Tài liệu Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng viết chính tả cho học sinh tiểu học ở quảng bình

  • Số trang: 97 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 163 |
  • Lượt tải: 10
tailieuonline

Đã đăng 39894 tài liệu

Mô tả:

LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành khóa luận này, với tình cảm chân thành, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS.Nguyễn Thị Nga – Giảng viên Trường Đại học Quảng Bình đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này. Xin chân thành cảm ơn tập thể giảng viên Khoa sư phạm Tiểu học - Mầm non đã tạo điều kiện để em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp kết thúc khóa học của mình. Cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô, học sinh trường Tiểu học Đồng Phú và các trường Tiểu học trên địa bàn tỉnh Quảng Bình đã tạo điều kiện cho em điều tra, tìm hiểu và tổ chức thực nghiệm. Và em cũng xin tỏ lòng biết ơn đối với những người thân trong gia đình cũng như bạn bè đã động viên, giúp đỡ em rất nhiều về cả tinh thần, vật chất trong quá trình thực hiện khóa luận. Trong quá trình thực hiện khóa luận, do điều kiện, năng lực, thời gian nghiên cứu còn hạn chế, khóa luận nghiên cứu không tránh khỏi những sai sót. Rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô, các bạn để khóa luận thêm hoàn thiện. Em xin chân thành cảm ơn! Quảng Bình, tháng 06 năm 2015. Tác giả Nguyễn Thị Oanh 1 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong khóa luận là trung thực, khách quan và chưa từng được công bố trong bất kì một công trình nào khác. Tác giả Nguyễn Thị Oanh 2 MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... 1 LỜI CAM ĐOAN .............................................................................................. 2 MỤC LỤC ......................................................................................................... 3 NHỮNG KÍ HIỆU DÙNG TRONG KHÓA LUẬN ........................................... 6 A . PHẦN MỞ ĐẦU .......................................................................................... 7 1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................ 7 2. Mục đích nghiên cứu ...................................................................................... 8 3. Nhiệm vụ nghiên cứu ..................................................................................... 8 4. Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu .............................................. 9 5. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................ 9 6. Đóng góp mới của đề tài............................................................................... 10 7. Cấu trúc của khóa luận ................................................................................. 10 B. PHẦN NỘI DUNG ...................................................................................... 11 CHƯƠNG I. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI ............................................ 11 1. Cơ sở lí luận ................................................................................................. 11 1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu. ..................................................................... 11 1.2. Một số khái niệm liên quan đến đề tài .................................................... 13 1.2.1. Chính tả ............................................................................................ 13 1.2.2. Chuẩn chính tả.................................................................................. 13 1.2.3. Kỹ năng và kỹ năng viết chính tả...................................................... 14 1.2.4. Rèn luyện và rèn luyện kỹ năng viết chính tả ................................... 16 1.3. Vị trí, tính chất của dạy học chính tả ở trường Tiểu học ......................... 17 1.4. Đặc điểm ngôn ngữ Tiếng Việt và phương ngữ Quảng Bình liên quan đến chính tả ......................................................................................................... 18 1.4.1. Đặc điểm ngôn ngữ Tiếng Việt liên quan đến chính tả ..................... 18 1.4.2. Đặc điểm phương ngữ Quảng Bình liên quan đến chính tả ..... 20 1.5. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh Tiểu học (liên quan đến rèn luyện kỹ năng viết chính tả) ......................................................................................... 23 1.6. Khái quát về chương trình (phân môn) Chính tả ở Tiểu học ................... 