Tài liệu Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác xuất khẩu tại công ty cổ phần nha trang seafoods – f17

  • Số trang: 123 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 65 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27127 tài liệu

Mô tả:

1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG KHOA KINH TẾ -------a&b------- NGUYỄN MINH TÂM MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC XUẤT KHẨU TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NHA TRANG SEAFOODS – F17 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyeân ngaønh : Kinh teá Thöông maïi Lôùp : 44_KTTM MSSV : 44D4139 Giaùo vieân höôùng daãn: Th.S CHU LE DUNG Nha Trang, tháng 11 năm 2006 PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 2 T LỜI MỞ ĐẦU rong công cuộc đổi mới đất nước, nền kinh tế nước ta đã đạt những thành tựu quan trọng. Từ nền kinh tế kế hoạch theo cơ chế quản lý tập trung, bao cấp chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là cơ sở để đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo nên những tiềm lực mới cho sự phát triển của đất nước, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước. Để thực hiện thành công sự nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước, Đảng ta đã nêu rõ: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa...”. Hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình lâu dài và bao quát tổng thể các lĩnh vực trên phạm vi toàn cầu với sự tham gia của hầu hết các quốc gia từ các nước công nghiệp phát triển nhất đến các nước đang phát triển. Để thích ứng với xu thế này Việt Nam cũng có những đường lối, chủ trương nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu, giao lưu với Thế giới bằng những sản phẩm mang nhãn hiệu Việt Nam. Trong những sản phẩm đó có sản phẩm thủy sản. Lĩnh vực chế biến thủy sản xuất khẩu là một bộ phận của ngành thủy sản có sự tăng trưởng mạnh nhất, quyết định đầu ra cho cả ngành thủy sản. Trong nhiều năm qua, rất nhiều doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu đã ra đời và góp phần to lớn cho sự phát triển của ngành. Hiện tại cả nước có khoảng 300 doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu qui mô công nghiệp, 332 cơ sở, hơn 80% trong số đó là chế biến thủy sản đông lạnh xuất khẩu, điều này cũng đã và đang tạo ra sự cạnh tranh gay gắt trong toàn ngành. Trong tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường xuất khẩu như hiện nay thì việc nắm bắt thông tin và nghiên cứu các biện pháp mở rộng thị trường ngày càng cần thiết và cấp thiết. Công ty Cổ phần Nha Trang Seafoods F17 một trong những con chim đầu đàn của ngành Chế biến thủy sản xuất khẩu Khánh Hoà đã vươn lên mọi khó khăn ban đầu và từng bước trở nên mạnh mẽ trên thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, so với tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam và so với tiềm năng vốn có của Công ty thì kim ngạch xuất khẩu hiện nay chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ. Do đó vấn đề đặt ra là tìm giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung của công ty là yêu cầu cần thiết. Đây cũng là lý do em chọn đề tài: PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 3 “Một số biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác xuất khẩu tại Công ty Cổ phần Nha Trang Seafoods - F17”. Phạm vi của đề tài: Nghiên cứu hoạt động sản xuất chế biến xuất khẩu thủy sản của công ty trong thời gian qua, trong đó đi sâu phân tích đánh giá tình hình xuất khẩu của công ty sang các thị trường chính là Mỹ, Nhật, EU, Đài Loan để có được cái nhìn đầu đủ hơn và trên cơ sở đó em xin đề xuất những biện pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả xuất khẩu. Nội dung và kết cấu của đề tài gồm 3 chương như sau: - Chương 1: Cơ sở lý luận chung về xuất khẩu và công tác xuất khẩu - Chương 2:Thực trạng hoạt động xuất khẩu tại Công ty Cổ phần Nha Trang Seafoods – F17 - Chương 3: Một số biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác xuất khẩu tại Công ty Cổ phần Nha Trang Seafoods – F17 Phương pháp thực hiện: Đề tài được phân tích và đánh giá chủ yếu là thông qua các số liệu, dữ liệu kinh doanh của công ty cũng như quan sát, phỏng vấn các đối tượng liên quan trên cơ sở áp dụng các phương pháp như: phân tích thống kê, phân tích tổng hợp, so sánh đối chiếu, tài liệu thứ cấp của các trang web liên quan. Hoạt động kinh doanh xuất khẩu bao gồm nhiều lĩnh vực về lý luận và thực hành, nhiều hoạt động thực tiễn phong phú. Trong khi đó, do điều kiện thời gian và kiến thức còn hạn chế nên đề tài của em còn những thiếu sót nhất định. Em rất mong nhận được sự góp ý và xây dựng của các thầy cô, các cô chú anh chị trong công ty và các bạn đọc. Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của cô Chu Lê Dung, và các cô chú anh chị trong công ty đã tận tình hướng dẫn em trong quá trình thực hiện đề tài này. Nha Trang, tháng 10 năm 2006 Sinh viên thực hiện Nguyễn Minh Tâm PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 4 CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU VÀ CÔNG TÁC XUẤT KHẨU PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 5 1.1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG NGOẠI THƯƠNG 1.1.1 Khái niệm và đặc điểm ngoại thương 1.1.1.1 Khái niệm Bất cứ quốc gia nào muốn phát triển kinh tế không chỉ dựa vào sản xuất trong nước mà còn giao dịch quan hệ với các nước khác. Do khác nhau về điều kiện tự nhiên như tài nguyên, khí hậu...nếu chỉ dựa vào nền sản xuất trong nước không thể cung cấp đủ những hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu sản xuất tiêu dùng của nền kinh tế mà phải nhập những mặt hàng cần thiết như nguyên liệu, vật tư, máy móc thiết bị, hàng tiêu dùng thiết yếu mà trong nước không sản xuất được, hoặc sản xuất được nhưng giá cao hơn. Ngược lại, trên cơ sở khai thác tiềm năng và những lợi thế kinh tế vốn có, nền kinh tế ngoài việc phục vụ nhu cầu trong nước, còn có thể tạo nên những thặng dư có thể xuất khẩu sang các nước khác, góp phần tăng ngoại tệ cho đất nước để nhập khẩu các thứ còn thiếu và để trả nợ. Như vậy, do yêu cầu phát triển kinh tế mà phát sinh nhu cầu trao đổi giao dịch hàng hóa giữa các nước với nhau, hay nói cách khác hoạt động ngoại thương là yêu cầu khách quan trong nền kinh tế hội nhập hiện nay. Ngoại thương là sự trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các nước thông qua mua bán, sự trao đổi đó là một hình thức của mối quan hệ xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hóa riêng biệt của các quốc gia. 1.1.1.2 Đặc điểm Hoạt động ngoại thương có một số đặc điểm sau: § Thị trường là nước ngoài và chủ thể mua bán là khách hàng, bạn hàng và các tổ chức kinh tế nước ngoài. Khi đóng vai trò là người bán, doanh nghiệp có quan hệ giao dịch bán hàng cho cá nhân, hãng thương mại hoặc hãng xuất khẩu, hãng môi giới. § Các doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu phải cạnh tranh gay gắt với các đối thủ về chất lượng, giá cả, phương thức mua bán khi xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài. Doanh nghiệp sẽ gặp các đối thủ cạnh tranh từ nhiều nước khác nhau cùng hoạt động trên thị trường, để đảm bảo hiệu quả đòi hỏi doanh nghiệp phải nâng cao cạnh tranh. § Việc thanh toán giữa các tổ chức kinh tế, giữa các nước phải dùng bằng ngoại tệ có giá trị chuyển đổi. Chính vì vậy, sự thay đổi của giá trị hối đoái, sự biến động của thị trường tiền tệ quốc tế có ảnh hưởng rất mạnh đến hoạt động xuất nhập khẩu. Hoạt động thương mại quốc tế không chỉ chịu ảnh hưởng của các quan hệ kinh tế mà còn chịu ảnh hưởng của các quan hệ chính trị - xã hội quốc tế, chính sách PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 6 khuyến khích suất khẩu và chính sách bảo hộ sản xuất trong nước, các chính sách tác động đến hoạt động thương mại quốc tế của doanh nghiệp. 1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của hoạt động ngoại thương 1..1.2.1 Chức năng Hoạt động ngoại thương nói chung có hai chức năng cơ bản: § Là một khâu của quá trình tái sản xuất xã hội có chức năng tạo vốn cho quá trình mở rộng vốn đầu tư trong nước, chuyển hóa giá trị sử dụng làm thay đổi cơ cấu vật chất của tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc nội, thích ứng với nhu cầu tiêu dùng, tích lũy góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế bằng việc tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh. § Là nghành kinh tế đảm nhận khâu lưu thông chính là hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp. Doanh nghiệp tiến hành hoạt động ngoại thương thông qua các hình thức sau: + Mua thiết bị, máy móc,nguyên liệu, bán thành phẩm, phụ tùng giấy phép sản xuất từ nước ngoài. + Bán thành phẩm của doanh nghiệp ra thị trường nước ngoài bằng cách: s Sản xuất trong nước bán ra thị trường nước ngoài s Sản xuất trong nước bán ở thị trường trong nước và xây dựng nhà máy ở nước ngoài để sản xuất và bán ở thị trường nước ngoài thông qua hình thức xí nghiệp liên doanh với nước ngoài, 100% vốn nước ngoài... + Bán giấy phép sản xuất,nhãn hiệu hàng hóa cho các hãng nước ngoài. 1.1.2.2 Nhiệm vụ của hoạt động ngoại thương § Tạo ra nguồn vốn nước ngoài cần thiết để nhập khẩu vật tư, kỹ thuật, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, thực hiện công nghiệp hóa, phục vụ nhu cầu của tái sản xuất. § Thông qua công tác ngoại thương phát huy, sử dụng tốt hơn nguồn lao động và tài nguyên của đất nước, tăng giá trị ngày công lao động, tăng thu nhập quốc dân. § Tạo nguồn vốn để nhập khẩu vật tư phục vụ cho việc sản xuất hàng tiêu dùng thiết yếu mà trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất chưa đủ nhằm phục vụ đời sống nhân dân. § Ngoại thương phải phục vụ công cuộc xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng, phục vụ tăng cường, củng cố quốc phòng bảo vệ an ninh Tổ quốc. § Ngoại thương phải phục vụ đường lối chính trị đối ngoại của Đảng và Nhà nước, làm cơ sở để tăng cường, mở rộng quan hệ hợp tác, tương trợ với các nước. § Đảm bảo và nâng cao hiệu quả kinh tế của hoạt động thương mại trong doanh nghiệp, góp phần giải quyết những vấn đề quan trọng như công ăn việc làm. § Thực hiện theo đúng pháp luật và các chính sách của Nhà nước về hoạt động xuất nhập khẩu. PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 7 1.2 CÁC HÌNH THỨC THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 1.2.1 Xuất nhập khẩu trực tiếp Các tổ chức kinh doanh xuất khẩu bán hàng trực tiếp cho các tổ chức kinh tế nước ngoài hoặc trực tiếp nhập hàng từ tổ chức này. Phần lớn hàng ở thị trường thông qua xuất khẩu trực tiếp. Hợp đồng quy định bên bán có nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua qua biên giới quốc gia, bên mua có trách nhiệm thanh toán cho bên bán một khoảng tiền ngang giá trị hàng hóa bằng các phương thức thanh toán quốc tế. 1.2.2 Xuất nhập khẩu ủy thác Là hình thức xuất nhập khẩu qua trung gian thương mại. Các trung gian này trực tiếp đàm phán ký kết hợp đồng, thực hiện giao nhận hàng hóa với bên đối tác nước ngoài. Xuất khẩu ủy thác: