Tài liệu Một số biện pháp quản lý bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên hệ bổ túc trung học phổ thông thành phố hải phòng

  • Số trang: 102 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 46 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 39907 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA SƢ PHẠM HOÀNG BÁ THƢỞNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÍ BỒI DƢỠNG CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN HỆ BỔ TÚC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG ĐỀ CƢƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC Chuyên ngành: QUẢN LÍ GIÁO DỤC Mã số: 60 14 05 HÀ NỘI - 2008 MỤC LỤC Trang 1 MỞ ĐẦU CHƢƠNG 1: 1 1.1. Một số khái niệm 1 1.2. Quan điểm của Đảng, Nhà nƣớc ta 15 và thế giới về giáo dục thƣờng xuyên 1.3. Vị trí của giáo dục thƣờng xuyên 20 trong hệ thống Giáo dục quốc dân 1.4. Vai trò của giáo dục thƣờng xuyên trong việc phát triển 21 nguồn nhân lực 1.5. Quản lí chất lƣợng giáo dục hệ bổ túc trung học phổ thông 24 1.6. Ý nghĩa công tác quản lí bồi dƣỡng chuyên môn 28 cho giáo viên hệ bổ túc trung học phổ thông 1.7. Các yếu tố ảnh hƣởng đến công tác quản lí bồi dƣỡng 32 chuyên môn cho giáo viên hệ bổ túc trung học phổ thông Kết luận chƣơng 1 32 CHƢƠNG 2 34 2.1. Tổng quan về tình hình phát triển kinh tế xã hội 34 thành phố Hải Phòng 2.2. Thực trạng ngành học giáo dục thƣờng xuyên Hải Phòng 36 2.3. Thực trạng công tác quản lí bồi dƣỡng chuyên môn 50 cho giáo viên hệ bổ túc trung học phổ thông thành phố Hải Phòng 2.3.1. Cơ cấu, bộ máy quản lí 50 2.3.2. Công tác tổ chức, lập kế hoạch và chỉ đạo 50 bồi dƣỡng chuyên môn 2.3.3. Quản lí nội dung, chƣơng trình 54 2.3.4. Quản lí hoạt động dạy học 55 2.3.5. Quản lí tuyển chọn giáo viên 61 2.3.6. Quản lí công tác kiểm tra - đánh giá và khen thƣởng 61 Kết luận chƣơng 2 62 CHƢƠNG 3 65 3.1. Cơ sở đề xuất các biện pháp 65 3.2. Một số biện pháp 67 1 3.2.1. Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên 67 về sự cần thiết của việc bồi dƣỡng chuyên môn 3.2.2.Tổ chức và chỉ đạo công tác bồi dƣỡng chuyên môn 70 cho giáo viên 3.2.3.Tăng cƣờng quản lí thực hiện qui chế chuyên môn cho giáo viên 73 3.2.4. Đảm bảo các điều kiện cần thiết 77 cho công tác bồi dƣỡng chuyên môn 3.2.5. Quan tâm đến chính sách đối với giáo viên 78 và công tác tuyển dụng 3.2.6. Phát triển công tác xã hội hoá giáo dục 80 3.2.7. Kiểm tra - đánh giá và khen thƣởng công tác 84 bồi dƣỡng chuyên môn cho giáo viên. 3.3. Khảo sát sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 86 Kết luận chƣơng 3 87 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 88 1. Kết luận 88 2. Khuyến nghị 89 Tài liệu tham khảo 2 DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Chữ đầy đủ BTTHCS Bổ túc trung học cơ sở BTTHPT Bổ túc trung học phổ thông BTVH Bổ túc văn hoá CSVC Cơ sở vật chất CNTT Công nghệ thông tin GD&ĐT Giáo dục và đào tạo GV Giáo viên GDCQ Giáo dục chính quy GDKCQ Giáo dục không chính quy GDPCQ Giáo dục phi chính quy GDCD Giáo dục công dân GDNL Giáo dục ngƣời lớn HS QTDH SGK Học sinh Quá trình dạy học Sách giáo khoa SKKN Sáng kiến kinh nghiệm TBDH Thiết bị dạy học THPT Trung học phổ thông TT GDTX Trung tâm giáo dục thƣờng xuyên XMC Xoá mù chữ 3 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Chúng ta đang sống trong thế kỷ XXI, thế kỉ của khoa học và công nghệ hiện đại. Đất nƣớc ta đang bƣớc vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá với mục tiêu đến năm 2020 đƣa Việt Nam từ một nƣớc nông nghiệp cơ bản trở thành một nƣớc công nghiệp, hội nhập với cộng đồng quốc tế. Viễn cảnh sôi động, tƣơi đẹp đó đòi hỏi không ít thách thức đối với ngành Giáo dục Đào tạo. Do đó ngành phải có