25 3 2. Cơ sở thực tiễn ............................................................................................. 28 2.1. Thực trạng dạy – học chính tả ở các trường Tiểu học trên địa bàn tỉnh Quảng Bình .............................................................................................................. 28 2.1.1. Thực trạng dạy chính tả trong nhà trường ........................................... 28 2.1.2. Thực trạng kỹ năng viết chính tả của học sinh Tiểu học ở Quảng Bình 29 2.2. Nguyên nhân của thực trạng ................................................................... 32 2.2.1. Về phía GV ...................................................................................... 32 2.2.2. Về phía HS ....................................................................................... 33 CHƯƠNG II. BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG VIẾT CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH TIỂU HỌC.................................................................................... 36 2.1. Hướng dẫn HS luyện phát âm và giải nghĩa từ ....................................... 36 2.2. Hướng dẫn HS phân tích, so sánh ........................................................... 38 2.3. Tăng cường kiến thức lí thuyết giúp HS nắm vững mẹo luật, quy tắc chính tả ................................................................................................................... 40 2.3.1. Các lỗi về dấu thanh. ........................................................................ 40 2.3.2. Các lỗi về phụ âm đầu. ..................................................................... 46 2.4. Tạo môi trường học Tiếng Việt trong nhà trường ................................... 49 2.4.1. Sử dụng trực quan. ........................................................................... 49 2.4.2. Tăng cường hoạt động giao tiếp ....................................................... 50 2.5. Cách sử dụng quy tắc viết hoa ................................................................ 52 2.5.1. Quy tắc viết hoa tên người................................................................ 52 2.5.2. Quy tắc viết hoa địa danh ................................................................. 53 2.5.3. Quy tắc viết hoa tên các cơ quan, tổ chức chính trị, xã hội ............... 54 2.5.4. Quy tắc viết hoa trong phép đặt câu, viết hoa tỏ thái độ kính trọng, viết hoa tên riêng của các sự vật khác......................................................... 54 2.5.5. Viết hoa các trường hợp khác ........................................................... 54 2.5.6. Hướng dẫn học sinh thực hiện quy tắc viết hoa trong giờ chính tả .... 55 2.6. GV chấm, chữa bài cho học sinh ........................................................... 56 2.7. Tạo hứng thú học tập và phát huy tính chủ động tích cực của học sinh trong dạy học chính tả ................................................................................... 57 4 2.8. Hướng dẫn học sinh giải các bài tập chính tả .......................................... 59 2.9. Tăng cường xây dựng hệ thống bài tập chính tả lựa chọn cho HS Tiểu học ở Quảng Bình ................................................................................................ 63 2.9.1. Mục tiêu .......................................................................................... 63 2.9.2. Nguyên tắc ....................................................................................... 63 2.9.3. Hệ thống bài tập chính tả lựa chọn cho HS Tiểu học ở Quảng Bình . 65 CHƯƠNG III. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM.................................................... 76 3. Những vấn đề chung của thực nghiệm.......................................................... 76 3.1. Mục đích thực nghiệm ............................................................................ 76 3.2. Đối tượng, thời gian, địa bàn thực nghiệm.............................................. 76 3.3. Tiến trình thực nghiệm ........................................................................... 76 3.3.1 Nội dung thực nghiệm ....................................................................... 76 3.3.2. Thiết kế giáo án thực nghiệm và phiếu điều tra ................................ 77 3.3.3. Đánh giá kết quả thực nghiệm. ......................................................... 89 C. PHẦN KẾT LUẬN ..................................................................................... 