Một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hàng hóa hoặc dịch vụ muốn bán ra nước ngoài nhưng vì doanh nghiệp không có được quyền xuất khẩu trực tiếp hoặc không có điều kiện xuất khẩu trực tiếp, ủy nhiệm cho doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa xuất nhập khẩu làm dịch vụ xuất khẩu hàng hóa cho mình. Bên nhận ủy thác được nhận một khoảng thù lao gọi là phí ủy thác. Nhập khẩu ủy thác: Một doanh nghiệp có vốn ngoại tệ riêng, có nhu cầu nhập khẩu một số loại hàng hóa nhưng không có quyền hoặc không có điều kiện nhập khẩu trực tiếp, ủy thác nhập khẩu hàng hóa đó cho doanh nghiệp có chức năng trực tiếp giao dịch xuất nhập khẩu với nước ngoài thông qua hợp đồng nhập khẩu ủy thác. Bên nhận ủy thác được nhận phí ủy thác nhập khẩu. Việc xuất nhập khẩu ủy thác được thực hiện thông qua hợp đồng kinh tế gọi là hợp đồng xuất nhập khẩu ủy thác. Đối tượng của hợp đông là hàng hóa, dịch vụ sẽ xuất hoặc nhập qua đường biên giới quốc gia. 1.2.3 Tái xuất khẩu Tái xuất khẩu là xuất khẩu trở lại những hàng trước đây đã nhập khẩu chưa qua chế biến ở nước tái xuất. Giao dịch tái xuất bao gồm nhập khẩu và xuất khẩu với mục đích thu về ngoại tệ lớn hơn số vốn bỏ ra ban đầu. Giao dịch này luôn thu hút ba nước: nước xuất khẩu, nước tái xuất và nước nhập khẩu. Vì vậy, người ta gọi giao dịch tái xuất là giao dịch ba bên hay giao dịch tam giác. Người kinh doanh tái xuất thường ký một hợp đồng nhập khẩu và một hợp đồng xuất khẩu. Hai hợp đồng này về cơ bản không khác những hợp đồng xuất nhập khẩu thông thường song chúng có liên quan mật thiết với nhau. Chúng thường phụ thuộc với nhau về hàng hóa, bao bì, nhãn hiệu, nhiều khi cả về thời gian giao PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 8 hàng và các chứng từ hàng hóa. Việc thực hiện hợp đồng nhập khẩu phải tạo cơ sở đầy đủ và chắc chắn cho việc thực hiện hợp đồng xuất khẩu. Về mặt thanh toán, nhiều hợp đồng tái xuất quy định dùng phương thức thư tín dụng giáp lưng. Người tái xuất thường cố dàn xếp để chậm trả tiền hàng nhập và nhanh chóng thu tiền hàng xuất. Nhờ biện pháp đó, người tái xuất được cả lợi tức về tiền hàng trong khoảng thời gian chênh lệch. Kinh doanh tái xuất đòi hỏi sự nhạy bén tình hình thị trường và giá cả, sự chính xác và chặt chẽ trong các hợp đồng mua bán. 1.2.4 Gia công quốc tế Gia công quốc tế là một phương thức kinh doanh trong đó một bên gọi là bên nhận gia công, nhập nguyên liệu và bán thành phẩm của một bên khác, gọi là bên gia công, chế biến ra thành phẩm giao lại cho bên đặt gia công và nhận thù lao gọi là phí gia công. 1.3 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ XUẤT KHẨU 1.3.1 Khái niệm và ý nghĩa của xuất khẩu 1.3.1.1 Khái niệm Xuất khẩu hàng hóa là những hoạt động có tổ chức kinh doanh của nước ta bán hàng hóa cho nước ngoài theo các hợp đồng đã ký kết. Nội dung của xuất khẩu phải bao gồm ba đối tượng: + Người mua: Khách hàng nước ngoài + Người bán : Tổ chức kinh doanh trực tiếp hoặc là những cá nhân đơn vị ủy thác xuất khẩu + Hàng hóa xuất khẩu 1.3.1.2 Ý nghĩa § Hoạt động kinh doanh xuất khẩu có vai trò quan trọng trong nền kinh tế đất nước nói riêng và cả thế giới nói chung. Hoạt động xuất khẩu mang lại hiệu quả kinh tế cũng như khả năng gây thiệt hại vì phải đối đầu với nhiều quốc gia trên thế giới. Xuất khẩu phát triển làm tăng sự tăng trưởng cho nền kinh tế, điều này được chứng minh rõ nhất ở các nước NIC, Đông Nam Á, các nước và lãnh thổ như Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore. Có thu nhập trên đầu người chỉ bằng 1/4 đến 1/3 thu nhập đầu người của các quốc gia giàu có, bằng cách tiết kiệm một phần lớn thu nhập quốc dân của mình và hướng chúng vào những ngành công nghiệp, công nghiệp xuất khẩu đem lại lợi nhuận cao, các nước này đã vượt lên thành những nước có thu nhập cao vào cuối những năm 1980. § Hoạt động xuất khẩu có định hướng cho phép các nước tận dụng được hiệu quả kinh tế theo qui mô và những lợi ích của việc chuyên môn hóa quốc tế. Bởi vậy nó làm tăng công ăn việc làm, sử dụng các nguồn lực trong nước có hiệu quả, năng suất được tăng lên nhanh chóng, tăng mức sống của người lao động. PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 9 § Hoạt động xuất khẩu có vai trò mở rộng thị trường, nối liền mối quan hệ một cách chủ quan giữa thị trường trong nước và thế giới. Đây không chỉ đơn thuần là lưu thông hàng hóa trong nước và nước ngoài mà còn có ý nghĩa phân công lao động quốc tế, tìm hiểu phong tục tập quán, văn hóa cũng như con người các nước. § Ngoài ra hoạt động xuất khẩu về kinh tế phát triển sẽ kéo theo các hoạt động khác và các quan hệ chính trị có khả năng phát sinh tốt hơn. Trong quá trình quan hệ trao đổi, mua bán các đối tác tìm hiểu phong tục tập quán, nếp sống văn hóa của mỗi bên để hỗ trợ vào quá trình kinh doanh. Do vậy, các mối quan hệ chính trị có cơ hội phát triển tốt đẹp hơn nhằm phục vụ trở lại kinh tế phát triển. Trên đây là những mặt tích cực mà xuất khẩu mang lại. Nếu như sự quan tâm chỉ đạo kể cả công tác thực hiện của các cán bộ, các ngành không được thực hiện nghiêm túc, công tác quản lý lỏng lẻo thì hoạt động xuất khẩu sẽ kìm hãm nền kinh tế đất nước cũng như chính trị của một quốc gia. Do vậy, hoạt động xuất khẩu sẽ là nhân tố tích cực trong quá trình phát triển kinh tế đất nước như tất cả các doanh nghiệp, cán bộ, các ngành thực hiện nghiêm túc chức năng của mình phải có sự kết hợp tích cực giữa các đơn vị sản xuất kinh doanh và Nhà nước. 1.3.2 Những mặt thuận lợi và hạn chế của xuất khẩu 