Tài liệu Một số biện pháp rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5

  • Số trang: 104 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 2829 |
  • Lượt tải: 30
tailieuonline

Đã đăng 39869 tài liệu

Mô tả:

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo TS. Nguyễn Thị Nga Giảng viên trường Đại học Quảng Bình đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ để tôi hoàn thành khóa luận này. Xin chân thành cảm ơn tập thể giảng viên khoa Sư phạm Tiểu học Mầm non đã thương yêu, động viên, tạo mọi điều kiện cho tôi trong thời gian học tập và hoàn thành khóa luận. Qua đây, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo và các em học sinh trường Tiểu học Hải Thành đã giúp đỡ, hợp tác, động viên tôi trong suốt quá trình thực tập, giảng dạy và tìm hiểu thực tế tại trường. Nhân dịp này tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, người thân đã luôn lo lắng, động viên và ủng hộ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận. Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng nhưng do điều kiện thời gian cũng như kinh nghiệm chưa có nhiều nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong các thầy cô và bạn đọc góp ý để đề tài được hoàn chỉnh. Xin chân thành cảm ơn! Đ ồng Hới, tháng 6 năm 2015 Tác giả Nguyễn Thị Thùy Linh LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị Nga. Các tài liệu, những nhận định là trung thực. Tôi xin chịu hoàn thành trách nhiệm về nội dung khoa học của công trình này. Đồng Hới, tháng 6 năm 2015 Tác giả khóa luận Nguyễn Thị Thùy Linh KÍ HIỆU VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN TT Kí hiệu Chú giải 1 [17. Tr 144] Trích dẫn từ tài liệu tham khảo 17 trang 144 2 GV Giáo viên 3 HS Học sinh 4 TLV Tập làm văn 5 SGK Sách giáo khoa 6 TV Tiếng Việt MỤC LỤC PHẦN I: MỞ ĐẦU ................................................................................................ 1 1. Lí do chọn đề tài................................................................................................. 1 2. Lịch sử nghiên cứu ............................................................................................. 2 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu....................................................................... 4 4. Nhiệm vụ nghiên cứu ......................................................................................... 4 5. Phương pháp nghiên cứu: ................................................................................... 4 6. Đóng góp của đề tài............................................................................................ 5 7. Cấu trúc của đề tài .............................................................................................. 5 PHẦN 2: NỘI DUNG ............................................................................................ 6 CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI .................................................. 6 1.1. Cơ sở lí luận .................................................................................................... 6 1.1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài........................................................... 6 1.2. Đặc điểm tâm sinh lý học sinh lớp 4, 5 với việc dạy học văn miêu tả ............ 10 1.3. Ý nghĩa của việc rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5 .............. 11 1.2. Cơ sở thực tiễn .............................................................................................. 11 1.2.1. Văn miêu tả trong trường Tiểu học ............................................................. 11 1.2.2. Thực trạng về việc làm văn miêu tả của giáo viên, học sinh ở một số trường Tiểu học. .............................................................................................................. 13 2.3. Cấu trúc chương trình TLV lớp 4, 5 .............................................................. 21 TIỂU KẾT CHƯƠNG I ....................................................................................... 24 CHƯƠNG II: CÁC BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG VIẾT VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 4, 5 ........................................................................................... 25 2.1. Rèn kĩ năng quan sát cho học sinh ................................................................. 25 2.2. Rèn kĩ năng tìm hiểu đề, lập dàn ý ................................................................. 28 2.2.1. Tìm hiểu đề ................................................................................................ 28 2.2.2 Kỹ năng lập dàn ý........................................................................................ 31 2.3. Tăng cường củng cố tri thức giúp HS tích lũy vốn từ, câu, đoạn .................... 40 2.3.1. Tăng cường củng cố tri thức lí thuyết về từ................................................. 40 2.3.2. Mở rộng vốn từ cho học sinh ...................................................................... 42 2.3.3 Rèn cho học sinh biết cách sử dụng vốn từ trong văn miêu tả ...................... 