Tài liệu Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thương mại và dịch vụ cao trụ

  • Số trang: 66 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 153 |
  • Lượt tải: 0
thuvientrithuc1102

Đã đăng 15893 tài liệu

Mô tả:

CHƢƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1. Tổng quan về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 1.1.1. Khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trong điều kiện kinh tế hiện nay, nền kinh tế nước ta đã chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường. Sự chuyển biến này đã làm thay đổi mạnh mẽ nền kinh tế nước ta. Đối với hoạt động sản xuất kinh doanh, hầu như tất cả doanh nghiệp đều xem mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận là quan trọng nhất. Kinh doanh là việc thực hiện một số hoặc thực hiện tất cả các công đoạn của quá trình từ đầu tư sản xuất đến tiêu thụ hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời. Hiệu quả sản xuất kinh doanh là phạm trù khoa học của kinh tế vĩ mô nói chung, gắn với cơ chế thị trường có quan hệ với tất cả các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh như: lao động, vốn, máy móc, nguyên vật liệu… Nó là mục tiêu mà tất cả các nhà kinh tế đều hướng tới với mục đích rằng họ sẽ thu được lợi nhuận cao, mở rộng được doanh nghiệp, chiếm lĩnh và nâng cao uy tín của mình trên thị trường. Vì vậy doanh nghiệp muốn đạt được mục tiêu cần phải chú trọng đến điều kiện nội tại, phát huy năng lực hiệu quả của các yếu tố sản xuất và tiết kiệm mọi chi phí yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là phải sử dụng các yếu tố đầu vào hợp lý nhằm đạt được kết quả tối đa và chi phí tối thiểu. Không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là mối quan tâm của tất cả mọi người, và của cả doanh nghiệp. Đó cũng là vấn đề bao trùm xuyên suốt, thể hiện trong công tác quản lý, bởi suy cho cùng quản lý kinh tế là để đảm bảo tạo ra kết quả và hiệu quả cao nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh. Tất cả những cải tiến, đổi mới về nội dung, phương pháp, biện pháp áp dụng trong quản lý chỉ thực sự đem lại ý nghĩa khi chúng làm tăng được hiệu quả sản xuất kinh doanh – không những là thức đo về chất lượng, phản ánh tổ chức, quản lý kinh doanh, mà còn là vấn đề sống còn của doanh nghiệp. Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển vươn lên thì trước hết đòi hỏi kinh doanh phải có hiệu quả. Khi đề cập đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, các nhà kinh tế dựa vào từng góc độ nghiên cứu để đưa ra các định nghĩa khác nhau. Mỗi tác giả lại có những quan điểm khác nhau. Ví dụ như có quan điểm cho rằng: “Hiệu quả sản xuất kinh doanh diễn ra khi xã hội không tăng sản lượng một loại hàng hoá mà cũng không cắt giảm một loại hàng hoá khác”. Quan điểm này chủ đích muốn đề cập đến vấn đề phân bổ các nguồn lực của nền kinh tế sao cho việc sử dụng mọi nguồn lực sản xuất trên đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ làm cho nền kinh tế có hiệu quả. 1 Một số tác giả khác cho rằng: “Hiệu quả sản xuất kinh doanh thể hiện ngay tại hiệu số giữa doanh thu và chi phí, nếu doanh thu lớn hơn chi phí thì kết luận doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả. Ngược lại nếu doanh thu nhỏ hơn chi phí thì tức là doanh nghiệp đang làm ăn thua lỗ”. Quan điểm này lại mang tính chủ quan về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Giả dụ như: Doanh thu lớn hơn chi phí, nhưng do khách hàng chiếm dụng vốn của doanh nghiệp do vậy tiền chi ra lại lớn hơn doanh thu thực tế, khi đó doanh nghiệp bị thâm hụt vốn, khả năng chi trả kém cũng có thể dẫn đến khủng hoảng hoặc tình trạng xấu hơn thì có thể bị phá sản. Cũng có tác giả cho rằng: “Hiệu quả sản xuất kinh doanh được xác định bởi quan hệ tỉ lệ Doanh thu/Vốn hay Lợi nhuận/Vốn…”. Quan điểm này nhằm đánh giá khả năng thu hồi vốn nhanh hay chậm, khả năng sinh lời của một đồng vốn bỏ ra cao hay thấp, đây cũng chỉ là những quan điểm riêng lẻ, chưa mang tính khái quát thực tế. Hay có những tác giả lại đề cập đến hiệu quả sản xuất kinh doanh ở dạng khái quát hơn: “Hiệu quả sản xuất kinh doanh được xác định bởi tỉ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó”. Quan điểm này đánh giá được tốt nhất trình độ sử dụng các nguồn lực ở điều kiện “động” của hoạt động sản xuất kinh doanh. Theo quan điểm này thì hoàn toàn có thể tính toán được hiệu quả sản xuất kinh doanh cùng sự biến động và vận động không ngừng của các hoạt động kinh tế, chúng phụ thuộc vào quy mô và tốc độ biến động khác nhau. Vậy hiệu quả sản xuất kinh doanh được hiểu như thế nào? Về vấn đề này có rất nhiều quan điểm khác nhau và đều mang tính khách quan của các nhà kinh tế hiện đại. Nhưng chung quy lại thì có thể khái quát bằng định nghĩa sau: “Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện sự tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất, nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh. Nó là thước đo ngày càng trở nên quan trọng của sự tăng trưởng kinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ”. 1.1.2. Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh đối với doanh nghiệp Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh là nâng cao năng suất lao động và tiết kiệm lao động xã hội. Theo nghĩa tổng quát, thực chất khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh đã khẳng định bản chất của hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động sản xuất kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, khoa học công nghệ, nguồn vốn…) để đạt được mục tiêu cuối cùng là tối đa hoá lợi nhuận của doanh nghiệp. 