Tài liệu Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty cổ phần thiết bị ban mai

  • Số trang: 63 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 117 |
  • Lượt tải: 0
nguyetha

Đã đăng 8489 tài liệu

Mô tả:

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP. 1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của vốn 1.1.1 Khái niệm về vốn trong doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, để có thể tiến hành hoạt động SXKD thì các doanh nghiệp cần phải có các yếu tố cơ bản như: sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động. Để có được các yếu tố trên thì đòi hỏi doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn nhất định sao cho phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh. Số vốn này được dùng để mua sắm các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất như trên. Hàng hóa Đầu vào Hàng hóa …Sản xuất kinh doanh… Đầu ra Dịch vụ Dịch vụ Muốn tiến hành bất kỳ một hoạt động SXKD nào cũng cần phải có vốn kinh doanh. Vốn kinh doanh thường xuyên tồn tại dưới các hình thức khác nhau trong quá trình vận hành của doanh nghiệp. Nó có thể là tiền, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, thành phẩm, bán thành phẩm…Khi kết thúc một chu kỳ kinh doanh thì vốn lại trở về hình thái tiền tệ. Tuy nhiên trong lý luận và thực tiễn lại có nhiều quan điểm khác nhau về vốn. Theo quan điểm của Marx, dưới góc độ sản xuất ông cho rằng: “Vốn tư bản là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là đầu vào của quá trình sản xuất”. Bản chất của vốn là giá trị, mặc dù nó được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: tài sản cố định, nguyên vật liệu, tiền công… Tuy nhiên, do trình độ phát triển kinh tế xã hội còn nhiều hạn chế nên khái niệm về vốn của Marx chỉ bó hẹp khái niệm vốn trong khu vực sản xuất vật chất và cho rằng chỉ có quá trình sản xuất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế. Paul A.Samuelson, nhà kinh tế học người Mỹ thuộc trường phái tân cổ điển. Với việc kế thừa các quan điểm của trường phái cổ điển về yếu tố sản xuất. Ông coi đất đai và lao động là các yếu tố bắt đầu sơ khai, còn vốn và hàng hóa chỉ là kết quả của quá trình sản xuất. “Vốn bao gồm các loại hàng hóa lâu bền được sản xuất ra và được sử dụng như đầu vào trong quá trình sản xuất sau đó”. Một số hàng hóa vốn có thể tồn tại vài năm, trong khi đó một số khác có thể tồn tại vài chục năm hoặc l u hơn. Đặc điểm cơ bản nhất của hàng hóa vốn là chúng thể hiện vừa là sản phẩm đầu vào vừa là yếu tố đầu ra trong quá trình sản xuất. Với quan điểm của Samuelon không đề cập đến các tài sản chính những tài sản có giá trị có thể đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Ông đã đồng nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp. 1 Trong cuốn Kinh tế học của tác giả David Begg, ông đã đưa ra quan điểm về vốn:“ Vốn hiện vật và vốn tài chính của doanh nghiệp. Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hóa đã sản xuất hàng hóa khác. Vốn tài chính là các giấy tờ có giá và tiền mặt của doanh nghiệp”. Qua định nghĩa trên có thể nhận ra đã có sự đồng nhất giữa vốn và tài sản của doanh nghiệp. Như vậy, định nghĩa của Paul A.Samuelson đã được bổ sung bởi định nghĩa về vốn của David Begg. Tóm lại, có rất nhiều quan niệm khác về vốn, tuy nhiên các quan niệm đều có điểm chung đó là doanh nghiệp dù hoạt động trong lĩnh vực nào cũng đều cần một nguồn vốn cố định phục vụ cho các nhu cầu cần thiết cơ bản của doanh nghiệp. Vốn đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh có nhiều hình thái vật chất khác nhau để từ đó tạo ra hàng hóa, dịch vụ đáp ứng cho nhu cầu của thị trường. Để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển, số tiền thu được phải bù đắp được cho khoản chi phí đã bỏ ra và phát sinh khoản lãi. Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về vốn, tuy nhiên trong phạm vi của khóa luận thì vốn được hiểu là: “ Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục địch sinh lời.” 1.1.2 Đặc điểm của vốn Vốn không chỉ là điều kiện tiên quyết đối với sự ra đời của doanh nghiệp mà còn quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên sở hữu một lượng vốn lớn chưa hẳn doanh nghiệp đã có tất cả. Vấn đề đặt ra trong mỗi doanh nghiệp khi đó là việc quản lý và sử dụng vốn như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất. Để làm được điều đó, trước hết nhà quản trị tài chính doanh nghiệp phải nhận thức đầy đủ về những đặc điểm sau của vốn. Thứ nhất : Vốn phải đại diện cho một lượng giá trị tài sản, được biểu hiện bằng giá trị của những tài sản hữu hình, tài sản vô hình như nhà xưởng, máy móc, đất đai, bản quyền phát minh sáng chế… Thứ hai : Vốn phải vận động sinh lời. Nghĩa là vốn ứng trước cho hoạt động sản xuất kinh doanh phải được thu hồi về sau mỗi chu kì sản xuất, tiền vốn thu hồi về phải lớn hơn số vốn đã bỏ ra. Thứ ba : Trong nền kinh tế thị trường, vốn là một loại hàng hóa đặc biệt. Vốn có giá trị và giá trị sử dụng như mọi loại hàng hóa khác. Giá trị sử dụng của vốn thể hiện ở chỗ khi sử dụng vốn đúng cách sẽ tạo ra một giá trị lớn hơn trước. Khác với những hàng hóa thông thường khác, quyền sử dụng vốn có thể được gắn với nhau nhưng cũng có thể tách rời nhau. 2 Thang Long University Library Thứ tư : Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định và phải