46 2.3.4. Tăng cường củng cố tri thức lí thuyết về câu trong văn miêu tả .................. 49 2.2.5. Rèn cho học sinh biết cách sử dụng vốn câu trong văn miêu tả ................... 51 2.3.6. Tăng cường củng cố tri thức lí thuyết về đoạn trong văn miêu tả ................ 53 2.3.7. Rèn cho học sinh biết cách viết đoạn trong văn miêu tả ............................. 57 2.4. Rèn cho học sinh biết cách sử dụng các phương tiện diễn cảm và biện pháp tu từ ......................................................................................................................... 63 2.4.1. So sánh ....................................................................................................... 63 2.4.2. Nhân hoá .................................................................................................... 66 2.4.3. Điệp từ, điệp ngữ ........................................................................................ 68 2.4.4. Ẩn dụ (còn gọi là ví ngầm) ......................................................................... 69 2.4.5. Hoán dụ ...................................................................................................... 70 2.5. Rèn kĩ năng phát hiện và sửa lỗi .................................................................... 72 TIỂU KẾT CHƯƠNG II ...................................................................................... 75 CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ......................................................... 76 3.1. Những vấn đề chung của thực nghiệm ........................................................... 76 3.1.1. Mục đích, yêu cầu của thực nghiệm ............................................................ 76 3.1.2. Địa bàn, thời gian, đối tượng thực nghiệm .................................................. 76 3.2. Tiến trình thực nghiệm .................................................................................. 77 3.2.1. Chọn nội dung thực nghiệm ........................................................................ 77 3.2.2. Thiết kế giáo án và phiếu kiểm tra .............................................................. 77 3.2.2.1. Thiết kế giáo án thử nghiệm .................................................................... 77 3.2.2.2. Phiếu kiểm tra kết quả thực nghiệm và cách xếp loại .............................. 90 3.2.3. Tiến hành dạy thực nghiệm........................................................................ 92 3.2.4. Tổ chức kiểm tra và chấm bài ..................................................................... 92 3.3. Đánh giá kết quả thực nghiệm ....................................................................... 93 3.3.1. Bảng đối chiếu kết quả thực nghiệm 1 ........................................................ 93 3.3.2. Bảng đối chiếu kết quả thực nghiệm 2 ........................................................ 94 3.3.3. Bảng đối chiếu kết quả thực nghiệm 3 ........................................................ 94 3.3.4. Bảng đối chiếu kết quả thực nghiệm 4 ........................................................ 95 PHẦN 3: KẾT LUẬN .......................................................................................... 96 TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 98 PHẦN I: MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Trong hệ thống giáo dục quốc dân, bậc tiểu học đóng vai trò là tiền đề, nền tảng. Vì vậy, phải chú trọng chăm lo hình thành cho các em những tri thức ban đầu đúng đắn, vững chắc để làm cơ sở cho những bậc học cao hơn, góp phần phát triển đạo đức, trí tuệ, hình thành nhân cách con người mới. Trong chương trình tiểu học, môn Tiếng Việt là một trong hai môn chính có vai trò rất quan trọng. Tiếng Việt là đối tượng mà học sinh cần chiếm lĩnh. Đồng thời Tiếng Việt cũng là một môn học hình thành và phát triển cho học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt để học tập giao tiếp, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy. Môn Tiếng Việt gồm có bảy phân môn, trong đó Phân môn Tập làm văn là phân môn thực hành tổng hợp, được vận dụng các tri thức, kỹ năng của nhiều phân môn khác. Nó có vị trí hết sức quan trọng trong chương trình Tiểu học. Thông qua phân môn Tập làm văn nhằm rèn luyện cho học sinh các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết để phục vụ cho việc học tập và giao tiếp. Cũng từ đó có thể trau dồi thái độ ứng xử có văn hoá, tinh thần trách nhiệm trong công việc. Bồi dưỡng tình cảm lành mạnh, tình yêu tiếng Việt, tình yêu quê hương đất nước. Thông qua môn Tập làm văn, học sinh vận dụng và hoàn thiện một cách tổng hợp những kiến thức, kĩ năng Tiếng Việt đã được học vào việc tạo lập nên những bài văn hay, giàu tính nghệ thuật. Trong phân môn Tập làm văn ở lớp 4, 5 văn miêu tả chiếm thời lượng lớn nhất so với các loại văn khác. Trong dạy học văn miêu tả, kĩ năng viết văn có vị trí gần như quyết định đến sự thành công của bài làm văn miêu tả. Học sinh không thể tạo nên một bài văn miêu tả khi chưa biết kĩ năng viết văn là gì. Chính kĩ năng này sẽ giúp các em sử dụng