2 Thang Long University Library Hiệu quả sản xuất kinh doanh càng cao thì doanh nghiệp càng có thêm điều kiện mở mang và phát triển đầu tư mua sắm thiết bị, công nghệ… nâng cao chế độ phúc lợi cho người lao động, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước. Chính vì vậy, trong điều kiện khan hiếm nguồn lực như hiện nay, việc sử dụng chúng có tính cạnh tranh và ngày càng thoả mãn nhu cầu cao của xã hội đặt ra yêu cầu là phải khai thác, tận dụng triệt để và tiết kiệm các nguồn lực. Để đạt được hiệu quả sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp buộc phải chú trọng tới yếu tố sản xuất và tiết kiệm mọi chi phí đến mức tối đa. 1.1.3. Đối tượng của phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh Đối tượng của phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh suy đến cùng là kết quả kinh doanh. Nội dung phân tích chính là quá trình tìm cách lượng hóa những yếu tố đã tác động đến kết quả kinh doanh. Đó là những yếu tố của quá trình cung cấp, sản xuất, tiêu thụ và mua bán hàng hóa, thuộc các lĩnh vực sản xuất, thương mại, dịch vụ. Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh còn nghiên cứu tình hình sử dụng các nguồn lực: vốn, vật tư, lao động và đất đai; những nhân tố nội tại của doanh nghiệp hoặc khách quan từ phía thị trường và môi trường kinh doanh, đã trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả của các mặt hoạt động của doanh nghiệp. Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh đi vào những kết quả đã đạt được, những hoạt động hiện hành và dựa trên kết quả phân tích đó để ra các quyết định quản trị kịp thời trước mắt - ngắn hạn hoặc xây dựng kế hoạch chiến lược - dài hạn. Có thể nói theo cách ngắn gọn, đối tượng của phân tích là quá trình kinh doanh và kết quả kinh doanh - tức sự việc đã xảy ra ở quá khứ; phân tích, mà mục đích cuối cùng là đúc kết chúng thành quy luật để nhận thức hiện tại và nhắm đến tương lai cho tất cả các mặt hoạt động của một doanh nghiệp. Phạm vi phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh còn bao gồm so sánh hiệu quả sản xuất kinh doanh của chủ thể doanh nghiệp cần phân tích với các doanh nghiệp đối thủ cùng lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác trên thị trường nhưng do hạn chế về mặt thu thập số liệu nên đề tài sẽ chỉ dừng lại ở việc chỉ phân tích hiệu quả kinh doanh đơn thuần của công ty TNHH một thành viên thương mại và dịch vụ Cao Trụ. 1.1.4. Vai trò của phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh đối với doanh nghiệp Như đã biết, phân tích là quá trình nhận thức hoạt động kinh doanh, là cơ sở cho việc ra quyết định đúng đắn trong chức năng quản lý, nhất là các chức năng kiểm tra, đánh giá và điều hành hoạt động kinh doanh để đạt các mục tiêu kinh doanh. Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh là công cụ để phát hiện những khả năng tiềm tàng trong hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn là công cụ cải tiến cơ chế quản lý trong kinh doanh. Bất kì hoạt động sản xuất kinh doanh trong các điều 3 kiện hoạt động khác nhau như thế nào đi nữa cũng còn những tiềm ẩn, khả năng tiềm tàng chưa được phát hiện, chỉ thông qua phân tích doanh nghiệp mới có thể phát hiện được và khai thác chúng để mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Thông qua phân tích doanh nghiệp mới thấy rõ nguyên nhân cùng nguồn gốc của các vấn đề phát sinh và có giải pháp cụ thể để cải tiến quản lý. Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh cho phép các nhà doanh nghiệp nhìn nhận đúng đắn về khả năng, sức mạnh cũng như những hạn chế trong doanh nghiệp của mình và là cơ sở quan trọng để nhà quản trị đưa ra các chiến lược, các quyết định kinh doanh, là một công cụ quan trọng thuộc một trong những chức năng quản trị ở doanh nghiệp. Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh đồng thời là biện pháp quan trọng để phòng ngừa rủi ro. Để sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả mong muốn, hạn chế rủi ro xảy ra, doanh nghiệp phải tiến hành phân tích hoạt động kinh doanh của mình, đồng thời dự đoán các điều kiện kinh doanh trong thời gian tới, để vạch ra các chiến lược kinh doanh cho phù hợp. Ngoài việc phân tích các điều kiện bên trong doanh nghiệp về tài chính, lao động, vật tư… Doanh nghiệp còn phải quan tâm phân tích các điều kiện tác động ở bên ngoài như thị trường, khách hàng, đối thủ cạnh tranh… trên cơ sở phân tích trên, doanh nghiệp dự đoán các rủi ro có thể xảy ra và có kế hoạch phòng ngừa trước khi xảy ra. Tài liệu phân tích hoạt động kinh doanh không chỉ cần thiết cho các nhà quản trị ở bên trong doanh nghiệp mà còn cần thiết cho các đối tượng bên ngoài khác, khi họ có mối quan hệ về nguồn lợi với doanh nghiệp, vì thông qua phân tích họ mới có thể có quyết định đúng đắn trong việc hợp tác đầu tư hay cho vay vốn. 1.2. Một số phƣơng pháp phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 1.2.1. Phương pháp so sánh Phƣơng pháp so sánh là phương pháp xem xét một chỉ tiêu phân tích bằng cách dựa trên việc so sánh với một chỉ tiêu cơ sở (chỉ tiêu gốc). Đây là phương pháp đơn giản và được sử dụng nhiều nhất trong phân tích hoạt động kinh doanh cũng như trong phân tích và dự báo các chỉ tiêu kinh tế - xã hội thuộc lĩnh vực kinh tế vĩ mô. Phương pháp so sánh có hai dạng:  Phương pháp số tuyệt đối: là hiệu số của hai chỉ tiêu, bao gồm chỉ tiêu kỳ phân tích và chỉ tiêu cơ sở. Ví dụ so sánh giữa kết quả thực hiện và kế hoạch hoặc giữa thực hiện kỳ này và thực hiện kỳ trước. 