1.3.2.1 Những mặt thuận lợi Phát huy tính năng động sáng tạo của mọi người, mọi đơn vị, mọi tổ chức, mọi địa phương trong xã hội. Nó cho phép tận dụng mọi nguồn lực của đất nước vào sản xuất. Vì vậy, phát hiện chính xác mặt hàng xuất khẩu có hiệu quả có ý nghĩa to lớn. Xuất khẩu cho phép mở rộng thị trường, tạo đầu ra lớn từ đó kích thích sản xuất phát triển. Nhờ xuất khẩu chúng ta mới có nguồn ngoại tệ để nhập máy móc thiết bị công nghệ tiên tiến của nước ngoài. Nâng cao hiệu quả kinh tế trong hoạt động xuất khẩu là tiền đề để tiến đến công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Xuất khẩu tăng cường sự liên hệ chặt chẽ giữa khoa học và sản xuất thúc đẩy các doanh nghiệp cạnh tranh thường xuyên, thay đổi máy móc thiết bị, áp dụng công nghệ mới vào sản xuất. 1.3.2.2 Những mặt hạn chế trong xuất khẩu Vì tồn tại sự cạnh tranh tất yếu dẫn đến sự rối ren trong mua bán. Nếu không có sự kiểm soát chặt chẽ, kịp thời sẽ gây ra hậu quả về kinh tế trong quan hệ với nước ngoài...Các hiện tượng xấu như: buôn lậu, trốn thuế, tha hóa cán bộ...cũng dễ có điều kiện phát sinh. Vì lợi ích trước mắt một số doanh nghiệp đã nhập vào Việt Nam một số máy móc thiết bị cũ, công nghệ lạc hậu không thích hợp với thực tế đất nước dẫn đến làm ăn thua lỗ gây thiệt hại về kinh tế. PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 10 Tất cả những mặt thuận lợi và hạn chế nói trên buộc chúng ta phải xác định, tính toán các chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế hoạt động xuất khẩu một cách liên tục, chính xác và toàn diện, bảo đảm kết hợp hài hòa giữa lợi ích xã hội, lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân. 1.4 VAI TRÒ CỦA XUẤT KHẨU ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ Xuất khẩu đã được thừa nhận là hoạt động rất cơ bản của hoạt động kinh tế đối ngoại, là phương tiện thúc đẩy phát triển kinh tế và thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Do đó xuất khẩu có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, thể hiện ở các mặt sau: Œ Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hóa đất nước: Sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước muốn được rút ngắn đòi hỏi phải có số vốn rất lớn để nhập khẩu máy móc, thiết bị, kỹ thuật và công nghệ. Nguồn vốn để nhập khẩu có thể được hình thành từ các nguồn sau: + Đầu tư nước ngoài + Vay nợ, viện trợ + Thu từ hoạt động du lịch, dịch vụ thu ngoại tệ + Xuất khẩu sức lao động... Trong tương lai, nguồn vốn bên ngoài sẽ tăng lên nhưng mọi cơ hội đầu tư và vay nợ của nước ngoài và các tổ chức quốc tế chỉ thuận lợi khi các chủ đầu tư và người cho vay thấy được khả năng xuất khẩu - nguồn vốn duy nhất để trả nợ - trở thành hiện thực. • Đóng góp chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển: Cơ cấu sản xuất, tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay đổi vô cùng mạnh mẽ. Đó là thành quả của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại, sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế thế giới là tất yếu đối với một quốc gia. Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và dịch chuyển cơ cấu kinh tế: Một là: xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất vượt quá nhu cầu nội địa. Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu ở các nước chậm phát triển, sản xuất về cơ bản chưa đủ tiêu dùng nếu chỉ thụ động ở sự “thừa ra” của sản xuất thì xuất khẩu vẫn cứ nhỏ bé, tăng trưởng chậm chạp. Hai là: coi thị trường đặc biệt là thị trường thế giới là hướng quan trọng để tổ chức sản xuất. Quan điểm thứ hai chính là xuất phát tư nhu cầu của thị trường thế giới để tổ chức sản xuất. Điều đó có tác động tích cực đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Sự tác động này đến sản xuất thể hiện ở: PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 11 § Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ góp phần cho sản xuất phát triển ổn định. § Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước. § Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế - kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng cao năng lực sản xuất trong nước. § Thông qua xuất khẩu, hàng hóa của một quốc gia sẽ tham gia cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng. Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất luôn thích nghi được với sự biến động của thị trường. § Xuất khẩu còn đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn luôn đổi mới và hoàn thiện công việc quản trị sản xuất kinh doanh. Ž Xuất khẩu giải quyết việc làm và cải thiện đời sống nhân dân: Tác động của xuất khẩu đến đời sống bao gồm rất nhiều mặt: Trước hết sản xuất hàng hóa là nơi thu hút hàng triệu lao động và có thu nhập không thấp; xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống, đáp ứng ngày một phong phú hơn nhu cầu tiêu dùng của người dân. • Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng, thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại: Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có sự tác động qua lại và phụ thuộc lẫn nhau. Có thể hoạt động xuất khẩu có trước, tạo điều kiện thúc đẩy quan hệ kinh tế phát triển. Chẳng hạn, xuất khẩu và sản xuất các mặt hàng xuất khẩu thúc đẩy quan hệ tín dụng đầu tư, mở rộng vận tải quốc tế...Mặt khác, chính các quan hệ kinh tế đối ngoại trên lại tạo điều kiện cho mở rộng xuất khẩu. Như vậy, đẩy mạnh xuất khẩu được xem là vấn đề có ý nghĩa chiến lược để phát triển kinh tế và thực hiện công nghiệp hóa đất nước. • Vai trò của xuất khẩu đối với doanh