tốt ngôn ngữ Tiếng Việt của mình để lột tả hết ý tưởng cá nhân và rèn tư duy logic. Đây sẽ là cơ sở để phác họa một cách chân thực và sinh động nhất về đối tượng bằng lời văn của mình. Thực tế việc dạy và học viết văn miêu tả còn nhiều hạn chế. Nguyên nhân chủ yếu là do việc rèn kĩ năng viết bài văn miêu tả chưa đầy đủ, còn nhiều khiếm khuyết. GV chưa nắm kĩ các kiến thức, yêu cầu giảng dạy TLV miêu tả cũng như yêu cầu giảng dạy các tiết rèn kĩ năng viết văn miêu tả. Chưa hướng dẫn HS xây dựng bài văn đi theo một quy trình cụ thể, đảm bảo tính khoa học. Việc hướng dẫn 1 HS rèn kĩ năng viết bài văn miêu tả đều dựa vào kinh nghiệm giảng dạy của mỗi GV. Đồng thời, bản thân HS còn gặp rất nhiều khó khăn về kiến thức lẫn kĩ năng khi xây dựng một bài văn miêu tả. Vì vậy bài văn miêu tả của HS còn mang tính liệt kê, lời văn lủng củng, thiếu ý hay sắp xếp ý một cách lộn xộn, chưa có sự liên kết giữa các ý và các câu. Đại đa số các em viết văn còn khô khan, việc sử dụng các từ ngữ còn vụng về, chưa biết sử dụng biện pháp tu từ để gợi tả nên câu văn chưa có “hồn” tức là chất lượng học sinh giỏi về môn Tiếng Việt còn rất hạn chế, đặc biệt các em chưa được hướng dẫn quan sát cụ thể, tỉ mỉ nên các em chỉ tưởng tượng để viết bài. Hầu hết các em chưa tự quan sát, tìm tòi khám phá ra được “cái mới” cái nổi bật của đối tượng, các em đang tả để nói và viết những điều các em tự quan sát và tự cảm nhận được. Những tiết TLV viết văn miêu tả trở nên căng thẳng, khô khan, thiếu cảm xúc đã làm mất đi sự hứng thú trong học tập, sự sáng tạo và óc tưởng tượng phong phú của các em học sinh. Từ những điều đã phân tích ở trên cho thấy việc rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5 là vô cùng quan trọng và đặt lên hàng đầu. Nó tạo nền móng vững chắc cho quá trình tích lũy của học sinh ở bậc quan trọng mà trong đó, người giáo viên Tiểu học chính là người thợ xây đặt những viên gạch đầu tiên cho tiến trình sau này của học sinh. Vì những lí do quan trọng nên tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Một số biện pháp rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5” để nghiên cứu 2. Lịch sử nghiên cứu Văn miêu tả là một trong những kiểu văn bản có vị trí quan trọng trong chương trình TLV tiểu học. Nó góp phần vào việc bồi dưỡng cảm xúc, phát triển ngôn ngữ, tư duy lẫn khả năng sáng tạo cho học sinh. Do đó đã có nhiều công trình nghiên cứu về dạy và học viết văn miêu tả để nâng cao chất lượng bài văn cho HS. SGK TV lớp 4- 5 ( chương trình CCGD) ngoài việc chú trọng đến kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, sách còn chú trọng đến việc rèn kĩ năng quan sát, tìm ý, lập dàn ý cho HS. Chương trình TLV miêu tả 4- 5 (chương trình 2000), các nhà viết sách đã có sự đổi mới khi quan tâm đến việc rèn kĩ năng viết đoạn văn miêu tả bằng cách dành khá nhiều thời gian cho HS rèn luyện kĩ năng này. Nhưng việc rèn kĩ năng viết đoạn văn miêu tả còn chưa đi theo một hệ thống rõ ràng, cụ thể. 2 Bên cạnh SGK nằm trong chương trình, còn có một số sách tham khảo đề cập đến vấn đề dạy học văn miêu tả của các nhà ngôn ngữ học. Vũ Tú Nam – Phạm Hổ - Bùi Hiển – Nguyễn Quang Sáng trong cuốn “Văn Miêu tả và kể chuyện” chỉ mới đề cập đến những nét chung nhất của một bài miêu tả, nhưng vấn đề đưa ra con trừu tượng với giáo viên và học sinh. Vì thế giáo viên rất khó vận dụng vào quá trình dạy học văn miêu tả. Hai tác giả Lê Phương Nga - Nguyễn Trí viết cuốn “Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học”. Phần đầu cuốn sách bàn về những vấn đề chung của việc dạy tiếng Việt ở Tiểu học và sau đó đi sâu vào các phương pháp dạy văn miêu tả, đề cập đến những tồn tại và đưa ra những kiến nghị trong dạy học các kiểu bài văn miêu tả. Tuy nhiên, những kiến nghị và giải pháp mà công trình đưa ra còn ở gốc độ khái quát, chưa vận dụng được vào thực tiễn dạy và học văn miêu tả ở nhà trường tiểu học hiện nay. Hoàng Thị Thuyết, cuốn “Lí luận dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học” là sự vận dụng những thành tựu lí luận dạy học trên thế giới đồng thời kế thừa các quan điểm dạy học đã được thừa nhận trong nước. Phương pháp dạy học và các kĩ năng kiến thức Tiếng Việt trong sách được triển khai theo hướng tiếp cận tích hợp, cách tiếp cận giao tiếp, kết hợp với một số lý thuyết học tập tiếng khác trên thế giới. Điểm mới trong sách là tác giả đã đưa ra được quá trình làm văn viết cho học sinh nhưng tác giả lại không đề cập đến một quy trình rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho HS Tiểu học. Hoàng Hòa Bình, cuốn “Dạy văn cho học sinh tiểu học” (NXB GD-1999), tác giả đã có những đề xuất giúp GV tiểu học để hướng dẫn HS cảm nhận được cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn học mà chưa đi sâu hướng dẫn quy trình viết một bài văn. Nguyễn Trí, cuốn “Văn miêu tả và phương pháp dạy học văn miêu tả ở tiểu học” ( Nhà xuất bản Giáo dục-1996), tác giả đã đề cập đến cách dạy văn miêu tả trong chương trình Tiểu học. Tuy nhiên tác giả chưa nói về vấn đề cách học của học sinh, tự học như thế nào để tạo cho mình vốn từ ngữ, vốn sống phong phú có thể áp dụng vào làm văn miêu tả. Trong các tài liệu trên đây, các tác giả đã đề cập đến vấn đề dạy học phân môn TLV trên phương diện vị trí, nhiệm vụ, nội dung chương trình, phương pháp dạy học nói chung và văn miêu tả nói riêng nhưng chưa đi sâu nghiên cứu việc rèn kỹ 3 năng viết văn miêu tả ở một khối lớp cụ thể. Do đó đề tài “ Một số biện pháp rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5” là một đề tài mới mẻ, mang tính khoa học, phù hợp với đặc điểm nhận thức của HS lớp 4-5, góp phần nâng cao năng lực, kĩ năng viết văn miêu tả cho các em, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc dạy học văn miêu tả. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu - Sách giáo khoa Tiểu học - Học sinh và giáo viên Tiểu học (lớp 4, 5) - Phạm vi nghiên cứu Vì thời gian có hạn nên đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu trong việc rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5 4. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài - Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của đề tài - Đề xuất biện pháp rèn luyện kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5. - Thực nghiệm. 5. Phương pháp nghiên cứu: Nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra trong đề tài, chúng tôi đã kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau: - Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận Sử dụng các phương pháp so sánh, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa những nguồn tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu. - Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn +Phương pháp điểu tra Sử dụng một số câu hỏi để điều tra và thống kê việc nắm vững yêu cầu giảng dạy Tập làm văn miêu tả; việc viết văn meeeu tả của học sinh +Phương pháp quan sát Phương pháp này được sử dụng trong các tiết dự giờ, quan sát HS trong các hoạt động khác…để đánh giá mức độ nắm kiến thức làm văn miêu tả của HS. 4 +Phương pháp nghiên cứu sản phẩm Phương pháp nghiên cứu sản phẩm được sử dụng trong đọc, phân tích, nghiên cứu những bài văn của học sinh để từ đó biết được những ưu, nhược điểm, những hạn chế trong làm văn của học sinh. +Phương pháp thu thập thông tin Sử dụng trong thu thập ý kiến giáo viên, học sinh; thu thập tài liệu. + Phương pháp thử nghiệm sư phạm Phương pháp này được sử dụng trong khâu hoàn tất quá trình nghiên cứu nhằm xem xét, xác nhận tính khả thi của các biện pháp rèn kĩ năng làm văn miêu tả của học sinh lớp 4, 5 mà đề tài nghiên cứu - Phương pháp thống kê toán học Khảo sát, xử lí các số liệu trong quá trình nghiên cứu 6. Đóng góp của đề tài - Hệ thống hóa toàn bộ lí thuyết về văn miêu tả - Đề xuất biện pháp rèn kĩ năng làm viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5 - Tài liệu cho giáo viên và sinh viên nghiên cứu 7. Cấu trúc của đề tài Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Khóa luận gồm 3 chương : Chương 1 : Cơ sở khoa học của đề tài Chương 2 : Các biện pháp rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5 Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 5 PHẦN 2: NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.1. Cơ sở lí luận 1.1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài - Biện pháp Theo “Từ điển Tiếng Việt”, nhà xuất bản tổng hợp TP. HCM [17. Tr 144] thì biện pháp là cách thức giải quyết một vấn đề hoặc thực hiện một chủ trương. - Kĩ năng - Kĩ năng là khả năng ứng dụng tri thức khoa học vào thực tiễn [17. Tr 985] - Kĩ năng được hiểu như một khả năng của con người có thể hoàn thành các nhiệm vụ trong những điều kiện mới dựa trên những tri thức và kinh nghiệm đã được tích lũy và một loạt các kĩ xảo trong mối qua hệ mật thiết với nhau. Trong quá trình lĩnh hội và sáng tạo văn bản, kĩ năng và kĩ xảo luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau ( Theo Lê A- Nguyễn Trí) - Kĩ năng làm văn Kĩ năng làm văn là kĩ năng thông qua hệ thống kiến thức đã có HS cảm nhận bằng sự tinh tế của bản thân mà có được những bài văn hay. - Con đường hình thành kĩ năng viết văn miêu tả Dựa trên lý thuyết về hoạt động, có thể khẳng định viết văn miêu tả là một hoạt động, và con đường dạy văn miêu tả chính là dạy các thao tác tạo ra từng hành động của hoạt động viết văn miêu tả cho HS. Yếu tố chủ yếu quyết định sự thành công của việc dạy văn miêu tả là sự thành thục của các thao tác trong từng hành động. Sự thành thục đó chính là HS đã có kĩ năng viết văn miêu tả. - Cơ sở của việc xác định các kĩ năng viết văn miêu tả Các kĩ năng viết văn miêu tả được xác định dựa trên 4 giai đoạn của quá trình tạo lập văn bản, đó là giai đoạn: định hướng, lập chương trình, hiện thực hóa chương trình, kiểm tra. Tương ứng với các giai đoạn là các nhóm kĩ năng viết văn miêu tả. Việc rèn luyện các nhóm kĩ năng này cần dựa trên sự phân giải kĩ năng lớn thành các kĩ năng bộ phận , phân giải các kĩ năng bộ phận thành từng thao tác để có những biện pháp hợp lý nhằm hình thành và rèn luyện từng thao tác, từng kĩ năng 6 bộ phận, tiến tới hình thành và rèn luyện kĩ năng lớn hơn- kĩ năng viết văn miêu tả cho HS. - Văn miêu tả - Khái niệm về văn miêu tả Theo “Từ điển Tiếng Việt”, miêu tả là “Dùng lời văn hoặc nét vẽ mà biểu hiện cảnh vật hoặc nhân vật” [17. Tr 1175] Theo sách Tiếng Việt 4: “ Văn miêu tả là vẽ lại bằng lời những đặc điểm nổi bật của cảnh, của người, của vật giúp người đọc, người nghe có thể hình dung được các đối tượng ấy”.