Tài liệu Một số biện pháp tổ chức dạy học các dạng bài tập về từ loại cho học sinh lớp 4

  • Số trang: 68 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 50 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC NGUYỄN THỊ DUNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC DẠY HỌC CÁC DẠNG BÀI TẬP VỀ TỪ LOẠI CHO HỌC SINH LỚP 4 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Sơn La, năm 2013 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC NGUYỄN THỊ DUNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC DẠY HỌC CÁC DẠNG BÀI TẬP VỀ TỪ LOẠI CHO HỌC SINH LỚP 4 Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Người hướng dẫn: TS. Trần Thị Thanh Hồng Sơn La, năm 2013 LỜI CẢM ƠN Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn TS.Trần Thị Thanh Hồng – Trưởng khoa Tiểu học – Mầm non, Trường Đại học Tây Bắc, người đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình thực hiện khóa luận này. Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Khoa Tiểu học – Mầm non những người đã trực tiếp giảng dạy, trang bị cho em những kiến thức quý báu trong quá trình học tập, rèn luyện. Xin cảm ơn các thầy cô giáo và các em học sinh lớp 4 Trường Tiểu học Thị Trấn Thuận Châu – Sơn La đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện và nghiên cứu khóa luận này. Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới tập thể lớp K50 – ĐHGD Tiểu học, cũng như gia đình bạn bè luôn quan tâm, động viên và nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này. Xin chân thành cảm ơn! Sơn La, tháng 5 năm 2013 Người thực hiện Nguyễn Thị Dung MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................... 1 1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................ 1 2. Mục đích nghiên cứu ...................................................................................... 2 3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu ................................................................ 2 4. Phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................... 3 5. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................ 3 6. Giả thuyết khoa học ........................................................................................ 4 7. Cấu trúc của khoá luận ................................................................................... 4 PHẦN NỘI DUNG ........................................................................................... 5 CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN ........................... 5 1.1. Cơ sở lí luận ................................................................................................ 5 1.1.1. Vị trí - nhiệm vụ của dạy học các dạng bài tập về từ loại cho học sinh lớp 4 ......................................................................................................................... 5 1.1.2. Nội dung chương trình và sách giáo khoa Luyện từ và câu lớp 4 ............. 7 1.1.3. Cấu trúc của phần từ loại danh từ, động từ, tính từ lớp 4 .......................... 8 1.1.4. Kiến thức về từ loại danh từ, động từ, tính từ lớp 4................................... 9 1.1.5. Qui trình tổ chức dạy học các dạng bài tập về từ loại ở lớp 4 .................. 13 1.2. Cơ sở thực tiễn .......................................................................................... 15 1.2.1. Khảo sát thực trạng dạy học các dạng bài tập về từ loại (danh từ, động từ, tính từ) ở lớp 4 Trường Tiểu học Thị trấn Thuận Châu – Sơn La ..................... 15 1.2.2. Kết quả khảo sát ..................................................................................... 16 Tiểu kết chương 1 ............................................................................................ 20 CHƯƠNG 2. BIỆN PHÁP TỔ CHỨC DẠY HỌC CÁC DẠNG BÀI TẬP TỪ LOẠI DANH TỪ, ĐỘNG TỪ, TÍNH TỪ CHO HỌC SINH LỚP 4 .... 21 2.1. Hướng dẫn học sinh nghiên cứu, thực hiện bài tập ở trên lớp .................... 21 2.2. Hướng dẫn học sinh phân tích từ loại danh từ, động từ, tính từ nhằm phát huy năng lực tư duy cho học sinh ..................................................................... 23 2.3. Hướng dẫn thực hành luyện tập các bài có dạng về tính từ, động từ, danh từ ......................................................................................................................... 