nghiệp: + Giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. + Tạo môi trường cạnh tranh để doanh nghiệp luôn phấn đấu nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. + Phân tán rủi ro trong kinh doanh do đa dạng hóa thị trường. + Giúp doanh nghiệp tăng doanh thu, lợi nhuận, tăng hiệu quả kinh tế - xã hội. + Kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm... 1.5 TỔ CHỨC CÔNG TÁC XUẤT KHẨU Hoạt động kinh doanh xuất khẩu thường phức tạp hơn hoạt động đối nội bởi: khách hàng ở xa, hoạt động chịu sự điều tiết của nhiều hệ thống pháp luật, hệ thống tiền tệ thế giới, tài chính... Qui trình tổ chức xuất khẩu gồm các bước sau: PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 12 Thương lượng đàm phán Tìm chọn khách hàng Ký kết hợp đồng Thực hiện hợp đồng 1.5.1 Tìm chọn khách hàng Việc nghiên cứu tình hình thị trường giúp cho đơn vị kinh doanh lựa chọn thị trường, khách hàng, thời cơ thuận lợi, lựa chọn phương thức mua bán và điều kiện giao dịch thích hợp. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp kết quả hoạt động kinh doanh còn phụ thuộc vào khách hàng. Trong cùng những điều kiện như nhau, việc giao dịch với khách hàng này là thành công nhưng có thể với khách hàng khác là bất lợi. Vì vậy, một nhiệm vụ quan trọng của đơn vị kinh doanh trong giai đoạn chuẩn bị là lựa chọn khách hàng. Để lựa chọn khách hàng, cần phải nắm một số thông tin về khách hàng như sau: § Các thông tin đại cương về đất nước, con người, tình hình về chính trị, xã hội: diện tích, dân số, ngôn ngữ, địa lý, khí hậu, các trung tâm công nghiệp và thương mại chủ yếu, chế độ chính trị, hiến pháp, các chính sách kinh tế và xã hội, thái độ chính trị đối với quốc gia mình. § Những thông tin kinh tế cơ bản: đồng tiền trong nước, tỷ gía hối đoái và tính ổn định của chúng, dự trữ ngoại tệ, tình hình nợ nần, GDP, GNP... § Cơ sở hạ tầng: đường xá, cầu cống, bến cảng, sân bay, các phương tiện giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, bưu chính... § Chính sách ngoại thương: chế độ hạn ngạch XNK hàng rào thuế quan, các chế độ ưu đãi đặc biệt. § Dung lượng thị trường, tập quán và thị hiếu của người tiêu dùng về mặt hàng mình đang kinh doanh. § Các kênh phân phối và tiêu thụ mặt hàng như thế nào, tình hình cung cầu về hàng hóa mình đang kinh doanh. § Chiều hướng giá cả hàng hóa đang lên hay đang xuống và các nhân tố ảnh hướng đến giá cả. Để nghiên cứu các vấn đề trên, ta thường sử dụng hai phương pháp sau: Ø Phương pháp nghiên cứu tại bàn (Desk Research): Đây là phương pháp đang được sử dụng phổ biến chủ yếu dựa vào các tài liệu đã thu thập để nghiên cứu thị trường như: các loại tạp chí xuất bản định kỳ, các bảng thống kê, các loại sách chuyên khảo, thông báo của Công ty môi giới lớn... Ưu điểm của phương pháp là dễ thực hiện và ít tốn kém, tuy nhiên độ chính xác của thông tin không cao và không thể cho kết quả nhanh. Ø Phương pháp nghiên cứu tại chỗ (Field Rearch): Là nghiên cứu trực tiếp tại thị trường mình muốn kinh doanh hàng hóa bao gồm các công việc: phỏng phấn cá nhân trực tiếp, phỏng vấn qua điện thoại, thăm dò qua thư từ, kiểm tra kho hàng, PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 13 cửa hàng, bán thử...Phương pháp này cho kết quả nhanh, độ thông tin chính xác cao và cho phép kiểm tra lại những dự đoán của doanh nghiệp về thị trường mà mình dự kiến thâm nhập. Tuy nhiên nó khó thực hiện và rất tốn kém, đòi hỏi phải chuẩn bị kỹ. 1.5.2 Thương lượng đàm phán 1.5.2.1 Các bước giao dịch đàm phán Trong buôn bán quốc tế có những bước đàm phán sau: Ø Hỏi giá: Đây là việc người mua đề nghị người bán báo cho mình biết giá cả và điều kiện mua hàng. Hỏi giá không ràng buộc trách nhiệm người hỏi giá. Người hỏi giá thường hỏi nhiều nơi nhằm nhận được nhiều bảng chào hàng cạnh tranh nhau để so sánh lựa bản chào hàng thích hợp nhất. Tuy nhiên, nếu người mua hỏi quá nhiều sẽ gây nên thị trường ảo, điều đó không có lợi cho người mua. Ø Chào hàng: Là việc người xuất khẩu thể hiện rõ ý định bán hàng của mình. Trong thương mại quốc tế người ta phân biệt hai loại chào hàng chính: § Chào hàng cố định (Firm Offer): Là việc chào bán một lô hàng nhất định, trong đó nêu rõ thời gian mà người chào hàng bị ràng buộc trách nhiệm vào lời đề nghị của mình. Thời gian này gọi là thời gian hiệu lực của chào hàng cố định. Trong thời gian hiệu lực, nếu người mua chấp nhận hoàn toàn bởi lời chào hàng đó thì hợp đồng coi như được ký kết. § Chào hàng tự do (Free Offer): Là loại chào hàng không ràng buộc trách nhiệm của người phát ra nó, cùng một lúc với cùng một lô hàng người ta có thể chào hàng tự do cho nhiều khách hàng. Chào hàng tự do trở thành hợp đồng khi có sự xác nhận lại của người xuất khẩu. Người mua không thể trách cứ người bán nếu sau khi chấp nhận chào hàng mà người bán không ký hợp đồng với mình. Ø Đặt hàng: Lời đề nghị ký hợp đồng xuất phát từ phía người mua được đưa ra dưới hình thức đặt hàng. Trong đặt hàng, người mua nên cụ thể về hàng hóa định mua và tất cả các nội dung cần thiết cho việc ký kết hợp đồng. Ø Hoàn giá: Sau khi đã nhận được thư chào hàng (hoặc thư đặt hàng) của bên bán, nhưng không chấp nhận hoàn toàn chào hàng (hoặc đặt hàng) đó thì đưa ra một lời đề nghị mới gọi là hoàn giá. Khi có sự hoàn giá, chào hàng trước đó coi như hủy bỏ. Trong buôn bán quốc tế mỗi lần giao dịch thường phải qua nhiều lần hoàn giá mới đi đến kết thúc. Ø Chấp nhận: Là sự đồng ý hoàn toàn mọi điều kiện của chào hàng (hoặc đặt hàng) mà phía bên kia đưa ra. Khi đó hợp đồng ký kết. Một