Tài liệu Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của nam trung việt logistics corporation

  • Số trang: 115 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 53 |
  • Lượt tải: 0
sakura

Đã đăng 11429 tài liệu

Mô tả:

Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD: Ths. Lê Văn Hiền Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ LOGISTICS VÀ GIAO NHẬN HÀNG HÓA BẰNG CONTAINER 1.1. Dịch vụ logistics 1.1.1. Khái niệm dịch vụ logistics Có rất nhiều khái niệm khác nhau về logistics trên thế giới và được xây dựng căn cứ trên ngành nghề và mục đích nghiên cứu về dịch vụ logistics, tuy nhiên có thể nêu một số khái niệm chủ yếu sau: - Liên Hợp Quốc (Khóa đào tạo quốc tế về vận tải đa phương thức và quản lý logistics, Đại học Ngoại Thương, tháng 10/2002): Logistics là hoạt động quản lý quá trình lưu chuyển nguyên vật liệu qua các khâu lưu kho, sản xuất ra sản phẩm cho tới tay người tiêu dùng theo yêu cầu của khách hàng. - Ủy ban Quản lý logistics của Hoa Kỳ: Logistics là quá trình lập kế hoạch, chọn phương án tối ưu để thực hiện việc quản lý, kiểm soát việc di chuyển và bảo quản có hiệu quả về chi phí và ngắn nhất về thời gian đối với nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm, cũng như các thông tin tương ứng từ giai đoạn tiền sản xuất cho đến khi hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng để đáp ứng yêu cầu của khách hàng. - Hội đồng quản trị logistics Hoa Kỳ-1988: Logistics là quá trình lên kế hoạch, thực hiện và kiểm soát hiệu quả, tiết kiệm chi phí của dòng lưu chuyển và lưu trữ nguyên vật liệu, hàng tồn, thành phẩm và các thông tin liên quan từ điểm xuất xứ đến điểm tiêu thụ, nhằm mục đích thỏa mãn những yêu cầu của khách hàng. - Trong lĩnh vực quân sự, logistics được định nghĩa là khoa học của việc lập kế hoạch và tiến hành di chuyển và tập trung các lực lượng, … các mặt trong chiến dịch quân sự liên quan tới việc thiết kế và phát triển, mua lại, lưu kho, di chuyển, phân phối, tập trung, sắp đặt và di chuyển khí tài, trang thiết bị. 1 SVTH: Nguyễn Thị Anh Đào Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD: Ths. Lê Văn Hiền - Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 (Điều 233): Trong Luật Thương mại 2005, lần đầu tiên khái niệm về dịch vụ logistics được pháp điển hóa. Luật quy định “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”. Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau nhưng các khái niệm về dịch vụ logistics có thể chia thành hai nhóm:  Nhóm định nghĩa hẹp mà tiêu biểu là định nghĩa theo Luật Thương Mại 2005, xem logistics gần như tương tự với hoạt động giao nhận hàng hóa. Tuy nhiên trong định nghĩa của Luật Thương Mại cũng có tính mở thể hiện trong cụm từ “ hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa”. Khái niệm logistics trong trong một số lĩnh vực chuyên ngành cũng chỉ bó hẹp trong phạm vi, đối tượng của ngành đó. Theo trường phái này, bản chất của dịch vụ logistics là việc tập hợp tấc cả các yếu tố hỗ trợ cho quá trình vận chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ. Theo đó, dịch vụ logistics mang nhiếu yếu tố vận tải, người cung cấp dịch vụ logistics theo khái niệm này không có nhiều khác biệt so với người cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức.  Nhóm định nghĩa thứ hai về dịch vụ logistics có phạm vi rộng hơn, có tác động từ giai đoạn tiền sản xuất cho đến khi hàng hóa tới tay người tiêu dùng cuối cùng. Theo nhóm định nghĩa này, dịch vụ logistics gắn liền cả quá trình nhập nguyên, nhiên vật liệu làm đầu vào cho quá trình sản xuất, sản xuất ra hàng hóa và đưa vào các kênh lưu thông, phân phối và đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Nhóm định nghĩa này của dịch vụ logistics góp phần phân định rõ ràng giữa các nhà cung cấp từng dịch vụ đơn lẽ như dịch vụ vận tải, giao nhận, khai hải quan, phân phối… với một nhà cung cấp dịch vụ logistics chuyên nghiệp, người sẽ đảm nhận toàn bộ các khâu trong quá trình hình thành và đưa hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Như vậy, nhà cung cấp dịch vụ logistics chuyên nghiệp đòi hỏi phải có chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng để cung cấp dịch vụ mang tính “trọn gói” cho các nhà sản xuất. 2 SVTH: Nguyễn Thị Anh Đào Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD: Ths. Lê Văn Hiền 1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển dịch vụ logistics Trên thế giới thuật ngữ logistics đã xuất hiện từ rất lâu nhưng cho đến nay nó vẫn còn khá xa lạ, mới mẻ đối với phần lớn người Việt Nam. “Logistics” theo nghĩa đang sử dụng trên thế giới có nguồn gốc từ từ “Logistique” trong tiếng Pháp. “Logistique”lại có nguồn gốc từ từ “Loger” nghĩa là nơi đóng quân. Logistics được dùng ở Anh bắt đầu từ thế kỷ 19. Một điều thú vị là từ này