Tài liệu Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho giáo dục trung học phổ thông công lập tỉnh hưng yên

  • Số trang: 54 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 159 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

Luận văn tốt nghiệp Tài chính công LỜI MỞ ĐẦU Trong quá trình đổi mới, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, xuyên suốt các Nghị quyết của Đảng, đặc biệt từ Đại hội VII đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn coi “Giáo dục” là quốc sách hàng đầu là sự nghiệp luôn cần được đầu tư không ngừng, bởi sản phẩm của ngành này sẽ trở thành những chủ nhân tương lai của đất nước, là những người thợ xây lên những viên gạch “bằng vàng” cho ngôi nhà đất nước. Càng ngày giáo dục càng khẳng định được tầm quan trọng của mình và nhận được càng nhiều sự quan tâm của xã hội. Xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh, tư nhân quan tâm đầu tư vào giáo dục ngày càng nhiều cả về số lượng lẫn chất lượng. Mặc dù vậy, quản lý nhà nước về giáo dục vẫn giữ vai trò chủ đạo bởi Đảng và Nhà nước không ngừng đầu tư cho giáo dục; giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân; giáo dục gắn liền với sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, đa dạng hoá các loại hình đào tạo, xã hội hoá giáo dục và thực hiện công bằng trong giáo dục là những nguyên lý cơ bản về giáo dục trong thời kỳ xây dựng kinh tế thị trường định hướng chủ nghĩa xã hội và hội nhập. Hoà chung vào sự phát triển của giáo dục cả nước, Tỉnh Hưng Yên dưới dự chỉ đạo Tỉnh uỷ, UBND, HĐND tỉnh và các cấp uỷ Đảng, và toàn dân quán triệt thực hiện Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI tiếp tục phát triển giáo dục để Giáo dục đào tạo Hưng Yên giữ vững vị trí là một trong những tỉnh đứng đầu giáo dục cả nước. Giáo dục THPT công lập Hưng Yên trong thời gian qua cũng đã nhận được sự đầu tư thích đáng từ NSNN. Tuy nhiên những khoản chi NSNN cho giáo dục THPT công lập tỉnh Hưng Yên còn rất nhiều bất cập ảnh hưởng tới hiệu quả của hoạt động giáo dục. Vậy việc quản lý có những khó khăn gì? Liệu những khoản chi đã hợp lý? Và việc phân bổ chiếc bánh ngân sách cho các đối tượng giáo dục trong THPT công lập tỉnh Hưng Yên đã công bằng?... Nguyễn Thị Hà Lớp: CQ46/01.01 Nghiên cứu trả lời các vấn đề trên chắc chắn chúng ta sẽ tìm ra được giải pháp quản lý tài chính hiệu quả để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục THPT công lập nói riêng, chất lượng giáo dục toàn tỉnh nói chung. Chính vì vậy, qua thời gian thực tập tại Sở Tài Chính Hưng Yên tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho giáo dục trung học phổ thông công lập tỉnh Hưng Yên” làm luận văn tốt nghiệp. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: đề tài tập trung phân tích cụ thể thực trạng công tác quản lý chi TX NSNN qua phân tích cơ cấu chi TX cho giáo dục THPT công lập tỉnh Hưng Yên. Qua đó đề tài phân tích, chỉ ra những thành tựu, những tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại đó, từ đó đề xuất giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý chi TX NSNN cho giáo dục THPT công lập tỉnh Hưng Yên. Phạm vi và phương pháp nghiên cứu của đề tài: - Phạm vi nghiên cứu: đề tài nghiên cứu thực trạng quản lý chi TX NSNN cho giáo dục THPT công lập tỉnh Hưng Yên thông qua phân tích quản lý chi TX theo cơ cấu chi TX và hoạt động của những đối tượng liên quan chủ yếu tới công tác quản lý chi TX đó là sở GD&ĐT, Sở Tài chính và các trường THPT công lập tỉnh Hưng Yên. - Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử; các phương pháp nghiên cứu cụ thể như thống kê, so sánh, phỏng vấn, điều tra, tổng hợp, phân tích kinh tế… và kế thừa các kết quả đã nghiên cứu. Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài được chia làm ba phần: - Chương 1: Những vấn đề chung về quản lý chi thường xuyên NSNN cho giáo dục trung học phổ thông 2 - Chương 2: Thực trạng công tác quản lý chi thường xuyên NSNN cho giáo dục THPT công lập tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn 2009 – 2011 - Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên NSNN cho giáo dục THPT công lập tỉnh Hưng Yên. Trong quá trình hoàn thành luận văn, mặc dù cố gắng nhưng do trình độ hiểu biết và kinh nghiệm còn nhiều hạn chế nên không thể tránh khỏi những sai sót. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp của thầy, cô giáo và sự góp ý của bạn đọc. Tôi xin chân thành cảm ơn! 3 Chương 1: Những vấn đề chung về quản lý chi TX NSNN cho giáo dục trung học phổ thông công lập 1.1 Giáo dục trung học phổ thông công lập với phát triển kinh tế - xã hội 1.1.1 Khái niệm giáo dục trung học phổ thông Theo Luật Giáo dục Việt Nam 2005: “Hệ thống giáo dục Việt Nam gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên”. Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm: - Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo - Giáo dục phổ thông có tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông - Giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề - Giáo dục đại học và sau đại học đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ. Mỗi cấp học trong hệ thống giáo dục đều có đặc điểm, chức năng và nhiệm vụ riêng song đều có mục đích chung là hướng tới đào tạo ra những con người có đầy đủ trí - đức - thể - mỹ cho xã hội. Giáo dục THPT là một cấp học trong hệ thống giáo dục phổ thông được thực hiện trong ba năm học từ lớp mười đến hết lớp mười hai, độ tuổi của học sinh chủ yếu là từ mười lăm đến mười bảy tuổi. Mục tiêu của giáo dục THPT nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động. 1.1.2 Vai trò của giáo dục THPT với phát triển kinh tế - xã hội Theo xu hướng hiện đại hóa hiện nay ta có thể thấy giáo dục có vai trò quan trọng đối với sự nghiệp phát triển KT - XH cả trên phương diện lý luận 4 lẫn thực tiễn. Một đất nước sẽ không thể đạt được nền kinh tế vững mạnh và xã hội văn minh nếu không có một nguồn nhân lực phát triển cả về thể lực lẫn trí lực. Quốc gia nào có nền giáo dục hiện đại và phát triển thì đồng nghĩa với việc quốc gia đó có tầng lớp trí thức đông đảo, tạo điều kiện thuận lợi để tiến sâu vào nền khoa học kỹ thuật đang phát triển của thế giới, không ngừng đưa nền kinh tế phát triển. Nhìn chung, sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã và đang mang lại những lợi ích trên nhiều khía cạnh, đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, cụ thể như: Giáo dục đào tạo có tác dụng tích cực trong việc giúp cho người lao động giải quyết công ăn việc làm. Khả năng giải quyết việc làm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng trí tuệ, hiểu biết có vai trò quan trọng nhất hình thành năng lực tự giải quyết việc làm của người lao động. Thông thường, những người được đào tạo tốt, có trình độ học vấn, có hiểu biết khoa học, kỹ thuật, kinh tế, có trình độ chuyên môn và tay nghề cao dễ tìm được việc làm cho mình hơn những người không được đào tạo hay đào tạo kém, thậm chí những người được đào tạo tốt còn có thể tạo ra việc làm cho nhiều người khác. Bên cạnh đó, giáo dục đào tạo giúp tạo ra đội ngũ công nhân lành nghề, các chuyên gia công nghệ, những nhà quản lý giỏi, hay nói cách khác là giúp tạo ra những con người lao động với hàm lượng trí tuệ ngày càng cao. Đội ngũ những con người này đóng góp to lớn vào thành tựu chung của đất nước trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, góp phần quan trọng phát triển giáo dục, đào tạo nhân lực; chăm sóc sức khỏe nhân dân, xóa đói giảm nghèo; phát triển kinh tế-xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng - trật tự an toàn xã hội… làm nòng cốt trong công tác phổ biến kiến thức khoa học kỹ thuật, giúp nông dân tiếp cận và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để nâng cao thu nhập; tham gia nghiên cứu nhiều đề tài, dự án khoa 5 học mang lại hiệu quả kinh tế-xã hội cao, thiết thực giải quyết các vấn đề bức xúc của đất nước. Những người hoạt động trên lĩnh vực văn hóa, văn nghệ, báo chí có thể sáng tạo nhiều tác phẩm mang hơi thở thời đại có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, tác động sâu sắc đến đời sống tinh thần của xã hội, đạt các giải thưởng cao trong nước và quốc tế. Bộ phận trí thức làm công tác lãnh đạo, quản lý sẽ phát huy tốt vai trò, khả năng, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, trình độ quản lý của Nhà nước. Việt Nam là quốc gia đang phát triển, đang trên con đường xây dựng CNH - HĐH đất nước thì giáo dục hiển nhiên đóng một vai trò hết sức quan trọng trong phát triển KT - XH. Để xây dựng thành công CNH - HĐH đất nước thì điều cốt yếu là Việt Nam phải đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất. Mà để làm được điều này thì cần phải có đội ngũ nhân lực có trình độ và am hiểu kĩ thuật công nghệ. Chính giáo dục đào tạo ra lực lượng lao động này, giáo dục đã trở thành nền tảng để phát triển khoa học công nghệ. Bên cạnh