4 Thang Long University Library  Phương pháp số tương đối: là tỉ lệ phần trăm % của chỉ tiêu kỳ phân tích so với chỉ tiêu gốc để thể hiện mức độ hoàn thành hoặc tỉ lệ của số chênh lệch tuyệt đối so với chỉ tiêu gốc để nói lên tốc độ tăng trưởng. Các nguyên tắc so sánh bao gồm: chỉ tiêu kế hoạch của một kỳ kinh doanh, tình hình thực hiện các kỳ kinh doanh đã qua, chỉ tiêu của các doanh nghiệp tiêu biểu cùng ngành, chỉ tiêu bình quân của nội ngành, các thông số thị trường, các chỉ tiêu có thể so sánh khác. Các chỉ tiêu so sánh được phải phù hợp về yếu tố không gian, thời gian; cùng nội dung kinh tế, đơn vị đo lường, phương pháp tính toán; quy mô và điều kiện kinh doanh. Điều kiện so sánh: Để phép so sánh có ý nghĩa thì điều kiện tiên quyết là các chỉ tiêu được sử dụng phải đồng nhất. Trong thực tế điều kiện có thể so sánh được giữa các chỉ tiêu kinh tế cần được xét trên cùng phương diện cả về thời gian và không gian.  Về mặt thời gian: Các chỉ tiêu được tính trong cùng một khoảng thời gian, hạch toán phải thống nhất trên ba mặt sau:  Đảm bảo sự thống nhất về nội dung kinh tế của chỉ tiêu.  Đảm bảo sự thống nhất về phương pháp tính các chỉ tiêu.  Đảm bảo sự thống nhất về đơn vị tính các chỉ tiêu (hiện vật, giá trị và thời gian).  Về mặt không gian: Các chỉ tiêu cần được quy định về cùng quy mô và điều kiện kinh doanh tương tự nhau.  Phương pháp này có ưu và nhược điểm như sau:  Ưu điểm: Phương pháp đơn giản, dễ thực hiện, đặc biệt thuận lợi đối với những người có kinh nghiệm và kiến thức về phân tích kinh doanh. Hầu như người phân tích không gặp khó khăn về mặt kỹ thuật vì nó không cần thiết phải xây dựng các công thức hoặc mô hình tính toán mà dự vào số liệu của doanh nghiệp. Kết quả của phương pháp phản ánh thực tế, phản ánh và đánh giá khách quan tình trạng của công ty.  Nhược điểm: Cần thiết phải có nhiều thông tin, số liệu rõ ràng chính xác. Nếu các thông tin không chính xác, thì không sử dụng được phương pháp này. Đòi hỏi người phân tích phải có nhiều kinh nghiệm, am hiểu rõ về doanh nghiệp, kiến thức thị trường và khả năng phân tích tốt. 1.2.2. Phương pháp phân chia chi tiết Phương pháp phân chia chi tiết được sử dụng để chia nhỏ quy trình và kết quả thành những bộ phận khác nhau phục vụ cho mục tiêu nhận thức quá trình và kết quả 5 đó dưới những khía cạnh khác nhau. Thông thường trong phân tích, người ta thường chi tiết quá trình phát sinh và kết quả đạt được thuộc tài chính doanh nghiệp thể hiện qua những chỉ tiêu kinh tế theo những tiêu thức sau:  Chi tiết theo yếu tố cấu thành của chỉ tiêu nghiên cứu: là việc chia nhỏ chỉ tiêu nghiên cứu thành các bộ phận cấu thành nên bản thân chỉ tiêu đó.  Chi tiết theo thời gian phát sinh quá trình và kết quả sản xuất kinh doanh: là việc chia nhỏ quá trình và kết quả theo thời gian phát sinh và phát triển.  Chi tiết theo không gian phát sinh của hiện tượng và kết quả sản xuất kinh doanh: là việc chia nhỏ quá trình và kết quả theo địa điểm phát sinh và phát triển của chỉ tiêu nghiên cứu. Phương pháp này có ưu và nhược điểm sau:  Ưu điểm: Quá trình và kết quả được chia nhỏ thành những bộ phận khác nhau nhằm nhận thức quá trình và kết quả đó dưới những khía cạnh khác nhau.  Nhược điểm: Một số chỉ tiêu không đủ dữ kiện để phân tích hết các khía cạnh: bộ phận cấu thành của chỉ tiêu, không gian và thời gian. Có những chỉ tiêu không cần thiết phải phân tích quá chi tiết. 1.2.3. Phương pháp đồ thị Phương pháp đồ thị là phương pháp nhằm phản ánh trực quan các số liệu phân tích bằng biểu đồ hoặc đồ thị. Qua đó sẽ mô tả được xu hướng, mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích, hoặc thể hiện mối quan hệ kết cấu của các bộ phận trong một tổng thể nhất định. Phương pháp đồ thị có tác dụng minh hoạ kết quả tài chính đã tính toán được và được biểu thị bằng biểu đồ hay đồ thị, giúp cho việc đánh giá bằng trực quan được thể hiện rõ ràng và rành mạch các quá trình hay diễn biến của các chỉ tiêu qua từng giai đoạn. Trên cơ sở đó sẽ xác định được rõ hơn những nguyên nhân biến động của chỉ tiêu phân tích. Từ đó, đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Phương pháp này có ưu và nhược điểm sau:  Ưu điểm: Dễ dàng tiếp cận, nắm bắt được thông tin cần truyền đạt, nhất là những thông tin liên quan đến số liệu có chiều hướng thay đổi theo thời gian, số lượng, địa điểm…  Nhược điểm: Thông tin để tạo dựng đồ thị cần đầy đủ và chi tiết để đảm bảo tính xác thực cao; cách xây dựng thiết kế đồ thị có phần không dễ dàng nếu 6 Thang Long University Library chọn sai dạng đồ thị biểu thị; cần có công cụ công nghệ trợ giúp đắc lực để tạo dựng đồ thị… 1.3. Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Khi nghiên cứu về hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, cần phải dựa vào một hệ thống các tiêu chuẩn, các doanh nghiệp coi các tiêu chuẩn là mục tiêu, cột mốc, đích đến… Cũng có thể nói tiêu chuẩn hiệu quả là giới hạn xác định hoạt động sản xuất kinh doanh có hay không có hiệu quả. 1.3.1. Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời là nhóm chỉ tiêu cơ bản thể hiện một cách tổng quát năng lực kinh doanh của doanh nghiệp, cho phép doanh nghiệp đánh giá sơ lược được tình trạng tăng trưởng, giúp doanh nghiệp điều chỉnh lại cơ cấu tài chính và hoạch định chiến lược ngăn ngừa rủi ro ở mức độ tốt nhất, đề xuất hướng phát triển tương lai. 1.3.1.1. Tỷ suất sinh lời của doanh thu (ROS) Tỷ suất sinh lời của doanh thu hay còn được gọi là hệ số lãi ròng, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu. Trong một kỳ phân tích, chỉ tiêu này cho biết khi doanh nghiệp có được 1 đồng doanh thu (doanh thu thuần) thì trong đó có bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp. Chỉ tiêu này thấp cho thấy nhà quản trị cần tăng cường kiểm soát chi phí của các bộ phận. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng chi phí càng tốt. Chỉ tiêu này càng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp càng cao. Tỷ suất này mang giá trị dương nghĩa là công ty kinh doanh có lãi; tỷ số càng lớn nghĩa là lãi càng lớn. Tỷ suất mang giá trị âm nghĩa là công ty kinh doanh thua lỗ. Tỷ suất sinh lời trên doanh thu chính là thước đo hàng đầu để đánh giá tính hiệu quả và tính sinh lời của quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, do đó các nhà quản trị thường quan tâm đến các tỷ suất biểu hiện cho hệ số sinh lời của công ty bởi vì nó là kết quả của hàng loạt chính sách và biện pháp quản lý của doanh nghiệp. Tỷ suất ROS đặc biệt quan trọng đối với nhà quản trị do nó còn phản ánh chiến lược giá của công ty và khả năng trong việc kiểm soát chi phí hoạt động. Tỷ suất ROS khác nhau giữa các ngành tuỳ thuộc vào tính chất của các sản phẩm,hàng hoá kinh doanh và chiến lược cạnh tranh của công ty. Có thể sử dụng tỷ số này để so sánh với các tỷ số của các năm trước hay so sánh với các doanh nghiệp khác trong cùng ngành. Hệ số lãi ròng càng cao chứng tỏ hiệu quả hoạt động kinh doanh càng cao, lợi nhuận sinh ra càng nhiều. 7 ROS được xác định bằng công thức: Lợi nhuận sau thuế ROS = Doanh thu thuần 1.3.1.2. Tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA) Tỷ suất sinh lời của tài sản hay chỉ tiêu hoàn vốn tổng tài sản, hệ số quay vòng của tài sản, tỷ số lợi nhuận trên tổng tài sản. Chỉ tiêu này cho biết, trong một kỳ phân tích, khi doanh nghiệp bỏ ra 1 đồng tài sản đầu tư thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản càng tốt. Hệ số này dùng để đo lường hiệu quả việc sử dụng tài sản trong hoạt động kinh doanh của công ty và cũng là một thước đo để đánh giá năng lực quản lý của ban lãnh đạo công ty. Chỉ tiêu này càng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh càng lớn vì công ty đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng đầu tư ít hơn. Một công ty đầu tư tài sản ít nhưng thu được lợi nhuận cao sẽ là tốt hơn so với công ty đầu tư nhiều vào tài sản mà lợi nhuận thu được lại thấp. Tỷ số lợi nhuận trên tài sản thường có sự chênh lệch giữa các ngành. Những ngành đòi hỏi phải có đầu tư tài sản lớn vào dây chuyền sản xuất, máy móc thiết bị, công nghệ như các ngành vận tải, xây dựng, sản xuất kim loại,… thường có ROA nhỏ hơn so với ROA của các ngành thương mại, dịch vụ, quảng cáo, phần mềm,… Chỉ tiêu này càng cao thể hiện sự sắp xếp, phân bố và quản lý tài sản hợp lý và hiệu quả của nhà quản lý. ROA được xác định bằng công thức: Lợi nhuận sau thuế ROA = Tổng tài sản 1.3.1.3. Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE) Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu còn gọi là tỷ suất thu nhập của vốn cổ đông hay chỉ tiêu hoàn vốn cổ phần của cổ đông. Chỉ tiêu này cho biết, trong một kỳ phân tích, doanh nghiệp đầu tư 1 đồng vốn chủ sở hữu thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp càng tốt, góp phần nâng cao khả năng đầu tư của chủ doanh nghiệp. Nếu tỷ suất này 8 Thang Long University Library mang giá trị dương, là công ty làm ăn có lãi; nếu mang giá trị âm là công ty làm ăn thua lỗ. Chỉ tiêu này càng cao thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp càng lớn. Vốn chủ sở hữu càng lớn thì tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu càng nhỏ. Đây cũng là một chỉ tiêu rất quan trọng đối với nhà quản trị vì nó phản ánh hiệu quả quản lý và sử dụng vốn kinh doanh của đơn vị và cũng rất quan trọng đối với các cổ đông vì nó gắn liền với hiệu quả đầu tư của họ. ROE được xác định bằng công thức: Lợi nhuận sau thuế ROE = VCSH 1.3.2. Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán Tình hình tài chính của doanh nghiệp được thể hiện rõ nét qua khả năng thanh toán. Nếu doanh nghiệp có khả năng thanh toán cao thì tình hình tài chính sẽ khả quan và ngược lại. Vì vậy khi đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp không thể bỏ qua việc xem xét nhóm chỉ tiêu thể hiện khả năng thanh toán, đặc biệt là khả năng thanh toán ngắn hạn. Bên cạnh đó, việc xem xét các chỉ tiêu về khả năng thanh toán cũng giúp cho doanh nghiệp nhận thức được quá khứ và chiều hướng trong khả năng thanh toán của doanh nghiệp mình. 1.3.2.1. Khả năng thanh toán ngắn hạn Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn, hay doanh nghiệp có thể sử dụng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn để chi trả cho các khoản nợ ngắn hạn. Chỉ tiêu này đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn trong vòng một năm bằng các tài sản có thể chuyển hoá thành tiền trong vòng một năm tới. Hệ số này càng cao (lớn hơn 1), khả năng trả nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng lớn. Nếu hệ số này nhỏ hơn 1 thì doanh nghiệp có khả năng không hoàn thành được nghĩa vụ trả nợ của mình khi tới hạn. Khả năng thanh toán ngắn hạn được xác định bằng công thức: Tổng nợ ngắn hạn Khả năng thanh toán ngắn hạn = 9 Tổng TSNH 1.3.2.2. Khả năng thanh toán nhanh Chỉ tiêu này cho biết, trong kỳ phân tích, doanh nghiệp có thể sử dụng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn để chi trả cho các khoản nợ ngắn hạn mà không cần bán hàng tồn kho. Về nguyên tắc, hệ số này càng cao thì khả năng thanh toán công nợ càng cao và ngược lại. Hệ số này bằng 1 hoặc lớn hơn, cho thấy khả năng đáp ứng thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn cao. Doanh nghiệp không gặp khó khăn nếu cần phải thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn. Trái lại, nếu hệ số thanh toán nhanh nhỏ hơn 1, doanh nghiệp sẽ không đủ khả năng thanh toán ngay lập tức toàn bộ khoản nợ ngắn hạn hay nói chính xác hơn, doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn nếu phải thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn. Khả năng thanh toán nhanh được xác định bằng công thức: Tổng TSNH - HTK Khả năng thanh toán nhanh = Tổng nợ ngắn hạn 1.3.2.3. Khả năng thanh toán tức thời Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn bằng tiền và các loại tài sản có tính thanh khoản cao khác của doanh nghiệp. Nói cách khác chỉ số thanh toán tiền mặt cho biết, cứ một đồng nợ ngắn hạn thì có bao nhiêu tiền mặt và các khoản tương đương tiền đảm bảo chi trả. Chỉ số thanh toán tiền mặt có giá trị bằng bao nhiêu là tối ưu phụ thuộc vào ngành nghề, độ lớn của doanh nghiệp cũng như thời gian đánh giá. So với các chỉ số thanh khoản ngắn hạn khác như chỉ số thanh toán hiện thời, hay chỉ số thanh toán nhanh, chỉ số thanh toán tiền mặt đòi hỏi khắt khe hơn về tính thanh khoản. Hàng tồn kho và các khoản phải thu ngắn hạn bị loại khỏi công thức tính do không có gì bảo đảm là hai khoản này có thể chuyển nhanh chóng sang tiền để kịp đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn. Có rất ít doanh nghiệp có số tiền mặt và các khoản tương đương tiền đủ để đáp ứng toàn bộ các khoản nợ ngắn hạn, do đó chỉ số thanh toán tiền mặt rất ít khi lớn hơn hay bằng 1. Khả năng thanh toán tức thời được xác định bằng công thức: Tiền + Các khoản tương đương tiền Khả năng thanh toán tức thời = Tổng nợ ngắn hạn 10 Thang Long University Library 1.3.3. Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản Hiệu quả sử dụng tài sản được thể hiện qua chỉ tiêu chất lượng, chỉ tiêu này nêu lên các đặc điểm, tính chất, cơ cấu, trình độ phổ biến, đặc trưng cơ bản của hiện tượng nghiên cứu. Trong sản xuất kinh doanh, nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản là quan hệ so sánh giữa giá trị sản lượng được tạo ra với giá trị tài sản sử dụng bình quân trong kì, hoặc là quan hệ so sánh giữa lợi nhuận với giá trị tài sản sử dụng bình quân. 1.3.3.1. Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp  Vòng quay tài sản ngắn hạn Chỉ tiêu này cho biết, trong kỳ phân tích của doanh nghiệp, một đồng tài sản ngắn hạn tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Hệ số vòng quay tổng tài sản càng cao đồng nghĩa với việc sử dụng tài sản của công ty vào các hoạt động sản xuất kinh doanh càng hiệu quả. Tuy nhiên muốn có kết luận chính xác về mức độ hiệu quả của việc sử dụng tài sản ngắn hạn của một công ty chúng ta cần so sánh hệ số vòng quay tài sản ngắn hạn của công ty đó với hệ số vòng quay tài sản ngắn hạn bình quân của ngành. Vòng quay tài sản ngắn hạn được xác định theo công thức sau: Doanh thu thuần Số vòng quay của TSNH = Tổng TSNH  Vòng quay hàng tồn kho Chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho. Vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hóa tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ. Chỉ tiêu này thường được so sánh qua các năm để đánh giá năng lực quản trị hàng tồn kho là tốt hay xấu qua từng năm. Nếu chỉ tiêu lớn cho thấy tốc độ quay vòng của hàng hóa trong kho là nhanh và ngược lại, nếu hệ số này nhỏ thì tốc độ quay vòng hàng tồn kho thấp. Cần lưu ý, hàng tồn kho mang đậm tính chất ngành nghề kinh doanh nên không phải cứ mức tồn kho thấp là tốt, mức tồn kho cao là xấu. Chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho càng cao càng cho thấy doanh nghiệp bán hàng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều. Có nghĩa là doanh nghiệp sẽ ít rủi ro hơn nếu khoản mục hàng tồn kho trong báo cáo tài chính có giá trị giảm qua các năm. 11 Tuy nhiên, chỉ tiêu này quá cao cũng không tốt, vì như vậy có nghĩa là lượng hàng dự trữ trong kho không nhiều, nếu nhu cầu thị trường tăng đột ngột thì rất có khả năng doanh nghiệp bị mất khách hàng và bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần. Hơn nữa, dự trữ nguyên liệu vật liệu đầu vào cho các khâu sản xuất không đủ có thể khiến dây chuyền sản xuất bị ngưng trệ. Vì vậy, hệ số vòng quay hàng tồn kho cần phải đủ lớn để đảm bảo mức độ sản xuất và đáp ứng được nhu cầu khách hàng. Vòng quay hàng tồn kho được xác định theo công thức: GVHB Số vòng quay HTK = HTK  Thời gian lƣu kho Đây là chỉ số cho ta biết chính xác thời gian lượng hàng lưu kho là bao lâu. Thời gian lưu kho càng nhỏ thì chứng tỏ doanh nghiệp bán hàng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều. 365 Thời gian lưu kho = Vòng quay HTK  Vòng quay các khoản phải thu Chỉ tiêu này cho biết, trong kỳ phân tích, khoản phải thu quay được bao nhiêu vòng. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi nợ của doanh nghiệp càng nhanh, khả năng chuyển đổi các khoản nợ phải thu sang tiền mặt cao, điều này giúp doanh nghiệp nâng cao luồng tiền mặt, tạo ra sự chủ động trong việc tài trợ nguồn vốn lưu động trong sản xuất. Vòng quay các khoản phải thu được xác định theo công thức: Doanh thu thuần Số vòng quay các khoản phải thu = Phải thu khách hàng 12 Thang Long University Library  Kỳ thu tiền bình quân Chỉ tiêu này trên nguyên tắc càng thấp càng tốt, tuy nhiên phải căn cứ vào chiến lược kinh doanh, phương thức thanh toán, tình hình cạnh tranh trong từng thời điểm hay thời kì cụ thể. Việc chiếm dụng vốn này thoạt nhìn không mấy quan trọng, vì theo logic thông thường, khách hàng nợ rồi khách hàng cũng sẽ phải trả cho doanh nghiệp, không trả lúc này thì trả lúc khác, cuối cùng thì tiền vẫn thuộc về doanh nghiệp. Tuy