những đổi mới căn bản, mạnh mẽ, phải tìm kiếm các giải pháp để nâng cao chất lƣợng giáo dục toàn diện, nâng cao chất lƣợng con ngƣời để vƣơn lên ngang tầm với sự phát triển chung của khu vực và thế giới. Nghị quyết Trung ƣơng 4 khoá VII của Đảng cũng đã chỉ rõ: “Cần phải thực hiện một nền giáo dục thường xuyên cho mọi người, xác định học tập suốt đời là quyền lợi và trách nhiệm của mỗi công dân”. Giáo dục thƣờng xuyên có vai trò rất quan trọng trong việc đào tạo, bồi dƣỡng nguồn nhân lực, nhằm thúc đẩy sự phát triển tài nguyên con ngƣời, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục của Đảng: “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Chính vì vậy, để nâng cao dân trí không thể chỉ dựa vào phƣơng thức giáo dục chính quy mà phải kết hợp giữa các loại hình chính quy với các loại hình đào tạo khác. Trong đó giáo dục thƣờng xuyên có một vai trò đặc biệt quan trọng bởi lẽ mục tiêu của giáo dục thƣờng xuyên là tạo ra một xã hội học tập nhằm cung cấp những cơ hội học tập thƣờng xuyên, suốt đời phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của từng ngƣời, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, khoa học công nghệ, nhất là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nƣớc trong giai đoạn hiện nay. Nghị quyết Trung ƣơng 2 khoá VIII về giáo dục đã chỉ ra rằng giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là khâu đột phá của thời kì mới, thời kì công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nƣớc, vì thế giáo dục phải đi trƣớc một bƣớc. Đầu tƣ cho giáo dục là đầu tƣ cho phát triển, là đầu tƣ cơ bản quan 4 trọng nhất. Việc đầu tƣ này thể hiện ở việc ƣu tiên về chính sách, về đội ngũ cán bộ, giáo viên, tăng cƣờng nguồn nhân lực, tiếp tục đổi mới nội dung, phƣơng pháp, tăng cƣờng cơ sở vật chất thiết bị nhà trƣờng, chất lƣợng quản lí giáo dục. GDTX tạo cơ hội học thƣờng xuyên, học suốt đời cho mọi ngƣời. Tuy nhiên, vị thế của GDTX chƣa đƣợc xã hội đánh giá đúng mức, sự đầu tƣ, quan tâm của các cấp cho GDTX còn nhiều hạn chế; quy mô, mạng lƣới chƣa đáp ứng nhu cầu của ngƣời học và của xã hội ; công tác quản lí còn bộc lộ nhiều yếu kém; chất lƣợng GDTX còn thấp, các công trình nghiên cứu về GDTX còn quá ít so với giáo dục chính quy. Một trong những vấn đề mang tính chất quyết định đến sự thành bại của sự nghiệp giáo dục đó là vai trò của ngƣời thầy. Sản phẩm của họ khác với sản phẩm của các loại hình lao động khác ở chỗ sản phẩm này tích hợp cả nhân tố tinh thần và vật chất, đó là “nhân cách - sức lao động”. Sứ mệnh của giáo viên, đội ngũ giáo viên có ý nghĩa cao cả đặc biệt. Họ là bộ phận lao động tinh hoa của đất nƣớc. Lao động của họ trực tiếp và gián tiếp thúc đẩy sự phát triẻn của đất nƣớc, cộng đồng đi vào trạng thái phát triển bền vững. Một ngày thiếu giáo dục, đất nƣớc không thể tồn tại đuợc, giáo dục không có ngƣời thầy không thể vận động đƣợc. Ngƣời ta luôn nhận thấy rằng thành công của các cuộc cải cách giáo dục phụ thuộc dứt khoát vào “ý chí muốn thay đổi” cũng nhƣ chất lƣợng giáo viên. Không có hệ thống giáo dục nào có thể vƣơn cao quá tầm những giáo viên làm việc cho nó. Sáng kiến giáo dục mà cội nguồn của nó nằm trong sự cam kết của đội ngũ giáo viên không những bao hàm triển vọng của sự thành công mà còn cả sự kiên định. Nhiều kết quả nghiên cứu khoa học đã chứng minh rằng, một học sinh trung bình trong một năm học làm việc với giáo viên giỏi sẽ tiến bộ nhanh hơn so với sự tiến bộ của học sinh trung bình làm việc với giáo viên kém trong cả một cấp học. Nhƣ vậy, vị trí của ngƣời giáo viên là hết sức quan trọng, họ không chỉ là ngƣời cung cấp tri thức mà còn góp phần đắc lực trong việc hình thành nhân 5 cách của ngƣời học