được quản lý chặt chẽ. Khi vốn được gắn với một chủ sở hữu nhất định thì nó mới được chi tiêu hợp lý và có hiệu quả. Thứ năm : Vốn phải tích tụ, tập trung đến một lượng nhất định mới có thể phát huy tác dụng. Do đó, để đầu tư vào kinh doanh các doanh nghiệp không chỉ khai thác các tiềm năng về vốn mà còn phải tìm cách thu hút nguồn vốn như kêu gọi góp vốn, hùn vốn, phát hành cổ phiếu, liên doanh. Thứ sáu : Vốn có giá trị về mặt thời gian. Điều này cũng có nghĩa là phải xét tới yếu tố thời gian của vốn. Trong điều kiện kinh tế thị trường do ảnh hưởng của giá cả, lạm phát nên sức mua của đồng tiền ở các thời điểm khác nhau cũng khác nhau. Chính vì vậy, khi quyết định bỏ vốn đầu tư và xác định hiệu quả do hoạt động đầu tư mang lại, các doanh nghiệp phải xem xét đến giá trị thời gian của vốn. 1.1.3 Vai trò của vốn Qua việc xem xét các khái niệm và phân loại về vốn, ta có thể thấy vốn là tiền đề cho mọi hoạt động của doanh nghiệp. Vậy vốn là yếu tố khởi đầu, bắt nguồn của mọi hoạt động kinh doanh, tồn tại và đi xuyên suốt giúp quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp. Vai trò của vốn trong việc thành lập doanh nghiệp Vốn kinh doanh của các doanh nghiệp có vai trò quyết định trong việc thành lập, hoạt động, phát triển của từng loại hình doanh nghiệp được quy định theo luật định của Nhà nước. Để thành lập doanh nghiệp và đi s u vào hoạt động thì tất cả các doanh nghiệp cần có một lượng vốn nhất định. Như vậy, vốn có thể được xem là một trong những cơ sở quan trọng nhất để đảm bảo sự tồn tại tư cách pháp nhân của một doanh nghiệp trước pháp luật. Vai trò của vốn trong việc đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vốn sẽ quyết định về mức độ đầu tư trang thiết bị, ứng dụng những thành tựu khoa học nhằm hiện đại hóa dây chuyền sản xuất. Trong thời đại công nghiệp hóa hiện đại hóa thì đ y là yếu tố quan trọng quyết định sự phát triển của doanh nghiệp. Vốn còn là một trong những điều kiện để sử dụng các nguồn tiềm năng hiện có và tiềm năng tương lai về sức lao động, nguyên vật liệu, mở rộng và phát triển thị trường, mở rộng lưu thông hàng hoá, là điều kiện để phát triển kinh doanh, thực hiện các chiến lược, sách lược kinh doanh. 3 Vai trò của vốn trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Vốn đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra thường xuyên, liên tục. Vốn biểu thị năng lực và xác định vị thế của doanh nghiệp trên thương trường. Điều này càng thể hiện rõ trong nền kinh tế hiện nay với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vốn đủ lớn. Vốn cũng là yếu tố quyết định đến việc mở rộng phạm vi hoạt động của doanh nghiệp. Để có thể tiến hành tái sản xuất, sau mỗi chu kì kinh doanh, vốn của doanh nghiệp phải sinh lời, tức là hoạt động kinh doanh phải có lãi, đảm bảo vốn của doanh nghiệp được bảo toàn và phát triển. Đó là cơ sở để doanh nghiệp tiếp tục đầu tư mở rộng phạm vi sản xuất, thị trường tiêu thụ ngày càng lớn, nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thương trường. 1.2 Phân loại vốn 1.2.1 Phân loại theo quan hệ sở hữu vốn Theo quan hệ sở hữu thì vốn được chia thành hai thành phần: vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. 1.2.1.1 Vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu là nguồn vốn thuộc sở hữu của doanh nghiệp và các thành viên trong công ty liên doanh hoặc các cổ đông trong các công ty cổ phần. Có ba nguồn tạo nên nguồn vốn chủ sở hữu: số tiền góp vốn của các nhà đầu tư, tổng số tiền tạo ra từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, chênh lệch đánh giá lại tài sản. Nguồn vốn chủ sở hữu có vai trò quan trọng với một doanh nghiệp. Bản thân nguồn vốn chủ sở hữu cũng chia ra làm nhiều loại:  Vốn pháp định: là nguồn pháp định, nguồn vốn tối thiểu mà doanh nghiệp cần phải có nếu muốn được thành lập, được Nhà nước quy định phụ thuộc vào từng loại hình kinh doanh của doanh nghiệp.  Vốn tự bổ sung: thực chất là khoản lợi nhuận chưa ph n phối, được giữ lại và phân phối cho các khoản trích hàng năm của doanh nghiệp như các quỹ khen thưởng, quỹ phát triển, quỹ phúc lợi…  Vốn chủ sở hữu khác: là loại vốn mà số lượng của nó thay đổi do đánh giá lại tài sản, chênh lệch ngoại tệ, do ngân sách cấp kinh phí, do các đơn vị thành viên nộp kinh phí quản lý và vốn chuyên dùng cơ bản. 1.2.1.2 Nợ phải trả Ngoài khoản vốn chủ sở hữu thì doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển hơn thì cần phải sử dụng khoản vốn vay từ các nguồn bên ngoài. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường thì nguồn nợ phải trả đóng vai trò quan trọng trong mọi quyết định đầu tư của doanh nghiệp. Nó là khoản nợ phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh mà doanh 4 Thang Long University Library nghiệp phải có trách nhiệm phải có trách nhiệm thanh toán cho đối tượng cho vay đó có thể là: ng n hàng thương mại, các tổ chức tín dụng, các nhà cung cấp, các cá nhân và các tổ chức kinh tế… Số vốn này thuộc quyền sở hữu của các chủ thể khác nhưng doanh nghiệp được phép sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời gian nhất định. Xét theo tính chất và thời gian vay nợ thì nợ phải trả được chia ra làm hai loại: nợ ngắn hạn và nợ dài hạn.  