thư chấp nhận muốn có hiệu lực về mặt pháp luật phải đảm bảo những điều kiện sau: PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 14 § Phải đồng ý hoàn toàn vô điều kiện mọi nội dung của thư chào hàng (đơn đặt hàng). § Phải được chính người nhận giá chấp nhận. § Phải chấp nhận trong thời hạn hiệu lực. § Chấp nhận phải được truyền đạt đến người phát ra đề nghị. Ø Xác nhận: Sau khi thống nhất với nhau về các điều kiện giao dịch, hai bên mua và bán ghi lại các kết quả đạt được rồi trao đổi cho đối phương. Đó là văn kiện xác nhận. Văn kiện đó do bên bán lập gọi là giấy xác nhận bán hàng. Xác nhận thường được lập thành hai bản, bên xác nhận ký trước rồi gởi cho bên kia, bên kia ký xong giữ lại một bản và gởi trả lại một bản. 1.5.2.2 Các hình thức đàm phán Ø Đàm phán giao dịch qua thư tín: Sự khẩn trương trong trao đổi thư tín cần được chú ý thích đáng. Tất cả những thư tín gởi đến đều phải được trả lời một cách nhanh chóng mặc dù mình chưa có cơ hội bán hàng. Việc trì hoãn trả lời, thậm chí quên không trả lời thư của khách hàng sẽ gâu ấn tượng xấu. Một nhà kinh doanh tốt bao giờ cũng cố gắng mở rộng quan hệ với nhiều khách hàng. Ø Đàm phán giao dịch qua điện thoại: Việc trao đổi qua điện thoại nhanh chóng giúp cho người giao dịch tiến hành đàm phán một cách khẩn trương, đúng vào thời cơ cần thiết. Nhưng phí tổn điện thoại giữa các nước rất cao, các cuộc trao đổi bằng điện thoại thường rất hạn chế về thời gian, hai bên không thể trình bày chi tiết, mặc khác trao đổi qua điện thoại là trao đổi bằng miệng không có gì làm bằng chứng cho những thỏa thuận, quyết định trao đổi. Vì vậy, điện thoại chỉ được dùng trong những trường hợp cần thiết, khẩn trương. Trong những trường hợp mà phải sử dụng điện thoại cần chuẩn bị thật chu đáo để có thể trả lời ngay mọi vấn đề được nêu lên một cách nhanh chóng, chính xác. Sau khi trao đổi bằng điện thoại, cần có thư xác nhận nội dung đã đàm phán, thoả thuận. Ø Giao dịch đàm phán bằng cách gặp gỡ trực tiếp: Việc gặp gỡ trực tiếp giữa hai bên để trao đổi về mọi điều kiện giao dịch, về mọi vấn đề liên quan đến việc ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán là hình thức đặc biệt quan trọng. Hình thức đàm phán này đẩy nhanh tốc độ giải quyết mọi vấn đề giữa hai bên và nhiều khi là lối thoát cho những hình thức đàm phán bằng thư tín hay điện thoại đã kéo dài quá lâu mà không có kết quả. Nhiều khi đàm phán qua thư kéo dài nhiều tháng mới đi đến ký kết hợp đồng, trong khi đó đàm phán trực tiếp chỉ khoảng 2 – 3 ngày là có kết quả. Hình thức đàm phán này thường được dùng khi hai bên có điều kiện giải thích cặn kẽ để thuyết phục nhau, khi đàm phán về nghiên cứu hợp đồng lớn, những hợp đồng có tính chất phức tạp... PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 15 Việc hai bên mua bán trực tiếp gặp gỡ nhau tạo điều kiện cho việc hiểu nhau hơn và duy trì được quan hệ làm ăn lâu dài. Mỗi buổi hội đàm đều được ghi biên bản theo sổ theo dõi đàm phán. Việc theo dõi này rất có lợi cho việc tìm hiểu khách hàng một cách chu đáo hơn, có lợi cho việc rút kinh nghiệm cả ngay trong quá trình đàm phán và sau này. 1.5.3 Ký kết hợp đồng mua bán ngoại thương Việc giao dịch đàm phán nếu có kết quả sẽ dẫn đến việc ký kết hợp đồng mua bán ngoại thương. Hợp đồng thường được thành lập dưới hình thức văn bản và có thể được lập bằng nhiều cách như: + Hợp đồng gồm một văn bản trong phạm vi mua bán, mọi điều kiện giao dịch đã thoả thuận đồng thời có chữ ký của cả hai bên. + Hợp đồng gồm nhiều văn bản như những báo thư từ giao dịch. Chẳng hạn, hợp đồng gồm hai văn bản như đơn chào hàng cố định của người bán và chấp nhận của người mua; hoặc đơn đặt hàng của người mua và chấp nhận của người bán. Hình thức văn bản của hợp đồng là bắt buộc đối với các đơn vị xuất nhập khẩu của ta trong quan hệ với các nước. Đây là hình thức tốt nhất trong việc bảo vệ quyền lợi của cả hai bên. Nó xác định rõ ràng quyền lợi, nghĩa vụ của bên mua và bên bán. Tránh được những biểu hiện lầm do không thống nhất về quan điểm. Ngoài ra, hình thức văn bản còn tạo điều kiện thuận lợi cho thống kê, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện ký kết hợp đồng. Khi ký kết hợp đồng các bên cần chú ý một số đặc điểm sau: § Cần có sự thỏa thuận thống nhất với nhau tất cả mọi điều khoản cần thiết trước khi ký kết hợp đồng. Một khi đã ký kết rồi thì việc thay đổi một điều khoản nào đó sẽ rất khó khăn và bất lợi. § Văn bản hợp đồng thường do một bên dự thảo. Trước khi ký kết bên kia cần xem xét kỹ lưỡng, cẩn thận đối chiếu với những thoả thuận đã đạt được trong đàm phán, tránh việc đối phương có thể thêm vào hợp đồng một cách khéo léo những điều chưa thỏa thuận và bỏ qua không ghi những điểm đã thống nhất. § Hợp đồng cần được trình bày rõ ràng, cách trình bày phản ảnh dúng nội dung đã thỏa thuận, không để tình trạng mập mờ, có thể suy luận ra nhiều cách. § Hợp đồng nên đề cập đến mọi vấn đề, tránh phải áp dụng những tập quán để giải quyết những điểm hai bên không đề cập đến. § Những điều khoản trong hợp đồng phải xuất phát từ những đặc điểm hàng hóa cần mua bán; từ những điều kiện, hoàn cảnh tự nhiên, xã hội...của nước người bán, người mua; từ những đặc điểm và quan hệ giữa hai bên. § Trong hợp đồng không được có những điều khoản trái với luật lệ hiện hành của nước người bán hoặc nước người mua. § Người đứng ra ký kết hợp đồng phải đúng là người có thẩm quyền ký kết. PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 16 § Ngôn ngữ dùng để ký kết hợp đồng là thứ ngôn ngữ mà cả