sinh. Nhất là đối với học sinh học tại các trung tâm giáo dục thƣờng xuyên: sức học yếu, có ngƣời vừa đi học vừa đi làm, nhiều độ tuổi trong cùng một lớp... vì vậy trình độ tiếp thu của học viên phụ thuộc rất nhiều vào phƣơng pháp truyền thụ của thầy. Do yêu cầu của việc đổi mới chƣơng trình giáo dục phổ thông hiện nay, từ thực tế trình độ năng lực chuyên môn giáo viên không đồng đều, còn nhiều yếu kém, chƣa đồng bộ về cơ cấu, chậm đổi mới về phƣơng pháp, việc quản lí bồi dƣỡng chuyên môn cho giáo viên hệ BT THPT trên cả nƣớc nói chung và ở Hải Phòng nói riêng còn chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay. Vì vậy tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu : "Một số biện pháp quản lí bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên hệ bổ túc trung học phổ thông thành phố Hải Phòng”. 2. Lịch sử nghiên cứu Đã có nhiều nhà giáo dục nghiên cứu về đề tài này từ lâu, nhƣng đến nay nhiều vấn đề không còn phù hợp nữa, đặc biệt là vấn đề bồi dƣỡng chuyên môn cho giáo viên hệ bổ túc trung học phổ thông thành phố Hải Phòng. 3. Mục tiêu nghiên cứu Một số biện pháp để quản lí bồi dƣỡng chuyên môn cho giáo viên hệ BT THPT thành phố Hải Phòng. 4. Phạm vi nghiên cứu Giáo viên hệ BT THPT thành phố Hải Phòng. 5. Mẫu khảo sát - Cán bộ quản lí ngành GDTX Hải Phòng - Lãnh đạo, giáo viên 1 Trung tâm GDTX nội thành, 1 TT GDTX ngoại thành, 1 TT GDTX hải đảo thành phố Hải Phòng. 6. Vấn đề nghiên cứu Làm thế nào để quản lí bồi dƣỡng chuyên môn cho giáo viên hệ BT THPT thành phố Hải Phòng. 7. Giả thuyết nghiên cứu 6 Nếu vận dụng hợp lý, sáng tạo những biện pháp quản lí bồi dƣỡng chuyên môn cho giáo viên hệ bổ túc trung học phổ thông theo đúng huớng thì sẽ góp phần quan trọng trong việc đổi mới phƣơng pháp dạy học và giáo dục toàn diện học sinh, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ngành học GDTX thành phố Hải Phòng. 8. Phƣơng pháp nghiên cứu 8.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết 8.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 9. Kết quả nghiên cứu 9.1. Cơ sở lý luận về quản lí và việc quản lí bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên hệ bổ túc trung học phổ thông thành phố Hải Phòng 9.2. Thực trạng công tác quản lí chuyên môn giáo viên hệ bổ túc trung học phổ thông thành phố Hải Phòng 9.3. Đề xuất một số biện pháp quản lí bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên hệ bổ túc Trung học phổ thông thành phố Hải Phòng 10. Cấu trúc luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo luận văn trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lí bồi dƣỡng chuyên môn cho giáo viên hệ bổ túc trung học phổ thông thành phố Hải Phòng Chƣơng 3: Một số biện pháp quản bồi dƣỡng chuyên môn cho giáo viên hệ bổ túc trung học phổ thông thành phố Hải Phòng 7 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1. Một số khái niệm 1.1.1. Quản lí, quản lí giáo dục 1.1.1.1. Quản lí Quản lý là một dạng lao động xã hội mang tính đặc thù, gắn liền và phát triển cùng với lịch sử phát triển của loài ngƣời. Từ khi có sự phân công lao động trong xã hội đã xuất hiện một dạng lao động đặc biệt, đó là tổ chức, là điều khiển các hoạt động lao động theo yêu cầu nhất định. Dạng lao động mang tính đặc thù đó đƣợc gọi là hoạt động quản lý. “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ƣu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất”. F.W TayLor cho rằng: “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [4]. Theo thuyết quản lý hành chính của Henry Fayol thì: “Quản lý hành chính là dự báo và lập kế hoạch, tổ chức và điều khiển, phối hợp và kiểm tra” [4]. Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “ Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể ( người quản lý) đến khách thể quản lý ( người bị quản lý), nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [5, tr.1]. 8 Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp các lực lƣợng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh mẽ công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” [2]. Tuỳ theo cách phân loại khác nhau mà chúng ta có những khái niệm khác nhau về các lĩnh vực quản lý khác nhau. Phân loại về quản lý là vô cùng đa dạng và phức tạp. Mặc dù đa dạng, phức tạp và có nhiều khái niệm khác nhau nhƣ đã dẫn ở trên, nhƣng chúng ta có thể nhận thấy điểm chung của quản lý và các khái niệm đã đề cập là: - Quản lý bao giờ cũng có mục tiêu. Hoạt động quản lý đƣợc thực hiện với một tổ chức hay một nhóm xã hội. Đây là điểm hội tụ cho những hoạt động cùng nhau của xã hội loài ngƣời. - Quản lý là thực hiện những tác động có tính hƣớng đích từ chủ thể đến đối tƣợng yếu tố con ngƣời, trong đó ngƣời quản lý và ngƣời bị quản lý, giữ vai trò trung tâm trong hoạt động quản lý. - Nói đến hoạt động quản lý là phải nói tới công tác tổ chức: Xây dựng tổ chức, điều phối tổ chức, phát triển tổ chức...vì nếu không thì quản lý không có mục tiêu. Ngƣợc lại nói đến tổ chức là phải nói đến quản lý: Quản lý nhân, tài, vật lực của tổ chức, vì một tổ chức không có quản lý là tổ chức đã đi vào quá khứ, đã diệt vong. Quản lý nhằm hƣớng tới chất lƣợng tổng thể và hiệu quả bền vững, thích ứng với mọi sự thay đổi. Đòi hỏi nhà tổ chức, nhà quản lý vừa biết “làm việc” đúng và biết làm “đúng việc” theo trách nhiệm và bổn phận của mình. Suy nghĩ và hành động của nhà tổ chức, nhà quản lý không phải là tổ hợp của “Trái tim nóng, cái đầu nóng”, cũng không phải là tổ hợp của “Trái tim lạnh, cái đầu lạnh”, mà phải là “Cái đầu lạnh và trái tim hồng”. Từ những dấu hiệu đặc trƣng nêu trên, có thể hiểu: Quản lý là sự tác động hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý bằng tổ hợp những cách thức, những phƣơng pháp nhằm khai thác và sử dụng tối đa các tiềm 9 năng, các cơ hội của cá nhân cũng nhƣ của tổ chức, để đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức trong một môi trƣờng luôn biến đổi. 1.1.1.2. Quản lý giáo dục * Khái niệm Khái niệm quản lý giáo dục (QLGD) cũng có nhiều quan niệm khác nhau. - Quản lí giáo dục là quá trình tác động có chủ đích, hợp qui luật của chủ thể quản lí giáo dục/đối tƣợng (giáo dục nhà trƣờng) nhằm đạt đƣợc mục tiêu dự kiến. - Quản lý giáo dục đƣợc hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trƣờng) nhằm thực hiện có chất lƣợng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành Giáo dục. - Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hƣớng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trồi (emergence) của hệ thống ; sử dụng một cách tối ƣu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đƣ hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện đảm bảo sự cân bằng với môi trƣờng bên ngoài luôn luôn biến động. Dù có khác nhau về từ ngữ trong các định nghĩa, nhƣng bản chất của quản lý giáo dục là vận hành các hoạt động GD đạt đến mục tiêu đã định. QLGD là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lƣợng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo theo yêu cầu phát triển xã hội. Đó là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý, là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trƣờng trong hệ thống GD quốc dân nhằm thực hiện mục tiêu: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dƣỡng nhân tài. * Nội dung quản lý Nhà nước về giáo dục Quản lý nhà nƣớc về giáo dục là việc các cơ quan nhà nƣớc các cấp thực hiện quyền lực công của mình theo