Nợ ngắn hạn: là các khoản nợ có thời gian vay dưới một năm. Đ y chủ yếu là là khoản vay ngắn hạn, phải trả cho nhà cung cấp, thuế và các khoản phải nộp cho Nhà nước, phải trả người lao động…  Nợ dài hạn:là những khoản nợ có thời gian từ một năm trở lên doanh nghiệp mới phải hoàn trả như vay dài hạn, phát hành trái phiếu, cổ phiếu… Với cách phân loại vốn gồm vốn chủ sở hữu và nợ phải trả giúp doanh nghiệp thấy được cơ cấu vốn dưới mức độ tự chủ tài chính. Tuy nhiên tình hình hoạt động kinh doanh muốn có hiệu quả tốt nhất thì phải có sự kết hợp của hai nguồn này. Tỷ trọng giữa hai nguồn này phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh nghành nghề của doanh nghiệp, tình trạng sản xuất kinh doanh. Cách đánh giá tình hình chung của nền kinh tế và tình hình thực tế của chính doanh nghiệp mà người quản lý doanh nghiệp sẽ có những quyết định phân chia tỷ trọng vốn hợp lý. 1.2.2 Phân loại theo thời gian huy động Theo thời gian huy động thì vốn được chia thành: vốn thường xuyên và vốn tạm thời. 1.2.2.1 Nguồn vốn thường xuyên Nguồn vốn thường xuyên = Vốn chủ sở hữu + Nợ dài hạn = Giá trị tổng tài sản – Nợ ngắn hạn Bao gồm vốn chủ sở hữu và các khoản nợ dài hạn. Đ y là nguồn vốn có tính chất ổn định, được doanh nghiệp sử dụng thường xuyên, lâu dài. Nguồn vốn này dùng cho việc đầu tư, mua sắm tài sản cố định và một bộ phận của tài sản lưu động tối thiểu thường xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. 1.2.2.2 Nguồn vốn tạm thời Là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới 1 năm) mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn, nợ ngắn hạn, các khoản vay – nợ quá hạn (kể cả vay-nợ dài hạn), các khoản chiếm dụng của người bán, người mua, người lao động… 5 Cách phân chia vốn theo thời gian huy động có thể được mô tả như sau: Nợ ngắn hạn Nguồn vốn Tài sản lưu động tạm thời Nợ dài hạn Nguồn vốn Tài sản cố định Vốn chủ sở hữu thường xuyên Nguồn vốn dài hạn trước hết được dùng để đầu tư hình thành tài sản dài hạn, phần dư của vốn dài hạn và nguồn vốn ngắn hạn được đầu tư để hình thành tài sản ngắn hạn. Chênh lệch giữa nguồn vốn dài hạn với TSDH hay giữa TSNH với nguồn vốn ngắn hạn được gọi là vốn lưu động thường xuyên của doanh nghiệp. 1.2.3 Phân loại theo hình thức luân chuyển Trong sự tuần hoàn của nguồn vốn thì vốn thường xuyên vận động và chuyển hóa từ hình thái tiền tệ lúc ban đầu, qua quá trình sản xuất kinh doanh chuyển sang trạng thái hiện vật và cuối cùng trở về hình thái tiền tệ ban đầu. Quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra thường xuyên và sự tuần hoàn của vốn cũng được lặp đi lặp lại có tính chu kỳ tạo nên sự chu chuyển của vốn kinh doanh. Căn cứ vào đặc điểm trên, vốn được chia ra thành vốn cố định và vốn lưu động. 1.2.3.1 Vốn lưu động Vốn lưu động là một bộ phận của vốn kinh doanh ứng ra để hình thành nên tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra liên tục. Vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá trình tái sản xuất. Muốn cho quá trình tái sản xuất được liên tục thì yêu cầu đặt ra đối với doanh nghiệp là phải có đủ vốn lưu động để đầu tư vào các tư liệu lao động khác nhau, đảm bảo cho tư liệu lao động tồn tại một cách hợp lý, đồng bộ với nhau trong một cơ cấu. Có thể thấy vốn lưu động dưới 3 vai trò:  Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất: Là giá trị vật tư dự trữ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ…  Vốn lưu động trong khâu sản xuất: Đó là giá trị sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, các chi phí phân bổ dần vào chi phí sản xuất các kỳ… Vốn lưu động trong kh u lưu thông: Là giá trị của số thành phẩm, giá trị bằng tiền, các khoản phải thu, tạm ứng trong thanh toán. 6 Thang Long University Library Như vậy: Vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình thành nên các tài sản lưu động mà đặc điểm của nó là luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh. 1.2.3.2 Vốn cố định Vốn cố định được định nghĩa là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước để hình thành tài sản cố định mà đặc điểm của nó là luân chuyển giá trị dần dần từng phần trong chu kỳ sản xuất và hoàn thành vòng luân chuyển khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng. Việc mua sắm, xây dựng, lắp đặt các TSCĐ của doanh nghiệp trong điều kiện nền kinh tế thị trường phải thanh toán, chi trả bằng tiền. Số vốn đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dựng, lắp đặt các TSCĐ hữu hình, vô hình được gọi là VCĐ của doanh nghiệp. Đó là số vốn đầu tư ứng trước vì số vốn này nếu được sử dụng có hiệu quả sẽ không mất đi mà sẽ thu hồi được sau khi tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của mình. Là vốn đầu tư ứng trước cho TSCĐ nên quy mô của VCĐ nhiều hay ít sẽ quyết định đến quy mô của TSCĐ, ảnh hưởng rất lớn đến trình độ trang bị kỹ thuật công nghệ và năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ngược lại, những đặc điểm kinh tế kỹ thuật của TSCĐ trong quá trình sử dụng cũng có ảnh hưởng quyết định đến đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển vốn cố định. Sự vận động của vốn cố định trong quá trình sản xuất kinh doanh có thể được khái quát qua một số nét đặc thù sau:  VCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh. Điều này xuất phát từ đặc điểm của TSCĐ là được sử dụng lâu dài trong nhiều chu kì kinh doanh.  