hai bên cùng thông thạo. Một hợp đồng mua bán ngoaị thương gồm những phần sau: + Số hợp đồng + Ngày và nơi ký kết hợp đồng + Tên và địa chỉ các bên ký kết. Các điều khoản của hợp đồng như: s Tên hàng – Quy cách, phẩm chất – Số lượng, bao bì, ký mã hiệu. s Giá cả - đơn giá s Tổng giá s Thời hạn và địa điểm giao hàng. s Điều kiện giao nhận. s Điều kiện thanh toán. s Điều kiện khiếu nại, trọng tài. s Điều kiện bất khả kháng. s Điều kiện cấm tái xuất... s Chữ ký của hai bên Với những hợp đồng phức tạp nhiều mặt hàng thì có thêm các phụ kiện là bộ phận không tách rời của hợp đồng. 1.5.4 Tổ chức việc thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu Sau khi hợp đồng ngoại thương đã ký kết, đơn vị kinh doãnh xuất nhập khẩu với tư cách là một bên ký kết phải tổ chức thực hiện hợp đồng ký kết. Đó là một công việc khá phức tạp. Ở đây ta chỉ tìm hiểu quá trình tổ chức thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu: 1.5.4.1 Xin giấy phép xuất khẩu do Bộ thương mại cấp hoặc cơ quan quản lý ngành đối với mặt hàng xuất khẩu Theo nghị định Chính phủ ban hành ngày 31/07/1998 qui định về chức năng xuất khẩu của doanh nghiệp kể từ ngày 01/09/1998. Tất cả các doanh nghiệp đều có quyền xuất khẩu trực tiếp theo ngành hàng đã đăng ký kinh doanh và những ngành hàng chuyên ngành trước khi tiến hành kinh doanh xuất nhập khẩu thì doanh nghiệp phải đăng ký mã số kinh doanh xuất nhập khẩu tại cục hải quan tỉnh hay thành phố. Hồ sơ đăng ký kinh doanh xuất nhập khẩu gởi về vụ quản lý xuất nhập khẩu thuộc Bộ thương mại gồm: + Đơn xin kinh doanh xuất nhập khẩu (theo mẫu). + Giấy phép thành lập doanh nghiệp (Bản sao có công chứng). + Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (Bản sao có công chứng). 1.5.4.2 Thực hiện bước đầu công việc thanh toán Nhà xuất khẩu cần biết khâu thanh toán có đảm bảo hay không trước khi giao hàng. Các phương thức thanh toán thường là: PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 17 + Thanh toán bằng thư tín dụng (L/C) + Thanh toán bằng phương thức giao chứng từ trả tiền (CAD) + Thanh toán bàng phương thức chuyển tiền (T/T) + Thanh toán bằng thủ tục trả trước. 1.5.4.3 Chuẩn bị hàng để xuất khẩu: Thu gom hàng xuất khẩu, đóng gói bao bì, ký mã hiệu theo qui định của hải quan nước nhập. 1.5.4.4 Kiểm tra hàng hóa: Đảm bảo xuất khẩu đủ số lượng, đúng chất lượng, trọng lượng... 1.5.4.5 Thuê phương tiện vận tải: Nếu hợp đồng ký kết theo các điều kiện CF, CIF...thì việc thuê phương tiện vận tải do bên bán thực hiện. 1.5.4.6 Làm thủ tục hải quan: Theo điều 12 pháp lệnh qui định thủ tục hải quan gồm: + Khai báo và nộp tờ khai hải quan + Đưa hàng đến địa điểm qui định để kiểm tra + Làm nghĩa vụ nộp thuế nếu có 1.5.4.7 Giao nhận hàng cho người vận tải hoặc lên tàu § Trường hợp hàng đủ một container: + Nhận một container rỗng từ bãi container + Lập bảng kê hàng sẽ xếp vào container để khai với hải quan và có kế hoạch xếp hàng vào container. + Người bán xếp hàng vào container cùng với hải quan niêm phong kẹp chì rồi đưa tới bãi ngoài cảng. + Lấy vận đơn đường biển § Trường hợp hàng không đủ một container: + Lập bảng đăng ký kê hàng chuyên chở để thương lượng với người vận tải để họ xếp hàng hóa cùng một container với hàng chủ khác. + Lấy vận đơn đường biển 1.5.4.8 Mua bảo hiểm cho hàng hóa xuất khẩu (nếu có) Với phương châm an toàn và tiết kiệm chi phí cho hàng hóa. Việc mua bảo hiểm, lựa chọn điều kiện bảo hiểm tuỳ thuộc vào tính chất hàng hóa, phương thức đóng gói, bao bì, tuyến đường vận chuyển. 1.5.4.9 Thông báo cho người mua về kết quả giao hàng 1.5.4.10 Lập bộ chứng từ thanh toán xuất trình cho ngân hàng theo đúng thời hạn quy định Tất cả các chứng từ đều lập theo đúng L/C vì ngân hàng chỉ dựa vào L/C để kiểm tra bộ chứng từ sao cho phù hợp mới tiến hành thanh toán cho người bán (người xuất khẩu) Chứng từ thanh toán bao gồm: + Hoá đơn thương mại PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 18 + Vận đơn đường biển + Chứng từ bảo hiểm + Chứng nhận phẩm chất, số lượng, trọng lượng + Chứng nhận xuất xứ xứ, kiểm dịch vệ sinh + Chứng từ kho tàng + Chứng từ hải quan 1.5.4.11 Tranh chấp, giải quyết tranh chấp, thanh lý hợp đồn (nếu có) Trong thực tế sau khi ký kết hợp đồng xuất khẩu, để tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu không theo một trình tự chuẩn mực nào cả, vì nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố từ điều kiện thương mại chọn lựa như: FOB, CIF,... phụ thuộc hình thức kinh doanh xuất khẩu trực tiếp hay ủy thác xuất khẩu, sự quản lý của nhà nước, phương thức thanh toán... 1.6 MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU 1.6.1 Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp Hiệu quả sản xuất kinh doanh là phạm trù kinh tế biểu hiện tập trung của phát triển kinh tế theo chiều sâu phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh. Nó là thước đo ngày càng trở nên quan trọng của sự tăng trưởng kinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Bản chất của sản xuất kinh doanh là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội. Chính việc khan hiếm nguồn lực và việc sử dụng chúng có tính cạnh tranh nhằm thoả mãn ngày càng tăng của xã hội đặt ra yêu cầu khai thác tận dụng triệt để và tiết kiệm các nguồn lực, hiệu năng của các điều kiện nội tại phát huy năng lực, hiệu năng của các yếu tố sản xuất, tiết kiệm mọi chi phí. Vì vậy, yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là phải đạt kết quả tối đa với chi phí tối thiểu. Hay chính xác hơn là đạt kết quả tối đa