92 TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 96 5 NHỮNG KÍ HIỆU DÙNG TRONG KHÓA LUẬN TT KÍ HIỆU CHÚ THÍCH 1 GV Giáo viên 2 HS Học sinh 3 SGK 4 [5, tr. 24] Sách giáo khoa Trích từ tài liệu tham khảo 5. Trang 24 6 A . PHẦN MỞ ĐẦU I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Đảng ta đã nhận định “Tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân”, nền tảng có vững chắc thì toàn hệ thống mới tạo nên cấu trúc bền vững và phát triển hài hòa. Mục tiêu của giáo dục Tiểu học nhằm hình thành cho học sinh cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về trí tuệ, thể chất tình cảm và các kỹ năng cơ bản. Giáo dục Tiểu học tạo tiền đề cơ bản để nâng cao dân trí, là cơ sở ban đầu hết sức quan trọng để đào tạo thế hệ trẻ trở thành người có ích trong giai đoạn mới. Ở Tiểu học, Chính tả là một phân môn đặc biệt quan trọng trong nhà trường giúp HS hình thành năng lực và thói quen viết đúng tiếng Việt văn hóa, tiếng Việt chuẩn mực. Cùng với các phân môn khác, Chính tả giúp cho HS chiếm lĩnh văn hóa Việt - làm công cụ để giao tiếp, tư duy. Việc rèn luyện các quy tắc chính tả sẽ hình thành kỹ năng viết đúng đơn vị từ của học sinh, khi các em đã viết đúng, viết chính xác thì mới có điều kiện học tốt các môn học khác và trên cơ sở đó, các em rèn luyện kỹ năng sử dụng tiếng Việt có hiệu quả. Trong suy nghĩ và giao tiếp, đặc biệt là giao tiếp bằng ngôn ngữ viết, người xưa thường nói “Nét chữ nết người - Văn hay chữ tốt”. Quả thật khi viết chữ không tốt thì văn không thể hay được. Vì vậy, chính tả được dạy liên tục từ lớp Một đến lớp Năm với các loại bài như : nhìn - viết, nghe - viết, nhớ viết, bài tập trắc nghiệm,…để các em được học môn chính tả một cách khoa học, cẩn thận và sử dụng công cụ này suốt những năm tháng trong thời kì học tập ở nhà trường cũng như suốt cuộc đời. Hiện nay, chất lượng dạy - học môn Tiếng Việt Tiểu học nói chung trong những năm qua vẫn còn là điều trăn trở. Hiện tượng học sinh nói, viết không thành câu, thành chữ và đặc biệt là hiện tượng học sinh viết sai lỗi chính tả còn quá nhiều. Cụ thể là trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, phần lớn cư dân địa phương là người Kinh và một số dân tộc ít người thuộc hai nhóm chính là Chứt và BruVân Kiều, sống tập trung ở hai huyện miền núi Tuyên Hoá và Minh Hoá và một 7 số xã miền Tây Bố Trạch, Quảng Ninh, Lệ Thuỷ. Từ đó,việc phát âm có phần đa dạng, HS thường phát âm chưa chuẩn, phát âm theo tiếng địa phương, viết lẫn lộn các dấu thanh “sắc - nặng, hỏi – ngã, ngã - nặng” chiếm tỉ lệ khá cao như: “nói” lại thành “nọi ”, như “gỗ” thành “gộ”, “năng nổ” thành “năng nộ” …và viết sai một số phụ âm. Có những lỗi chính tả không đáng mắc phải nhưng các em lại viết sai đa phần là do cách phát âm địa phương, chẳng hạn chưa phát âm phân biệt rõ các âm đầu tr/ch; s/x... nên khó khăn trong việc “nghe - viết” sao cho đúng là một vấn đề lớn đối với chính tả Việt Nam. Được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Quảng Bình, được tiếp xúc và giao tiếp nhiều với các em lứa tuổi Tiểu học, tôi thấy các em HS trong quá trình học tập và sử dụng ngôn ngữ hằng ngày còn mắc nhiều lỗi chính tả, làm ảnh hưởng đến kết quả học tập môn Tiếng Việt nói chung cũng như các môn học khác. Để có một số biện pháp sửa lỗi chính tả cho HS Tiểu học ở Quảng Bình với mục đích là nâng cao chất lượng viết đúng, viết đẹp cho HS, tôi mạnh dạn chọn nội dung “Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng viết chính tả cho học sinh Tiểu học ở Quảng Bình” để làm đề tài nghiên cứu, cũng là nêu lên thực tế và biện pháp khắc phục các lỗi đó, không ngoài mong muốn là hình thành cho HS năng lực và thói quen viết đúng chính tả, năng lực và thói quen viết đúng tiếng Việt văn hóa, tiếng Việt chuẩn mực. II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Phân môn Chính tả là phân môn đặc biệt quan trọng trong chương trình Tiểu học nói chung và môn Tiếng Việt nói riêng. Song chất lượng dạy học chính tả ở Tiểu học còn ở mức thấp, biểu hiện chung nhất của tình trạng đó là : Tình trạng mắc lỗi chính tả của HS còn phổ biến, nhất là các em HS ở những vùng khó khăn, miền núi. Thực hiện đề tài này, tôi hi vọng đề xuất một số biện pháp rèn kỹ năng viết chính tả hiệu quả cho HS Tiểu học trên địa bàn tỉnh Quảng Bình nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học chính tả cho HS. III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU Tiến hành đề tài tác giả thực hiện nhiệm vụ: 8 - Tìm hiểu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc dạy học chính tả ở trường Tiểu học nói chung. - Khảo sát, thống kê phân loại lỗi, chỉ ra thực trạng mắc lỗi, nguyên nhân mắc lỗi của HS Tiểu học ở Quảng Bình. - Đề xuất một số biện pháp rèn kỹ năng viết chính tả cơ bản cho HS Tiểu học. - Tiến hành thiết kế giáo án và thực nghiệm dạy học ở trường Tiểu học. - Tổng hợp, so sánh, đối chiếu kết quả bước đầu thể nghiệm và rút ra tính khả thi của vấn đề nghiên cứu. IV. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 4.1. Đối tượng nghiên cứu Biện pháp rèn luyện kỹ năng viết chính tả cho HS Tiểu học ở Quảng Bình. 4.2. Khách thể nghiên cứu Do khả năng và thời gian có hạn nên chúng tôi chỉ tiến hành điều tra, khảo sát và thực nghiệm HS Tiểu học trên địa bàn tỉnh Quảng Bình. V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Để nghiên cứu đề tài này, tôi đã sử dụng những phương pháp sau đây: - Phương pháp nghiên cứu lí luận: Đọc tham khảo tài liệu, phân tích, tổng hợp khái quát hóa các vấn đề tài liệu có liên quan để làm cơ sở lí luận cho đề tài. - Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: + Phương pháp quan sát: Quan sát các giờ dạy Chính tả ở Trường Tiểu học Đồng Phú nhằm nhận xét, đánh giá, rút kinh nghiệm cho giờ dạy thực nghiệm. Quan sát một số bài viết chính tả của các em HS Tiểu học. Sau đó phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng học tập của HS. + Phương pháp điều tra: Khảo sát nội dung sách giáo khoa, năng lực viết chính tả của HS. + Phương pháp trò chuyện: Trao đổi với GV và HS của một số trường Tiểu học ở tỉnh Quảng Bình để tìm hiểu thực trạng dạy và học chính tả. 9 + Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành dạy thực nghiệm để khẳng định tính khả thi của đề tài. + Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm: Tổng kết, đánh giá kết quả của đề tài và những mặt còn hạn chế, rút kinh nghiệm. - Phương pháp nghiên cứu toán học Sử dụng thống kê để xử lí thông tin, số liệu thu được. VI. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI - Đề xuất được một số biện pháp rèn luyện kỹ năng viết đúng chính tả cho HS Tiểu học Quảng Bình. - Đề tài sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích cho GV, cán bộ quản lí ở các trường Tiểu học Quảng Bình. VII. CẤU TRÚC CỦA KHÓA LUẬN Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung của đề tài gồm có 3 chương: Chương I: Cơ sở khoa học của đề tài Chương II: Biện pháp rèn luyện kỹ năng viết chính tả cho học sinh Tiểu học Chương III: Thực nghiệm sư phạm 10 B. PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu. Chính tả là một phân môn có vị trí quan trọng trong chương trình môn Tiếng Việt ở Tiểu học. Giai đoạn Tiểu học là giai đoạn then chốt trong quá trình hình thành kỹ năng cho HS. Rèn luyện kỹ năng viết chính tả cho HS thế nào cho đạt hiệu quả, vấn đề này đã được nhiều GV và các nhà sư phạm quan tâm. Các tác giả với các bài viết đã đề cập đến nhiều khía cạnh, phương diện, cụ thể: - Trong cuốn “Dạy học Chính tả ở Tiểu học”, Hoàng Văn Thung, Đỗ Xuân Thảo, NXBGD, 2002. Các tác giả đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của dạy học Chính tả ở Tiểu học, đồng thời đưa ra một số nguyên tắc, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học Chính tả nhằm nâng cao chất lượng dạy học Chính tả nói riêng và dạy học môn Tiếng Việt nói chung. Ngoài ra tác giả còn đề ra một số quy tắc chính tả tiếng Việt giúp người đọc biết viết đúng, thành thạo âm tiết từ đó hình thành kỹ năng chính tả tiếng Việt. - Trong cuốn “Ngữ âm học hiện đại”, Cù Đình Tú, Hoàng Văn Thung, Nguyễn Nguyên Trứ, NXBGD, 1978. Các tác giả đã đề cập đến vấn đề chính tả chữ Việt và chính tả trong nhà trường hay vấn đề chính âm và chính tả chữ Việt. Từ đó đề ra các phương pháp dạy học Chính tả. Đặc biệt là các tác giả đã tiến hành phân loại các lỗi chính tả để tìm ra biện pháp khắc phục cụ thể, thích hợp với mỗi loại. - Trong cuốn “Chữ viết và dạy chữ viết ở Tiểu học”, Lê A, NXB ĐHSP, 2002. Tác giả đã phân tích một số cơ sở lý luận và thực tiễn của dạy học Chính tả ở Tiểu học. Đồng thời đưa ra một số nguyên tắc và một số kiểu bài dạy chính tả ở Tiểu học cũng như các vấn đề chính tả phương ngữ nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Chính tả. - Trong cuốn “Tiếng Việt và phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học”, tài liệu đào tạo GV – 2007 của Bộ giáo dục và Đào tạo, Dự án phát triển GV Tiểu học đã tổ chức biên soạn các mô đun đào tạo, bồi dưỡng GV nhằm nâng 11 cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ, cập nhật những đổi mới