đó, muốn xây dựng thành công CNH - HĐH đất nước thì trước hết phải xóa được đói, giảm được nghèo. Giáo dục là cơ sở để nâng cao dân trí, để đất nước thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu. Mặt khác, đội ngũ lao động qua giáo dục đào tạo được trang bị kiến thức về khoa học kĩ thuật có trình độ học vấn và chuyên môn nghiệp vụ tốt sẽ làm tăng sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư nước ngoài và tăng lợi thế so sánh và khả năng cạnh tranh cho nền kinh tế. Như vậy, thông qua đào tạo nhân tài, đào tạo lực lượng lao động có tay nghề, giáo dục đặt nền móng cho việc xây dựng và phát triển kinh tế đất nước nhanh và bền vững để thực hiện CNH - HĐH thành công. Ngoài ra, giáo dục còn là một trong những nhân tố góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế khi đào tạo ra những con người trẻ, năng động sáng tạo và tài năng được bạn bè thế giới ngợi ca… 6 Giáo dục THPT là một khâu trong hệ thống giáo dục nên nó đóng vai trò là một nhân tố quan trọng trong phát triển KT - XH. Lứa tuổi học sinh THPT là lứa tuổi vừa dễ nhận thức, vừa dễ tác động nên giáo dục THPT là một trong những công cụ để thực hiện mục tiêu chính trị của Đảng và nhà nước. Mặt khác, giáo dục THPT cung cấp cho xã hội lực lượng lao động có kiến thức cơ bản để đi vào đời sống lao động thực tế, chuẩn bị hành trang cả về tư tưởng lẫn tri thức cho người học để họ sẵn sàng bước lên một cấp học mới cao hơn, để giáo dục đại học, cao đẳng tiếp tục đào tạo ra đội ngũ nhân lực chuyên ngành chất lượng cao phục vụ sản xuất và đời sống một cách thuận lợi. Nhận thức được vai trò của giáo dục nói chung, giáo dục THPT nói riêng Đảng và nhà nước ta đã luôn coi giáo dục là chìa khóa để đất nước tiến vào tương lai, coi “giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Do đó Đảng và nhà nước đã luôn quan tâm đầu tư cho giáo dục nói chung, giáo dục THPT nói riêng đồng thời kêu gọi toàn xã hội tham gia phát triển giáo dục cũng như khuyến khích các đối tượng khác cùng tham gia đầu tư. Và một trong những điều kiện tiên quyết để phát triển giáo dục, giáo dục THPT thành công hay đảm bảo cho giáo dục THPT đáp ứng được những yêu cầu và mục tiêu đề ra là Đảng và Nhà nước phải có sự quan tâm, sự đầu tư thích đáng và chính sách tài chính đúng đắn. 1.2 Chi thường xuyên NSNN cho giáo dục THPT công lập 1.2.1 Các khái niệm cơ bản Ở nước ta hiện nay, các khoản chi cho phát triển kinh tế, xã hội của đất nước được lấy từ nhiều nguồn khác nhau, tuy nhiên chủ yếu vẫn xuất phát từ nguồn chính đó là nguồn vốn từ Ngân sách nhà nước. Theo điều 1 của Luật NSNN được Quốc hội khóa XI nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thông qua tại kì họp thứ hai, năm 2002: 7 “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. Chi thường xuyên NSNN là quá trình phân phối, sử dụng vốn từ quỹ NSNN để đáp ứng nhu cầu chi gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước để quản lý kin tế, xã hội. Chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục là quá trình phân phối, sử dụng vốn từ quỹ NSNN để đáp ứng như cầu chi thường xuyên của toàn bộ ngành giáo dục nhằm đảm bảo thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao. 1.2.2 Nội dung chi thường xuyên NSNN cho giáo dục THPT công lập Để có thể cung ứng được các hàng hóa công cộng gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ quản lý kinh tế - xã hội, Nhà nước phải thông qua một mạng lưới các đơn vị sự nghiệp của mình hoạt động ở tất cả các lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, y tế…Và giáo dục là một phần không thể thiếu trong mạng lưới phát triển đó. Giáo dục THPT công lập là một khâu của hệ thống giáo dục quốc dân mà nhà nước đóng vai trò đầu tư chủ đạo. Do vậy làm nảy sinh nhu cầu chi NSNN cho các hoạt động sự nghiệp giáo dục của Nhà nước.Tuy nhiên NSNN có hạn trong khi các khoản chi nhà nước đảm nhiệm lại rất đa dạng, phong phú nên nhà nước phải cân nhắc sử dụng bao nhiêu ngân sách cho giáo dục trong đó bao nhiêu là dành cho giáo dục THPT; và những khoản chi nào nhà nước lựa chọn để chi? Theo nội dung kinh tế và tính chất phát sinh chi TX NSNN cho hoạt động giáo dục gồm: - Chi cho con người - Chi nghiệp vụ chuyên môn - Chi mua sắm, sửa chữa và xây dựng nhỏ - Chi TX khác 8 Thứ nhất, chi cho con người Hoạt động của giáo dục THPT trước hết là hoạt động giảng dạy mà chủ thể của hoạt động này là giáo viên nên để đảm bảo hoạt động giảng dạy diễn ra liên tục thì phải chi