quy định của pháp luật, để điều hành các hoạt động giáo dục trong phạm vi toàn xã hội nhằm đạt đƣợc các mục tiêu của nhà nƣớc. Điều 100 của Luật Giáo dục đã quy định với quản lý nhà nƣớc về 10 giáo dục nhƣ sau: “Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về giáo dục. Chính phủ trình Quốc hội trước khi quyết định những chủ trương lớn có ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của công dân trong phạm vi cả nước, những chủ trương về cải cách nội dung chương trình của cả một cấp học; hàng năm báo cáo Quốc hội về hoạt động giáo dục và việc thực hiện ngân sách giáo dục” [27]. Bộ GD&ĐT chịu trách nhiệm trƣớc Chính phủ thực hiện quản lý nhà nƣớc về giáo dục. Bộ, cơ quan ngang bộ phối hợp với Bộ GD&ĐT thực hiện quản lý nhà nƣớc về giáo dục theo thẩm quyền. Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nƣớc về giáo dục sự phân cấp của Chính phủ và có trách nhiệm bảo đảm các điều kiện về đội ngũ nhà giáo, tài chính, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của các trƣờng công lập thuộc phạm vi quản lý, đáp ứng yêu cầu mở rộng quy mô, nâng cao chất lƣợng và hiệu quả giáo dục tại địa phƣơng. Nội dung quản lý nhà nƣớc về giáo dục đƣợc phân thành 2 cấp quy định tại Điều 99 của Luật Giáo dục: - Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lƣợc, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển giáo dục; - Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục; ban hành điều lệ nhà trƣờng; ban hành quy định về tổ chức và hoạt động của các cơ sở giáo dục khác; - Quy định mục tiêu, chƣơng trình, nội dung giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, tiêu chuẩn cơ sở vật chất và thiết bị trƣờng học; việc biên soạn, xuất bản, in và phát hành sách giáo khoa, giáo trình; quy chế thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ; - Tổ chức, quản lý việc bảo đảm chất lƣợng giáo dục và kiểm định chất lƣợng giáo dục; - Thực hiện công tác thống kê, thông tin về tổ chức và hoạt động giáo dục; - Tổ chức bộ máy quản lý giáo dục; 11 - Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dƣỡng, quản lý nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; - Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển sự nghiệp giáo dục; - Tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong lĩnh vực giáo dục; - Tổ chức, quản lý công tác quan hệ quốc tế về giáo dục; - Quy định việc tặng các danh hiệu thi đua cho những ngƣời có nhiều công lao đối với sự nghiệp giáo dục; - Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm luật về giáo dục [27]. Quản lý cơ sở giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (các cấp quản lý của hệ thống giáo dục) nhằm làm cho các cơ sở giáo dục vận hành theo nguyên lý giáo dục để đạt tới mục tiêu giáo dục đặt ra. Quản lý cơ sở giáo dục thực chất là quản lý tất cả các mặt, các khía cạnh liên quan đến hoạt động giáo dục và đào tạo trong phạm vi cơ sở giáo dục. Có thể phân tích nhà trƣờng nhƣ một hệ thống gồm 6 thành tố cơ bản kết hợp chặt chẽ với nhau: - Mục tiêu giáo dục; - Nội dung giáo dục; - Phƣơng pháp giáo dục; - Giáo viên; - Học viên; - Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học. Tóm lại: Nội dung quản lý nhà nƣớc về giáo dục thƣờng xuyên và cơ sở giáo dục thƣờng xuyên cũng bao hàm những nội dung quản lý nhà nƣớc về giáo dục nhƣ trên. 1.1.2. Bồi dưỡng và bồi dưỡng chuyên môn 1.1.2.1. Bồi dưỡng 12 Theo quan niệm của UNESCO: Bồi dƣỡng có ý nghĩa là nâng cao nghề nghiệp, quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kĩ năng chuyên môn - nghiệp vụ cho bản thân nhằm đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp [37]. Theo tác giả Nguyễn Minh Đƣờng trong Đề tài KX-07-14: Bồi dƣỡng là quá