về nội dung, phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục Tiểu học theo chương trình, SGK Tiểu học mới. Điểm mới ở các tài liệu này là đưa ra nhiều phương pháp dạy học mới như sử dụng băng hình, phương pháp giao tiếp... nhằm tích cực hóa hoạt động học tập. - Trong cuốn “Tiếng Việt thực hành”, Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên), Nguyễn Văn Hiệp- NXBGD 1997. Tác giả đã đưa ra những vấn đề thiết thực nhất đối với việc tiếp nhận và tạo lập văn bản viết trong nhà trường, việc rèn luyện kỹ năng dùng từ và kỹ năng về chính tả, các lỗi dùng từ, các mẹo chữa lỗi về chính tả. Giáo trình giúp sinh viên phát triển các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt. - Trong cuốn “Từ điển chính tả Tiếng Việt”, Nguyễn Như Ý, Đỗ Việt Hùng, NXB GD, HN, 1997. Các tác giả đã thống kê bảng các mục từ giúp người tra cứu có thể tìm thấy cách viết đúng đối với từ có vấn đề chính tả mà không nhất thiết phải so sánh, lựa chọn, giải thích nghĩa – giả thiết là nghĩa đã được cảm nhận trong dạng nói trực tiếp mục từ đó ở văn bản. - Năm 1989, trong cuốn “Luật và mẹo Chính tả” Phan Quang An đã đưa ra những điểm cốt yếu trong mẹo – luật chính tả Tiếng Việt: đại cương về tiếng, âm, thanh; Luật hỏi, ngã; Luật chuyển âm, phụ âm... đây là nội dung rất hữu ích khi dạy Chính tả ở Tiểu học. Ở những tài liệu trên, các tác giả còn đề cập đến vấn đề một cách chung chung, trường nghiên cứu còn rộng, chưa đi sâu vào khảo sát thực tế tình trạng dạy học Chính tả một cách cụ thể. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu trên là những tiền đề lí luận quý báu để tôi thực hiện đề tài: “Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng viết chính tả cho học sinh Tiểu học ở Quảng Bình”. Trong đề tài này tôi đi sâu khảo sát một cách cụ thể tại địa bàn tỉnh Quảng Bình nhằm đưa ra những biện pháp rèn luyện kỹ năng viết chính tả cho HS Tiểu học từ đó nâng cao hiệu quả dạy học Chính tả. 12 1.2. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1.2.1. Chính tả Chính tả là sự chuẩn hoá hình thức chữ viết của ngôn ngữ. Đó là một hệ thống các quy tắc về cách viết các âm vị, âm tiết, từ, cách dùng các dấu câu, lối viết hoa... Nói một cách cụ thể, chính tả là hệ thống các quy định về việc viết chữ của một thứ tiếng, được xem là chuẩn mực.[7, tr. 121]. Như vậy, đối với tiếng Anh thì có chính tả tiếng Anh; đối với tiếng Pháp thì có chính tả tiếng Pháp; đối với tiếng Việt thì có chính tả tiếng Việt. Mỗi thứ tiếng có những quy định riêng về chính tả. Nội dung chính tả tiếng Việt bao gồm một số vấn đề cơ bản sau: - Cách viết một số từ có nhiều dạng phát âm khác nhau. - Cách viết tên riêng Việt Nam. - Cách viết tên cơ quan, tổ chức kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. - Cách viết tên riêng nước ngoài và thuật ngữ khoa học. - Cách viết tên tác phẩm, văn bản. - Cách viết tắt. - Cách dùng số và chữ biểu thị số. 1.2.2. Chuẩn chính tả Chuẩn chính tả là việc chuẩn hóa hình thức chữ viết của ngôn ngữ. Chuẩn chính tả phải được quy định rõ ràng, chi tiết tới từng từ của tiếng Việt và phải được mọi người tuân theo. Vấn đề đặt ra là chuẩn chính tả phải được xây dựng sao cho hợp lí, có độ tin cậy và sức thuyết phục cao. Chuẩn chính tả có tính chất bắt buộc gần như tuyệt đối, chẳng hạn không thể viết là “ dáo dục, iêu ghét ...” Mà phải viết là “giáo dục, yêu ghét …” Chuẩn chính tả có những đặc điểm chính sau đây: - Đặc điểm đầu tiên của chuẩn chính tả là tính chất bắt buộc gần như tuyệt đối của nó. Đặc điểm này đòi hỏi người viết bao giờ cũng phải viết đúng chính tả. Chữ viết có thể chưa hợp lí nhưng khi đã được thừa nhận là chuẩn chính tả thì người cầm bút không được tự ý viết khác đi. Ai cũng biết rằng viết "ghế", "ghen" không hợp lí và tiết kiệm bằng "gế", "gen" nhưng chỉ có cách viết thứ 13 nhất mới được coi là đúng chính tả. Vì vậy nói đến chuẩn chính tả là nói đến tính chất pháp lệnh. Trong chính tả không có sự phân biệt hợp lí – không hợp lí, hay – dở mà chỉ có sự phân biệt đúng – sai, không lỗi – lỗi. Đối với chính tả, yêu cầu cao nhất là cách viết thống nhất trong mọi văn bản, mọi người, mọi địa phương. - Do chuẩn chính tả có tính chất bắt buộc gần như tuyệt đối cho nên nó ít bị thay đổi như các chuẩn mực khác của ngôn ngữ (như chuẩn ngữ âm, chuẩn từ vựng, chuẩn ngữ pháp). Nói cách khác, chuẩn chính tả có tính chất ổn định, tính chất cố hữu khá rõ. Sự tồn tại nhất nhất hàng thế kỉ của nó đã tạo nên ấn tượng về một cái gì "bất di bất dịch", một tâm lí rất bảo thủ. Chính vì thế mặc dù biết