NSNN cho đối tượng này. Chi cho con người giáo dục THPT thuộc các khoản chi cho con người thuộc khu vực sự nghiệp. Nội dung của khoản chi này bao gồm tiền lương, tiền công, phụ cấp, phúc lợi tập thể, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, và các khoản thanh toán cá nhân khác cho giáo viên và cán bộ công nhân viên chức. Khoản chi này nhằm bù đắp hao phí lao động, đảm bảo cho đời sống và sinh hoạt của giáo viên và cán bộ nhân viên. Trong công tác quản lý thì cơ sở để tính số chi cho con người là số cán bộ công nhân viên bình quân và mức chi bình quân cho mỗi cán bộ nhân viên; cơ sở để tính số chi cho một cán bộ công nhân viên là chức danh, nhiệm vụ họ đảm nhận, trình độ, năng lực, thâm niên công tác, điều kiện làm việc, mức lương tối thiểu và chế độ chính sách ưu tiên của nhà nước đối với từng đối tượng cụ thể. Giáo viên giảng dạy trong THPT chủ yếu có trình độ đại học do đó tiền lương được tính theo hệ số lương tương ứng với trình độ đại học. Đây là khoản chi chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số chi TX NSNN cho giáo dục THPT, đồng thời cũng là khoản chi được ưu tiên thực hiện đầu tiên. Thứ hai là các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn Giảng dạy và học tập là hai nghiệp vụ chuyên môn của giáo dục vì vậy để nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập đồng thời gắn kết hai hoạt động này đảm bảo chất lượng giáo dục thì cần thiết phải có khoản chi này. Chi nghiệp vụ chuyên môn bao gồm chi về giảng dạy học tập, chi mua sách giáo khoa, tài liệu tham thảo, đồ dùng học tập, dụng cụ thí nghiệm,… Trong khối phổ thông thì THPT có kiến thức rộng nhất và khó nhất nên các hoạt động bồi dưỡng để nâng cao trình độ cho giáo viên cũng hiều hơn và quy mô lớn hơn so với ở các cấp học dưới do đó chi ngân sách cho những hoạt động này cũng nhiều hơn. Bên cạnh đó số lượng SGK, sách tham khảo cho giảng dạy và học 9 tập của cấp học này khá nhiều do số môn học là nhiều nhất; đồng thời yêu cầu thực hành trong học tập cũng cao hơn nên nhìn chung số lượng dụng cụ và phương tiện học tập cần phải mua sắm là tương đối lớn. Một đơn vị được đánh giá là chi TX có hiệu quả khi tỷ trọng chi nghiệp vụ chuyên môn trong tổng số chi của đơn vị luôn phải được ưu tiên sau khi đã trang trải các nhu cầu chi cho con người theo quy định nên quy mô của khoản chi này không hề nhỏ. Chi mua sắm sửa chữa và xây dựng nhỏ bao gồm các khoản chi để mua sắm thêm tài sản bao gồm cả công cụ dụng cụ và tài sản cố định; các khoản chi để thực hiện sửa chữa thường xuyên và sửa chữa lớn tài sản cố định. Khoản chi này nhằm phục vụ kịp thời cho nhu cầu sử dụng và nâng cao hiệu suất sử dụng các tài sản đó góp phần phục vụ đắc lực cho việc giảng dạy và học tập trong nhà trường. Trong bậc học THPT thì quy mô cơ sở vật chất trường học là lớn nhất so với của mầm non, tiểu học và trung học cơ sở nên việc sửa chữa mua sắm tài sản nhiều hơn. Tuy nhiên số chi này ở mỗi trường THPT lại có sự chênh lệch khá lớn, có trường chi nhiều và có trường số chi không đáng kể. Đó là do mức chi mua sắm sửa chữa của mỗi đơn vị phụ thuộc vào tình trạng tài sản của đơn vị thuộc diện được sử dụng vốn NSNN và khả năng nguồn vốn NSNN cũng như khả năng tài chính của mỗi đơn vị có thể dành cho nhu cầu chi này của đơn vị ở mức độ nào. Chi thường xuyên khác: Ngoài các khoản chi đã được xếp vào 3 nhóm mục trên, trong quá trình hoạt động giáo dục THPT còn có thể phát sinh một số khoản chi TX khác, như: chi trợ cấp khó khăn, trợ cấp thôi việc, vv… Nhìn chung, các khoản chi TX trong giáo dục THPT thường có quy mô lớn hơn, hình thức đa dạng hơn so với ở các cấp học dưới. Do đó đòi hỏi nhà nước phải quan tâm đầu tư nhiều hơn và phải đầu tư thế nào để vừa tiết kiệm, vừa hiệu quả mà vẫn đạt được chất lượng giáo dục THPT như mong muốn. 1.3 Quản lý chi TX NSNN cho giáo dục THPT công lập 1.3.1 Nội dung quản lý chi TX NSNN cho giáo dục THPT công lập 10 Để quản lý NSNN hiệu quả các nhà quản lý đã quản lý NSNN theo chu trình NS gồm 3 khâu: lập dự toán, chấp hành dự toán và quyết toán, kiểm toán NSNN. Quản lý NSNN được chia thành quản lý thu NSNN và quản lý chi NSNN, trong đó quản lý chi TX NSNN cho giáo dục THPT công lập cũng là một bộ phận trong quản lý chi NSNN nên cũng có chu trình gồm 3 khâu trên. 1.3.1.1 Lập dự toán chi TX cho giáo dục THPT công lập Lập dự toán ngân sách là công việc khởi đầu có ý nghĩa quyết định đến toàn bộ các khâu của chu trình quản lý NSNN