không hề có mối liên quan gì với từ “logistic” trong toán học, có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp “logistikos” và được dùng ở Anh từ thế kỷ 17. Từ điển Websters định nghĩa : “Logistics là quá trình thu mua, bảo quản, phân phối và thay thế con người và trang thiết bị”. Còn theo American Heritage Dictionary, Logistics có 2 nghĩa: “Logistics là một lĩnh vực hoạt động của quân đội, liên quan đến việc thu mua, phân phối, bảo quản và thay thế các thiết bị máy móc cũng như con người”. hoặc: “Logiostics là việc quản lý các chi tiết của quá trình hoạt động”. Cho đến nay vẫn chưa tìm được thuật ngữ thống nhất, phù hợp để dịch từ Logistics sang tiếng Việt. có người dịch là hậu cần, có người dịch là tiếp vận hoặc tổ chức dịch vụ cung ứng, thậm chí là vận trù… Xét trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, có thể tóm lược quá trình phát triển của logistics như sau: Ban đầu logistics được sử dụng như một từ chuyên môn trong quân đội, được hiểu với nghĩa là công tác hậu cần. Napoleon từng định nghĩa: Logistics là hoạt động để duy trì lực lượng quân đội. Sau này thuật ngữ logistics dần được áp dụng trong lĩnh vực kinh tế, được lan truyền từ châu lục này sang châu lục kia, từ nước này sang nước khác, hình thành nên từ logistics toàn cầu. Logistics đã phát triển rất nhanh chóng, nếu giữa thế kỷ thứ 20 rất hiếm doanh nhân hiểu được logistics là gì, thì đến cuối thế kỷ, logistics được ghi nhận như một chức năng kinh tế chủ yếu, một công cụ hữu hiệu mang lại thành công cho các doanh nghiệp cả trong khu vực sản xuất lẫn trong khu vực dịch vụ. Theo ESCAP (Economic and Commission for Asia and pacific - Ủy ban Kinh tế và Xã hội châu Á – Thái Bình Dương) Logistics được phát triển qua 3 giai đoạn: 3 SVTH: Nguyễn Thị Anh Đào Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD: Ths. Lê Văn Hiền Giai đoạn 1: Phân phối vật chất. Vào những năm 60, 70 của thế kỷ 20, người ta bắt đầu quan tâm đến vấn đề quản lý một cách có hệ thống những hoạt động có liên quan với nhau để đảm bảo phân phối sản phẩm, hàng hóa cho khách hàng một cách có hiệu quả. Những hoạt động đó gồm vận tải, phân phối, bảo quản hàng hóa, quản lý tồn kho, bao bì đóng gói, phân loại, dán nhãn… những hoạt động nêu trên được gọi là phân phối /cung ứng sản phẩm vật chất hay còn có tên gọi là loistics đầu ra. Giai đọan 2: Hệ thống logistics. Đến những năm 80, 90 của thế kỷ trước, các công ty tiến hành kết hợp quản lý 2 mặt: đầu vào (gọi là cung ứng vật tư) với đầu ra (phân phối sản phẩm), để tiết kiệm chi phí, tăng thêm hiệu quả của quá trình này. Sự kết hợp đó được gọi là hệ thống logistics. Giai đọan 3: Quản trị dây chuyền cung ứng. Đây là khái niệm mang tính chiến lược về quản trị chuỗi nối tiếp các hoạt động từ người cung cấp – đến người sản xuất – khách hàng tiêu dùng sản phẩm, cùng với việc lập các chứng từ có liên quan, hệ thống theo dõi, kiểm tra làm tăng thêm giá trị sản phẩm. Khái niệm này coi trọng việc phát triển các quan hệ với đối tác, kết hợp chặt chẽ giữa người sản xuất với người cung cấp, với người tiêu dùng và các bên có liên quan, như: các công ty vận tải, kho bãi, giao nhận và người cung cấp công nghệ thông tin. Logistics phát triển rất nhanh chóng, trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, ở nhiều nước, nên có rất nhiểu tổ chức, tác giả tham gia nghiên cứu, đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau, cho đến nay vẫn chưa có khái niệm thống nhất về logistics. 1.1.3. Phân loại dịch vụ logistics 1.1.3.1. Phân loại theo các hình thức logistics. Cho đến nay trên thế giới có các hình thức sau: - Logistics bên thứ nhất (1 PL - First Party Logistics) – người chủ sở hữu hàng hóa tự mình tổ chức và thực hiện các hoạt động logistics để đáp ứng nhu cầu 4 SVTH: Nguyễn Thị Anh Đào Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD: Ths. Lê Văn Hiền của bản thân. Theo hình thức này, chủ hàng phải đầu tư vào phương tiện vận tải, kho chứa hàng, hệ thống thông tin, nhân công để quản lý và vận hành hoạt động logistics. First Party Logistics làm phình to quy mô của doanh nghiệp và thường làm giảm hiệu quả kinh doanh, vì doanh nghiệp không có đủ quy mô cần thiết, kinh nghiệm và kỹ năng chuyên môn để quản lý và vận hành hoạt động logistics. - Logistics bên thứ hai (2 PL - Second party logistics) – người cung cấp dịch vụ logistics bên thứ hai là người cung cấp dịch vụ cho một hoạt động đơn lẻ trong chuỗi các hoạt động logistics ( vận tải, kho bãi, thủ tục hải quan, thanh toán,…) để đáp ứng nhu cầu của chủ hàng, chưa tích hợp hoạt động logistics. Loại hình này bao gồm: các hãng vận tải đường biển, đường bộ, đường hàng không, các công ty kinh doanh kho bãi, khai thuê hải quan, trung gian thanh toán,… - Logistics bên thứ ba (3 PL - Third Party Logistics) – là người