rằng cách viết "iên ngỉ" hợp lí hơn nhưng đối với chúng ta nó rất "gai mắt", khó chịu vì trái với cách viết từ bao đời nay. Mặt khác, do tính chất "trường tồn" này mà chính tả thường lạc hậu so với sự phát triển của ngữ âm. Sự mâu thuẫn giữa ngữ âm "hiện đại" và chính tả "cổ hủ" là một trong những nguyên nhân chính làm cho chính tả trở nên rắc rối. - Ngữ âm phát triển, chính tả không thể giữ mãi tính chất cố hữu của mình mà dần dần cũng có một sự biến động nhất định. Do đó, bên cạnh chuẩn mực chính tả hiện có lại có thể xuất hiện một cách viết mới tồn tại song song với nó, ví dụ: "phẩm zá", "anh zũng" bên cạnh "phẩm giá", "anh dũng", "trau dồi" bên cạnh "trau giồi", "dòng nước" bên cạnh "giòng nước", ... tình trạng có nhiều cách viết như vậy đòi hỏi phải tiến hành chuẩn hoá chính tả.[7, tr.122]. 1.2.3. Kỹ năng và kỹ năng viết chính tả a) Kỹ năng Theo quan niệm của tâm lý học hiện đại, trong quá trình dạy học, GV thường truyền đạt cho HS những tri thức. Nắm được tri thức là hiểu biết và ghi nhớ được khái niệm khoa học. Tiến thêm một bước nữa là vận dụng tri thức, khái niệm, định nghĩa, định luật… vào thực tiễn thì sẽ có kỹ năng. Nhưng kỹ năng vẫn còn là một hành động ý chí đòi hỏi phải “động não”, suy xét, tính toán, phải có sự nỗ lực ý chí thì mới hoàn thành được. Như vậy, kỹ năng chính là sự vận dụng kiến thức đã thu nhận được ở một lĩnh vực nào đó vào việc thực hiện 14 có kết quả một thao tác, một hoạt động tương ứng phù hợp với mục tiêu và điều kiện thực tế đã cho. Để hình thành kỹ năng ở HS, GV phải giúp HS biết cách tìm tòi để nhận ra yếu tố đã cho, yếu tố phải tìm và mối quan hệ của chúng trong các tình huống và trong các bài tập. GV đồng thời phải giúp HS hình thành một mô hình khái quát để giải quyết các bài tập, đối tượng cùng loại. GV còn là người giúp HS xác lập được mối quan hệ giữa các kiến thức và bài tập có tính mô hình tương ứng. Trong thời gian ở trường Tiểu học, một loạt các kỹ năng cần và sẽ được hình thành ở trẻ: kỹ năng học tập, lao động, vệ sinh,… Có những kỹ năng chung (lập kế hoạch công việc, tự kiểm tra, tự đánh giá,…) và những kỹ năng riêng. Cũng trong quá trình học tập, mỗi bộ môn đòi hỏi có những kỹ năng đặc trưng. Đối với môn Toán là kỹ năng tính toán. Đối với các môn tìm hiểu tự nhiên đó là kỹ năng quan sát. Đối với môn Tiếng Việt, mỗi phân môn cũng có một kỹ năng đặc trưng phù hợp với đặc điểm của từng phân môn đó. Phân môn Chính tả cũng vậy, nó hình thành cho HS các kiến thức và kỹ năng đặc biệt là kỹ năng viết chính tả. b) Kỹ năng viết chính tả Sự vận dụng những tri thức về chữ viết cùng với sự sáng tạo trong nhận thức để viết chữ và viết văn bản thực hiện nhiệm vụ của phân môn Chính tả đề ra gọi là kỹ năng viết chính tả. Kỹ năng viết chính tả đối với HS Tiểu học ở mức độ thấp là chép lại, ghi các văn bản đã có theo lời người khác đọc hoặc dựa vào trí nhớ một cách chính xác, khoa học. Đó là loại bài chính tả. Kỹ năng viết chính tả được rèn luyện suốt đời. Các kỹ năng chính tả được hình thành và thuần thục từ văn bản viết. Muốn có kỹ năng viết chính tả, HS không chỉ biết lý thuyết mà chủ yếu phải thông qua hoạt động viết, viết nhiều và viết đúng chính tả. Kỹ năng viết chính tả đó là sự thể hiện chữ viết một cách chính xác, thành thục đúng với âm chuẩn, phân biệt được các âm vần dễ lẫn lộn, nắm vững cách viết hoa, nắm được các quy tắc chính tả tiếng Việt. Khi kỹ năng viết chính tả đạt đến mức thành thạo, thuần thục 15 thì gọi là kỹ xảo chính tả. Hình thành cho HS kỹ xảo chính tả nghĩa là giúp HS viết đúng chính tả một cách tự động hoá, không phải trực tiếp nhớ tới các quy tắc chính tả, không cần đến sự tham gia của ý chí. 1.2.4. Rèn luyện và rèn luyện kỹ năng viết chính tả a) Rèn luyện Để hình thành kỹ năng, con người phải trải qua một quá trình rèn luyện lâu dài. Vậy rèn luyện là gì? Có thể hiểu một cách đơn giản: Rèn luyện là quá trình luyện tập nhiều trong thực tế để đạt tới những phẩm chất hay trình độ vững vàng, thông thạo. Việc rèn luyện phải gắn với hoạt động của các giác quan và gắn với hoạt động của tư duy, con người phải luyện tập một cách thường xuyên. Quá trình rèn luyện phải dựa trên cơ sở vốn tri thức. Qua rèn luyện giúp con người nhận diện, phát hiện, hoàn thiện các tri thức. Trong dạy học Tiếng Việt để hình thành kỹ năng thì HS cần được luyện tập trong các hoạt động, các tình huống giao tiếp. Khi dạy Chính tả, dù nhấn mạnh yêu cầu viết nhưng cần kết hợp các kỹ năng nghe, đọc để học sinh phát triển hoàn thiện. b) Rèn luyện kỹ năng viết chính tả