nhiên, vấn đề sẽ trở nên nghiêm trọng nếu khách hàng chiếm dụng ngày càng cao, trong khi đó do yêu cầu của thị trường, doanh nghiệp cần tăng lượng hàng sản xuất, điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải tăng mua nguyên vật liệu, kéo theo yêu cầu phải có lượng tiền nhiều hơn, trong khi thời điểm đó lượng tiền của doanh nghiệp không đủ và đáng ra nếu khách hàng thanh toán những khoản nợ với doanh nghiệp thì doanh nghiệp sẽ có đủ số tiền cần thiết để mua đủ số lượng nguyên vật liệu theo yêu cầu. Do đó, trong trường hợp này, doanh nghiệp phải đi vay ngân hàng để bổ sung vào lượng tiền hiện có hoặc chỉ sản xuất với số lượng tương ứng với số lượng nguyên vật liệu được mua vào từ số tiền hiện có của doanh nghiệp, điều này đương nhiên sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Kỳ thu tiền bình quân cho biết trung bình mất bao nhiêu ngày để một khoản phải thu được thanh toán. Để có thể đánh giá hiệu quả thu tiền bình quân, công ty có thể so sánh với kỳ thu tiền bình quân của các năm trong quá khứ. Nếu kỳ thu tiền ngày càng tăng, có nghĩa là các khoản phải thu không được chuyển đổi thành tiền mặt nhanh chóng và ngược lại, nếu kỳ thu tiền bình quân có xu hướng giảm, cho thấy hiệu quả của công tác quản trị khoản phải thu mà công ty đang thực hiện là khả quan. 365 Kỳ thu tiền bình quân = Số vòng quay các khoản phải thu 1.3.3.2. Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn của doanh nghiệp  Vòng quay tài sản cố định Chỉ tiêu này giúp đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định của doanh nghiệp, cho thấy 1 đồng TSCĐ tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu. Chỉ tiêu này càng cao cho thấy hiệu quả sử dụng TSCĐ của doanh nghiệp càng cao và ngược lại. 13 Vòng quay tài sản cố định được xác định theo công thức sau: Doanh thu thuần Số vòng quay của tài sản cố định = Tổng tài sản cố định 1.3.3.3. Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tổng tài sản Chỉ tiêu này cho biết, trong kỳ phân tích của doanh nghiệp, một đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ khả năng quản lý tài sản càng hiệu quả. Ngược lại vòng quay càng nhỏ chứng tỏ rằng doanh nghiệp sử dụng tài sản chưa hiệu quả. Vòng quay tổng tài sản được xác định theo công thức sau: Doanh thu thuần Số vòng quay của tổng tài sản = Tổng tài sản 1.3.4. Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp luôn luôn theo đuổi một mục tiêu chính là làm thế nào để đạt được hiệu quả sản xuất kinh doanh cao nhất, đem lại lợi nhuận lớn nhất. Ta biết rằng, vốn kinh doanh là một trong ba yếu tố đầu vào quan trọng nhất phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp cần phải có một lượng vốn nhất định và các nguồn tài trợ tương ứng thì mới có thể tồn tại, hoạt động và phát triển. Do vậy hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh cũng không thể tách rời hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung của doanh nghiệp. Hiệu quả sử dụng vốn bao gồm những chỉ tiêu biểu hiện về hiệu quả sản xuất kinh doanh, phản ánh trình độ quản lý và sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp trong việc tối đa hoá lợi ích, tối thiểu hoá vốn kinh doanh bỏ ra và thời gian sử dụng theo các điều kiện về nguồn lực xác định phù hợp với mục tiêu kinh doanh. Một số chỉ tiêu thể hiện hiệu quả sử dụng vốn như:  Vòng quay các khoản phải trả Chỉ tiêu vòng quay các khoản phải trả phản ánh khả năng chiếm dụng vốn của doanh nghiệp đối với nhà cung cấp. Chỉ số vòng quay các khoản phải trả quá thấp có thể ảnh hưởng không tốt đến xếp hạng tín dụng của doanh nghiệp. Chỉ tiêu vòng quay các khoản phải trả năm nay nhỏ hơn năm trước chứng tỏ doanh nghiệp chiếm dụng vốn và thanh toán chậm hơn năm trước. Ngược lại, nếu chỉ tiêu vòng quay các khoản phải trả năm nay lớn hơn năm trước chứng tỏ doanh nghiệp chiếm dụng vốn và thanh toán nhanh hơn năm trước. 14 Thang Long University Library Nếu chỉ tiêu vòng quay các khoản phải trả quá nhỏ (các khoản phải trả lớn), sẽ tiềm ẩn rủi ro về khả năng thanh khoản. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý việc chiếm dụng khoản vốn này có thể sẽ giúp doanh nghiệp giảm được chi phí về vốn, đồng thời thể hiện uy tín về quan hệ thanh toán đối với nhà cung cấp và chất lượng hàng hoá cung cấp đối với khách hàng. Vòng quay các khoản phải trả được xác định theo công thức: GVHB Số vòng quay các khoản phải trả = Phải trả người bán  Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu: Tỷ số này cho biết quan hệ giữa vốn huy động bằng đi vay và vốn chủ sở hữu. Hệ số này càng nhỏ thì giá trị của vốn chủ sở hữu càng lớn vì nguồn vốn CSH là nguồn vốn không phải hoàn trả, cho thấy khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp càng tốt. Tuy nhiên nếu tỷ lệ này càng cao thì có một khả năng lớn là doanh nghiệp đang không thể trả được các khoản nợ theo điều kiện tài chính thắt chặt hoặc có sự kém cỏi trong quản lý, hoặc dòng tiền của doanh nghiệp sẽ kém đi do gánh nặng từ việc thanh toán các khoản lãi vay. Thông thường, nếu hệ số này lớn hơn 1, có nghĩa là tài sản của doanh nghiệp được tài trợ chủ yếu bởi các khoản nợ, còn ngược lại thì tài sản của doanh nghiệp được tài trợ chủ yếu bởi nguồn vốn chủ sở hữu. Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu được xác định bằng công thức: Nợ phải trả Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu = Vốn chủ sở hữu 1.3.5. Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng chi phí trong doanh nghiệp Trong quá trình điều hành và quản lý hoạt động của doanh nghiệp, các nhà quản trị luôn luôn cần các thông tin về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Và các thông tin đó thường đa số có liên quan đến chi phí của doanh nghiệp. Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gồm có các giai đoạn: dự trữ sản xuất – tiêu thụ. Trong quá tình đó, doanh nghiệp phải bỏ ra một chi phí nhất định bao gồm nhiều yếu tố chi phí khác nhau. Dưới đây, ta sẽ tìm hiểu chi tiết thêm một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng chi phí trong doanh nghiệp. 15 1.3.5.1. Tỷ suất sinh lời của giá vốn hàng bán Chỉ tiêu này cho biết, trong kỳ phân tích, doanh nghiệp bỏ ra 1 đồng giá vốn hàng bán thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận gộp. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ mức lợi nhuận trong giá vốn hàng bán càng lớn, thể hiện các mặt hàng kinh doanh có lời nhất, do vậy doanh nghiệp cần đẩy mạnh khối lượng tiêu thụ. Chỉ tiêu này được xác định như sau: Lợi nhuận gộp về bán hàng Tỷ suất sinh lời của GVHB = GVHB 1.3.5.2. Tỷ suất sinh lời của chi phí bán hàng Chỉ tiêu này cho biết, trong kỳ phân tích, doanh nghiệp bỏ ra 1 đồng chi phí bán hàng thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận thuần. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ mức lợi nhuận trong chi phí bán hàng càng lớn, doanh nghiệp đã tiết kiệm được chi phí bán hàng. Chỉ tiêu này được xác định như sau: Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh Tỷ suất sinh lời của chi phí bán hàng = Chi phí bán hàng 1.3.5.3. Tỷ suất sinh lời của chi phí quản lý doanh nghiệp Chỉ tiêu này cho biết, trong kỳ phân tích, doanh nghiệp bỏ ra 1 đồng chi phí quản lý doanh nghiệp thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận thuần. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ mức lợi nhuận trong chi phí quản lý doanh nghiệp càng lớn, doanh nghiệp đã tiết kiệm được chi phí quản lý. Chỉ tiêu này được xác định như sau: Tỷ suất sinh lời của chi phí quản lý doanh nghiệp Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh = Chi phi quản lý doanh nghiệp 1.3.5.4. Tỷ suất sinh lời của tổng chi phí trong doanh nghiệp Chỉ tiêu này cho biết, trong kỳ phân tích, doanh nghiệp bỏ ra 1 đồng chi phí thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận kế toán trước thuế. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ mức lợi nhuận trong chi phí càng lớn, doanh nghiệp đã tiết kiệm được các khoản chi phí chi ra trong kỳ. 16 Thang Long University Library Chỉ tiêu này được xác định như công thức dưới đây: Tỷ suất sinh lời của tổng chi phí Lợi nhuận kế toán trước thuế = Tổng chi phí 1.4. Các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 1.4.1. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp 1.4.1.1. Nguồn nhân lực Nhân lực là yếu tố quyết định đến sản xuất kinh doanh, nó bao gồm một số nội dung chủ yếu sau:  Ban giám đốc doanh nghiệp Là những cán bộ quản lý ở cấp cao nhất trong doanh nghiệp, những người vạch ra chiến lược, trực tiếp điều hành, tổ chức thực hiện công việc kinh doanh của doanh nghiệp. Đối với những công ty cổ phần, những tổng công ty lớn, ngoài ban giám đốc còn có hội đồng quản trị là đại diện cho các chủ sở hữu doanh nghiệp quyết định phương hướng kinh doanh của công ty.  Đội ngũ cán bộ quản lý ở cấp doanh nghiệp Là những người quản lý chủ chốt có kinh nghiệm công tác, phong cách quản lý, khả năng ra quyết định và hiểu biết sâu rộng lĩnh vực kinh doanh sẽ là một lợi thế quan trọng cho doanh nghiệp. Người quản lý làm việc trực tiếp với nhân viên cấp dưới, với chuyên viên, vì vậy trình độ hiểu biết của họ sẽ giúp họ nảy sinh những ý tưởng mới, sáng tạo phù hợp với sự phát triển của doanh nghiệp.  Các cán bộ quản lý ở cấp phân xƣởng, đốc công và công nhân Trình độ tay nghề của công nhân và lòng hăng say nhiệt tình làm việc của họ là yếu tố tác động rất lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Bởi khi tay nghề cao kết hợp với lòng hăng say nhiệt tình lao động thì nhất định năng suất lao động sẽ tăng trong khi chất lượng hàng hoá, dịch vụ được bảo đảm. Đây là tiền đề để doanh nghiệp có thể tham gia và đứng vững trong môi trường cạnh tranh khốc liệt hiện nay. 1.4.1.2. Nguồn lực vật chất và tài chính  Khả năng tài chính của doanh nghiệp Quyết định đến việc thực hiện hay không thực hiện bất cứ một hoạt động đầu tư, mua sắm hay phân phối của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có tiềm lực về tài chính sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc đổi mới công nghệ, đầu tư trang thiết bị, 17 đảm bảo nâng cao chất lượng, hạ giá thành nhằm duy trì và nâng cao sức mạnh cạnh tranh, củng cố vị trí của mình trên thị trường.  Máy móc thiết bị và công nghệ Tình trạng máy móc thiết bị và công nghệ có ảnh hưởng một cách sâu sắc đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Nó là yếu tố vật chất quan trọng bậc nhất thể hiện năng lực sản xuất của mỗi doanh nghiệp và tác động trực tiếp đến chất lượng, giá thành và giá bán sản phẩm, hàng hoá.  Hệ thống mạng lƣới phân phối của doanh nghiệp Mạng lưới phân phối của doanh nghiệp được tổ chức, quản lý và điều hành một cách hợp lý thì nó sẽ là một phương tiện có hiệu quả để tiếp cận khách hàng. Doanh nghiệp thu hút khách hàng bằng các hình thức mua bán, thanh toán, vận chuyển… hợp lý nhất. 1.4.2. Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp 1.4.2.1. Nhân tố thuộc môi trường vĩ mô.  