trình cập nhật; bổ sung những kiến thức và kỹ năng đã lạc hậu hoặc còn thiếu ở một cấp học, bậc học; thƣờng đƣợc xác nhận bằng một chứng chỉ[15]. Từ các quan niệm trên, ta thấy điểm khác biệt giữa đào tạo, đào tạo lại, bồi dƣỡng là: - Đào tạo: là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ... để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách năng suất và hiệu quả. - Đào tạo lại: cũng là quá trình hình thành và phát triển hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ... mới, nhằm tạo cho ngƣời lao động có cơ hội để học tập một lĩnh vực chuyên môn mới nhằm mục đích thay đổi công việc, thay đổi nghề; đào tạo lại giúp ngƣời lao động có khả năng thích ứng với điều kiện và hoàn cảnh mới. - Bồi dưỡng: chủ thể bồi dƣỡng đã đƣợc đào tạo để có trình độ chuyên môn nhất định. Bồi dƣỡng là quá trình cập nhật, bổ sung tri thức, kỹ năng, kỹ xảo để nâng cao trình độ trong lĩnh vực hoạt động chuyên môn nào đó qua hình thức đào tạo nào đó. Nhƣ vậy, mục đích của bồi dƣỡng là nhằm nâng cao năng lực phẩm chất và năng lực chuyên môn để ngƣời lao động có cơ hội củng cố, mở rộng và nâng cao hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn - nghiệp vụ đã có, từ đó nâng cao chất lƣợng, hiệu quả công việc đang làm. Trong hoạt động bồi dƣỡng thì yếu tố quyết định đến chất lƣợng các hoạt động vẫn là vai trò chủ thể của ngƣời đƣợc bồi dƣỡng thông qua con đƣờng tự học, tự đào tạo, tự bồi dƣỡng nhằm phát huy nội lực các nhân. 13 1.1.2.2. Chuyên môn Theo từ điển Tiếng Việt thì: chuyên môn là lĩnh vực riêng, những kiến thức riêng nói chung của một ngành khoa học kĩ thuật.[36] 1.1.2.3. Bồi dưỡng chuyên môn - Đây là quá trình tác động của các nhà quản lý giáo dục đến tập thể GV, tạo cơ hội cho các giáo viên tham gia các hoạt động dạy học, giáo dục, học tập trong và ngoài nhà trƣờng để cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ năng chuyên môn - nghiệp vụ; bồi dƣỡng tƣ tƣởng, tình cảm nghề nghiệp nhằm nâng cao phẩm chất và năng lực sƣ phạm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp GD-ĐT. - Có nhiều loại hình bồi dƣỡng cho GV, tuy nhiên theo chúng tôi thì có 4 loại hình cơ bản nhƣ sau: + Hoạt động bồi dƣỡng chuẩn hoá và nâng chuẩn. + Hoạt động bồi dƣỡng thƣờng xuyên theo chu kì. + Hoạt động bồi dƣỡng cập nhật tại trƣờng của tập thể sƣ phạm . + Hoạt động tự bồi dƣỡng của cá nhân. Trong thực tế, các Trung tâm GDTX thƣờng tiến hành theo hình thức bồi dƣỡng cụ thể sau: +Bồi dƣỡng tƣ tƣởng chính trị đạo đức, lí tƣởng nghề nghiệp. + Bồi dƣỡng chuyên môn - nghiệp vụ sƣ phạm. + Bồi dƣỡng kĩ năng hoạt động và nghệ thuật tiếp cận cá biệt và ứng xử trƣớc những tình huống sƣ phạm. Từ đó có thể nói: Bồi dƣỡng chuyên môn cho GV là con đƣờng, là cách thức tốt nhất để khai thác mọi tiềm năng và phát huy nội lực của tập thể đội ngũ GV trong nhà trƣờng nhằm thực hiện có kết quả mọi nhiệm vụ giáo dục, thực hiện tốt các mục tiêu, yêu cầu đào tạo của nhà trƣờng. 1.1.2.4. Quản lý việc bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên 14 - Mục đích của hoạt động quản lý bồi dƣỡng chuyên môn là không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho các tổ viên, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu nâng cao chất lƣợng dạy học, giáo dục. - Đổi mới nâng cao năng lực của giáo viên là khâu then chốt để thực hiện đổi mới chƣơng trình giáo dục phổ thông. Việc đổi mới chƣơng trình đƣợc tiến hành đồng bộ từ mục tiêu, nội dung, phƣơng pháp, phƣơng tiện; trong đó việc đổi mới phƣơng pháp dạy học là một công việc rất khó khăn và phức tạp. Đổi mới phƣơng pháp đòi hỏi giáo viên phải đầu tƣ nhiều hơn trong việc chuẩn bị một tiết dạy và nhất là phải chiến thắng thói quen cũ ở