[12. Tr 140] Văn miêu tả là thể loại văn dùng ngôn ngữ để tả sự vật, hiện tượng, con người,…một cách sinh động, cụ thể như nó vốn có. Đây là loại văn giàu cảm xúc, giàu trí tưởng tượng, sáng tạo của người viết. Văn miêu tả là một bức tranh vẽ các sự vật, hiện tượng, con người bằng ngôn ngữ một cách sinh động, cụ thể. Nhờ có văn miêu tả, con người có thể lạc vào thế giới của những cảm xúc, những âm thanh, tiếng động, hương vị của những cánh đồng, khu rừng, làng quê…, thấy rõ tư tưởng, tình cảm của mỗi con người, mỗi sự vật. Đó là sự kết tinh của các nhận xét tinh tế, những rung động sâu sắc mà người viết thu lượm được khi quan sát cuộc sống. Bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào trong cuộc sống cũng có thể trở thành đối tượng của văn miêu tả nhưng không phải bất kỳ một sự việc nào cũng trở thành văn miêu tả. Miêu tả không chỉ đơn giản ở việc giúp người đọc thấy rõ được những nét đặc trưng, những đặc điểm, tính chất,…không phải là việc sao chép, chụp lại một cách máy móc mà phải thể hiện được sự tinh tế của tác giả trong việc sử dụng ngôn từ, trong cách thể hiện cảm xúc, tình cảm của tác giả đối với đối tượng miêu tả. Một bài văn miêu tả đạt được đỉnh của nó khi mà bằng những ngôn ngữ sinh động nào đó khiến cho người nghe, người đọc như cảm thấy mình đang đứng trước sự vật, hiện tượng đó và cảm thấy như được nghe, sờ những gì mà tác giả nói đến. Khi miêu tả lạnh lùng, khách quan nhằm mục đích thông báo đơn thuần thì đó không phải là miêu tả văn học mà là theo phong cách khoa học. Hãy cùng ngắm nhìn một buổi chiều thanh bình tại một vùng quê dưới ngòi bút của tác giả Đỗ Chu (Chiều trên quê hương - SGK TV lớp 3/1). Đó là một buổi chiều mùa hạ có mây trắng xô đuổi nhau trên cao. Nền trời xanh vời vợi. Con chim sơn ca cất lên tiếng hót tự do, tha thiết đến nỗi khiến người ta phải 7 ao ước giá mà mình có một đôi cánh. Trải khắp cánh đồng là nắng chiều vàng dịu và thơm hơi đất, là gió đưa thoang thoảng hương lúa ngậm đòng và hương sen. Chỉ ngắn gọn có bốn câu văn mà Đỗ Chu đã cho ta nhìn thấy được một làng quê hài hòa vào một buổi chiều mùa hạ vừa động vừa tĩnh. Động đó là mây đùa giỡn nhau, tiếng chim hót. Tĩnh đó là nắng vàng dịu, hương lúa ngậm đòng và hương sen. Một cuộc sống khát khao nhưng cũng rất yên bình. Sự hòa hợp giữa đất với trời, giữa thiên nhiên cỏ cây hoa lá. Một buổi chiều thật đẹp, làm cho tâm hồn người đọc cũng cảm thấy được yên bình, nhẹ nhàng hơn. Ngòi bút của tác giả thật tinh tế. - Đặc điểm của văn miêu tả Trong cuốn “Văn miêu tả và phương pháp dạy văn miêu tả”, tác giả Nguyễn Trí đã nêu rõ ba đặc điểm của văn miêu tả: văn miêu tả mang tính thông báo thẩm mĩ, chứa đựng tình cảm của người viết; văn miêu tả mang tính sinh động, tạo hình; ngôn ngữ miêu tả giàu cảm xúc, hình ảnh. + Văn miêu tả mang tính thông báo thẩm mỹ, chứa đựng tình cảm của người viết. Mọi sự vật hiện tượng đều có thể trở thành đối tượng của văn miêu tả. Trong văn miêu tả, sự vật và hiện tượng không được tái hiện theo kiểu sao chép một cách máy móc, khô cứng mà là kết quả của sự nhận xét, tưởng tượng, đánh giá hết sức phong phú. Nó thể hiện cái nhìn, cái quan sát, cách cảm nhận mới mẻ của người viết với đối tượng miêu tả. Cái mới, cái riêng bắt đầu có thể chỉ là ở những quan sát và kết quả của sự quan sát, sau đó tiến lên thể hiện cái mới, cái riêng trong tư tưởng, tình cảm đối với đối tượng miêu tả. Cùng một đối tượng quan sát nhưng giữa hai người sẽ có cái nhìn, cách cảm nhận, ý nghĩ, cảm xúc khác nhau. Vì vậy mà văn miêu tả bao giờ cũng mang đậm dấu ấn cá nhân, cảm xúc chủ quan của người viết. Đây chính là điểm khác biệt giữa miêu tả trong văn học và miêu tả trong khoa học - thường mang tính chính xác cao, nhưng lại thiếu cảm xúc, thiếu tâm hồn. Dù đối tượng của bài văn miêu tả là gì đi chăng nữa thì bao giờ người viết cũng đánh giá chúng theo một quan điểm thẩm mỹ, cũng gữi gắm vào trong đó những suy nghĩ, tình cảm hay ý kiến nhận xét, đánh giá, bình luận của bản thân mình. Chính vì vậy mà trong từng chi tiết của bài văn miêu tả đều mang đậm dấu ấn chủ quan của người viết. 8 + Văn miêu tả mang tính sinh động, tạo hình Tính sinh động, tạo hình của văn miêu tả thể hiện ở con người, phong cảnh, sự vật, đồ vật… được miêu tả hiện lên qua từng câu văn, đoạn văn như trong cuộc sống khiến người đọc, người nghe như được ngắm nhìn, được sờ, được nghe, được ngửi thấy những gì mà tác giả đang cảm nhận. Muốn bài văn miêu tả được sinh động thì người viết phải tạo nên được những câu văn, những đoạn văn, bài văn sống động, gây ấn tượng. Điều quan trọng để có thể làm được điều đó, trước hết người viết phải có sự quan sát tỉ mỉ, ghi nhớ được những điều mình đã quan sát được kết hợp với khả năng sử dụng ngôn từ một cách khéo léo, các biện pháp tu từ. + Ngôn ngữ miêu tả giàu cảm xúc, hình ảnh. Đặc điểm nổi bật của văn miêu tả là ngôn ngữ giàu cảm xúc, hình ảnh. Đây là đặc điểm làm nên sự khác biệt giữa văn miêu tả với các thể loại văn khác như văn bản tự sự, văn bản trữ tình hay văn nghị luận. Ngôn ngữ văn miêu tả giàu cảm xúc bởi trong bài viết bao giờ người viết cũng bộc lộ tình cảm, cảm xúc hay ý kiến nhận xét, đánh giá hay bình luận của người viết với đối tượng miêu tả. Tình cảm đó có thể là sự yêu mến, yêu quý, thán phục hay sự gắn bó với đối tượng được miêu tả. Ngôn ngữ văn miêu tả giàu hình ảnh bởi trong bài viết thường được sử dụng từ ngữ gợi hình như: tính từ, động từ, từ láy hay các biện pháp tu từ như: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ,… chính điều này đã tạo cho ngôn ngữ trong văn miêu tả có sự uyển chuyển, nhịp nhàng, diễn tả tốt cảm xúc của người viết. Hơn thế nó có tác dụng khắc họa được bức tranh miêu tả sinh động như cuộc sống thực. Hai yếu tố giàu cảm xúc và giàu hình ảnh gắn bó khăng khít với nhau làm nên đặc điểm riêng biệt và làm cho những trang văn miêu tả trở nên có hồn, cuốn hút người đọc, gây ấn tượng mạnh mẽ và tác động sâu sắc vào vị trí tưởng tượng cũng như của người đọc. Trong cuốn “Rèn kỹ năng sử dụng Tiếng Việt” hai tác giả Đào Ngọc và Nguyễn Quang Ninh đã chĩ rõ ba đặc điểm của văn miêu tả. Đó là: Văn miêu tả là một loại văn mang tính thông báo thẩm mỹ, trong văn miêu tả, cái mới, cái riêng phải gắn chặt với tính chân thật; ngôn ngữ trong văn miêu tả bao giờ cũng giàu cảm xúc, giàu hình ảnh, giàu nhịp điệu, âm thanh,… Như vậy, hai tác giả đó nêu thêm một đặc điểm cũng rất quan trọng của văn miêu tả đó là, tính sáng tạo phải gắn chặt với tính chân thật. Bởi miêu tả là “vẽ” lại những đặc điểm nổi bật của cảnh vật, của người” nên sự vẽ lại đó phải đảm bảo 9 đúng như đối tượng đang tồn tại trong cuộc sống. Văn miêu tả phát huy trí tưởng tượng, sự sáng tạo của người viết nhưng dựa trên những đặc điểm, tính chất thực sự vốn có. Một yêu cầu rất quan trọng đối với một bài văn miêu tả là văn miêu tả phát huy trí tưởng tượng, sự sáng tạo của người viết nhưng dựa trên những đặc điểm, tính chất chân thực như nó vốn có. Đó chính là sự cảm nhận theo chủ quan của mỗi người, và nó làm nên sự khác biệt giữa các bài văn miêu tả. 1.2. Đặc điểm tâm sinh lý học sinh lớp 4, 5 với việc dạy học văn miêu tả Học sinh lớp 4, 5 đã bắt đầu bước vào tuổi thiếu niên. Các em lớn nhanh, kích thước và tổ chức cơ thể đã tiến gần đến người trưởng thành. Hành vi và đời sống nội tâm của các em đang có những thay đổi rõ rệt. Lứa tuổi này được gọi là lứa tuổi chuyển giao giữa trẻ con và người lớn. Các em rất dễ xúc động. Chính việc dâng cao cảm xúc đã làm các em thay đổi hoạt động sáng tạo yêu thích, từ vẽ sang hình thức sáng tạo bằng lời nói. So với vẽ và đặc biệt là những bức vẽ hoàn thiện thì lời nói cho phép diễn đạt dễ dàng hơn rất nhiều lần những quan hệ phức tạp, những tính chất bên trong, những sự vận động logic, sự phức tạp của sự kiện. Lớp 4, 5 là giai đoạn mà các em chuyển từ nhận thức cảm tính sang nhận thức lý tính, có mục đích. Đối với HS lớp 4, 5 tư duy trực quan đã được hình thành và bắt đầu chuyển dần sang tư duy trừu tượng, khái quát. Tư duy các em đã thay đổi về chất, biết tổng hợp các sự vật, hiện tượng, tích lũy được nhiều kinh nghiệm hơn so với các lớp đầu bậc học. Các em đã có khả năng phân tích, khái quát, biết phê phán và kiến thức lĩnh hội không chỉ một chiều. Ở lứa tuổi này, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cụ thể, trẻ tái tạo ra những hình ảnh mới. Tưởng tượng sáng tạo, phong phú tương đối phát triển, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ,…Đặc biệt trí tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng để gắn liền với các rung động tình cảm. Các em có lòng say mê văn học, hứng thú với việc dùng câu văn của mình để bộc lộ một sự vật, một hiện tượng nào đó, có tình cảm và sự gắn bó với những đồ vật, những loài vật và cây cối xung quanh. Từ đó các em có nhu cầu bộc lộ cảm xúc của mình trước những sự vật, sự việc mà bản thân mình tiếp xúc hàng ngày. Hoạt động sáng tạo yêu thích của các em được thể hiện rõ trong làm văn. Nếu được học theo một chương trình đúng, một 10 phương pháp phù hợp thì các em tuổi này rất thích học văn. Loại bài viết đam mê của các em thuộc về chủ đề tự do. Có thể viết những xúc động từ trong lòng, được thả mình vào tưởng tượng, không ít học sinh đã làm được những bài khá hoàn chỉnh và hấp dẫn như những sáng tác trẻ em thực sự. 1.3. Ý nghĩa của việc rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5 Trẻ em chưa thể vẽ được những bức tranh hoàn thiện. Các em chỉ biết dùng lời nói, câu văn để viết lại những điều mình quan sát, nhận xét sự vật dưới cái nhìn của trẻ con. Sự quan sát, nhận xét của các em còn thiên về cảm tính. Việc dạy văn miêu tả cho trẻ Tiểu học sẽ góp phần nuôi dưỡng tâm hồn và tạo nên sự quan tâm của các em với thế giới xung quanh, trong đó quan trọng nhất là với thiên nhiên. Góp phần giáo dục tình cảm thẩm mĩ, tình yêu cái đẹp, góp phần phát triển ngôn ngữ của trẻ. Học văn miêu tả, học sinh có thêm điều kiện để tạo nên sự thống nhất giữa tư duy, tình cảm, ngôn ngữ và cuộc sống, con người với thiên nhiên, với xã hội. Lúc