VCĐ được luân chuyển dần dần từng phần trong các chu kỳ sản xuất kinh doanh, biểu hiện dưới hình thức chi phí khấu hao TSCĐ. Sau nhiều chu kì kinh doanh, VCĐ mới hoàn thành một vòng luân chuyển. Như vậy: Vốn cố định là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng. Tuy có nhiều cách phân loại khác nhau về nguồn vốn nhưng trong phạm vi của khóa luận thì vốn được phân tích theo quan hệ sở hữu vốn và hình thức luân chuyển. 7 1.3 Hiệu quả sử dụng vốn và phân tích hiệu quả sử dụng vốn 1.3.1 Khái niệm, phân loại, vai trò và nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn 1.3.1.1 Khái niệm Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác, sử dụng và quản lý nguồn vốn làm cho đồng vốn sinh lời tối đa nhằm mục tiêu cuối cùng là tối đa giá trị của chủ sở hữu. Hiệu quả có thể đo lường theo hai cách: hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.  Hiệu quả kinh tế phản ánh kết quả đạt được của việc sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp nhằm đạt được những lợi ích về mặt kinh tế. Tiêu chuẩn của hiệu quả kinh tế thường là tối đa hóa lợi nhuận hay tối đa hóa giá trị tài sản của doanh nghiệp. Hiệu quả kinh tế rất quan trọng vì nó có ý nghĩa quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.  Hiệu quả xã hội phản ánh kết quả mà xã hội thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài vấn đề tối đa hóa lợi nhuận, doanh nghiệp cần phải quan tâm tới trách nhiệm với xã hội như: hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế với nhà nước, đảm bảo vệ sinh môi trường… Quan t m tới đời sống công nhân viên, trách nhiệm với cộng đồng như các hoạt động từ thiện, ủng hộ… Vậy nên, hiệu quả xã hội cũng ảnh hưởng không nhỏ tới việc đưa ra các quyết định chính sách của các nhà điều hành doanh nghiệp. Trong thực tế, hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có khi thống nhất cũng có khi mâu thuẫn với nhau. Như vậy, các nhà quản lý doanh nghiệp cần có kế hoạch chính xác sao cho hiệu quả đạt được phải có đầy đủ cả hai mặt trên có nghĩa là vừa đảm bảo có sự chênh lệch giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra đồng thời cũng đạt được mục tiêu xã hội nhất định. 1.3.1.2 Phân loại hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp Hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp được chia thành hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn và hiệu quả bộ phận. Hiểu quả toàn bộ vốn được lượng hóa qua hệ thống các chỉ tiêu đo lường, nó phản ánh mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất kinh doanh thông qua mối tương quan giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra. Kết quả thu được càng cao so với chi phí vốn bỏ ra thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao. Để nâng cao hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn thì phải đảm bảo các điều kiện như: tận dụng vốn một cách tối ưu nhất nhằm tránh để nguồn vốn nhàn rỗi sẽ không tạo được lợi ích cho doanh nghiệp, 8 Thang Long University Library sử dụng phải hợp lý tiết kiệm, quản lý vốn chặt chẽ không để bị sử dụng sai mục đích buông lỏng quản lý. Hiệu quả bộ phận được hiểu qua hiệu quả của từng bộ phận thuộc nguồn vốn. Để đạt được hiệu quả sử dụng vốn cao nhất thì từng thành phần cũng phải đảm bảo được tính hiệu quả. Những thành phần quan trọng như vốn lưu động, vốn cố định cần phải đảm bảo sử dụng có hiệu quả. Các nguồn vốn bổ sung hỗ trợ lẫn nhau. Để đánh giá, nâng cao thì phải phân tích hiệu quả dựa trên các chỉ tiêu phản ảnh từ đó đưa ra các biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. 1.3.1.3 Vai trò của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Trong nền kinh tế thì trường cạnh tranh như hiện nay thì có vốn thôi chưa đủ mà phải biết sử dụng làm sao để bảo toàn và phát triển vốn của doanh nghiệp. Vì vậy hiệu quả sử dụng vốn quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Việc nâng cao hiệu quả sử dụng xuất phát từ vai trò quan trọng sau: Một là, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn để tạo ra lợi nhuận. Vốn là điểm xuất phát đầu tiên trong quá trình hình thành và phát triển doanh nghiệp, là nền tảng để hình thành nên hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong cơ chế kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay, các doanh nghiệp phải đối đầu với các thách thức ngày càng tăng như : sự cạnh tranh, sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ,…Nếu không bắt kịp tốc độ phát triển đó thì doanh nghiệp sẽ bị tụt hậu và khó có thể tồn tại. Nguồn vốn được sử dụng có hiệu quả tạo được lợi nhuận lớn sẽ giúp tiến hành tái sản xuất cả về chiều sâu lẫn chiều rộng. Bởi vậy, cần phải tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của mình, tạo ra lợi nhuận để tái đầu tư cho đồng vốn ngày càng được sinh sôi. Hai là, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ là một trong những cơ sở cho đảm bảo an toàn về tài chính Nếu doanh nghiệp rơi vào tình trạng thiếu vốn và thường xuyên phải đi vay bên ngoài thì tình hình tài chính của doanh nghiệp không về vững và phụ thuộc vào bên ngoài. Ngược lại, nếu vốn của doanh nghiệp rơi vào tình trạng ứ đọng sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoạt động SXKD của doanh nghiệp. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ đảm bảo được việc huy động các nguồn vốn tài trợ và khả năng thanh toán mọi rủi ro trong kinh doanh. Qua đó, sẽ đảm bảo được tính an toàn về tài chính cho doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. 