chính bản thân mình. Đồng thời, việc thiếu các điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất, tài chính cũng là những trở ngại chính của việc đổi mới. Chính vì vậy đòi hỏi phải có sự nỗ lực cao trong quá trình tổ chức thực hiện mà phòng chuyên môn, giám đốc và tổ chuyên môn phải là những ngƣời biết ủng hộ, tạo điều kiện tốt nhất cho giáo viên thực hiện nhiệm vụ dạy học. - Quản lý việc bồi dƣỡng chuyên môn cho giáo viên là một mặt của công tác quản lý đội ngũ GV, là quản lý quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra - đánh giá hoạt động bồi dƣỡng của các cấp, các tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình để đạt mục tiêu bồi dƣỡng đề ra. - Quản lý việc bồi dƣỡng chuyên môn cho GV gồm các nội dung sau: + Quản lý mục tiêu bồi dƣỡng, nội dung bồi dƣỡng, hình thức bồi dƣỡng. + Quản lý nề nếp hoạt động bồi dƣỡng của các tổ chuyên môn và cá nhân GV trong việc thực hiện nhiệm vụ bồi dƣỡng (chấp hành các nội quy, quy định, chế độ...). + Quản lý thực hiện kế hoạch bồi dƣỡng: kiểm tra - đánh giá, phát hiện nguyên nhân yếu kém; đề xuất biện pháp thực hiện; tổ chức thực hiện. 1.1.3. Giáo dục thường xuyên, Trung tâm Giáo dục thường xuyên 1.1.3.1. Giáo dục thường xuyên 15 Thuật ngữ “giáo dục thƣờng xuyên” (fermarent education) đƣợc hiểu là sự giáo dục dành cho hay tiến hành bởi những ngƣời đã hoàn thành vòng giáo dục ban đầu trong thời niên thiếu. Với tƣ cách trên, trong nhiều trƣờng hợp, thuật ngữ này đƣợc coi là đồng nghĩa với “giáo dục ngƣời lớn” (aduet education). Tuy nhiên, đây là một khái niệm mà nội hàm của nó đang phát triển và hoàn thiện dần. Khái niệm GDTX trong mỗi thời gian cũng đƣợc hiểu theo cách khác nhau và ở mỗi nƣớc cũng có cách hiểu khác nhau. Để thúc đẩy GDTX phát triển cả về quy mô và chất lƣợng, UNESCO khu vực Châu Á Thái Bình Dƣơng đã xây dựng một quan niệm về GDTX tƣơng đối phù hợp với các nƣớc trong vùng. Trong khuôn khổ của “chƣơng trình giáo dục cho mọi ngƣời: Châu Á Thái Bình Dƣơng, GDTX đƣợc hiểu là “ một khái niệm rộng lớn, bao gồm tất cả các cơ hội học tập và mọi ngƣời muốn hoặc cần có sau xoá mù chữ và giáo dục tiểu học”. Theo quan niệm này GDTX là một khái niệm rộng, bao gồm cả GDCQ (formal education), GDKCQ (non-formal education) và GDPCQ (informal educations) cho những ngƣời lớn hoặc thanh niên cần và có nhu cầu sau khi biết chữ hoặc tƣơng đƣơng tiểu học, không bao gồm XMC (illiteracy eradication). Định nghĩa này ta có thể hiểu là: - GDTX là dành cho ngƣời lớn (hoặc ngƣời đƣợc xã hội coi là ngƣời lớn). - GDTX đáp ứng các nhu cầu mong muốn học tập của mọi ngƣời. - GDTX có thể bao gồm những bộ phận do các bộ phận giáo dục chính quy, giáo dục không chính quy. - GDTX đƣợc định nghĩa là “cơ hội tham gia vào quá trình học tập suốt đời sau khi kết thúc tiểu học hoặc tƣơng đƣơng”. Định nghĩa trên cũng chứa đựng một gợi ý là XMC không thuộc lĩnh vực “GDTX”. Với quan niệm này của UNESCO khu vực thì GDTX và GDKCQ không đồng nhất với nhau. GDTX là một khái niệm rộng, nó vừa là GD chính 16 quy vừa là GD không chính quy và GD phi chính quy. Ba bộ phận này của GDTX không đứng riêng lẻ, tách rời nhau mà chúng xen kẽ, kế tiếp nhau trong suốt cuộc đời của mỗi ngƣời. Ở Việt Nam, thuật ngữ GDTX chƣa đƣợc phân biệt rạch ròi nhƣ thế, GDTX đƣợc hiểu và quan niệm dựa trên các bình diện khác nhau. Tại hội thảo về chiến lƣợc phát triển giáo dục đến năm 2020, báo cáo của Vụ giáo dục thƣờng xuyên - Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nêu: “Giáo dục thường xuyên được hiểu một cách khái quát là cung ứng cơ hội cho mọi người để học tập suốt đời nhằm thúc đẩy tài nguyên con người thông qua các chương trình XMC, chương trình tương tương, chương