Chúng ta biết rằng, chữ viết là hệ thống kí hiệu ngôn ngữ bằng đồ hình, được quy định thống nhất ở từng quốc gia. Để biết được chữ người viết phải nắm được mẫu chữ, nắm được các thao tác viết, các loại nét chữ, nắm được các quy tắc, các quy luật chính tả… nhằm viết đúng và thành thạo chữ viết Tiếng Việt. Với phân môn Chính tả, chỉ có thể hình thành được cho HS các kỹ năng, kỹ xảo chính tả thông qua quá trình thực hành, luyện tập vì tính chất nổi bật của phân môn Chính tả là tính chất thực hành. Việc rèn luyện kỹ năng viết chính tả có hiệu quả thấp hay cao phụ thuộc vào việc GV tổ chức cho HS quá trình rèn luyện như thế nào để HS nắm được các quy tắc, thủ thuật chính tả. Quá trình đó sẽ có kết quả tốt nếu GV sử dụng hệ thống bài tập chính tả trong quá trình dạy học. Qua việc thực hiện các bài tập chính tả kỹ năng viết chính tả sẽ dần dần hình thành ở HS. Các em sẽ nắm được các quy tắc chính tả, luyện tập nhiều giúp 16 các em nhớ được các từ ngữ, các âm, vần dễ viết sai, dễ lẫn lộn, từ đó giúp các em viết thông viết thạo hơn. Ngoài việc rèn luyện kỹ năng viết chính tả cho HS, Chính tả còn góp phần rèn luyện cho các em các phẩm chất như tính cẩn thận, có thẩm mỹ, bồi dưỡng các em lòng yêu quý tiếng Việt và chữ viết tiếng Việt. 1.3. Vị trí, tính chất của dạy học chính tả ở trường Tiểu học Bốn hoạt động vô cùng quan trọng trong hoạt động ngôn ngữ của con người là nghe, nói, đọc và viết. Xét dưới góc độ chức năng giao tiếp thì nói và viết là hoạt động tạo lập lời nói, còn nghe và đọc là hoạt động tiếp nhận lời nói. Còn xét dưới góc độ phương diện giao tiếp thì nghe và nói là hoạt động bằng âm thanh, đọc và viết là hoạt động bằng chữ viết. Cả bốn hoạt động này luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thực hiện hoạt động này là tiền đề thực hiện các hoạt động kia và ngược lại. Tuy nhiên, ở trong mỗi hoạt động lại có những đặc điểm riêng, giữ vị trí riêng trong hoạt động chung của mỗi con người cũng như trong dạy học ở nhà trường, trong đó chính tả là một kỹ năng vô cùng quan trọng là rèn luyện cho HS. Trong thực tiễn dạy học Chính tả cùng với tập viết, tập đọc, tập nói giúp cho người đọc chiếm lĩnh được Tiếng Việt văn hóa, công cụ để giao tiếp, tư duy và học tập. Từ đó hình thành và phát triển ở HS năng lực sử dụng tiếng Việt (đặc biệt là kỹ năng viết) góp phần rèn luyện cho HS thao tác tư duy cơ bản, cung cấp cho HS những hiểu biết sơ giản về tự nhiên xã hội để góp phần giáo dục và hình thành nhân cách cho HS. Ngoài ra, Chính tả còn có vị trí hết sức quan trọng là rèn cho HS biết quy tắc chính tả và có thói quen viết chữ, ghi tiếng Việt đúng và chuẩn. Đồng thời khi HS hình thành được kỹ năng đọc thông viết thạo là một tiền đề quan trọng trong việc lĩnh hội kho tàng tri thức và văn hóa của nhân loại được lưu trữ và ghi lại trong sách vở. Đối với HS Tiểu học, viết là điều kiện để các em học tập các môn học khác trong chương trình. Như vậy, rõ ràng việc viết nói chung và việc sửa lỗi chính tả nói riêng có vị trí đặc biệt quan trọng trong hoạt động làm giàu tri thức của các em. Việc viết 17 đúng chính tả không chỉ đơn giản là viết để viết, viết xong để đấy mà sâu hơn nữa còn phải giúp các em hiểu được nội dung văn bản, biết được mình đang diễn đạt những gì và cần viết cái gì để thấy được cái hay, cái đẹp trong câu chữ, trong ngôn ngữ Tiếng Việt và hiểu được ý nghĩa của chúng. Tính chất nổi bật của phân môn Chính tả là tính thực hành. Chỉ có thể hình thành các kỹ năng, kĩ xảo chính tả cho HS thông qua việc thực hành, luyện tập. Do đó, trong phân môn này các quy tắc chính tả, các đơn vị kiến thức mang tính chất lí thuyết không được bố trí trong tiết dạy riêng mà dạy lồng trong hệ thống bài tập chính tả. 1.4. Đặc điểm ngôn ngữ tiếng Việt và phương ngữ Quảng Bình liên quan đến chính tả 1.4.1. Đặc điểm ngôn ngữ tiếng Việt liên quan đến chính tả Tiếng Việt là một ngôn ngữ thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập - âm tiết tính trong hệ thống các đơn vị ngữ âm tiếng Việt, các âm tiết được tách bạch rõ ràng trong khi nói, vì thế khi viết, các chữ biểu thị âm tiết được viết rời, cách biệt nhau. Ví dụ : Ai về thăm mẹ quê ta (6 âm tiết) Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm… ( 8 âm tiết) Mỗi âm tiết tiếng Việt đều mang một thanh điệu nhất định. Khi viết chữ phải đánh dấu ghi thanh điệu lên âm chính (hoặc bộ phận chính, đối với âm chính là nguyên âm đôi) của âm tiết. Âm tiết tiếng Việt có cấu trúc chặt chẽ, cố định. Tính chặt chẽ này thể hiện ở chỗ âm tiết nào cũng phải có