9 Ba là, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là một trong những yếu tố nâng cao mức sống của người lao động Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn không những đem lại hiệu quả thiết thực cho bản thân doanh nghiệp mà còn góp phần nâng cao mức sống của người lao động, tạo công ăn việc làm ổn định, nâng cao hiệu quả đóng góp cho xã hội, làm tăng các khoản nộp ngân sách. 1.3.1.4 Nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn Các nhân tố khách quan  Môi trường pháp lý: Nhà nước tạo ra môi trường và hành lang pháp lý thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh và định hướng cho các hoạt động thông qua các chính sách vĩ mô. Với bất cứ sự thay đổi nào trong chế độ chính sách hiện hành đều chi phối các mảng hoạt động của doanh nghiệp. Chỉ cần một sự thay đổi trong chính sách kinh tế của nhà nước như chính sách giá cả, phương pháp đánh giá tài sản, phương pháp khấu hao TSCĐ… cũng có thể gây ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp.  Các biến số kinh tế vĩ mô: là tác động của các yếu tố như tăng trưởng kinh tế, thu nhập quốc dân, lạm phát, lãi suất, tỷ giá hối đoái…đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Chẳng hạn, khi nền kinh tế có hiện tượng lạm phát, dẫn tới sức mua của đồng tiền giảm sút, kéo theo việc tăng giá của vật tư hàng hóa…Vì vậy, giá trị vốn của doanh nghiệp có thể bị mất dần do tốc độ trượt giá của đồng tiền nếu như không có biện pháp quản lý và sử dụng hợp lý phù hợp với điều kiện kinh tế.  Môi trường khoa học công nghệ: là các yếu tố như trình độ tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ làm cho TSCĐ bị lỗi thời và lạc hậu nhanh chóng. Nếu doanh nghiệp không nhạy bén trong kinh doanh, thường xuyên đổi mới máy móc, trang thiết bị để làm ra những sản phẩm đáp ứng được nhu cầu thị trường thì sẽ mất đi khả năng cạnh tranh, hoạt động kinh doanh ngày càng sa sút. Bởi vậy, để có thể trụ vững trên thị trường cần phải nhạy bén trong kinh doanh, không ngừng tìm tòi để có những biện pháp quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của mình.  Rủi ro phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh: đó là những rủi ro mà doanh nghiệp không thể lường trước được như thiên tai, hỏa hoạn, bảo lụt… Rủi ro mà tự nhiên g y ra thường đem lại những tác động tiêu cực tới doanh nghiệp như phá hủy nhà xưởng, hư hại các công trình kỹ thuật… 10 Thang Long University Library Các nhân tố chủ quan  Trình độ quản lý và tay nghề của người lao động: nếu trình độ quản lý không tốt sẽ gây ra tình trạng thất thoát, lãng phí vốn. Khi tay nghề người lao động không cao sẽ làm giảm năng suất lao động, từ đó làm giảm hiệu quả sử dụng vốn.  Tính khả thi của dự án đầu tư: nếu doanh nghiệp có dự án kinh doanh khả thi, sản phẩm hàng hóa phù hợp với nhu cầu khách hàng, chính sách giá cả hợp lý thì sẽ mang lại hiệu quả kinh tế lớn. Ngược lại, sự thất bại của phương án kinh doanh kéo theo làm giảm hiệu quả sử dụng vốn.  Cơ cấu vốn đầu tư: Việc đầu tư vào các tài sản không sử dụng hoặc chưa sử dụng quá lớn hoặc vay nợ quá nhiều mà không sử dụng triệt để nguồn vốn bên trong thì không những không phát huy tác dụng của vốn mà còn bị hao hụt, mất mát, tạo ra rủi ro cho doanh nghiệp.  Vấn đề xác định nhu cầu vốn: việc xác định nhu cầu vốn không chính xác sẽ dẫn đến việc thừa hoặc thiếu vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh, làm hiệu quả sử dụng vốn suy giảm.  Mức độ sử dụng năng lực sản xuất hiện có của doanh nghiệp vào sản xuất kinh doanh: sử dụng lãng phí vốn trong quá trình mua sắm, không tận dụng hết nguyên vật liệu vào quá trình sản xuất kinh doanh, để tồn kho dự trữ quá mức cần thiết trong thời gian dài, sẽ tác động đến cơ cấu vốn cũng như hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh, doanh nghiệp cần xem xét từng yếu tố để từ đó đưa ra những biện pháp quản lý thích hợp. 1.3.2 Khái niệm, vai trò và phương pháp phân tích hiệu quả sử dụng vốn 1.3.2.1 Khái niệm phân tích hiệu quả sử dụng vốn Phân tích hiệu quả sử dụng vốn là việc sử dụng các khái niệm, các phương pháp nhằm thu thập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác để đánh giá tình hình sử dụng nguồn vốn, rủi ro và chất lượng của việc sử dụng vốn của doanh nghiệp. Việc phân tích tập trung vào phân tích hệ thống các chỉ tiêu về hiệu suất sử dụng vốn chủ sở hữu, vốn vay, vốn lưu động, vốn cố định…cho thấy mối quan hệ đầu ra đầu vào của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua thước đo tiền tệ hay chính là mối tương quan giữa chi phí bỏ ra với kết quả đạt được. 1.3.2.2 Vai trò của việc phân tích hiệu quả sử dụng vốn Việc phân tích hiệu quả sử dụng vốn rất có ý nghĩa với doanh nghiệp. Giúp doanh nghiệp chủ động nắm bắt được tình hình huy động, quản lý và sử dụng vốn, sự tăng trưởng vốn, khả năng sinh lời, rủi ro tài chính và giải pháp phòng ngừa. Căn cứ 11 vào các số liệu có được làm tài liệu ph n tích để làm cơ sở khoa học cho việc đưa ra quyết định kịp thời và đúng đắn phục vụ cho doanh nghiệp. Đối với nhà đầu tư, những thông tin từ việc phân tích hiệu quả sử dụng vốn giúp họ có những nhận thức, đánh giá chính xác về khả năng kinh doanh hoạt động của doanh nghiệp. Xem xét được khả năng sản xuất, khả năng sinh lời của doanh nghiệp từ đó đưa