quy mô có cơ hội có thể khai thác. Vốn còn là nền tảng, là cơ sở cho doanh nghiệp hoạt động, góp phần đa dạng hóa phương thức kinh doanh, đa dạng hóa thị trường, sản phẩm. Ngoài ra vốn còn giúp cho doanh nghiệp đảm bảo tính cạnh tranh và giữ ưu thế trên thị trường. Nhân tố quản trị doanh nghiệp: Nhân tố này đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Quản trị doanh nghiệp chú trọng đến việc xác định cho doanh nghiệp một hướng đi đúng đắn trong môi trường kinh doanh ngày càng biến động. Chất lượng của chiến lược kinh doanh là nhân tố đầu tiên và quan trọng nhất quyết định sự thành công hay thất bại của một doanh nghiệp. Đội ngũ các nhà quản trị mà đặc biệt là các nhà quản trị cao cấp lãnh đạo doanh nghiệp bằng phẩm chất và tài năng của mình có vai trò quan trọng bậc nhất, quyết định đến sự thành đạt của một doanh nghiệp. Kết quả và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đều 20 Thang Long University Library
- Xem thêm -