thanh điệu và nguyên âm làm âm chính trong vần. Mỗi một vị trí chỉ có một yếu tố. Vị trí của các yếu tố trong âm tiết cố định, không thể tùy tiện thay đổi. Thành phần cấu trúc âm tiết gồm : thành phần siêu âm đoạn và thành phần âm đoạn. Song thành phần âm đoạn lại có thể chia cắt tiếp tục ra các yếu tố nhỏ hơn. Không có âm tiết nào chỉ gồm một trong hai thành phần cấu tạo trên. 18 Chẳng hạn: Từ “khoảng cách” gồm hai âm tiết. Mỗi âm tiết đều có thanh điệu bao trùm lên toàn bộ (bộ phận siêu âm đoạn) đó là dấu hỏi và dấu sắc. Phần còn lại có thể tiếp tục chia nhỏ nữa (bộ phận cấu tạo âm đoạn): khoảng, cách. Âm tiết thường có nghĩa, có thể đứng một mình tạo nên từ hoặc kết hợp với nhau với tư cách là hình vị để tạo nên từ. Vì vậy, đại đa số các âm tiết tiếng Việt (tiếng) đều trùng với hình vị. [3, tr. 49] Chẳng hạn : Khả năng hoạt động như từ đơn của các âm tiết tiếng Việt qua một số ví dụ, thuộc: + Hiện tượng tách từ ghép để mỗi âm tiết tồn tại như một từ đơn có ý nhấn mạnh: “ Cho con nào áo nào quà/ Cho củi con sưởi cho nhà con ngơi” + Hiện tượng tạo cách chơi chữ theo lối chiết tự : Có hội mà không có nghị, có nghị mà không có quyết. Tính đơn lập của âm tiết tiếng Việt không những được thể hiện trên lời nói mà còn thể hiện thông qua chữ viết. Chẳng hạn: Tiếng Việt: Tôi/ là/ Sinh viên Tiếng Anh: I’m a student Về cơ bản, chính tả Tiếng Việt là chính tả ngữ âm, nghĩa là mỗi âm vị được ghi bằng một con chữ. Nói cách khác, giữa cách đọc và cách viết chính tả Tiếng Việt đa số thống nhất với nhau. Đọc như thế nào thì sẽ viết như thế ấy. Song có những trường hợp đặc biệt, một cách đọc nhưng có nhiều chữ viết khác nhau. Điều đó gây khó khăn cho việc dạy chính tả, nhất là học sinh Tiểu học. Trong giờ Chính tả HS sẽ xác định được cách viết đúng (đúng chính tả) bằng việc tiếp nhận chính xác âm thanh của lời nói (Ví dụ: hình thức chính tả nghe – viết). Cơ chế của cách viết đúng là xác lập được mối liên hệ giữa âm thanh và chữ viết. Do có sự tương ứng trong cách sử dụng chữ cái (hoặc nhóm chữ cái) để ghi lại các thành phần âm vị của cấu trúc âm tiết, nên muốn viết đúng chính tả, cần viết đúng chữ cái (hoặc nhóm chữ cái) biểu hiện âm vị, và cần đặt đúng vị trí các chữ cái trong tổ hợp chữ âm tiết. Chính tả tiếng Việt là chính tả ngữ âm, nghĩa là mỗi âm vị chỉ được ghi bằng một chữ. Tuy nhiên, chữ viết tiếng Việt hiện nay 19 không đảm bảo sự tương ứng 1 – 1 giữa âm và chữ. Chẳng hạn, âm vị /k/ được ghi bằng 3 chữ c, k, q; chữ g lại ghi 2 âm vị /z/ và /γ/. Giữa đọc và viết, giữa Tập đọc và viết chính tả (chính tả nghe – viết) có mối quan hệ mật thiết, nhưng lại có quy trình hoạt động trái ngược nhau. Nếu Tập đọc là sự chuyển hoá văn bản viết thành âm thanh thì Chính tả lại là sự chuyển hoá văn bản dưới dạng âm thanh thành văn bản viết. Tập đọc có cơ sở chuẩn mực là chính âm còn Tập viết (viết chính tả) có cơ sở chuẩn mực là chính tự (chính tự là sự biểu hiện của quy tắc chính tả ở một đơn vị (từ, …)). Một từ xét về mặt chính tả được gọi là một chính tự. Chính tả Tiếng Việt là chính tả ngữ âm nhưng trong thực tế, muốn viết đúng chính tả, việc nắm nghĩa của từ là rất quan trọng. Hiểu nghĩa của từ là một trong những cơ sở giúp người học viết đúng chính tả. Ví dụ, nếu GV đọc một từ có hình thức ngữ âm là “za” thì HS có thể lúng túng trong việc xác định hình thức chữ viết của từ này. Nhưng nếu đọc gia đình hoặc da thịt hay ra vào (đọc trọn vẹn từ, mỗi từ gắn với một nghĩa xác định) thì HS dễ dàng viết đúng chính tả. Vì vậy có thể hiểu rằng chính tả tiếng Việt còn là loại chính tả ngữ nghĩa. Đây là một đặc trưng quan trọng về phương diện ngôn ngữ của chính tả Tiếng Việt mà khi dạy Chính tả, GV cần chú ý. 1.4.2. Đặc điểm phương ngữ Quảng Bình liên quan đến chính tả Theo Hoàng Thị Châu “ Phương ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ ở một địa phương cụ thể, với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay một phương ngữ khác.” [6,tr. 24]. Ngôn ngữ cũng như mọi hiện tượng xã hội khác nó đều không ngừng biến đổi, phương ngữ là một biểu hiện của sự biến đổi đó. Sự biến đổi của một ngôn ngữ được thể hiện trên từng phương ngữ về mặt ngữ âm, từ vựng ngữ pháp. Chính sự biến đổi này đã tạo nên đặc điểm riêng của từng phương ngữ làm nên sự đa dạng của ngôn ngữ trong thể hiện. Quảng Bình nằm trên dải đất miền Trung ở vào khoảng từ 160 55- 18005 vĩ độ Bắc. 105037- 106039 kinh độ Đông. Về phía Bắc, dãy Hoành Sơn chạy từ Tây sang Đông ngăn cách Quảng Bình với Hà Tĩnh. Phía Nam Quảng Bình giáp 20
- Xem thêm -