ra quyết định có đầu tư hay không. Đối với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, bán hàng cho doanh nghiệp thì giúp họ có cơ sở đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp, từ đó quyết định có nên ký các hợp đồng kinh tế với doanh nghiệp hay không. Đối với người lao động, thì giúp họ thấy được tình hình kinh doanh, khả năng tăng trưởng, khả năng sinh lời của doanh nghiệp nhằm đưa ra quyết định có gắn bó với doanh nghiệp hay không. Vậy nên, doanh nghiệp cần phải thường xuyên thực hiện phân tích hiệu quả sử dụng vốn để thấy được những vấn đề còn tồn tại, các điểm còn thiếu sót trong công tác quản lý vốn của doanh nghiệp. Từ đó, có những biện pháp khắc phục những hạn chế đồng thời cũng phát huy những ưu điểm của mình. Từ đó góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại doanh nghiệp. 1.3.2.3 Các phương pháp phân tích hiệu quả sử dụng vốn Việc ph n tích đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nhằm đưa ra những điểm hạn chế cũng như các mặt tích cực trong trong quá trình quản lý và sử dụng vốn. Có hai phương pháp dùng để phân tích hiệu quả sử dụng vốn: phương pháp so sánh và phương pháp tỷ lệ. Phương pháp so sánh Là phương pháp mà gốc so sánh được chọn là gốc về thời gian hoặc không gian, kỳ ph n tích được chọn là kỳ báo cáo hoặc kế hoạch, giá trị so sánh có thể được lựa chọn bằng số tuyệt đối, số tương đối hoặc số bình quân nội dung so sánh bao gồm:  So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu hướng thay đổi về tài chính của doanh nghiệp. Đánh giá sự tăng trưởng hay thụt lùi trong hoạt động kinh doanh để có biện pháp khắc phục trong thời gian tới.  So sánh giữa số liệu hiện thực với số kế hoạch để thấy rõ mức độ phấn đấu của doanh nghiệp.  So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình của nghành, của các doanh nghiệp khác để đánh giá tình hình hoạt động của doanh nghiệp tốt hay xấu, được hay chưa được. 12 Thang Long University Library  So sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự thay đổi về cả số lượng tương đối và tuyệt đối của các chỉ tiêu qua các niên độ kế toán liên tiếp. Phương pháp tỷ lệ Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính. Về nguyên tắc phương pháp này yêu cầu phải xác định được một ngưỡng, các mức để nhận xét, đánh giá tình hình của doanh nghiệp trên cơ sở so sánh các tỷ lệ doanh nghiệp với tỷ lệ tham chiếu. Trong phân tích hiệu quả sử dụng vốn, tùy theo cách tiếp cận vấn đề ở góc độ nào, các tỷ lệ được chia thành các nhóm đặc trưng. Trong mỗi trường hợp khác nhau, tùy theo từng góc độ mà người phân tích lựa chọn các mục tiêu khác nhau. Trong phần này hiệu quả sử dụng vốn được phân tích theo các góc độ: hiệu quả sử dụng tổng vốn, hiệu quả sử dụng vốn lưu động và hiệu quả sử dụng vốn cố định, hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu và hiệu quả sử dụng nợ phải trả. 1.3.3 Nội dung phân tích hiệu quả sử dụng vốn Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp kinh doanh là thu được lợi nhuận cao. Để tìm ra những biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, doanh nghiệp trước tiên phải đánh giá được tình hình sử dụng vốn của mình thông qua phân tích các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn vốn. 1.3.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn chung Hiệu suất sử dụng tổng vốn Là chỉ tiêu phản ánh một đồng vốn tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần trong kỳ. Chỉ tiêu này càng cao càng tốt, nó cho thấy việc sử dụng vốn của doanh nghiệp đã có hiệu quả, vốn bỏ ra đã thu được lợi nhuận. Còn ngược lại, có nghĩa là công tác sử dụng và quản lý vốn chưa hiệu quả cần xem xét lại. Suất hao phí vốn Là đại lượng nghịch đảo của hiệu suất sử dụng vốn. Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đồng doanh thu thì cần bao nhiêu đồng vốn. Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) ROS 13 Chỉ tiêu này cho biết trong 100 đồng lợi doanh thu thuần thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ số này mang giá trị dương có nghĩa là doanh nghiệp kinh doanh có lợi nhuận, còn mang giá trị âm thì doanh nghiệp làm ăn thua lỗ. Tuy nhiên, tỷ số này phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của từng nghành nghề. Vậy nên khi theo dõi khả năng sinh lợi của một doanh nghiệp, nên so sánh cùng với tỷ suất sinh lợi của doanh nghiệp khác trong cùng nghành. 1.3.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) ROE Hay ROE = ROA x Đòn bẩy kinh tế Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu cho biết cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Nếu dương thì chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động hiệu quả làm ăn có lãi, nếu âm thì doanh nghiệp đã làm ăn thua lỗ. Tỷ số này càng cao càng tốt, cho thấy hiệu quả trong hoạt động SXKD của doanh nghiệp. Để có được đánh giá chính xác nhất về doanh nghiệp thì cần so sánh chỉ tiêu này của doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác trong cùng nghành. Vòng quay vốn chủ sở hữu Chỉ số này giúp đánh giá mối quan hệ giữa doanh thu thuần và vốn chủ sở hữu bình quân của doanh nghiệp. Kết quả cho thấy một đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Chỉ số này cho ra kết quả càng cao càng tốt, cho thấy doanh nghiệp đã sử dụng có hiệu quả nguồn vốn chủ sở hữu và ngược lại. 1.3.