thay mặt cho chủ hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ logistics cho từng bộ phận chức năng, ví dụ như thay mặt cho người gửi hàng thực hiện thủ tục xuất khẩu và vận chuyển nội địa hoặc thay mặt cho người nhập khẩu làm thủ tục thông quan và vận chuyển hàng tới địa điểm đến quy định… Do đó 3 PL bao gồm nhiều dịch vụ khác nhau, kết hợp chặt chẽ việc luân chuyển, tồn trữ hàng hóa, xử lý thông tin,… và có tính tích hợp vào dây chuyền cung ứng của khách hàng. - Logistics bên thứ tư ( 4 PL – Fourth Party logistics) - là người tích hợp, người hợp nhất, gắn kết các nguồn lực, tiềm năng và cơ sở vật chất khoa học kỹ thuật của mình với các tổ chức khác để thiết kế, xây dựng và vận hành các chuỗi logistics. 4 PL chịu trách nhiệm quản lý dòng lưu chuyển logistics, cung cấp giải pháp dây chuyền cung ứng, hoạch định, tư vấn logistics, quản trị vận tải,… 4 PL hướng đến quản trị của cả quá trình logistics như nhận hàng từ nơi sản xuất, làm thủ tục xuất, nhập khẩu, đưa hàng đến nơi tiêu thụ cuối cùng. - Gần đây cùng với sự phát triển của thương mại điện tử, người ta đã nói đến khái niệm Logistics bên thứ năm (5 PL – Fifth Party logistics). 5 PL phát triển nhằm phục vụ cho thương mại điện tử, các nhà cung cấp dịch vụ 5 PL là các 3 5 SVTH: Nguyễn Thị Anh Đào Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD: Ths. Lê Văn Hiền PL và 4 PL, đứng ra quản lý toàn chuỗi phân phối trên nền tảng thương mại điện tử. 1.1.3.2. Phân loại theo quá trình - Logistics đầu vào (Inbound Logistics) là các hoạt động đảm bảo cung ứng tài nguyên đầu vào (nguyên liệu, thông tin, vốn,..) một cách tối ưu cả về vị trí, thời gian và chi phí cho quá trình sản xuất. - Logistics đầu ra (Outbound Logistics) là các hoạt động đảm bảo cung cấp thành phẩm đến tay người tiêu dùng một cách tối ưu cả về vị trí, thời gian và chi phí nhằm đem lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp. - Logistics ngược (Reverse Logistics) là quá trình thu hồi các phụ phẩm, phế liệu, phế phẩm, các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường phát sinh từ quá trình sản xuất và tiêu dùng trở về để tái chế hoặc xử lý. 1.1.4. Điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics - Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là doanh nghiệp có đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics theo quy định của pháp luật. - Chính phủ quy định chi tiết điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics (nghị định 140 NĐ-CP ngày 5/9/2007) 1.1.5. Quyền và nghĩa vụ của thƣơng nhân kinh doanh dịch vụ logistics Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có các quyền và nghĩa vụ sau đây: a) Được hưởng thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác. b) Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu có lý do chính đáng vì lợi ích của khách hàng thì thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có thể thực hiện khác với chỉ dẫn của khách hàng, nhưng phải thông báo ngay cho khách hàng. c) Khi xảy ra trường hợp có thể dẫn đến việc không thực hiện được một phần hoặc toàn bộ những chỉ dẫn của khách hàng thì phải thông báo ngay cho khách hàng để xin chỉ dẫn. 6 SVTH: Nguyễn Thị Anh Đào Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD: Ths. Lê Văn Hiền d) Trường hợp không có thoả thuận về thời hạn cụ thể thực hiện nghĩa vụ với khách hàng thì phải thực hiện các nghĩa vụ của mình trong thời hạn hợp lý. Khi thực hiện việc vận chuyển hàng hóa, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics phải tuân thủ các quy định của pháp luật và tập quán vận tải. 1.1.6. Các bƣớc cơ bản trong ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ logistics Bước 1: Các bên tiếp xúc, trao đổi đi đến thống nhất quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi bên. Đối với bên cung cấp dịch vụ thì nghĩa vụ là những công việc mà họ phải làm theo quy định của hợp đồng, và quyền lợi mà họ được hưởng là tiền thù lao. Đối với bên thuê dịch vụ/ bên ủy thác thì nghĩa vụ cơ bản của họ là trả thù lao và thực hiện hướng dẫn kiểm tra giám sát việc thực hiện hợp đồng, cung cấp kịp thời các thông tin, chứng từ cần thiết cho người cung cấp dịch vụ. Bước 2: Ký kết hợp đồng dịch vụ. Bước 3: Các bên thực hiện nghĩa vụ của mình như quy định của hợp đồng và luật thương mại. Bước 4: Giải quyết tranh chấp (nếu có), kết thúc hợp đồng. 1.2. Nghiệp vụ giao nhận hàng hóa bằng container 1.2.1. Khái quát chung về giao nhận 1.2.1.1. Dịch vụ giao nhận Theo quy tắc mẫu của FIATA (International Federation of Freight Forwarders Association) -Hiệp hội vận tải giao nhận quốc tế - về dịch vụ giao nhận, dịch vụ giao nhận được định nghĩa như bất kỳ loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như các dịch vụ tư vấn hay có liên quan đến các dịch vụ trên, kể cả các vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hóa. Theo luật thương mại Việt Nam 1997 thì “Giao nhận hàng hóa là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá nhận hàng từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu 7 SVTH: Nguyễn Thị Anh Đào Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD: Ths. Lê Văn Hiền bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo sự ủy thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc của người giao nhận khác.” Dịch vụ giao nhận hàng hóa là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa nhận hàng từ người gửi, tổ chức việc vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo sự ủy thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc của người làm dịch vụ giao nhận khác ( gọi chung là khách hàng). 1.2.1.2. Ngƣời giao nhận Người kinh doanh dịch vụ giao nhận được gọi là người giao nhận. người giao nhận có thể là chủ hàng, chủ tàu, công ty xếp dỡ hay kho hàng, người giao nhận chuyên nghiệp hay bất kỳ người nào khác. a. Phạm vi các dịch vụ giao nhận: Trừ phi bản thân người gửi hàng/ người nhận hàng muốn tự mình tham gia bất cứ khâu thủ tục và chứng từ nào đó, thông thường người giao nhận thay mặt họ lo liệu quá trình vận chuyển hàng hóa qua các công đoạn. Người giao nhận có thể làm những dịch vụ trực tiếp hay thông qua những người ký hợp đồng phụ hay những đại lý mà họ thuê. Người giao nhận cũng sử dụng những đại lý của họ ở nước ngoài. Những dịch vụ này gói gọn là:  Thay mặt ngƣời gửi hàng (ngƣời xuất khẩu): Theo những chỉ dẫn của người gửi hàng, người giao nhận sẽ: - Chọn tuyến đường, phương thức vận tải và người chuyên chở thích hợp. - Lưu cước đối với người chuyên chở đã chọn lọc. - Nhận hàng và cấp những chứng từ thích hợp như: giấy chứng nhận nhận hàng của người giao nhận, giấy chứng nhận chuyên chở của người giao nhận…… - Nghiên cứu những điều khoản trong tín dụng thư và tất cả những luật lệ của chính phủ áp dụng cho việc giao hàng ở nước xuất khẩu, nước nhập khẩu cũng như ở bất cứ nước quá cảnh nào, chuẩn bị tất cả các chứng từ cần thiết. - Đóng gói hàng hoá (trừ khi việc này do người gửi hàng làm trước khi giao hàng cho người giao nhận ) có tính đến tuyến đường, phương thức vận tải, bản 8 SVTH: Nguyễn Thị Anh Đào Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD: Ths. Lê Văn Hiền chất của hàng hóa và những luật lệ áp dụng (nếu có ) ở nước xuất khẩu, nước quá cảnh cũng như nước gửi hàng đến. - Lo liệu việc lưu kho hàng hóa (nếu cần ). - Cân đo hàng hóa. - Lưu ý người gửi hàng cần phải mua bảo hiểm, nếu người gửi hàng yêu cầu thì mua bảo hiểm cho hàng. - Vận chuyển hàng hóa đến cảng, lo liệu việc khai báo Hải Quan, lo các thủ tục chứng từ liên quan và giao hàng cho người chuyên chở. - Lo việc giao dịch ngoại hối (nếu có). - Thanh toán phí và những chi phí khác bao gồm cước. - Nhận vận đơn đã ký của người chuyên chở giao cho người gửi hàng. - Thu xếp việc chuyển tải trên đường (nếu cần). - Giám sát việc vận chuyển hàng hóa trên đường đưa tới người nhận hàng thông qua những mối liên hệ với người chuyên chở và đại lý của nguời giao nhận ở nước ngoài. - Ghi nhận những tổn thất của hàng hóa (nếu có ). - Giúp cho người gửi hàng tiến hành khiếu nại với người chuyên chở về tổn thất của hàng hóa (nếu có ).  Thay mặt ngƣời nhận hàng (ngƣời nhập khẩu): Theo những chỉ dẫn của người nhận hàng, người giao nhận sẽ: - Thay mặt người nhận hàng quan sát việc vận chuyển hàng hóa khi người nhận hàng lo liệu vận tải hàng. - Nhận và kiểm tra tất cả các chứng từ liên quan đến việc vận chuyển hàng hóa. - Nhận hàng của người chuyên chở, nếu cần thì thanh toán cước. - Thu xếp việc khai báo Hải Quan, trả lệ phí, thuế và những phí khác cho Hải Quan và những nhà đương cục khác. - Thu xếp việc lưu kho quá cảnh nếu cần. - Giao hàng đã làm thủ tục Hải Quan cho người nhận hàng. - Nếu cần, giúp đỡ người nhận hàng tiến hành khiếu nại đối với người chuyên chở về tổn thất hàng hóa (nếu có ). 9 SVTH: Nguyễn Thị Anh Đào Luận Văn Tốt Nghiệp - GVHD: Ths. Lê Văn Hiền Giúp người nhận hàng trong việc lưu kho và phân phối hàng hóa (nếu cần)  Những dịch vụ khác: Ngoài những dịch vụ trên, tuỳ thuộc vào yêu cầu của khách hàng, người giao nhận cũng có thể làm các dịch vụ khác nảy sinh trong quá trình chuyên chở và cả những dịch vụ đặc biệt như gom hàng, có liên quan đến hàng công trình, công trình chìa khóa trao tay, cung cấp các thiết bị nhà xưởng… Người giao nhận cũng có thể thông báo cho khách hàng của mình về nhu cầu tiêu dùng, những thị trường mới, tình hình cạnh tranh, chiến lược xuất khẩu, những khoản thích hợp cần đưa vào hợp đồng mua bán ngoại thương và tất cả các vấn đề có liên quan đến công việc kinh doanh của khách hàng.  