với chi phí nhất định, hoặc ngược lại là đạt kết quả nhất định với chi phí tối thiếu. Chi phí ở đây được hiểu là chi phí tạo ra nguồn lực, chi phí sử dụng nguồn lực, đồng thời bao gồm chi phí cơ hội. 1.6.2 Vai trò của việc nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu Xuất khẩu là một hoạt động kinh doanh buộn bán quốc tế. Nó không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán trong một nền thương mại có tổ chức cả bên trong lẫn bên ngoằi nhằm mục đích đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa, chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Trong điều kiện kinh tế nước ta hiện nay, việc nâng cao hiệu quả xuất khẩu cho phép phát triển những mặt thuận lợi của nền kinh tế hàng hóa và hạn chế những mặt không có lợi. PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 19 Nâng cao hiệu quả xuất khẩu cho phép phát huy tính sáng tạo của mọi đơn vị, nó cho phép tận dụng mọi nguồn lực của đất nước tham gia vào sản xuất. Nâng cao hiệu quả xuất khẩu góp phần tạo nguồn ngoại tệ để nhập khẩu máy móc thiết bị công nghệ tiên tiến của nước ngoài là tiền đề phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Như chúng ta biết, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là con đường tất yếu mà Việt Nam phải lựa chọn, vì nó đưa nền kinh tế thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, chậm phát triển. Để thực hiện đòi hỏi phải có nguồn vốn lớn để nhập khẩu máy móc thiết bị, kỹ thuật tiên tiến của nước ngoài. Những nguồn vốn này được huy động từ nguồn vốn vay, viện trợ..., nhưng phải trả sau này. Còn nếu xuất khẩu đạt được kim ngạch cao thì nó sẽ là nguồn vốn quan trọng góp phần trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thành công. Nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có điều kiện phát triển thuận lợi, có khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, cung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất. Xuất khẩu còn đòi hỏi các doanh nghiệp luôn đổi mới và hoàn thiện công việc tổ chức quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu góp phần giải quyết công ăn việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, thông qua xuất khẩu mà hàng hóa của nước ta cạnh tranh được với các hàng hóa của nước khác, tạo uy tín mặt hàng, được các thị trường nước ngoài công nhận. 1.6.3 Bản chất của việc nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu Hiệu quả kinh tế của hoạt động xuất khẩu đạt được góp phần thúc đẩy mọi mặt nền kinh tế phát triển. Thực tế hiện nay chúng ta chưa xác định chính xác được hiệu quả kinh tế từ hoạt động xuất khẩu mang lại, vì mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh khác nhau thì các yếu tố chi phí đầu vào cũng khác nhau. Do đó, xét về hiệu quả xuất khẩu cũng khác nhau, cho nên yêu cầu của công tác quản lý và hạch toán kinh doanh đòi hỏi phải xác định được hiệu quả kinh tế hoạt động xuất khẩu đối với nền kinh tế quốc dân và đối với mọi đơn vị kinh doanh xuất khẩu trên các góc độ khác nhau: giữa chất lượng và sản lượng, giữa không gian và thời gian. Có như vậy, hiệu quả xuất khẩu được đánh giá một cách rõ ràng và chính xác. Hiệu quả kinh tế của hoạt động xuất khẩu biểu hiện ở mỗi tương quan giữa kết quả của công tác xuất khẩu mang lại so với chi phí bỏ ra để thực hiện xuất khẩu. Do đó, về bản chất của hiệu quả kinh tế hoạt động xuất khẩu là một đại lượng so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra. § Kết quả thu được từ hoạt động xuất khẩu, bao gồm: + Doanh thu – kim ngạch xuất khẩu + Lợi nhuận § Chi phí bỏ ra để thực hiện hợp đồng xuất khẩu, bao gồm: PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 20 + Chi phí về lao động + Giá vốn hàng bán + Chi phí lưu thông + Chi phí phát sinh trong xuất khẩu + Các khoản thuế phải nộp (nếu có) Muốn nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu đòi hỏi phải làm tốt công tác xuất khẩu giảm giá thành sản phẩm bằng cách giảm chi phí có liên quan đến xuất khẩu. Bản chất của việc nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu là kết quả thu về từ xuất khẩu phải bù đắp các khoản chi phí liên quan đến xuất khẩu và đảm bảo tái sản xuất trong kinh doanh 1.6.4 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động xuất khẩu trong doanh nghiệp Để đánh giá đầy đủ công tác xuất khẩu một cách chính xác, trung thực, phản ánh đúng đắn bản chất của hiệu quả hoạt động xuất khẩu, người ta thường sử dụng hệ thống các chỉ tiêu tổng hợp để đánh giá. 1.6.4.1 Chỉ tiêu kết quả trên giá thành toàn bộ Giá thành toàn bộ là các khoản chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra sản xuất kinh doanh, chỉ tiêu kết quả trên giá thành toàn bộ là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp, phản ánh hiệu quả sử dụng lao động, vật tư, tiền vốn, phản ánh trình độ tổ chức quản lý kinh doanh của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng chi phí bỏ vào sản xuất kinh doanh thì kết quả thu được là bao nhiêu. Công thức xác định: DT HDT/Z = Ztb Trong đó: HDT/Z : Kết quả kinh doanh trên một đồng chi phí toàn bộ DT : Doanh thu thuần từ hoạt động xuất khẩu Z : Giá thành toàn bộ 1.6.4.2 Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả kinh tế toàn bộ vốn kinh doanh được chi ra trong kỳ để tạo giá trị sản lượng hàng hóa thu về. Công thức xác định: DT HDT/V = VKDbq Trong đó: HDT/V : Hiệu suất sử dụng vốn kinh doanh DT : Doanh thu thuần từ hoạt động xuất khẩu VKDbq : Vốn kinh doanh bình quân PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
- Xem thêm -