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng nợ phải trả Tình hình tài chính của một doanh nghiệp được thể hiện rõ nét qua khả năng thanh toán. Nếu doanh nghiệp có khả năng thanh toán cao thì tình hình tài chính sẽ khả quan và ngược lại Để đánh giá khả năng này, khi ph n tích cần tính và so sánh các chỉ tiêu sau: Tỷ suất sinh lời trên nợ phải trả (ROD) 14 Thang Long University Library Đ y là chỉ tiêu đánh giá lợi nhuận mà doanh nghiệp kiếm được trên một đồng nợ phải trả. Tỷ số này càng cao càng tốt, điều này cho thấy doanh nghiệp sử dụng hiệu quả nguồn vốn đi vay, chỉ khi doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả thu được lợi nhuận lớn. Và ngược lại nếu tỷ số này thấp chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng nguồn nợ vay chưa có hiệu quả. Tuy nhiên, việc lạm dụng nguồn nợ vay liên quan đến vốn hay tài sản có thể khiến doanh nghiệp có nguy cơ gặp khó khăn khi xảy ra suy thoái kinh tế hay các biện pháp thắt chặt tín dụng xảy ra. 1.3.3.4 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định Điểm xuất phát để tiến hành hoạt động kinh doanh là phải có một lượng vốn nhất định với nguồn tài trợ tương ứng. Tuy nhiên việc sử dụng vốn như thế nào để có hiệu quả mới là nhân tố quyết định cho sự tăng trưởng của mỗi doanh nghiệp. Để đánh giá hiệu quả tổ chức và sử dụng vốn cố định cần xác định đúng đắn hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định và TSCĐ của doanh nghiệp. Vòng quay vốn cố định Thể hiện số vòng quay vốn cố định trong một kỳ. Vòng quay vốn lưu động càng lớn thì hiệu suất sử dụng vốn lưu động càng lớn. Chỉ tiêu này có ý nghĩa cứ bình quân sử dụng 1 đồng vốn cố định trong kỳ sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần, nghĩa là đo lường hiệu quả sử dụng vốn cố định trong doanh nghiệp. Nếu hệ số này càng lớn, hiệu quả sử dụng vốn cố định càng cao. Ngược lại, hệ số thấp tức là hiệu quả sử dụng vốn cố định thấp Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định Phản ánh một đồng vốn cố định tham gia trong kỳ có thể tạo ra bao nhiêu đồng lới nhuận sau thuế cho doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu quả sử dụng vốn cố định càng lớn. Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định Suất hao phí vốn cố định Là đại lượng nghịch đảo của hiệu suất sử dụng vốn cố định. Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đồng doanh thu thì cần bao nhiêu đồng vốn cố định. 15 1.3.3.5 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động Việc quản lý vốn lưu động đòi hỏi phải làm tốt việc ph n tích đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động, thông qua đó tìm ra những nguyên nhân và giải pháp khắc phục nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động, là cơ sở cho việc bảo toàn và phát triển vốn lưu động của doanh nghiệp. a. Nhóm chỉ tiêu tổng hợp Đánh giá khả năng thanh toán: Khả năng thanh toán hiện hành Khả năng thanh toán hiện hành Nếu khả năng thanh toán hiện hành giảm cho thấy khả năng thanh toán giảm và cũng là dấu hiệu báo trước những khó khăn về tài chính sẽ xảy ra. Nếu khả năng thanh toán hiện hành cao điều đó có nghĩa là công ty luôn sẵn sàng thanh toán các khoản nợ. Khả năng thanh toán nhanh Đo lường khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp bằng việc chuyển đổi các tài sản lưu động (không kể hàng tồn kho) thành tiền. Khả năng thanh toán nhanh Chỉ tiêu này cho biết, trong kỳ phân tích, doanh nghiệp có thể sử dụng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn để chi trả cho các khoản nợ ngắn hạn mà không cần bán hàng tồn kho. Chỉ tiêu này càng cao thì tình hình tài chính của doanh nghiệp càng tốt. Khả năng thanh toán tức thời Khả năng thanh toán tức thời Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng nợ ngắn hạn thì hiện tại doanh nghiệp có bao nhiêu đồng tiền tệ tài trợ cho nó. Nếu chỉ tiêu này càng cao phản ánh khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp là tốt, nếu chỉ tiêu này mà thấp thì khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp là chưa đạt yêu cầu. Vòng quay vốn lưu động Sử dụng hiệu quả vốn lưu động được biểu hiện trước hết ở tốc độ luân chuyển vốn lưu động nhanh hay chậm. Nó chính là điều kiện cơ bản để tăng thu nhập, lợi nhuận, tiết kiệm vốn lưu động và cũng là nhiệm vụ cơ bản của doanh nghiệp. Tốc độ 16 Thang Long University Library luân chuyển vốn lưu động được thể hiện bằng số vòng quay và số ngày của một vòng quay chu chuyển vốn lưu động. Thể hiện số vòng quay VLĐ trong một kỳ (thường là một năm). Vòng quay VLĐ càng lớn thì hiệu suất sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp càng cao và ngược lại. Tỷ suất sinh lời của vốn lưu động Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của vốn lưu động được xác định bằng công thức: Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của vốn lưu động và cho biết một đồng vốn lưu động bỏ vào sản xuất kinh doanh đem lại bao nhiêu lợi nhuận. Tỷ lệ doanh lợi vốn lưu động càng cao thì hiệu suất sử dụng vốn lưu động càng cao b. Nhóm chỉ tiêu thành phần Vòng quay hàng tồn kho (hệ số lưu kho) Số vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hoá tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ. Số vòng hàng tồn kho càng cao thì việc kinh doanh càng được đánh giá càng tốt, bởi lẽ doanh nghiệp chỉ cần đầu tư cho hàng tồn kho thấp nhưng vẫn