Hàng hóa đặc biệt: Người giao nhận thường làm hàng bách hóa bao gồm nhiều loại thành phẩm hay hàng sơ chế và những hàng hóa khác giao lưu trong buôn bán quốc tế. Nhưng tùy theo yêu cầu của khách hàng, người giao nhận cũng có thể làm những dịch vụ khác có liên quan đến hàng đặc biệt, thậm chí một vài người giao nhận có thể chuyên làm dịch vụ này. Những dịch vụ đó là: - Vận chuyển hàng công trình. Việc này chủ yếu là vận chuyển máy móc nặng, thiết bị… để xây dựng những công trình lớn như sân bay, nhà máy hoá chất, nhà máy thủy điện, cơ sở lọc dầu… từ nơi sản xuất đến công trình xây dựng. Việc di chuyển những hàng hóa này cần phải có những kế hoạch cẩn thận để đảm bảo có thể giao hàng đúng thời hạn và có thể cần phải sử dụng cần cẩu loại nặng, xe vận tải ngoại cỡ, tàu chở hàng loại đặc biệt…… đây là một lĩnh vực chuyên môn hóa của người giao nhận.. - Dịch vụ về vận chuyển quần áo treo trên móc: Những quần áo may mặc được chuyên chở bằng những chiếc móc áo treo trên giá trong những container đặc biệt ở nơi đến được chuyển trực tiếp từ container vào 10 SVTH: Nguyễn Thị Anh Đào Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD: Ths. Lê Văn Hiền cửa hàng để bày bán. Cách này loại bỏ được việc chế biến lại quần áo nếu đóng nhồi trong container và đồng thời tránh được sự ẩm ướt, bụi bặm…… - Triển lãm ở nước ngoài: Người giao nhận thường được tổ chức triển lãm giao cho việc chuyên chở hàng đến nơi triển lãm ở nước ngoài. Người giao nhận phải tuân thủ những chỉ dẫn đặc biệt của họ về phương thức chuyên chở được sử dụng, về hình thức vận chuyển, về nơi cụ thể làm thủ tục Hải Quan ở nước đến khi giao hàng triển lãm, về những chứng từ cần lập…… b. Quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của ngƣời giao nhận  Địa vị pháp lý của ngƣời giao nhận:  Các nƣớc dùng luật tập tục: Do thiếu luật lệ quốc tế về lĩnh vực giao nhận, địa vị pháp lý của người giao nhận ở mỗi nước cũng khác nhau tùy thuộc vào chế độ pháp lý hiện hành ở từng nước. Nói chung những nước có luật tập tục, địa vị đó dựa trên khái niệm về đại lý. Người giao nhận là đại lý của người ủy thác (là người gửi hàng hoặc nhận hàng) trong việc thu xếp việc chuyển hàng hóa cho họ phụ thuộc vào những quy tắc truyền thống về đại lý, như việc phải chăm sóc chu đáo khi thực hiện nhiệm vụ của mình, phải trung thực với người ủy thác, phải tuân theo những chỉ dẫn hợp lý và phải có khả năng tính toán cho toàn bộ quá trình giao dịch. Khi hoạt động với tư cách đại lý, người giao nhận được dùng những quyền bảo vệ và giới hạn trách nhiệm phù hợp với vai trò của một người đại lý. Nhưng nếu như người giao nhận đảm nhiệm vai trò của một người ủy thác (người ủy thác là người cho phép và chỉ đạo một người khác -người đại lý- hành động cho lợi ích của mình, chịu sự chỉ đạo và kiểm tra của mình ) và ký một hợp đồng đảm nhiệm trách nhiệm về mình thì không được hưởng quyền đó. Trong trường hợp này, người giao nhận chịu trách nhiệm thực hiện thõa đáng toàn bộ quá trình vận tải kể cả khi hàng hóa nằm trong tay người chuyên chở và các đại lý khác mà họ sử dụng. 11 SVTH: Nguyễn Thị Anh Đào Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD: Ths. Lê Văn Hiền Tuy vậy, trong thực tế, vị trí thường khác biệt tuỳ theo loại dịch vụ mà người giao nhận đảm nhiệm. Chẳng hạn như khi người giao nhận chịu trách nhiệm lo liệu vận tải bộ tự mình vận chuyển hàng hóa, người giao nhận đảm nhiệm vai trò của người ủy thác nhưng nếu người giao nhận có một đại lý phụ mà khách hàng của họ biết và đồng ý chỉ định thì người giao nhận giữ nguyên địa vị đại lý của mình. Nhưng lại đến khi người giao nhận làm dịch vụ gom hàng và cấp vận đơn riêng của mình thì anh ta trở thành người ủy thác.  Các nƣớc có luật dân sự: Ở các nước có luật dân sự (là nơi luật định quyền hạn và việc bồi thường của tư nhân) địa vị pháp lý, quyền lợi và nghĩa vụ phát sinh từ địa vị đó của những người giao nhận giữa các nước có khác nhau. Thông thường, những người giao nhận ở nước đó lấy danh nghĩa của mình giao dịch cho công việc của người ủy thác. Họ được coi là đại lý của người ủy thác (người gửi hàng hay người nhận hàng) và đối với người chuyên chở thì họ lại là người ủy thác. Tuy nhiên, sự khác nhau nảy sinh ở những nước có luật dân sự là loại trách nhiệm của người giao nhận về vận chuyển. Trong một số nước có luật dân sự như Pháp chẳng hạn, ngoài trách nhiệm của người giao nhận về các hoạt động giao nhận của mình, anh ta còn phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện đúng đắn hợp đồng vận tải đã ký và về phương diện này, người giao nhận thường thật sự được coi như người chuyên chở về trách nhiệm nãy sinh trong việc thực hiện vận tải thực sự, luật của Pháp cho phép chủ hàng kiện người giao nhận hay người chuyên chở. Ở một số nước có luật dân sự như CHLB Đức thì địa vị pháp lý này hoàn toàn khác ở chỗ người giao nhận không chịu trách nhiệm về việc thực hiện