nói chung và quản lý chi TX NSNN cho giáo dục THPT công lập nói riêng. Nó tạo điều kiện cho việc quản lý chi TX NSNN cho giáo dục THPT công lập trong khâu thực hiện cũng như việc đánh giá quyết toán chi TX được hiệu quả. Để dự toán chi TX NSNN được trở thành công cụ hữu hiệu trong quản lý chi NS thì khi lập dự toán chi TX NSNN phải dựa vào những căn cứ sau: Một là, căn cứ chủ trương của Nhà nước về duy trì và phát triển giáo dục THPT công lập trong từng thời kỳ; Hai là, căn cứ vào các chỉ tiêu liên quan đến việc cấp phát kinh phí TX cho giáo dục THPT công lập như số học sinh, số giáo viên, số lớp học, số trường học, thực trạng tài sản, cơ sở vật chất nhà trường năm kế hoạch; Ba là, căn cứ vào khả năng nguồn kinh phí có thể đáp ứng được nhu cầu chi cho giáo dục THPT công lập kỳ kế hoạch; Bốn là, căn cứ vào các chính sách, chế độ chi cho giáo dục THPT công lập của NSNN hiện hành và dự đoán những điều chỉnh hoặc thay đổi có thể xảy ra trong kỳ kế hoạch; Năm là, căn cứ vào kết quả phân tích, đánh giá tình hình quản lý và sử dụng kinh phí kỳ báo cáo; Cuối cùng là, căn cứ vào chính sách, chế độ và các văn bản pháp luật, các thông tư hướng dẫn của các cấp có thẩm quyền liên quan đến hướng dẫn xây dựng dự toán chi NSNN đối với giáo dục THPT công lập. 11 Theo phân cấp quản lý KT – XH và phân cấp quản lý tài chính được Nhà nước quy định thì Sở GD&ĐT trực tiếp quản lý các trường THPT công lập, cơ quan quản lý tài chính liên quan là Sở Tài Chính. Do đó quy trình lập dự toán chi TX của NSNN cho giáo dục THPT công lập được thực hiện theo các bước sau đây: Bước một: căn cứ vào số kiểm tra về dự toán chi TX của cơ quan quản lý cấp trên, Sở GD&ĐT tiếp tục hướng dẫn và giao số kiểm tra cho các trường THPT trực thuộc. Bước hai: các trường THPT trực thuộc căn cứ vào các văn bản hướng dẫn và số kiểm tra được giao tiến hành lập dự toán chi TX của đơn vị mình báo cáo cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp là Sở GD&ĐT tổng hợp gửi Sở Tài chính. Sở Tài chính tổng hợp nhu cầu chi GD&ĐT vào dự toán chi TX ngân sách tỉnh trình UBND tỉnh xem xét; UBND tỉnh trình HĐND cùng cấp thảo luận và quyết định. Bước ba, căn cứ vào dự toán chi TX cho giáo dục THPT đã được HĐND tỉnh quyết định, Sở Tài chính sau khi xem xét, điều chỉnh lại cho phù hợp sẽ trình Chủ tịch UBND tỉnh chính thức phân bổ dự toán chi TX cho GD&ĐT kỳ kế hoạch. Sở GD&ĐT có trách nhiệm lập bảng phân bổ dự toán kinh phí năm kế hoạch cho các đơn vị trực thuộc (trong đó có các trường THPT) gửi KBNN tỉnh đồng thời thông báo cho các đơn vị trực thuộc. 1.3.1.2 Chấp hành dự toán chi TX NSNN Chấp hành dự toán chi TX NSNN cho giáo dục THPT công lập là khâu thứ hai trong chu trình quản lý chi TX NSNN, là bước sử dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế, tài chính và hành chính nhằm biến các chỉ tiêu trong dự toán chi TX trở thành hiện thực. Trong quá trình tổ chức chấp hành dự toán chi TX NSNN cần dựa vào những căn cứ sau: 12 Một là, căn cứ vào mức chi TX của từng chỉ tiêu cho giáo dục THPT công lập được duyệt trong dự toán. Có thể nói đây là căn cứ mang tính quyết định nhất trong chấp hành dự toán chi TX NSNN; Hai là, căn cứ vào khả năng nguồn kinh phí có thể dành cho nhu cầu chi TX của giáo dục THPT công lập; Ba là, căn cứ vào các chính sách, chế độ chi NSNN hiện hành. Bốn là, căn cứ vào nhu cầu phát sinh thực tế của các khoản chi: khi khả năng tài chính của Nhà nước có thể đáp ứng được thì con số trong dự toán mới chỉ là con số dự kiến và những khoản chi trong dự toán là những khoản chi dự kiến. Do đó phải căn cứ vào việc phát sinh thực tế các khoản chi để thực hiện. Và để việc chấp hành dự toán chi TX NSNN tiết kiệm mà hiệu quả đối với giáo dục THPT công lập thì trong tổ chức chấp hành dự toán phải chú ý đến những yêu cầu cơ bản sau: - Trên cơ sở dự toán chi TX, đảm bảo phân phối nguồn vốn NSNN một cách hợp lý; - Tiến hành cấp phát kinh phí TX một cách đầy đủ, kịp thời, tránh mọi sơ hở gây lãng phí thất thoát vốn của NSNN và những cản trở tới hoạt động giáo dục THPT công lập; - Trong quá trình sử dụng phải hết sức tiết kiệm, đúng chế độ, chính sách nhằm nâng cao hiệu quả KT - XH cho mỗi khoản chi. Quy trình tổ chức chấp hành chi NSNN cũng được thực hiện thông qua 3 bước sau: Bước 1, Phân bổ và giao dự toán chi TX NSNN Bước 2, Điều chỉnh dự toán chi TX NSNN Bước 3, Cơ chế kiểm soát chi TX NSNN. 1.3.1.3 Quyết toán và kiểm toán chi thường xuyên NSNN cho giáo dục THPT