24 2.4. Sử dụng phương pháp đàm thoại gợi mở để hình thành kiến thức về từ loại danh từ, động từ, tính từ cho học sinh............................................................... 26 2.5. Sử dụng phương pháp nêu và giải quyết vấn đề ......................................... 28 2.6. Sử dụng phương pháp trực quan trong dạy học danh từ, động từ, tính từ ......... 29 2.7. Tổ chức giảng dạy theo trình độ học tập của học sinh nhằm phát huy tính dân chủ trong giờ học ....................................................................................... 30 Tiểu kết chương 2 ............................................................................................ 33 CHƯƠNG 3. THIẾT KẾ VÀ THỂ NGHIỆM .............................................. 35 3.2. Thiết kế giáo án mẫu ................................................................................. 35 3.3. Thể nghiệm ............................................................................................... 35 3.3.1. Mục đích thể nghiệm .............................................................................. 35 3.3.2. Địa điểm và thời gian thể nghiệm ........................................................... 35 3.3.3. Đối tượng và chủ thể thể nghiệm ............................................................ 36 3.3.4. Tổ chức thể nghiệm ................................................................................ 36 3.3.5. Kết quả thể nghiệm ................................................................................. 37 3.3.6. Kết luận rút ra từ thể nghiệm .................................................................. 38 Tiểu kết chương 3 .............................................................................................. 38 KẾT LUẬN ..................................................................................................... 39 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nhận thức được tầm quan trọng của tiếng Việt trong sự nghiệp giáo dục con người. Từ xa xưa ông cha ta đã sử dụng nó một cách tự giác nhằm để giáo dục trẻ nhỏ. Khi chưa có nhà trường, trẻ được giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội. Từ thuở nằm nôi, các em được bao bọc trong tiếng hát ru của mẹ, của bà, lớn lên chút nữa những câu chuyện kể có tác dụng to lớn, là dòng sữa ngọt ngào nuôi dưỡng tâm hồn trẻ, rèn luyện các em thành con người có nhân cách, có bản sắc dân tộc góp phần hình thành con người mới, đáp ứng yêu cầu của xã hội đối với những thành viên của mình. Trong xu thế phát triển toàn cầu như hiện nay, việc phát triển con người toàn diện là việc thiết yếu. Là người Việt Nam sử dụng thuần thục ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ là việc thiết thực. Môn Tiếng Việt ở các cấp học nói chung, ở tiểu học nói riêng, phân môn Luyện từ và câu giúp cho học sinh hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng tiếng Việt. Môn Tiếng Việt tập trung thể hiện ở bốn kỹ năng (nghe – nói – đọc – viết). Đây là những kỹ năng quan trọng để học sinh học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Đồng thời là cơ sở để học sinh tiếp thu và học tốt các môn học khác ở các lớp trên. Thông qua việc dạy và học, tiếng việt góp phần rèn luyện các thao tác của tư duy. Trong môn Tiếng Việt, phân môn Luyện từ và câu có nhiệm vụ góp phần cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt bằng con đường qui nạp và rèn luyện kỹ năng dùng từ đặt câu (nói – viết), bên cạnh đó còn cung cấp những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, văn hoá, văn học của Việt Nam và nước ngoài. Ngoài ra phân môn Luyện từ và câu còn giúp học sinh bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt. Môn Luyện từ và câu góp phần giúp học sinh hình thành nhân cách và nếp sống văn hoá của con người Việt Nam. Cùng với sự phát triển của xã hội, giáo dục nhà trường xuất hiện như một điều tất yếu, đón bước thiếu nhi cắp sách tới trường. Cả thế giới đang mở trước mắt các em. Kho tàng văn minh nhân loại được chuyển giao từ những điều sơ đẳng nhất. Quá trình giáo dục được thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi, tất cả các môn học. 1 Những điều sơ đẳng nhất đã góp phần rất quan trọng trong việc sử dụng ngôn ngữ vào hoạt động giao tiếp của học sinh. Ngôn ngữ là thứ công cụ có tác dụng vô cùng to lớn. Nó có thể diễn tả tất cả những gì con người nghĩ ra, nhìn thấy biết được những giá trị trừu tượng mà các giác quan không thể vươn tới được. Các môn học ở tiểu