đúng đắn hợp đồng vận tải trừ khi anh ta thực hiện hợp đồng đó. 12 SVTH: Nguyễn Thị Anh Đào Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD: Ths. Lê Văn Hiền  Điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn: Một số nước đã thông qua điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn nói chung giải thích rõ ràng các nghĩa vụ theo hợp đồng của người giao nhận đối với khách hàng của họ và nói riêng là quyền hạn và trách nhiệm cũng như quyền bảo vệ của người giao nhận. Những điều kiện này thường được hình thành phù hợp với tập quán thương mại hay thể chế pháp lý hiện hành ở từng nước. Ở một số nước những điều kiện này được dựa theo mẫu của FIATA (International Federation of Freight Forwarders Associations) soạn thảo. Việc đề ra những điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn là một trong những phương tiện chủ yếu nhằm nâng cao và duy trì những tiêu chuẩn nghề nghiệp của công nghiệp giao nhận, các hiệp hội quốc gia cần dành sự quan tâm đặc biệt cho việc đó. Ở những nước chưa có điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn thì hợp đồng giữa người giao nhận và khách hàng quy định những điều kiện, nhiệm vụ và trách nhiệm của mỗi bên. Mặc dù điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn giữa các nước có khác nhau nhưng người giao nhận phải: - Tiến hành chăm sóc chu đáo hàng hóa được ủy thác. - Thực hiện đúng những chỉ dẫn của khách hàng có liên quan đến vận tải hàng hóa đó. Người giao nhận không tự mình cam kết giao hàng tại một ngày nhất định tại điểm đến và có quyền giữ hàng khi khách hàng của mình chưa thanh toán các khoản phí.  Quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của ngƣời giao nhận khi làm đại lý: Người giao nhận hoạt động dưới danh nghĩa đại lý thường chấp nhận trách nhiệm do lỗi của bản thân mình hay do lỗi của người làm thuê cho mình. Những lỗi lầm, sơ suất đó là: - Giao hàng trái với chỉ dẫn. - Quên mua bảo hiểm mặc dù đã có chỉ thị. - Lỗi lầm khi làm thủ tục Hải Quan. 13 SVTH: Nguyễn Thị Anh Đào Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD: Ths. Lê Văn Hiền - Gửi hàng sai địa chỉ. - Tái xuất không làm đủ thủ tục để xin hoàn thuế. - Giao hàng mà không thu tiền của người nhận hàng. Người giao nhận cũng bị bên thứ ba khiếu nại về bất cứ hư hỏng, mất mát hàng hóa hay tổn hại cá nhân mà anh ta gây ra cho họ trong quá trình thực hiện dịch vụ. Người giao nhận thường không chấp nhận trách nhiệm về những hành vi hay sơ suất của bên thứ ba (như người chuyên chở, người nhận lại dịch vụ giao nhận… ) miễn là người giao nhận đã thể hiện đầy đủ sự quan tâm chu đáo khi lựa chọn bên thứ ba đó. Điều kiện được thể hiện theo điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn khi người giao nhận hoạt động với tư cách là đại lý trong việc thực hiện chức năng truyền thống của mình như lưu cước, lo vận chuyển, khai báo Hải Quan……  Quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của ngƣời giao nhận khi là ngƣời ủy thác: Là người ủy thác, người giao nhận là một bên ký hợp đồng độc lập đảm nhận trách nhiệm với danh nghĩa của mình thực hiện những dịch vụ do khách hàng yêu cầu. Người giao nhận chịu trách nhiệm về những hành vi sơ suất của người chuyên chở, người nhận lại dịch vụ giao nhận… mà anh ta đã sử dụng để thực hiện hợp đồng. Nói chung, người giao nhận thương lượng giá dịch vụ với khách hàng chứ không phải là nhận hoa hồng. Ví dụ như khi người giao nhận gom hàng, làm dịch vụ vận tải đa phương thức hay đảm nhận vận tải bộ và tự vận chuyển hàng hóa thì đó là người giao nhận đảm nhận vai trò người ủy thác. Là người ủy thác, trách nhiệm đối với bên thứ ba, quyền hạn về giới hạn trách nhiệm và quyền thực hiện việc giữ hàng cũng giống như khi anh ta đóng vai trò đại lý. Khi người giao nhận đảm nhiệm vai trò của người ủy thác để làm dịch vụ vận tải đa phương thức thì điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn nói chung không áp dụng. 14 SVTH: Nguyễn Thị Anh Đào Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD: Ths. Lê Văn Hiền 1.2.2. Nghiệp vụ giao nhận hàng hóa bằng container. 1.2.2.1. Khái niệm về container Là một loại thùng chứa hàng hóa đặc biệt, là một loại dụng cụ vận tải được tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá định nghĩa như sau: - Có tính bền chắc, đáp ứng được yêu cầu sử dụng nhiều lần. - Có cấu tạo riêng biệt thuận lợi cho việc chuyên chở hàng hóa bằng một hoặc nhiều phương thức vận tải mà không cần phải dỡ hàng ra và đóng gói lại ở dọc đường. Được thiết kế thuận lợi, dễ dàng cho việc đóng hàng vào và rút hàng ra khỏi - container. - Có thể tích chứa hàng bên trong bằng 1m3 hoặc lớn hơn. - Có thông số kỹ thuật được tiêu chuẩn hoá thống nhất do tổ chức tiêu chẩn đo lường quốc tế ISO (International Standard Organization) nên thuận tiện cho việc chuyển đổi, sử dụng rộng rãi: container 10', 20', 30', 40'. Trong đó container 20' được chọn làm đơn vị tiêu chuẩn (TEU). 