Các nhân tố về mặt kinh tế: Các nhân tố về mặt kinh tế có vai trò rất quan trọng, quyết định đến việc hình thành và hoàn thiện môi trường kinh doanh, đồng thời ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Các nhân tố kinh tế gồm có:  Tốc độ tăng trưởng kinh tế: Nền kinh tế tăng trưởng cao và ổn định sẽ làm cho thu nhập của tầng lớp dân cư tăng dẫn đến sức mua hàng hóa và dịch vụ tăng lên. Đây là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng tạo nên sự thành công trong kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao và ổn định kéo theo hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đạt hiệu quả cao, khả năng tích tụ và tập trung sản xuất cao.  Tỷ giá hối đoái: Đây là nhân tố tác động nhanh chóng và sâu sắc với từng quốc gia và từng doanh nghiệp nhất là trong điều kiện nền kinh tế mở cửa khi đồng nội tệ lên giá sẽ khuyến khích nhập khẩu và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước sẽ giảm trên thị trường nội địa. 18 Thang Long University Library  Lãi suất cho vay của ngân hàng: Nếu lãi suất cho vay cao dẫn đến chi phí kinh doanh của doanh nghiệp cao, điều này làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nhất là khi so với doanh nghiệp có tiềm lực vốn sở hữu mạnh.  Lạm phát: Lạm phát cao các doanh nghiệp sẽ không đầu tư vào sản xuất kinh doanh đặc biệt là đầu tư tái sản xuất mở rộng và đầu tư đổi mới công nghệ sản xuất của doanh nghiệp vì các doanh nghiệp sợ không đảm bảo về mặt hiện vật các tài sản, không có khả năng thu hồi vốn sản xuất hơn nữa, rủi ro kinh doanh khi xẩy ra lạm phát rất lớn.  Các chính sách kinh tế của nhà nước: Các chính sách phát triển kinh tế của nhà nước có tác dụng cản trở hoặc ủng hộ lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Có khi một chính sách kinh tế của nhà nước tạo cơ hội đối với doanh nghiệp này nhưng làm mất cơ hội cho doanh nghiệp khác  Các nhân tố thuộc về chính trị pháp luật Một thể chế chính trị, một hệ thống pháp luật chặt chẽ, rõ ràng, mở rộng và ổn định sẽ làm cơ sở cho sự bảo đảm điều kiện thuận lợi và bình đẳng cho các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh lành mạnh, đạt hiệu quả cao cho doanh nghiệp và xã hội. Thể hiện rõ nhất là các chính sách bảo hộ mậu dịch tự do, các chính sách tài chính, những quan điểm trong lĩnh vực nhập khẩu, các chương trình quốc gia, chế độ tiền lương, trợ cấp, phụ cấp cho người lao động... Các nhân tố này đều ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá của doanh nghiệp.  Các nhân tố về khoa học công nghệ Nhóm nhân tố khoa học công nghệ tác động một cách quyết định đến 2 yếu tố cơ bản nhất tạo nên khả năng cạnh tranh trên thị trường hay khả năng tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá của doanh nghiệp, đó là hai yếu tố chất lượng và giá bán. Khoa học công nghệ hiện đại áp dụng trong sản xuất kinh doanh góp phần làm tăng chất lượng hàng hóa và dịch vụ, giảm tối đa chi phí sản xuất (tăng hiệu suất) dẫn tới giá thành sản phẩm, hàng hoá giảm.  Các yếu tố về văn hóa - xã hội Phong tục tập quán, lối sống, thị hiếu, thói quen tiêu dùng, tôn giáo tín ngưỡng có ảnh hưởng trực tiếp đến mức tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp. Những khu vực khác nhau có văn hóa - xã hội khác nhau do vậy khả năng tiêu thụ 19 hàng hóa cũng khác nhau, đòi hỏi doanh nghiệp phải nghiên cứu rõ những yếu tố thuộc về văn hóa - xã hội ở khu vực đó để có những chiến lược hàng hoá, dịch vụ phù hợp với từng khu vực khác nhau.  Các yếu tố tự nhiên Các nhân tố tự nhiên có thể tạo ra các thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các nhân tố tự nhiên bao gồm tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý... Vị trí địa lý thuận lợi sẽ tạo điều kiện khuếch trương sản phẩm, hàng hoá; mở rộng thị trường tiêu thụ giảm thiểu các chi phí phục vụ bán hàng, giới thiệu sản phẩm, hàng hoá. Tài nguyên thiên nhiên phong phú tạo điều kiện cho doanh nghiệp chủ động trong cung ứng nguyên vật liệu đầu vào cho quá trình sản xuất kinh doanh, đáp ứng kịp thời nhu cầu thị trường, tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh. 1.4.2.2. Nhân tố thuộc môi trường vi mô.  Khách hàng Khách hàng là đối tượng mà doanh nghiệp phục vụ và là yếu tố quyết định đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Bởi vì khách hàng tạo nên thị trường, quy mô của khách hàng tạo nên quy mô thị trường. Những biến động tâm lý khách hàng thể hiện qua sự thay đổi sở thích, thị hiếu, thói quen làm cho số lượng hàng hoá được tiêu thụ tăng lên hay giảm đi. Việc định hướng hoạt động sản xuất kinh doanh hướng vào nhu cầu của khách hàng sẽ đem lại kết quả khả quan cho doanh nghiệp tạo thói quen và tổ chức các dịch vụ phục vụ khách hàng, đánh đúng vào tâm lý tiêu dùng là biện pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quả của hoạt động tiêu thụ hàng hoá. Một nhân tố đặc biệt quan trọng là mức thu nhập và khả năng thanh toán của khách hàng có tính quyết định đến lượng hàng hóa tiêu thụ của doanh nghiệp. Khi thu nhập tăng thì nhu cầu tăng và khi thu nhập giảm thì nhu cầu giảm, do vậy doanh nghiệp cần có những chính sách giá, chính sách hàng hoá, dịch vụ hợp lý.  Số lƣợng các doanh nghiệp trong ngành và cƣờng độ cạnh tranh của ngành Số lượng các doanh nghiệp trong ngành và các đối thủ ngang sức tác động rất lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp có quy mô lớn, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ cao hơn các đối thủ khác trong ngành. Càng nhiều doanh nghiệp cạnh tranh trong ngành thì cơ hội đến với từng doanh nghiệp càng ít, thị trường phân chia nhỏ hơn, khắt khe hơn dẫn đến lợi nhuận của từng doanh nghiệp cũng nhỏ đi. Do vậy, việc nghiên cứu đối thủ cạnh tranh là việc cần thiết để giữ vững thị trường tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ của mỗi doanh nghiệp. 20 Thang Long University Library
- Xem thêm -