học có tác dụng hỗ trợ cho nhau nhằm giáo dục toàn diện học sinh phải kể đến Luyện từ và câu, một phân môn chiếm thời lượng khá lớn trong môn Tiếng Việt ở tiểu học. Nó tách thành một phân môn độc lập, có vị trí ngang bằng với phân môn Tập đọc, Tập làm văn... song song tồn tại với các môn học khác. Điều đó thể hiện việc cung cấp vốn từ cho học sinh là rất cần thiết và nó có thể mang tính chất cấp bách nhằm “đầu tư” cho học sinh có cơ sở hình thành ngôn ngữ cho hoạt động giao tiếp cũng như chiếm lĩnh nguồn tri thức mới trong các môn học khác. Tầm quan trọng đó đã được rèn giũa luyện tập nhuần nhuyễn trong quá trình giải quyết các dạng bài tập trong môn Luyện từ và câu lớp 4. Trường Tiểu học Thị trấn Thuận Châu - Sơn La là trường nằm ở trung tâm huyện, có cơ sở vật chất cũng như điều kiện dạy và học tương đối thuận lợi. Trường có đội ngũ cán bộ giáo viên có bề dày kinh nghiệm và nhiệt tình trong công tác giảng dạy. Trong thời gian qua khảo sát học sinh tôi nhận thấy khoảng một nửa số học sinh chưa nắm bắt rõ ràng cụ thể các loại từ, từ chỉ sự vật, khả năng phân biệt các loại động từ, tính từ, danh từ, sử dụng từ loại để đặt câu. Nhằm giúp học sinh học tốt phân môn Luyện từ và câu trong môn Tiếng Việt, phần từ loại. Tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp tổ chức dạy học các dạng bài tập về từ loại cho học sinh lớp 4”. 2. Mục đích nghiên cứu Với đề tài này mục đích nghiên cứu chính là trên cơ sở tìm hiểu những vấn đề lý luận và thực tiễn để đề xuất biện pháp tổ chức dạy các dạng bài tập phần từ loại. Từ đó vận dụng linh hoạt vào hướng dẫn rèn kỹ năng làm các dạng bài tập về từ loại danh từ, động từ, tính từ cho học sinh một cách hiệu quả nhất. Góp thêm biện pháp bồi dưỡng cho học sinh có thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu; có ý thức sử dụng tiếng Việt văn hoá trong giao tiếp và thích học tiếng Việt. 3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là một số biện pháp dạy học các dạng bài tập về từ loại danh từ, động từ, tính từ cho học sinh lớp 4. 2 3.2. Khách thể nghiên cứu Giáo viên:11 giáo viên Học sinh lớp 4: 2 lớp tổng số 48 học sinh Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng của việc dạy học phần từ loại danh từ, động từ, tính từ của giáo viên và học sinh lớp 4 Trường Tiểu học Thị trấn Thuận Châu - Sơn La. 4. Phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu 4.1. Phạm vi nghiên cứu Do điều kiện thời gian có hạn, bài tiểu luận cuối khoá tôi chỉ tập trung vào mảng từ loại cụ thể là danh từ, động từ và tính từ, thế nào là động từ? Nhận diện, phân biệt động từ, vận dụng để sử dụng thích hợp các loại từ. Nhận biết thế nào là danh từ? Danh từ chung, danh từ riêng, cách viết hoa của danh từ; thế nào là tính từ? Giúp học sinh hiểu và nhận biết thế nào là tính từ, các loại tính từ? 4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về phần từ loại (danh từ, động từ, tính từ) trong phân môn Luyện từ và câu ở lớp 4. Tìm hiểu tình hình dạy học phần từ loại (danh từ, động từ, tính từ), đề xuất một số biện pháp tổ chức dạy các bài tập về từ loại (danh từ, động từ, tính từ) cho học sinh lớp 4. Thiết kế mẫu và thể nghiệm để rút ra được nhận định về biện pháp tổ chức dạy các bài tập về từ loại ở lớp 4. 5. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện khóa luận này, tôi đã vận dụng các phương pháp: 1. Phương pháp nghiên cứu lý luận (đọc tài liệu liên quan). 2. Phương pháp điều tra. 3. Phương pháp phân tích tổng hợp. 4. Phương pháp phỏng vấn. 5. Phương pháp thể nghiệm. 6. Phương pháp tổng kết, rút kinh nghiệm. 3 6. Giả thuyết khoa học Tôi giả định các phương án mà khóa luận nêu ra được công nhận và thông qua thì nó sẽ là tài liệu tham khảo cho giáo viên và sinh viên trong việc giảng dạy các bài tập về từ loại (danh từ, động từ, tính từ), đặc biệt là những giáo viên đang công tác trên những địa bàn khó khăn, góp thêm tiếng nói vào việc nâng cao hiệu quả học tập của học sinh trong môn Luyện từ và câu theo nội dung chương trình mới cải cách, nhằm phát triển không ngừng chất lượng giáo dục đào tạo ở tiểu học hiện nay. 7. Cấu trúc của khoá luận Ngoài phần mở đầu, kết luận thì nội dung cơ bản gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn. Cơ sở lý luận, tác giả nghiên cứu vị trí - nhiệm vụ dạy môn Luyện từ và câu, nội dung chương trình và sách giáo khoa lớp 4. Nghiên cứu cấu trúc, yêu cầu về kiến thức và qui trình dạy bài Luyện từ và câu. Cơ sở thực