1.2.2.2. Loại và đặc điểm của container Tùy yêu cầu chuyên chở của mỗi loại hàng mà cấu trúc container gồm nhiều loại: - Container bách hóa hay container hàng khô đa dụng (General cargo container or dry cargo container) chở bách hoá hoặc hàng khác tương tự, trong điều kiện bình thường. - Container bảo ôn (Thermal container): Có thiết kế máy phát lạnh hoặc máy thông gió, dùng để chở loại hàng cần vận chuyển trong điều kiện nhiệt độ thích hợp. Gồm có: Container lạnh (Refrigerated or reefer container) dùng để chở hàng tươi sống như thịt, cá..., Container cách nhiệt (Insulated container dùng để chở rau quả, thực phẩm chỉ cần được bảo quản ở môi trường không khí thoáng đãng, trên khoảng cách vận chuyển ngắn. - Container chuyên dùng (Special container): Dùng chở hàng khô rời (Drry bulk container), hàng lỏng (Tank container), ô tô (Car container), súc vật sống (pen 15 SVTH: Nguyễn Thị Anh Đào Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD: Ths. Lê Văn Hiền or livestock container), hàng siêu trọng hình dáng phức tạp (Plastform container)... Thực tế container được phân thành nhiều loại dựa trên các tiêu chuẩn khác nhau, cụ thể:  Phân loại theo kích thước. - Container loại nhỏ: Trọng lượng dưới 5 tấn và dung tích dưới 3m3 - Container loại trung bình: Trọng lượng 5 - 8 tấn và dung tích nhỏ hơn 10m3 . - Container loại lớn: Trọng lượng hơn 10 tấn và dung tích hơn 10m3.  Phân loại theo vật liệu đóng container Container được đóng bằng loại vật liệu nào thì gọi tên vật liệu đó cho container: container thép, container nhôm, container gỗ dán, container nhựa tổng hợp .....  Phân loại theo cấu trúc container. - Container kín (Closed Container) - Container mở (Open Container) - Container khung (France Container) - Container gấp (Tilt Container) - Container phẳng (Flat Container) - Container có bánh lăn (Rolling Container)  Phân loại theo công dụng của container Theo CODE R688 - 21968 của ISO, phân loại theo mục đích sử dụng, container được chia thành 5 nhóm chủ yếu sau:  Nhóm 1: Container chở hàng bách hóa. Nhóm này bao gồm các container kín có cửa ở một đầu, container kín có cửa ở một đầu và các bên, có cửa ở trên nóc, mở cạnh, mở trên nóc - mở bên cạnh, mở trên nóc - mở bên cạnh - mở ở đầu; những container có hai nửa (half-heigh container), những container có lỗ thông hơi..... 16 SVTH: Nguyễn Thị Anh Đào Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD: Ths. Lê Văn Hiền  Nhóm 2: Container chở hàng rời (Dry Bulk/Bulker freight container) Là loại container dùng để chở hàng rời (ví dụ như thóc hạt, xà phòng bột, các loại hạt nhỏ....). Đôi khi loại container này có thể được sử dụng để chuyên chở hàng hóa có miệng trên mái để xếp hàng và có cửa container để dỡ hàng ra. Tiện lợi của kiểu container này là tiết kiệm sức lao động khi xếp hàng vào và dỡ hàng ra, nhưng nó cũng có điểm bất lợi là trọng lượng vỏ nặng, số cửa và nắp có thể gây khó khăn trong việc giữ an toàn và kín nước cho container vì nếu nắp nhồi hàng vào nhỏ quá thì sẽ gây khó khăn trong việc xếp hàng có thứ tự.  Nhóm 3: Container bảo ôn /nóng /lạnh (Thermal insulated/ Heated / Refrigerated / Reefer container) Loại container này có sườn, sàn mái và cửa ốp chất cách nhiệt để hạn chế sự di chuyển nhiệt độ giữa bên trong và bên ngoài container, nhiều container loại này có thiết bị làm lạnh hoặc làm nóng được đặt ở một đầu hay bên thành của container hay việc làm lạnh dựa vào những chiếc máy kẹp được gắn phía trước container hoặc bởi hệ thống làm lạnh trực tiếp của tàu hay bãi container. Nhiều container lại dựa vào sự làm lạnh hỗn hợp (khống chế nhiệt độ). Đây là loại container dùng để chứa hàng mau hỏng (hàng rau quả ....) và các loại container hàng hóa bị ảnh hưởng do sự thay đổi nhiệt độ. Tuy nhiên, vì chỉ có lớp cách điện và nếu có thể tăng thêm đồng thời lớp cách điện và máy làm lạnh này cũng giảm dung tích chứa hàng của container, sự bảo quản máy móc cũng yêu cầu đòi hỏi cao hơn nếu các thiết bị máy được đặt ở trong container. - Nhóm 4: Container thùng chứa (Tank container) Dùng để chở hàng hóa nguy hiểm và hàng đóng rời (thực phẩm lỏng như dầu ăn, hóa chất, chở hoá chất.....) Những thùng chứa bằng thép được chế tạo phù hợp với kích thước của ISO dung tích là 20ft hình dáng như một khung sắt hình chữ nhật chứa khoảng 400 galon (15410 lít) tuỳ theo yêu cầu loại container này có thể được lắp thêm thiết bị làm lạnh hay nóng, đây là loại container được chế tạo cho những hàng hóa đặc biệt, nó có ưu điểm là sức lao động yêu cầu để đổ đầy và hút hết (rỗng) là nhỏ nhất và có thể được sử dụng như là kho chứa tạm thời. Tuy nhiên, nó cũng có những khuyết điểm, chẳng hạn: 17 SVTH: Nguyễn Thị Anh Đào Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD: Ths. Lê Văn Hiền - Giá thành ban đầu cao. - Giá thành bảo dưỡng cao. - Các hàng hóa khi cho vào đòi hỏi phải làm sạch thùng chứa (mỗi lần cho hàng vào là một lần làm sạch thùng chứa) - Khó khăn cho vận chuyển nên hàng bị rơi nhiều (hao phí do bay hơi, rò rỉ....) - Trọng lượng vỏ cao.  