ấy trẻ sẽ bộc lộ được cảm xúc cá nhân, mở rộng tâm hồn, phát triển nhân cách của một con người có ích cho xã hội. Miêu tả là một trong những kiểu văn bản có vị trí quan trọng trong chương trình TLV tiểu học lớp 4, 5. Nó góp phần hình thành và phát triển tư duy cho HS Tiểu học. Học văn miêu tả, HS được rèn kĩ năng viết văn miêu tả gắn liền với quá trình tạo lập văn bản như : tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý ; diễn đạt thành bài văn miêu tả. Việc phân tích dàn bài, lập dàn ý, chia đoạn, quan sát đối tượng, tìm lí lẽ, dẫn chứng trình bày, tranh luận... góp phần phát triển năng lực phân tích tổng hợp của học sinh. Tư duy hình tượng của trẻ cũng được rèn luyện và phát triển qua việc sử dụng các biện pháp so sánh, nhân hoá... 1.2. Cơ sở thực tiễn 1.2.1. Văn miêu tả trong trường Tiểu học Nội dung chương trình Tập làm văn lớp 4, 5 Trong chương trình TLV lớp 4, 5 học sinh được trang bị kiến thức cần thiết về văn miêu tả, về kĩ năng viết đoạn văn, bài văn miêu tả. Các kiến thức này được cung cấp qua các nội dung : Cấu tạo bài văn miêu tả, Luyện tập quan sát, Luyện tập lập dàn ý, Luyện tập xây dựng đoạn văn, Bài viết và trả bài viết. Các nội dung này là một khuôn mẫu, được lặp lại ở các kiểu bài văn miêu tả: miêu tả đồ vật, miêu tả cây cối, miêu tả con vật, miêu tả cảnh, miêu tả người. Ngoài ra nội dung chương 11 trình TLV miêu tả lớp 4, 5 còn có thêm cả những kiến thức lí thuyết sơ giản giúp HS nắm chắc về đặc điểm, kết cấu và phương pháp làm bài của từng kiểu văn miêu tả. Chương trình nhấn mạnh yếu tố thực hành, coi trọng việc rèn luyện kĩ năng, đặc biệt là kĩ năng xây dựng đoạn văn. HS được học cách viết đoạn văn với nhiều nội dung và các kiểu khác nhau ở một số dạng bài miêu tả những đối tượng quen thuộc, gần gũi với học sinh. Một khi kĩ năng xây dựng đoạn văn thành thạo, học sinh sẽ chủ động, tự tin hơn khi xây dựng được một văn bản miêu tả hoàn chỉnh. Văn miêu tả chiếm vị trí quan trọng trong chương trình Tập làm văn lớp 4, 5. Ở lớp 4 số tiết học văn miêu tả là 30/62 tiết Tập làm văn chiếm 48,38% (chưa kể số tiết ôn tập và kiểm tra giữa kỳ, cuối kỳ). Ở lớp 5 số tiết học văn miêu tả là 45 tiết trong tổng số 62 tiết Tập làm văn của cả năm học. Ở hai lớp học này, HS được học là 5 kiểu bài: tả đồ vật, tả cây cối, tả con vật, tả cảnh và tả người. Như vậy, mỗi kiểu bài đều được dành khá nhiều số tiết, nhằm giúp HS luyện tập và làm bài tốt hơn. Nghĩa là, HS có đầy đủ kiến thức và kỹ năng làm được một bài văn miêu tả hay, sinh động, sáng tạo, giàu hình ảnh và cảm xúc. Tất cả các tiết học đều có kỹ năng làm văn, có nghĩa là chương trình Tập làm văn nói chung và văn miêu tả nói riêng đã chú trọng đến vấn đề rèn kỹ năng thực hành cho HS. So với chương trình trước đây, chương trình hiện hành có số tiết dành cho Tập làm văn miêu tả nhiều hơn mà kiểu bài thì ít hơn. Chính vì vậy, hiện nay, HS có điều kiện để làm quen và thực hành nhiều hơn. Rèn luyện kỹ năng sản sinh văn bản là nội dung chủ yếu của các tiết học văn miêu tả (có các loại kỹ năng: kỹ năng tìm ý, lập dàn ý, lựa chọn từ ngữ, kỹ năng dựng đoạn và bài, kỹ năng đánh giá và chữa văn bản.) Chương trình SGK Tập làm văn 4, 5 đã tạo ra cơ chế và phương pháp dạy học văn miêu tả, chống lối dạy “sáo”, coi việc rèn luyện bộ óc, phương pháp suy nghĩ, phương pháp tìm tòi, vận dụng kiến thức cho HS là điều cơ bản nhất. Với cơ chế này, nội dung dạy học văn miêu tả đã đề cao tính chân thực khi miêu tả cũng như diễn tả tình cảm, cảm xúc… Về phương pháp làm bài thì không có tiết dạy lí thuyết kiểu bài riêng, các kiến thức về lí thuyết được rút ra qua các tiết thực hành và là nội dung phải ghi nhớ ở cuối mỗi bài học. Mỗi tiết học trong chương trình đều có nhiệm vụ và nội dung xác định, dạy mỗi loại tiết phải đảm bảo thực hiện đầy đủ các nội dung và hoàn thành tốt các nhiệm vụ đó. 12 1.2.2. Thực trạng về việc làm văn miêu tả của giáo viên, học sinh ở một số trường Tiểu học. - Thực trạng về việc nắm vững các yêu cầu giảng dạy Tập làm văn miêu tả. Rèn kĩ năng viết văn miêu tả là một trong những vấn đề trọng tâm và cần thiết trong việc dạy phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 4, 5. Nhận thức được tầm quan trọng của sự phát triển tư duy, tình cảm, ngôn ngữ của văn miêu tả với HS ; tầm quan trọng của việc rèn kĩ năng viết văn miêu tả, nhiều năm qua Bộ Giáo Dục và Đào tạo đã có nhiều biện pháp giúp nâng cao hiệu quả của việc dạy văn miêu tả trong trường Tiểu học. Thông qua các chu kì bồi dưỡng thường xuyên, các buổi tập huấn về chương trình SGK năm 2000, GV được bồi dưỡng về mặt kiến thức lẫn phương pháp cần thiết cho việc giảng dạy các tiết học về văn miêu tả. Tuy nhiên trong thực tế dạy học văn miêu tả, hoạt động dạy và học còn diễn ra khá sơ sài, qua loa. Tôi đã tiến hành điều tra, khảo sát thực trạng về việc nắm vững các yêu cầu về giảng dạy các tiết Tập làm văn miêu tả của 34 giáo viên thuộc địa bàn Phường Hải Thành, Bắc Lý, Đồng Phú Thành phố Đồng Hới và kết quả điều tra thu được kết quả như sau: Bảng: Thực trạng về việc nắm được các yêu cầu giảng dạy TLV miêu tả STT KẾT QUẢ ĐIỀU TRA NỘI DUNG SỐ LƯỢNG TỈ LỆ% 1 Hiểu khái