tiễn, tác giả khảo sát thực trạng dạy học các dạng bài tập về từ loại (danh từ, động từ, tính từ) tại Trường Tiểu học Thị Trấn Thuận Châu – Sơn La, đã đưa ra được một số kết luận. Chương 2: Biện pháp tổ chức dạy học các dạng bài tập từ loại danh từ, động từ, tính từ cho học sinh lớp 4. Tác giả đưa ra một số biện pháp tổ chức dạy các dạng bài tập phần từ loại cho học sinh lớp 4: biện pháp hướng dẫn học sinh nghiên cứu, thực hiện bài tập ở trên lớp; phương pháp đàm thoại, gợi mở; hướng dẫn học sinh phân tích từ loại; nêu và giải quyết vấn đề; trực quan trong dạy học danh từ, động từ, tính từ; hướng dẫn thực hành, luyện tập các bài có dạng về danh từ, động từ, tính từ; tổ chức giảng dạy theo trình độ học tập của học sinh. Chương 3: Thiết kế và thể nghiệm. Tác giả đã thiết kế mẫu giáo án dạy học một số bài tập về từ loại danh từ, động từ, tính từ ở lớp 4. Khi tiến hành thể nghiệm, tác giả đã nêu rõ mục đích thể nghiệm, nội dung thể nghiệm và tổ chức thể nghiệm. Từ đó, tác giả đánh giá kết quả thực nghiệm và đưa ra kết luận, hoàn tất quá trình nghiên cứu của khóa luận. 4 PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1.1. Cơ sở lí luận 1.1.1. Vị trí - nhiệm vụ của dạy học các dạng bài tập về từ loại cho học sinh lớp 4 1.1.1.1.Vị trí dạy học các dạng bài tập về từ loại cho học sinh lớp 4 Phân môn Luyện từ và câu có vị trí quan trọng trong chương trình tiểu học. Trước hết Luyện từ và câu phần từ loại cung cấp làm giàu vốn từ cho học sinh đặt biệt là hệ thống từ ngữ, cung cấp cho học sinh được gắn với chủ điểm ở từng bài học. Nhằm tăng cường sự hiểu biết của học sinh về nhiều lĩnh vực trong cuộc sống. Phân môn Luyện từ và câu cung cấp những kiến thức sơ giản về từ và câu, rèn kỹ năng dùng từ đặt câu, sử dụng từ ngữ vào trong giao tiếp hằng ngày. Chính vì vậy, học sinh được làm quen với từ và câu ngay từ lớp một và được học với tư cách là một phân môn độc lập của môn Tiếng Việt từ lớp hai, ba. Nhiệm vụ chủ yếu của việc dạy phân môn Luyện từ và câu ở tiểu học là giúp học sinh: Mở rộng vốn từ và cung cấp cho học sinh một số hiểu biết sơ giản về cấu tạo từ, từ loại, câu, dấu câu… Rèn luyện kỹ năng dùng từ đặt câu, sử dụng dấu câu… Bồi dưỡng thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu, có ý thức sử dụng tiếng Việt văn hoá trong giao tiếp. Phân môn Luyện từ và câu có vị trí quan trọng trong chương trình tiểu học. Trước hết Luyện từ và câu cung cấp làm giàu vốn từ cho học sinh đặt biệt là hệ thống từ ngữ cung cấp cho học sinh được gắn với chủ điểm ở từng lớp, nhằm tăng cường sự hiểu biết của học sinh về nhiều lĩnh vực của cuộc sống. Phân môn Luyện từ và câu phần từ loại cung cấp những kiến thức sơ giản về từ và câu, rèn kỹ năng dùng từ đặt câu, sử dụng từ ngữ vào trong giao tiếp hằng ngày. Chính vì vậy, học sinh được làm quen với từ và câu từ lớp một và được học với tư cách là mộn phân môn độc lập của Tiếng Việt từ lớp hai đến lớp năm. 5 Trong môn Tiếng Việt, nội dung phần từ loại danh từ, động từ, tính từ được đưa vào giảng dạy trong phân môn Luyện từ và câu. Đây là một mảng kiến thức tương đối phức tạp không chỉ với học sinh mà với cả giáo viên trong lĩnh vực chuyên sâu. Để học sinh nắm vững kiến thức về từ, tạo nền tảng cho việc phát triển và sử dụng ngôn ngữ ngày một phong phú, thì việc giảng dạy nội dung từ loại là một vấn đề quan trọng. Vị trí của phần từ loại có vị trí quan trọng trong việc phát triển vốn từ, sử dụng từ và câu, cung cấp cho học sinh một số hiểu biết sơ giản về từ loại, rèn luyện cho học sinh kĩ năng dùng từ loại để đặt câu. Bồi dưỡng cho học sinh thói quen sử dụng từ loại: danh từ, động từ, tính từ, có ý thức sử dụng tiếng Việt văn hóa trong giao tiếp. 1.1.1.2. Nhiệm vụ dạy học các dạng bài tập về từ loại cho học sinh lớp 4 Nhiệm vụ chủ yếu của việc dạy Luyện từ và câu ở tiểu học là giúp HS: Mở rộng vốn từ và cung cấp cho học sinh một số hiểu biết sơ giản về cấu tạo từ, từ loại, câu, dấu câu. Thực tế cũng cho thấy, khi xét từ loại cho những từ cụ thể, giáo viên thường dựa vào nghĩa chứ không nắm được hết các dấu hiệu hình thức từ loại. Mà nghĩa của từ loại không phải lúc nào cũng dễ xác định. Một từ cụ thể chỉ sự vật hay hoạt động, trạng thái hay đặc điểm, tính chất không phải lúc nào cũng có thể tìm ra ngay được. Sự khác nhau về nghĩa đi kèm với dấu hiệu hình thức. Bài tiểu luận cuối khoá, tôi chỉ tập trung vào mảng (từ loại) cụ thể (danh từ, động từ và tính từ), thế nào là động