đạt được doanh số cao. Thời gian luân chuyển hàng tồn kho Phản ánh thời gian từ khi doanh nghiệp bỏ tiền ra mua nguyên vật liệu đến khi sản xuất xong sản phẩm kể cả thời gian lưu kho Vòng quay các khoản phải thu Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu của doanh nghiệp thành tiền mặt và được xác định bằng công thức: Vòng quay các khoản phải thu càng lớn thể hiện rằng doanh nghiệp thu hồi càng nhanh các khoản nợ. Điều đó được đánh giá là tốt vì vốn bị chiếm dụng giảm. 17 Thời gian thu nợ trung bình Trong phân tích tài chính, chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá khả năng thu hồi vốn trong thanh toán của doanh nghiệp. Thời gian thu nợ trung bình cho biết bình quân doanh nghiệp phải mất bao nhiêu ngày cho một khoản phải thu. Vòng quay các khoản phải thu càng cao thì thời gian thu nợ trung bình càng thấp và ngược lại KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Chương 1 đã tổng hợp các vấn đề liên quan đến vốn, hiệu quả sử dụng vốn và phân tích hiệu quả sử dụng vốn. Đồng thời đưa ra các chỉ tiêu tài chính để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Nội dung lý thuyết xây dựng ở chương 1 là cơ sở để phân tích thực trạng và hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Thiết bị Ban Mai sẽ được trình bày ở chương 2. 18 Thang Long University Library CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THIẾT BỊ BAN MAI 2.1 Giới thiệu chung về Công ty Cổ phần Thiết bị Ban Mai 2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển của Công ty Cổ phần Thiết bị Ban Mai Công ty Cổ phần Thiết bị Ban Mai được thành lập vào ngày 31 tháng 10 năm 2002. Tên đầy đủ : Công ty Cổ phần Thiết bị Ban Mai Tên viết tắt : BANMAICO.,LTD Giấy phép kinh doanh số 0102006851 của Sở kế hoạch đầu tư thành phố Hà Nội Trụ sở chính : Số 11, ngõ 83, đường Ngọc Hồi, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Chi nhánh Công ty : Số 537/25 Nguyễn Oanh, phường 17, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh. Email: congtybanmaijsc@gmail.com Điện thoại : 04.36813230 Fax : 04.6813337 Lĩnh vực kinh doanh : là nhà cung cấp chuyên nghiệp các thiết bị, dụng cụ sửa chữa, bảo dưỡng, sản xuất, lắp ráp ô tô Hình thức sở hữu: công ty cổ phần Vốn điều lệ : 700 triệu đồng ( tính đến ngày 31/12/2013) Vốn kinh doanh: 22890 triệu đồng ( tính đến ngày 31/12/2013 ) Công ty Cổ phần Thiết bị Ban Mai được thành lập bởi một nhóm các kỹ sư có nhiều năm kinh nghiệm trong ngành công nghiệp ô tô và cơ khí. Tháng 4 năm 2007, công ty mở thêm một chi nhánh ở Sài Gòn. Chi nhánh đặt tại quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian đầu khi mới thành lập, công ty còn gặp nhiều khó khăn về cơ sở vật chất cũng như nguồn nhân lực. Song, do sự cố gắng phấn đấu của Ban lãnh đạo và toàn thể nhân viên, công ty đã không ngừng mở rộng quy mô kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh, nguồn nhân lực không những đảm bảo về số lượng mà còn đảm bảo về chuyên môn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Công ty không chỉ có bạn hàng tại khắp các tỉnh trải dài trên lãnh thổ Việt Nam như: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh… 19 mà còn mở rộng quan hệ với các nước trong khu vực Đông Nam Á như Lào, Campuchia. Như vậy, đến nay sau hơn 10 năm thành lập và phát triển, Công ty Cổ phần Ban Mai có đội ngũ nh n viên lành nghề cùng với trang thiết bị, các chủ trương, đường lối đúng đắn góp phần xây dựng và phát triển Công ty trở thành một công ty hàng đầu trong lĩnh vực cung cấp các thiết bị sửa chữa, bảo dưỡng ô tô tại Việt Nam, nhằm nâng cao đời sống của cán bộ nh n viên cũng như góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh. 2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Công ty Cổ phần Thiết bị Ban Mai Bộ máy quản lý của Công ty được tổ chức theo mô hình trực tuyến, quản lý theo chế độ một thủ trưởng, quản lý tập trung theo kiểu chức năng. Các nh n sự được sắp xếp theo các phòng ban. Mỗi phòng ban được giao trách nhiệm cụ thể và chịu trách nhiệm về nhiệm vụ được giao. Các phòng ban một mặt hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ của mình dưới sự chỉ đạo của Ban lãnh đạo, mặt khác, tiến hành phối hợp chặt chẽ với các phòng ban khác để cùng thực hiện mục tiêu chung của Công ty. Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty Giám đốc Phó giám đốc Phòng kỹ thuật Phòng kế toán Phòng triển khai Phòng hành chính Phòng kinh doanh (Nguồn: Phòng hành chính)  Giám đốc : là người đứng đầu bộ máy điều hành của công ty. Giám đốc có trách nhiệm quản lý, chỉ đạo toàn bộ mọi hoạt động sản xuất, phương hướng phát triển và các vấn đề khác của công ty, chịu trách nhiệm trước cơ quan Nhà Nước, Hội đồng quản trị và toàn thể cán bộ công nhân viên về kết quả hoạt động.  Phó giám đốc : là người tham mưu cho Giám đốc về những vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh của Công ty, tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh, xây dựng bạn hàng, tìm kiếm thị trường mới, kí kết các hợp đồng kinh tế thuộc lĩnh vực được phân công.  Phòng kinh doanh : thực hiện việc tiêu thụ sản phẩm. Khách hàng chủ yếu là nhà máy lắp ráp ô tô, xe máy, xưởng sửa chữa ô tô, các gara, các hiệu làm lốp, các công ty xe khách, công ty taxi…có nhu cầu mua hàng phục vụ cho mục đích của họ. 20 Thang Long University Library
- Xem thêm -