niệm về văn miêu tả 15 44,12 2 Nắm được đặc điểm văn miêu tả 8 23,58 17 50 6 17,65 3 4 Nắm được nội dung, yêu cầu, đặc điểm của các dạng bài miêu tả Nắm được đặc điểm tâm lí HS cần cho văn miêu tả 5 Nắm được trình tự quan sát 16 47,06 6 Nắm được cách lập dàn bài cho bài văn 19 55,88 7 Nhận biết được các loại đoạn văn 3 8,82 8 Nắm được các phép liên kết câu 14 41,18 9 26,47 12 33,33 9 10 Nắm được các biện pháp tu từ sử dụng trong văn miêu tả Nắm được kĩ năng sửa lỗi cho học sinh 13 Qua bảng kết quả điều tra chúng tôi thấy: - Số GV nắm được đầy đủ khái niệm và đặc điểm của văn miêu tả rất ít ( chỉ có 44,12% GV nắm được tốt khái niệm và 22,53% GV nắm được toàn bộ đặc điểm của văn miêu tả). Số GV còn lại nắm khái niệm và đặc điểm văn miêu tả dưới mức độ chưa sâu, chưa hiểu hết bản chất của các khái niệm và các đặc điểm. Điều này khiến cho việc đánh giá một bài văn miêu tả của học sinh không chính xác. Thường khi chấm một bài văn miêu tả, các giáo viên chỉ chú trọng đến ý, độ dài của bài văn, tình cảm của HS thể hiện trong bài. Có nhiều đoạn văn miêu tả được viết thiên về kể chuyện, câu đoạn rời rạc, chứa đựng những câu sáo rỗng, tình cảm giả tạo vẫn được thầy cô cho điểm cao. - Số GV nắm được nội dung, yêu cầu, đặc điểm của các kiểu bài miêu tả trong chương trình là 50%. Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến sự thiếu hụt đồng bộ, mất đi tính kế thừa trong việc giảng dạy văn miêu tả ở hai khối lớp. - Việc nắm trình tự quan sát chiếm 47,06% và lập dàn ý cho bài văn là 55,88% thì việc hướng dẫn học sinh làm được một bài văn tốt còn rất sơ sài. - Trong quá trình điều tra, chúng tôi còn phát hiện ra một vấn đề mà hầu như tất cả giáo viên chưa thực sự quan tâm đến. Đó là việc chú ý đến những đặc điểm tâm lí của các em HS lớp 4-5 với việc dạy văn miêu tả. Số GV nắm được đặc điểm tâm lí HS rất ít, chỉ khoảng 17,65% GV. Do không chú ý đến đặc điểm tâm lí HS với việc dạy và học văn miêu tả, giáo viên thường gặp nhiều khó khăn khi giúp đỡ học sinh tìm ý, gợi cho học sinh trí tưởng tượng về sự vật cũng như tạo được sự hứng thú cho HS trong các tiết dạy và học văn miêu tả. - Số GV nắm dược các biện pháp tu từ là rất ít, chỉ có 26,47% GV. Vì vậy việc hướng dẫn HS viết các câu văn sinh động, có hình ảnh, gợi cảm là rất khó khăn. Vì thế bài làm của HS thường khô khan, không thu hút người đọc. Qua điều tra chúng tôi cũng thấy được rằng, chỉ có một con đường duy nhất hình thành các hiểu biết về lý thuyết thể văn, các kĩ năng làm bài…là qua phân tích bài văn mẫu. - Để đối phó với việc học sinh làm bài kém, để bảo đảm “chất lượng” khi kiểm tra, thi cử…nhiều cô giáo, thầy giáo cho học sinh học thuộc bài văn mẫu. Vì 14 vậy dẫn tới trình trạng thầy, trò nhiều khi bị lệ thuộc vào văn mẫu, không thoát ra được mẫu. - Ra đề văn miêu tả không cần biết đề đó có thích hợp với học sinh không. Ví dụ ở thành phố lại cho miêu tả con lợn, con trâu. Còn ở nông thôn lại cho tả cảnh công viên. Nguyên nhân tình trạng này là do giáo viên lệ thuộc quá nhiều vào sách. Ngoài ra, việc GV chưa thực sự quan tâm đến mục đích, tác dụng của từng loại bài tập trong việc rèn kĩ năng viết văn cho HS cũng ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả giảng dạy TLV của từng GV. Trong quá trình điều tra, chúng tôi còn phát hiện ra một vấn đề mà hầu như tất cả giáo viên chưa thực sự quan tâm đến. Đó là việc chú ý đến những đặc điểm tâm lí của các em HS lớp 4, 5 với việc dạy văn miêu tả. Số GV nắm được đặc điểm tâm lí HS rất ít. Do không chú ý đến đặc điểm tâm lí HS với việc dạy và học văn miêu tả, giáo viên thường gặp nhiều khó khăn khi giúp đỡ học sinh tìm ý, gợi cho học sinh trí tưởng tượng về sự vật cũng như tạo được sự hứng thú cho HS trong các tiết dạy và học văn miêu tả. Nhìn chung, GV chưa nắm kĩ các kiến thức, yêu cầu giảng dạy TLV miêu tả cũng như yêu cầu giảng dạy các tiết rèn kĩ năng viết văn miêu tả. Tình trạng trên là do các nguyên nhân sau: trình độ giáo viên không đồng đều (12+2, cao đẳng đại học), đào tạo dưới nhiều hình thức khác nhau (chính quy, tại chức,…), thiếu tài liệu tham khảo, ít có thời gian cho việc bổ sung kiến thức hoặc chưa thường xuyên tự trau dồi kiến thức phục vụ cho việc giảng dạy văn miêu tả, không đam mê nghề dạy học. Vậy nên các kiến thức GV vận dụng vào những tiết dạy văn miêu tả thường sơ sài, qua loa. Ngoài ra, việc giáo viên chưa nhận thức được hết tầm quan trọng của việc rèn kĩ năng viết văn miêu tả, đặc điểm tâm lí của HS cũng khiến cho giờ dạy và học TLV miêu tả trở nên nhàm chán, ít gây được hứng thú cho HS. - Thực trạng về việc rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho HS lớp 4, 5 Việc dạy học văn miêu tả ở trường Tiểu học, bên cạnh có nhiều điểm tốt, mang lại một số hiệu quả nhất định, còn khá nhiều nhược điểm. Khuyết điểm lớn nhất, dễ thấy nhất là bệnh công thức, khuôn sáo, máy móc thiếu tính chân thực trong cả cách dạy và học văn miêu tả. Đây là căn bệnh, ngay từ năm 1973, Chủ tịch Phạm Văn Đồng đã nghiêm khắc chỉ ra: “Tôi nghĩ rằng hiện nay trong nhà trường phổ thông chúng ta có hiện tượng dạy văn theo điệu “sáo”. Đó là cách giảng dạy 15
- Xem thêm -