từ? Nhận diện, phân biệt động từ, vận dụng để sử dụng thích hợp các loại từ. Nhận biết thế nào là danh từ? Danh từ chung, danh từ riêng, cách viết hoa của danh từ; thế nào là tính từ?... Giúp học sinh hiểu và nhận biết thế nào là tính từ, các loại tính từ? Rèn luyện kỹ năng dùng từ đặt câu, sử dụng dấu câu. Bồi dưỡng thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu, có ý thức sử dụng tiếng Việt văn hoá trong giao tiếp. Nhiệm vụ chủ yếu của phần từ loại là cung cấp cho học sinh một số hiểu biết sơ giản về từ loại, rèn luyện cho học sinh kĩ năng dùng từ loại để đặt câu. Bồi dưỡng cho học sinh thói quen sử dụng từ loại: danh từ, động từ, tính từ. 6 1.1.2. Nội dung chương trình và sách giáo khoa Luyện từ và câu lớp 4 1.1.2.1. Nội dung chương trình Luyện từ và câu lớp 4 Nội dung chương trình của Luyện từ và câu lớp 4 gồm 94 tiết. Học kỳ 1: gồm 62 tiết, gắn với 5 chủ điểm, đó là : Chủ điểm 1: Thương người như thể thương thân “Nhân hậu – Đoàn kết’’ Chủ điểm 2: Trung thực - Tự trọng Chủ điểm 3: Trên đôi cánh ước mơ thực hiện ước mơ. Chủ điểm 4: Có chí thì nên - nghị lực – ý chí. Chủ điểm 5: Tiếng sáo điều - đồ chơi – trò chơi. Học kỳ 2: gồm 32 tiết, gắn với 5 chủ điểm, đó là: Chủ điểm 1: Người ta là hoa đất – tài năng - sức khoẻ. Chủ điểm 2: Vẻ đẹp muôn màu – cái đẹp. Chủ điểm 3: Những người quả cảm – dũng cảm. Chủ điểm 4: Khám phá thế giới - du lịch - thám hiểm. Chủ điểm 5: Tình yêu cuộc sống - lạc quan yêu đời. Mở rộng và hệ thống hoá vốn từ theo các chủ điểm, môn Luyện từ và câu cung cấp làm giàu vốn từ cho học sinh đặt biệt là hệ thống từ ngữ cung cấp cho học sinh được gắn với chủ điểm ở từng lớp, nhằm tăng cường sự hiểu biết của học sinh về nhiều lĩnh vực của cuộc sống. Phần từ loại cung cấp cho học sinh đầy đủ các kiến thức về từ loại phần danh từ, động từ, tính từ cụ thể là khái niệm về danh từ, động từ, tính từ (học xen kẽ gắn với chủ điểm). 1.1.2.2. Các đơn vị học của phân môn Luyện từ và câu lớp 4 Tập 1: Gồm 5 chủ điểm học trong 18 tuần Tuần Chủ điểm 1,2,3 Thương người như thể thương thân 4,5,6 Măng mọc thẳng (trung thực, tự trọng) 7,8,9 Trên đôi cánh ước mơ (ước mơ) 10 Ôn tập giữa học kì I 11,12,13 Có chí thì nên (nghị lực) 14,15,16,17 Tiếng sáo diều (vui chơi) 18 Ôn tập cuối kì I 7 Tập 2: Gồm 5 chủ điểm học trong 17 tuần. Tuần Chủ điểm 19,20,21 Người ta là hoa đất (năng lực, tài trí) 22,23,24 Vẻ đẹp muôn màu (óc thẩm mỹ) 25,26,27 Những người quả cảm (dũng cảm) 28 Ôn tập giữa kì II 29,30,31 Khám phá thế giới (du lịch thám hiểm) 32,33,34 Tình yêu cuộc sống (lạc quan, yêu đời) 35 Ôn tập cuối kì II Mở rộng từ, hệ thống hoá, tích cực vốn từ theo các chủ điểm được học ở bài tập đọc (dựa vào vốn sống của học sinh, bài tập đọc, gợi ý của giáo viên). Hình thức mở rộng vốn từ thông qua các bài tập. Hệ thống bài tập luyện tập mở rộng vốn từ rất đa dạng: Bài tập tìm từ ngữ theo chủ điểm. Bài tập tìm hiểu, nắm nghĩa của từ. Bài tập quản lý, phân loại vốn từ. Bài tập luyện cách sử dụng từ. Khóa luận chỉ tập trung vào phần từ loại: Cung cấp kiến thức sơ giản về một số loại từ cơ bản của tiếng Việt danh từ, động từ, tính từ. Trong chương trình sách giáo khoa, mỗi nội dung danh từ, động từ, tính từ đều có loại bài cung cấp kiến thức mới và thực hành luyện tập. Phần từ loại cung cấp một số kiến thức về các từ loại của tiếng Việt danh từ, động từ, tính từ thông qua các bài tập: nhận diện từ theo từ loại, luyện viết danh từ riêng, tìm và phân loại từ theo từ loại, luyện sử dụng từ. 1.1.3. Cấu trúc của phần từ loại danh từ, động từ, tính từ lớp 4 Cấu trúc gồm 3 phần: Phần nhận xét: Cung cấp ngữ liệu thường là những câu thơ, câu văn, đoạn văn, đoạn thơ có chứa các hiện tượng ngôn ngữ cần tìm hiểu. Cung cấp hệ thống câu hỏi gợi ý để học sinh tìm ra các đặc điểm có tính chất quy luật của hiện tượng được tìm hiểu. 8 Phần ghi nhớ: Là nội dung kiến thức và quy tắc sử dụng từ và câu được rút ra sau phần nhận xét để yêu cầu học sinh ghi nhớ. Ghi nhớ được đóng khung trong sách giáo khoa. Phần luyện tập: Gồm hệ thống bài tập nhằm củng cố và vận dụng các kiến thức đã học vào những tình huống mới. Có hai loại bài tập ở phần luyện tập là bài tập nhận diện và bài bài tập vận dụng. * Cấu trúc kiểu bài thực hành gồm: Tên bài. Một bài học có từ 3-4 bài tập chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nhận xét: Cấu trúc môn Luyện từ và câu theo hình thức qui nạp, cấu trúc này phù hợp với nhận thức của học sinh, giúp học sinh