công lập 13 Quyết toán ngân sách là khâu cuối cùng trong chu trình ngân sách. Mục đích của quyết toán ngân sách là tổng kết, đánh giá lại toàn bộ quá trình chi TX NSNN cho giáo dục THPT công lập trong một năm, cung cấp đầy đủ thông tin về quản lý chi TX cho giáo dục THPT công lập cho Quốc hội, HĐND tỉnh, chính phủ, các nhà tài trợ, người dân… Ý nghĩa của quyết toán chi TX NSNN cho giáo dục THPT công lập là giúp ta nhìn nhận, đánh giá lại quá trình chi TX trong năm, rút ra những bài học kinh nghiệm thiết thực bổ sung cho công tác lập, chấp hành dự toán cho những năm tiếp theo. Như vậy, nội dung công tác quyết toán và kiểm toán bao gồm: - Xem xét xem các khoản chi TX thực tế có đúng trong báo cáo không, số liệu có hợp lý, hợp pháp không? - Tổng hợp, đánh giá tình hình thực hiện các khoản chi TX để rút ra ưu, nhược điểm trong việc quản lý chi; - Rút ra các bài học kinh nghiệm cho công tác quản lý chi được hoàn thiện hơn. Yêu cầu đối với công tác quyết toán và kiểm toán là: - Phải lập đầy đủ theo mẫu biểu các loại báo cáo tài chính và gửi kịp thời cho các cơ quan có thẩm quyền xét duyệt theo quy định; - Số liệu trong báo cáo phải đảm bảo tính chính xác, trung thực, đầy đủ. Số quyết toán chi TX NSNN cho giáo dục THPT công lập là số chi đã thực thanh toán hoặc đã được phép hạch toán chi theo quy định; - Báo cáo quyết toán năm của các đơn vị trước khi trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phải có xác nhận của KBNN đồng cấp về tổng số và chi tiết đồng thời phải kèm theo báo cáo thuyết minh nguyên nhân tăng, giảm các chỉ tiêu chi TX so với dự toán. Khi công tác quyết toán, kiểm tra đáp ứng đầy đủ những yêu cầu trên thì việc đánh giá kết quả chi TX mang lại cho giáo dục THPT công lập mới 14 chính xác, trung thực, khách quan. Nhờ đó mà việc quản lý chi TX cho giáo dục THPT công lập mới ngày càng được hoàn thiện hơn. 1.3.2 Vai trò của chi TX NSNN cho giáo dục THPT công lập Chi TX NSNN đóng vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của ngành giáo dục nói chung và giáo dục THPT công lập nói riêng. Và điều này được thể hiện rõ trong từng nội dung chi NSNN cho giáo dục THPT công lập như sau: Trước hết, thông qua chi cho con người, NSNN là nguồn cung cấp tài chính chủ yếu để duy trì hệ thống giáo dục THPT công lập. Chi TX NSNN đóng vai trò trực tiếp quan trọng trong việc củng cố và nâng cao số lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ công chức trong giáo dục THPT công lập, đảm bảo đời sống sinh hoạt và điều kiện nghiên cứu phục vụ công tác giảng dạy của họ từ đó gián tiếp tác động đến chất lượng học tập của học sinh THPT. Có thể nói chi TX NSNN chủ yếu dành cho những chi phí liên quan đến con người, trong đó chi lương và phụ cấp cho giáo viên luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất. Đối với giáo dục THPT công lập thì lương và phụ cấp cho giáo viên hoàn toàn là do NSNN đảm bảo. Một chính sách lương, phụ cấp hợp lý cho phép giáo viên không cần làm thêm ngoài giờ lên lớp, đồng thời thu hút những người tài tham gia vào đội ngũ giảng dạy cũng như tránh được việc “chảy máu chất xám” trong đội ngũ giáo viên: những giáo viên giỏi chuyển ngành để làm những công việc khác vì mức thu nhập không đủ cho nhu cầu cá nhân và gia đình họ. Như vậy, chi TX NSNN cho con người trong giáo dục THPT công lập không chỉ duy trì quy mô, số lượng mà còn củng cố và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng dạy, chất lượng giảng dạy và chất lượng giáo dục THPT. Thứ hai, thông qua các khoản chi cho nghiệp vụ chuyên môn, chất lượng giảng dạy và học tập được nâng cao. Các khoản chi chẳng hạn như chi mua sắm thiết bị thí nghiệm… giúp gắn kết lý luận với thực hành từ đó học sinh tiếp thu bài hiệu quả hơn đồng thời cũng gắn kết việc giảng dạy và học 15 tập, gắn kết giữa giáo viên và học sinh. Mặt khác, kiến thức luôn mở ra nhiều cái mới nên người dạy và cả người học cũng luôn cần được cập nhật, bổ trợ và nghiên cứu thêm để làm tốt hơn công việc của mình. Bên cạnh đó để thực hiện được nhiệm vụ được giao cũng như đáp ứng được yêu cầu xã hội đặt ra cho giáo dục THPT công lập cần thiết phải có những hoạt động bổ trợ cho việc giảng dạy và học tập. Các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn trong chi TX chính là để đáp ứng nhu cầu diễn ra những hoạt động này. Thứ ba, chi TX NSNN cho giáo dục THPT công lập thông qua các khoản chi mua sắm sửa chữa và xây dựng nhỏ có ý nghĩa hoàn thiện và trang