Nhóm 5: Các container đặc biệt ( Special container), container chở súc vật sống (Cattle Container). Những container của ISO được lắp đặt cố định những ngăn chuồng cho súc vật sống và có thể hoặc không thể chuyển đổi thành container phù hợp cho mục đích chuyên chở hàng hóa bách hóa. Loại container này dùng để chuyên chở súc vật sống do vậy nhược điểm chính của nó là vấn đề làm sạch giữa các loại hàng hóa. Trong nhiều quốc gia đó chính là vấn đề kiểm dịch khi các container rỗng dùng để chở súc vật sống quay trở lại dùng để tiếp tục bốc hàng. 1.2.2.3. Những thuận lợi của việc container hóa. a. Đối với ngƣời sử dụng tàu: - Bảo vệ tốt hơn cho hàng hóa khỏi bị nhiễm bẩn, mất cắp, hư hỏng. - Tiết kiệm chi phí bao bì. - Hàng tồn đọng ở mức tối thiểu dẫn đến chi phí thấp hơn vì thời gian vận chuyển ngắn và do đó hàng tồn đọng được quản lý tốt hơn. - Giảm chi phí vận tải nội địa và chi phí bốc xếp làm hàng. - Thuận lợi cho dịch vụ “ Door to door” do vận chuyển hàng hóa nhanh hơn. b. Đối với chủ tàu: - Giảm thời gian chờ đợi ở cảng dẫn tới tàu quay vòng nhanh hơn. - Tận dụng được dung tích tàu do việc sắp xếp container không tốn nhiều khoảng trống như đóng những loại hàng khác. - Giảm trách nhiệm về khiếu nại hàng hoá. 18 SVTH: Nguyễn Thị Anh Đào Luận Văn Tốt Nghiệp - GVHD: Ths. Lê Văn Hiền Thuận lợi cho việc chuyển tải. Đối với ngƣời giao nhận: c. Những thuận lợi của việc container hóa đối với người giao nhận là tạo điều kiện cho họ thực hiện chức năng như một người điều hành vận tải công cộng không kinh doanh tàu để tiến hành: - Dịch vụ gom hàng. - Dịch vụ “Door to door”. - Dịch vụ chia lẻ hàng. 1.2.2.4. Những biện pháp phòng ngừa cần có trong việc sử dụng container. - Kiểm tra container trước khi sử dụng. - Đóng hàng vào container hợp cách. - Những biện pháp làm giảm hư hỏng do đọng hơi nước. a. Kiểm tra container: - Kiểm tra hư hỏng bề ngoài như lổ thủng, vết rách (kiểm tra sơ bộ). - Đảm bảo container sạch sẽ, không có mùi, hoàn toàn khô ráo, không có chuột bọ. - Đảm bảo cửa đóng khít. - Đảm bảo nóc không có vết rỉ. b. Đóng hàng vào container hợp cách: - Kiểm tra trọng lượng cho phép tối đa của hàng hóa. - Trọng lượng hàng hóa cần được san xếp đều trên sàn container. - Cần tuân thủ thận trọng những quy tắc chung về xếp hàng đóng trong hòm carton, hàng cách ly. - Những chỗ trống cần được chèn lót để cho hàng khỏi bị xê dịch. - Sống đỡ hoặc góc cạnh của những kiện hàng cứng không được để ở chổ có thể chèn ép thành container. - Cần ngăn ngừa khả năng hàng bị rơi ra khỏi cửa container - Cần chú ý thích đáng những quy tắc đối với hàng đặc biệt. 19 SVTH: Nguyễn Thị Anh Đào Luận Văn Tốt Nghiệp - GVHD: Ths. Lê Văn Hiền Những quy chế về vận chuyển hàng hóa nguy hiểm cần phải được tuân thủ nghiêm ngặt. c. Những biện pháp làm giảm hƣ hỏng do đọng nƣớc: Có hai loại đọng hơi nước là sự đổ mồ hôi của container và đổ mồ hôi của hàng hóa. Sự ẩm ướt và thay đổi nhiệt độ là nguyên nhân gây ra đọng hơi nước. Có thể áp dụng những biện pháp sau trong đóng gói hàng hóa khi có thể xãy ra hư hỏng hàng do ẩm ướt: - Dùng loại container có ống thông gió. - Trước khi đóng hàng, container cần được sấy khô. - Dùng chất hút ẩm như hạt Sillicagel. - Dùng gỗ khô để chèn lót hàng ở chỗ trống. - Kim loại để trần hoặc phụ tùng kim loại có thể được bảo vệ tốt bằng cách phủ một lớp hoá chất hoặc một lớp giấy PVC. 1.3. Mối quan hệ giữa dịch vụ giao nhận vận tải và dịch vụ logistics. - Logistics là sự phát triển cao, hoàn chỉnh của dịch vụ giao nhận vận tải biển quốc tế. Cùng với quá trình phát triển của mình, logistics đã làm đa dạng hóa khái niệm giao nhận vận tải truyền thống. Từ chổ chỉ thay mặt khách hàng thực hiện các khâu rời rạc như thuê tàu, lưu cước, làm thủ tục thông quan,… cho tới cung cấp dịch vụ trọn gói từ kho đến kho (door to door). Từ chổ đóng vai trò đại lý, người được ủy thác trở thành một chủ thể chính trong các hoạt động giao nhận vận tải với khách hàng, chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với các hành vi của mình. - Dịch vụ giao nhận vận tải biển quốc tế là yếu tố cấu thành trong dịch vụ logistics bằng đường biển. Trong tất cả các yếu tố cấu thành nên chuỗi logistics thì giao nhận vận tải biển quốc tế là một trong những khâu quan trọng nhất, có ảnh hưởng đến chất lương dịch vụ và chi phí logistics. Giao nhận vận tải tốt sẽ góp phần đảm bảo cung ứng hàng hóa một cách nhanh chóng, kịp thời, ổn 20 SVTH: Nguyễn Thị Anh Đào
- Xem thêm -