tiếp thu được kiến thức một cách chủ động, sáng tạo. Với kiểu cấu trúc trên học sinh sẽ vận dụng được các kiến thức đã học để làm các bài tập. Tuy nhiên, giáo viên cũng cần lưu ý thực hiện theo chuẩn kiến thức kĩ năng, không nên áp dụng một nội dung giảng dạy cũng như một chế độ thực hành cho cả lớp, dẫn đến sự quá tải đối với học sinh. 1.1.4. Kiến thức về từ loại danh từ, động từ, tính từ lớp 4 1.1.4.1. Danh từ (DT): Danh từ là những từ chỉ sự vật (người, vật, hiện tượng, khái niệm hoặc đơn vị) VD: - Danh từ chỉ hiện tượng: mưa, nắng, sấm, chớp,... - Danh từ chỉ khái niệm: đạo đức, người, kinh nghiệm, cách mạng,... - Danh từ chỉ đơn vị: Ông, vị (vị giám đốc),cô (cô Tấm),cái, bức, tấm,... ; mét, lít, ki-lô-gam,...;nắm, mớ, đàn,... Khi phân loại danh từ tiếng Việt trước hết, người ta phân chia thành 2 loại: danh từ riêng và danh từ chung. - Danh từ riêng: là tên riêng của một sự vật (tên người, tên địa phương, tên địa danh,..) - Danh từ chung: là tên của một loại sự vật (dùng để gọi chung cho một loại sự vật ). Danh từ có thể chia thành 2 loại: + Danh từ cụ thể: là danh từ chỉ sự vật mà ta có thể cảm nhận được bằng các giác quan (sách, vở, gió ,mưa,...). 9 + Danh từ trừu tượng: là các danh từ chỉ sự vật mà ta không cảm nhận được bằng các giác quan (cách mạng, tinh thần, ý nghĩa,...) Các danh từ chỉ hiện tượng, chỉ khái niệm, chỉ đơn vị được giảng dạy trong chương trình sách giáo khoa lớp 4 chính là các loại nhỏ của danh từ chung. + Danh từ chỉ hiện tượng : Hiện tượng là cái xảy ra trong không gian và thời gian mà con người có thể nhận thấy, nhận biết được. Có hiện tượng tự nhiên như: mưa, nắng, sấm, chớp, động đất,..và hiện tượng xã hội như: chiến tranh, đói nghèo, áp bức,..Danh từ chỉ hiện tượng là danh từ biểu thị các hiện tượng tự nhiên ( cơn mưa, ánh nắng, tia chớp,...) và hiện tượng xã hội (cuộc chiến tranh, sự đói nghèo,...) nói trên. *Cụm danh từ: - Danh từ có thể kết hợp với các từ chỉ số lượng ở phía trước, các từ chỉ định ở phía sau và một số từ ngữ khác để lập thành cụm danh từ. Cụm danh từ là loại tổ hợp từ do danh từ và một số từ ngữ phụ thuộc nó tạo thành. Trong cụm danh từ, các phụ ngữ ở phần trước bổ sung cho danh từ các ý nghĩa về số và lượng. Các phụ ngữ ở phần sau nêu lên đặc điểm của sự vật mà danh từ biểu thị hoặc xác định vị trí của sự vật ấy trong gian hay thời gian. 1.1.4.2. Động từ (ĐT): Động từ là những từ chỉ hoạt động, trạng thái của sự vật. VD: - Đi, chạy ,nhảy,... (ĐT chỉ hoạt động) - Vui, buồn, giận, ... (ĐT chỉ trạng thái) *Mấy lưu ý về ĐT chỉ trạng thái: - Đặc điểm ngữ pháp nổi bật nhất của động từ chỉ trạng thái là: nếu như động từ chỉ hoạt động, hành động có thể kết hợp với từ xong ở phía sau (ăn xong, đọc xong ,...) thì động từ chỉ trạng thái không kết hợp với xong ở phía sau (không nói: còn xong, hết xong, kính trọng xong, ...). Trong tiếng Việt một số loại động từ chỉ trạng thái sau: + Động từ chỉ trạng thái tồn tại (hoặc trạng thái không tồn tại): còn, hết, có,... + Động từ chỉ trạng thái biến hoá: thành, hoá,... + Động từ chỉ trạng thái tiếp thụ: được, bị, phải, chịu,... + Động từ chỉ trạng thái so sánh: bằng, thua, hơn, là,... - Một số “nội động từ” sau đây cũng được coi là động chỉ trạng thái: nằm, ngồi, ngủ, thức, nghỉ ngơi, suy nghĩ, đi ,đứng, lăn, lê, vui, buồn , hồi hộp, băn khoăn, lo lắng,...Các từ này có một số đặc điểm sau: 10 + Một số từ vừa được coi là động từ chỉ hành động, lại vừa được coi là động từ chỉ trạng thái. + Một số từ chuyển nghĩa thì được coi là động từ chỉ trạng thái (trạng thái tồn tại). VD: Bác đã đi rồi sao Bác ơi! (Tố Hữu) Anh ấy đứng tuổi rồi . + Một số từ mang đặc điểm ngữ pháp của tính từ (kết hợp được với các từ chỉ mức độ) - Các “ngoại động từ” sau đây cũng được coi là động từ chỉ trạng thái (trạng thái tâm lí): yêu, ghét , kính trọng, chán, thèm, hiểu,...Các từ này mang đặc điểm ngữ pháp của tính từ, có tính chất trung gian giữa động từ và tính từ. - Có một số động từ chỉ hành động dược sử dụng như một động từ chỉ trạng thái. VD: Trên tường treo một bức tranh. Dưới gốc cây có buộc một con ngựa. - Động từ chỉ trạng thái mang một số đặc điểm về ngữ pháp và ngữ nghĩa giống như tính từ. *Xem thêm về động từ nội động và động từ ngoại động: - Động từ nội động: là những động từ hướng vào người làm hoạt động (ngồi, ngủ, đứng,...). Động từ nội động không có khả năng có bổ ngữ chỉ đối tượng trực tiếp mà phải có quan hệ từ. VD1: Bố mẹ rất lo lắng cho tôi ĐTnội động, Q.H.T, Bổ ngữ - Động từ ngoại động: là những động từ hướng đến người khác, vật khác (xây, phá, đập, cắt,...). Động từ ngoại động có khả năng có bổ ngữ chỉ đối tượng trực tiếp. VD2: Bố mẹ rất thương yêu tôi. ĐTngoại động, Bổ ngữ * Cụm động từ: - Động từ thường kết hợp với các phụ từ mệnh lệnh (ở phía trước) và một số từ ngữ khác để tạo thành cụm động từ. Cụm động từ là loại tổ hợp từ do động từ với một số từ ngữ phụ thuộc nó tạo thành. Nhiều động từ phải có các từ ngữ phụ thuộc đi kèm, tạo thành cụm động từ mới trọn nghĩa. 