bị cơ sở vật chất cho giáo dục THPT công lập, tạo tiền đề và cơ sở cho sự phát triển của giáo dục THPT công lập. Thực tế là cở sở vật chất của trường học nào càng đầy đủ, được trang bị càng tốt thì việc giảng dạy càng thuận lợi và việc học tập càng hiệu quả. Cuối cùng, các khoản chi TX khác phục vụ cho việc sử dụng các dịch vụ khác của giáo dục THPT công lập trong quá trình hoạt động. Đồng thời, nó cũng đảm bảo cho giáo dục THPT công lập, cho nhà nước thực hiện trách nhiệm của mình đối với những đối tượng liên quan đã đóng góp công sức cho dự nghiệp giáo dục. Qua đó gián tiếp duy trì và củng cố đội ngũ giảng dạy của giáo dục trong điều kiện nền kinh tế thị trường đầy biến động và nhiều thử thách. Qua việc xem xét vai trò của từng khoản chi trong chi TX đối với việc củng cố và phát triển giáo dục giúp ta thấy được vai trò chi TX NSNN cho giáo dục THPT quan trọng nhường nào. Vì vậy, muốn giáo dục THPT công lập đáp ứng được yêu cầu đề ra thì cần thiết phải quản lý chi TX NSNN cho giáo dục THPT công lập hợp lý và hiệu quả. Vấn đề này thực sự là thách thức và là bài toán không dễ đối với nhà quản lý giáo dục và quản lý tài chính cho giáo dục nước nhà. 16 Chương 2: Thực trạng công tác quản lý chi TX NSNN cho giáo dục THPT công lập tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn 2009 – 2011. 2.1 Vài nét về tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Hưng Yên và thực trạng giáo dục THPT công lập tỉnh Hưng Yên 2.1.1 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hưng Yên Hưng Yên một thời đã từng là thương cảng lớn của Đảng ngoài, được mệnh danh “Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến”. Mảnh đất có bề dày lịch sử văn hiến và cách mạng, còn lưu giữ lại hằng trăm di tích lịch sử văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hơn 170 năm thành lập (trong đó có gần 30 năm hợp nhất với tỉnh Hải Dương), được tái lập ngày 01/01/1997. Hưng Yên là một tỉnh đồng bằng, có diện tích tự nhiên 923 km 2, dân số gần 1,2 triệu người, mật dộ dân số 1.200 người/km2, gồm 10 đơn vị hành chính là TP Hưng Yên và 9 huyện: Tiên Lữ, Phù Cừ, Kim Động, Ân Thi, Khoái Châu, Yên Mỹ, Mỹ Hào, Văn Lâm, Văn Giang và 161 xã, phường, thị trấn. Với vị trí ở trung tâm đồng bằng Sông Hồng, giáp với các tỉnh Hải Dương, Hà nội, Hà Nam, Thái Bình, Bắc Ninh phát triển với tốc độ cao, GDP tăng bình quân 12,28% năm, thu ngân sách tăng nhanh năm 2008 đạt 1.765 tỷ đồng. Là tỉnh có truyền thống văn hoá, giáo dục, trước cách mạng Hưng yên là một trong các tỉnh có chế độ khoa cử phong kiến ghi danh bằng việc văn miếu Xích Đằng. Sau cách mạng, giáo dục Hưng Yên có nhiều phong trào tiêu biểu của cả nước. Nhất là sau tái lập tỉnh, được sự quan tâm của Tỉnh Uỷ, HĐND, UBND tỉnh, các cấp uỷ Đảng chính quyền và toàn dân, giáo dục –đào tạo Hưng yên phát triển nhanh chóng và đạt được nhiều kết quả hết sức quan trọng. Hiện nay Hưng Yên là một trong những tỉnh dẫn đầu phong trào giáo dục của cả nước. Những năm gần đây, tình hình kinh tế thế giới và trong nước vẫn còn chịu sự ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, lạm phát, giá điện, xăng dầu và một số hàng hoá, nguyên liệu tăng 17 cao, ảnh hưởng đến kinh tế và đời sống nhân dân trong tỉnh. Song ngay từ đầu các cấp ủy Đảng, chính quyền đã tập trung chỉ đạo quyết liệt và kịp thời; sự quyết tâm cố gắng của toàn thể nhân dân và các thành phần kinh tế đã mang lại kết quả tích cực: Kinh tế tăng trưởng khá, sản xuất phát triển, lĩnh vực văn hóa - xã hội có những chuyển biến tích cực; chính trị ổn định, quốc phòng và an ninh được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. Tổng sản phẩm của tỉnh (GDP) tăng 11,58% (KH 12,8%); giá trị sản xuất nông nghiệp và thuỷ sản tăng 8,85% (KH 4,5%), giá trị sản xuất công nghiệp tăng 15,54% (KH 19%), giá trị các ngành dịch vụ tăng 12,42% (KH 16%); thu nhập bình quân đầu người đạt 24,4 triệu đồng (KH: 24 triệu đồng); cơ cấu kinh tế NN0-CN,XD-DV: 24% - 45% - 31% (KH: 23,5% - 45% 31,5%); kim ngạch xuất khẩu 762 triệu USD (KH 620 triệu USD); thu ngân sách trên địa bàn đạt 4.057,5 tỷ đồng, đạt 120,36% KH tỉnh giao, tăng 20,58% so thực hiện năm 2010; trong đó: Thu nội địa trên 3.150 tỷ đồng, đạt 117,32% KH, tăng 26,86% so thực hiện năm 2010 (có 700 tỷ đồng thu tiền sử dụng đất); thu thuế xuất, nhập khẩu 900 tỷ đồng, đạt 132,35% KH, tăng 2,89%; thu từ xổ số kiến thiết 7,5 tỷ đồng, đạt 125% KH, tăng 3,16%. Tổng chi ngân sách khoảng 4.325 tỷ đồng, đạt 122,8% dự toán giao; trong đó, chi đầu tư phát triển 1.268 tỷ đồng, đạt 108,2% dự toán giao. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 0,96% (KH dưới 0,95%); tỷ lệ hộ nghèo còn 9% (theo chuẩn mới) (giảm 2% trong năm 2011 đạt kế hoạch); tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt kế hoạch 43%, tạo thêm việc làm mới đạt kế hoạch 2,3 vạn lao động; tỷ lệ xã đạt chuẩn quốc gia về y tế đạt kế hoạch 94%; tỷ lệ làng, khu phố văn hoá đạt kế hoạch 74%. Nhìn chung sự phát triển kinh tế của tỉnh cũng ảnh hưởng to lớn đến sự nghiệp giáo dục. Cách mạng khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông đã tạo điều kiện để đổi mới cơ bản nội dung, phương pháp, giáo dục, thực hiện một nền giáo dục mở, thu hẹp khoảng cách 18 không gian và thời gian, thích ứng nhu cầu của từng người học. Bên cạnh đó, hệ thống chính trị ổn định luôn được củng cố, tăng cường... Lãnh đạo và chính quyền tỉnh luôn quan tâm sát sao tới giáo dục và phát triển giáo dục làm cho giáo dục tỉnh không ngừng phát triển, vươn xa hơn nữa. 2.1.2 Thực trạng giáo dục THPT công lập tỉnh Hưng Yên Hòa cùng sự phát triển của tỉnh, sự nghiệp giáo dục cũng phát huy không ngừng. Được sự quan tâm của Đảng và các cấp chính quyền mạng lưới giáo dục Hưng Yên nói chung và mạng lưới giáo dục THPT công lập Hưng Yên có nhiều thay đổi. Những thay đổi trong mạng lưới giáo dục đã tác động tới quy mô, chất lượng giáo dục của các cơ sở giáo dục THPT công lập trên địa bàn tỉnh. Ta có thể thấy rõ được điều này qua bảng tổng hợp sau: Bảng 2.1: Quy mô giáo dục THPT công lập Hưng Yên 2009 – 2011 Năm 2008 - 2009 2009 – 2010 2010 – 2011 Chỉ tiêu Số trường 26 26 26 Số lớp 766 726 725 Số học sinh 33.864 31.635 30.811 Tỷ lệ tăng học sinh _ -6,58% -2,6% Nguồn: Phòng kế hoạch Sở GD&ĐT tỉnh Hưng Yên Nhìn vào bảng thống kê trên ta thấy được sự thay đổi quy mô giáo dục THPT công lập theo chiều hướng giảm dần. Tính đến ngày 31/7/2009, Hưng Yên có 37 trường THPT, trong đó THPT công lập là 26 trường. Ngoài việc đào tạo đại trà, Hưng Yên còn có trường THPT chuyên Hưng Yên để đào tạo học sinh giỏi cho tỉnh và quốc gia. Với 25 trường THPT công lập và 1 trường chuyên Hưng Yên có 33.864 học sinh chiếm 82,74% so với toàn học sinh khối THPT và có 1 trường THPT đạt chuẩn quốc gia. So với năm 2009, năm học 2010 giảm 6,58% số học sinh đi học và năm 2011 giảm 2,6% số học sinh. Nguyên nhân chủ yếu là do Đảng và Nhà nước muốn nâng cao chất lượng đời sống và phát triển thế hệ tương lai, các cấp chính quyền tuyên truyền và phổ 19 biến thực hiện kế hoạch hóa gia đình từ những năm 90 dẫn tới tỷ lệ sinh 3 đến 4 con ở các gia đình giảm. Do vậy lứa tuổi 15 – 17 tuổi giảm, theo thống kê năm 2010 có 31.635 học sinh, giảm so với năm 2009 là 2.049 học sinh. Và năm 2011 giảm 824 học sinh chỉ còn 30.811 học sinh. Thực hiện Nghị quyết trung ương 2 (khoá VIII) về giáo dục đào tạo xác định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển”, “sự đầu tư cho giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân”. Tỉnh Hưng Yên đã tiến hành sắp xếp, củng cố hệ thống giáo dục –đào tạo và mạng lưới các ngành học, bậc học. Vì vậy giáo dục nói chung và giáo dục THPT nói riêng đã đạt được những thành tựu đáng kể. Đến năm 2010 có thêm 2 trường đạt chuẩn quốc gia, năm 2011 nâng con số này lên đến 5 trong số 26 trường đạt chuẩn quốc gia. Chất lượng học sinh cũng như giáo viên cũng được tăng lên hàng năm. Qua những số liệu trên ta thấy nét chính của quy mô,mạng lưới giáo dục THPT công lập Hưng Yên như sau: Giáo dục đi vào ổn định, số trường THPT công lập không tăng, số lượng học sinh giảm dần theo 2 năm về sau. Do vậy chất lượng giáo dục và chi TX NSNN cũng thay đổi. Thực trạng này do 2 nguyên nhân chủ yếu: do chủ trương thực hiện kế hoạch hóa gia đình của Nhà nước; do chủ trương của nhà nước đầu tư cho chất lượng giáo dục và nhu cầu học tập ngày càng cao theo sự phát triển của xã hội. Điều này minh chứng rằng ngành giáo dục, ngành tài chính nói chung và giáo dục Hưng Yên nói riêng phải quan tâm hơn nữa tới phát triển chất lượng giáo dục, cơ sở vật chất cho giáo dục sao cho số lượng và chất lượng luôn song hành nhau. 2.2 Thực trạng quản lý chi TX NSNN cho giáo dục THPT công lập tỉnh Hưng Yên Giáo dục THPT công lập được NS cấp tỉnh đảm bảo tỷ lệ chi hàng năm. Và tỷ lệ này hàng năm chiếm khoảng 70% - 80% tổng chi TX NS cho sự nghiệp giáo dục. Tỷ trọng chi NS cho GD&ĐT trong tổng chi NS địa phương 20
- Xem thêm -