11 Trong cụm động từ, các phụ ngữ ở phần trước bổ sung cho động từ các ý nghĩa: quan hệ thời gian; sự tiếp diễn tương tự; sự khuyến khích hoặc ngăn cản hành động; sự khẳng định hoặc phủ định hành động,...Các phụ ngữ ở phần sau bổ sung cho động từ các chi tiết về đối tượng, hướng, địa điểm, thời gian, mục đích, nguyên nhân, phương tiện và cách thức hành động. 1.1.4.3. Tính từ (TT): Tính từ là những từ miêu tả đặc điểm hoặc tính chất của vật, hoạt động, trạng thái,... *Có 2 loại tính từ đáng chú ý là: - Tính từ chỉ tính chất chung không có mức độ (xanh, tím, sâu, vắng,..) - Tính từ chỉ tính chất có xác định mức độ (mức độ cao nhất), (xanh lè, tím ngắt, sâu hoắm, vắng tanh,...) * Phân biệt từ chỉ đặc điểm, từ chỉ tính chất, từ chỉ trạng thái : - Từ chỉ đặc điểm: Đặc điểm là nét riêng biệt, là vẻ riêng của một một sự vật nào đó (có thể là người, con vật, đồ vật, cây cối,...). Đặc điểm của một vật chủ yếu là đăc điểm bên ngoài, (ngoại hình) mà ta có thể nhận biết trực tiếp qua mắt nhìn, tai nghe, tay sờ, mũi ngửi,... Đó là các nét riêng, vẻ riêng về màu sắc, hình khối, hình dáng, âm thanh,...của sự vật. Đặc điểm của một vật cũng có thể là đặc điểm bên trong mà qua quan sát, suy luận, khái quát,..ta mới có thể nhận biết được. Đó là các đặc điểm về tính tình, tâm lí, tính cách của một người, độ bền, giá trị của một đồ vật... Từ chỉ đặc điểm là từ biểu thị các đặc điểm của sự vật, hiện tượng như đã nêu ở trên. VD: + Từ chỉ đặc điểm bên ngoài: cao, thấp, rộng , hẹp, xanh, đỏ,... + Từ chỉ đặc điểm bên trong: tốt ,ngoan, chăm chỉ, bền bỉ,... - Từ chỉ tính chất: Tính chất cũng là đặc điểm riêng của sự vật, hiện tượng (bao gồm cả những hiện tượng xã hội, những hiện tượng trong cuộc sống,...), nhưng thiên về đặc điểm bên trong, ta không quan sát trực tiếp được, mà phải qua quá trình quan sát, suy luận, phân tích, tổng hợp ta mới có thể nhân biết được. Do đó, từ chỉ tính chất cũng là từ biểu thị những đặc điểm bên trong của sự vật, hiện tượng. 12 VD: Tốt, xấu, ngoan, hư, nặng ,nhẹ, sâu sắc, nông cạn, suôn sẻ, hiệu quả, thiết thực,... Như vậy, đối với học sinh tiểu học khi phân biệt (một cách tương đối) từ chỉ đặc điểm và từ chỉ tính chất, giáo viên có thể tạm thời cho rằng: từ chỉ đặc điểm thiên về nêu các đặc điểm bên ngoài, còn từ chỉ tính chất thiên về nêu các đặc điểm bên trong của sự vật, hiện tượng. Một quy ước mang tính sư phạm như vậy được coi là hợp lí và giúp học sinh tránh được những thắc mắc không cần thiết trong quá trình học tập. - Từ chỉ trạng thái : Trạng thái là tình trạng của một sự vật hoặc một con người, tồn tại trong một thời gian nào đó. Từ chỉ trạng thái là từ chỉ trạng thái tồn tại của sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan. VD: Trời đang đứng gió . Người bệnh đang hôn mê. Cảnh vật yên tĩnh quá. Mặt trời toả ánh nắng rực rỡ. Xét về mặt từ loại, từ chỉ trạng thái có thể là động từ, có thể là tính từ hoặc mang đặc điểm của cả động từ và tính từ (từ trung gian), song theo như định hướng trong chương trình sách giáo khoa ở cấp tiểu học, chúng ta thống nhất chỉ xếp chúng vào nhóm động từ để học sinh dễ phân biệt. *Cụm tính từ: Tính từ có thể kết hợp với các từ chỉ mức độ như: rất, hơi, lắm, quá, cực kì, vô cùng,... để tạo tạo thành cụm tính từ (khả năng kết hợp với các phụ từ mệnh lệnh (như động từ) ngay trước nó là rất hạn chế) Trong cụm tính từ, các phụ ngữ ở phần trước có thể biểu thị quan hệ thời gian; sự tiếp diễn tương tự, mức độ của đặc điểm, tính chất, sự khẳng định hay phủ định. Các phụ ngữ ở phần sau có thể biểu thị vị trí, sự so sánh, mức độ, phạm vi hay nguyên nhân của đặc điểm, tính chất. Tóm lại: Kiến thức giảng dạy về từ loại phần kiến thức trọng tâm nhất là danh từ, động từ, tính từ. 1.1.5. Qui trình tổ chức dạy học các dạng bài tập về từ loại ở lớp 4 Để tổ chức thực hiện các bài tập về từ loại giáo viên phải nắm được mục đích, ý nghĩa, cơ sở xây dựng, nội dung bài tập và biết cách giải chính xác bài tập, biết trình tự cần tiến hành giải bài tập để hướng dẫn cho học sinh. 13 Trong giáo án phải ghi rõ mục đích bài tập, lời giải mẫu, những sai phạm dự tính học sinh có thể mắc phải và cách điều chỉnh đưa về cách giải đúng. Tuần tự công việc giáo viên cần làm trên lớp lúc này là ra nhiệm vụ (nêu đề ra), hướng dẫn thực hiện và kiểm tra đánh giá. Bước 1: Giáo viên cần nêu đề bài một cách rõ ràng, nên yêu cầu học sinh nhắc lại đề ra, khi cần, phải giải thích để em nào cũng nắm được yêu cầu của bài tập. Có nhiều hình thức nêu bài tập: dùng lời, viết lên bảng, yêu cầu học sinh xem đề ra trong sách giáo khoa hoặc vở bài tập. Nhưng dù đề bài được nêu ra dưới hình thức nào cũng cần kiểm tra xem tất cả học sinh đã nắm được yêu cầu của bài tập chưa. Có những trường hợp không thể sử dụng bài tập của sách giáo khoa như một đề bài mà phải có sự điều chỉnh cho hợp lí. Có trường hợp phải chia cắt bài tập của SGK thành những bài tập nhỏ hơn. Tuỳ thời gian và trình độ học sinh mà quy định số lượng bài tập cần tiến hành trong giờ học. Có thể lựa chọn, lược bỏ, bổ sung thêm bài tập của sách giáo khoa. Khi giao bài tập cho học sinh, cần lưu ý để có sự phân hoá cho phù hợp đối tượng: Có bài tập chỉ dành riêng cho học sinh khá, giỏi, còn với học sinh yếu thì phải giảm mức độ yêu cầu của bài tập. Bước 2: Khi hướng dẫn học sinh làm bài tập, giáo viên phải nắm chắc trình tự giải bài tập. Cần phải dự tính trước những khó khăn và những lỗi học sinh mắc phải khi giải bài tập để sửa chữa kịp thời. Có bài trả lời miệng, có bài viết, có bài gạch, đánh dấu trong Vở bài tập. Bài tập cũng có thể thực hiện trên lớp hoặc ở nhà. Khi hướng dẫn thực hiện,cần chia ra thành các mức độ cho phù hợp với các đối tượng học sinh khác nhau, cần giúp những học sinh yếu kém bằng những câu hỏi gợi mở. Trong quá trình tiến hành giải bài tập cần phải tăng dần mức độ độc lập làm việc của học sinh. Giai đoạn đầu, bài tập được thực hiện dưới sự hướng dẫn của thầy giáo, giai đoạn sau, học sinh tự độc lập làm việc là chính. Bước 3: Cuối cùng là bước kiểm tra, đánh giá. Đây là một việc làm quan trọng mà nhiều giáo viên thường bỏ qua hoặc không chú ý đúng mức. Việc kiểm tra, đánh giá vừa kích thích hứng thú học tập của học sinh, vừa cho học sinh một mẫu sản phẩm tốt nhất, giáo viên cần dành thời gian thích hợp cho khâu này. Phải có mẫu lời giải đúng và dùng nó đối chiếu với bài làm của học sinh. Với những bài làm sai, giáo viên không nhận xét chung chung là sai mà phải dựa vào quy trình làm bài, chia ra từng bước nhỏ hơn để thực hiện, từ đó chỉ rõ ra chỗ sai của học sinh một cách chi tiết, cụ thể để học sinh có thể sửa chữa được. Như vậy khi chữa bài tập, giáo viên không chỉ biết đánh giá đúng, sai mà phải cắt nghĩa 14 được tại sao như thế là sai, tại sao như thế là đúng, nghĩa là một lần nữa lặp lại quy trình giải bài tập khi có những học sinh làm chưa đúng. 1.2. Cơ sở thực tiễn 1.2.1. Khảo sát thực trạng dạy học các dạng bài tập về từ loại (danh từ, động từ, tính từ) ở lớp 4 Trường Tiểu học Thị trấn Thuận Châu – Sơn La 1.2.1.1. Mục đích khảo sát Khảo sát những ưu điểm và hạn chế trong quá trình dạy các dạng bài tập về danh từ, động từ, tính từ của giáo viên và học sinh lớp 4 Trường Tiểu học Thị trấn Thuận Châu - Sơn La. Trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp tổ chức các dạng bài tập từ loại (danh từ, động từ, tính từ) phân môn Luyện từ và câu. 1.2.1.2. Nội dung khảo sát Chúng tôi tiến hành khảo sát thực trạng với nội dung là: - Nội dung chương trình sách giáo khoa. - Quá trình tổ chức dạy học của giáo viên về từ loại (danh từ, động từ, tính từ). - Quá trình nhận thức của học sinh khi học phần từ loại (danh từ, động từ, tính từ). - Khảo sát giáo án (danh từ, động từ, tính từ). 1.2.1.3. Đối tượng khảo sát Đề tài khảo sát dựa trên đối tượng: Các bài tập về từ loại (danh từ, động từ, tính từ) trong chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4. Các bài kiểm tra, phiếu khảo sát. 1.2.1.4. Thời gian và địa điểm khảo sát 1.2.1.4.1. Thời gian khảo sát Tháng 2 năm 2013: Dự giờ một số tiết dạy về từ loại, yêu cầu học sinh làm một bài kiểm tra với kiến thức về từ loại. Trao đổi với một số giáo viên và học sinh thông qua phiếu khảo sát. Tháng 3 năm 2013: Khảo sát đề kiểm tra của giáo viên, bài kiểm tra của học sinh và một số phiếu khảo sát. Tháng 3 năm 2013: Thể nghiệm. 15
- Xem thêm -