trình nâng cao chất lượng cuộc sống, chương trình tạo thu nhập, chương trình đáp ứng sở thích cá nhân, chương trình định hướng tương lai” [17]. Với quan niệm này, GDTX đồng nghĩa với giáo dục tiếp (continuing education), tức là mở rộng chủ yếu của xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học nhằm thúc đẩy sự phát triển tài nguyên con ngƣời. Giáo dục thƣờng xuyên có chức năng thay thế, nối tiếp, bổ sung và hoàn thiện kiến thức cho giáo dục chính quy. GDTX không phải hoạt động xảy ra một lần rồi chấm dứt mà là một quá trình kéo dài suốt cả cuộc đời. ở Việt Nam, nhiều thuật ngữ đã đƣợc sử dụng nhƣ “Bình dân học vụ, “Bổ túc văn hoá”, “Giáo dục bổ túc”, “Giáo dục phổ thông ngƣời lớn”, “Giáo dục thƣờng xuyên, “GDKCQ” đã phản ánh đƣợc sự tiến triển trong quan niệm về GDTX ở Việt Nam và xu thế hoà nhập với các nƣớc trong khu vực. Quan niệm về GDTX ngày càng mở rộng, từ chỗ chỉ quan tâm đến xoá mù chữ, bổ túc văn hoá, nay đã quan tâm đến nhiều loại hình học tập khác nhau. Qua những khái niệm trên ta có thể nói GDTX, học tập thƣờng xuyên sẽ mở rộng thành giáo dục suốt đời, học tập suốt đời, trở thành một nguyên tắc chi phối cả nền giáo dục, kết hợp hài hoà với nguyên tắc giáo dục cho mọi ngƣời, ai cũng đƣợc học hành. Đó chính là nguyên tắc cơ bản của nền giáo dục thế kỉ 21 của nƣớc ta. 17 1.1.3.2. Trung tâm Giáo dục thường xuyên Trung tâm GDTX đƣợc coi là đồng nghĩa với Trung tâm giáo dục ngƣời lớn. Hai thuật ngữ này đƣợc hiểu là diễn ra những hoạt động có tổ chức cho việc giáo dục ngƣời lớn. Trong Hội nghị về Trung tâm GDTX đƣợc tổ chức tại Sri Lanca tháng 11 năm 1994 đã định nghĩa: “Trung tâm GDTX là tổ chức giáo dục địa phƣơng, ngoài hệ thống giáo dục chính quy, thuộc các làng hoặc các cộng đồng thành phố, thƣờng đƣợc quản lý bởi nhân dân địa phƣơng, có nhiệm vụ cung cấp nguồn lực cho sự phát triển địa phƣơng và việc học tập định hƣớng theo gia đình và cung cấp thông tin về câu hỏi: Cái gì? Làm sao? ở đâu? Khi nào? Các cá nhân có thể tham gia vào các hình thức học tập khác nhau của GDTX”. Ở nƣớc ta, Trung tâm GDTX đƣợc hiểu là tổ chức căn bản của hệ thống GDTX. Vai trò của Trung tâm GDTX trong hệ thống GDTX cũng tƣơng tự nhƣ vai trò của nhà trƣờng trong hệ thống giáo dục chính quy truyền thống. Trung tâm GDTX vừa là nơi trực tiếp, vừa là đầu mối liên kết với các tổ chức khác nhau trong cộng đồng cung cấp các cơ hội học tập cho những ngƣời không có điều kiện học trong nhà trƣờng chính quy. Các Trung tâm GDTX đƣợc bố trí thành một mạng lƣới, mỗi Trung tâm GDTX phục vụ cho một địa bàn dân cƣ. Hiện nay trong hệ thống GDTX của nƣớc ta có các Trung tâm GDTX cấp tỉnh và Trung tâm GDTX cấp huyện. Tuy nhiên quan hệ giữa các Trung tâm GDTX này không phải là quan hệ “trên, dƣới” trong quản lý. 1.1.4. Giáo viên, giáo viên Bổ túc trung học phổ thông 1.1.4.1. Giáo viên Ngày 02/12/1998, Luật Giáo dục đầu tiên của nƣớc Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đƣợc ban hành và xác định rõ: - Nhà giáo là ngƣời làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trƣờng hoặc các cơ sở giáo dục khác. - Nhà giáo dạy ở các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, gọi là giáo viên. 18 1.1.4.2. Giáo viên bổ túc trung học phổ thông Giáo viên bổ túc trung học phổ thông là nhà giáo dạy ở các trung tâm giáo dục thƣờng xuyên. 1.2. Quan điểm của Đảng, Nhà nƣớc ta và thế giới về Giáo dục thƣờng xuyên 1.2.1. Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về Giáo dục thường xuyên Quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc về GDTX ở Việt Nam bắt đầu từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam đƣợc thành lập. Phong trào học chữ quốc ngữ, xóa nạn mù chữ cho ngƣời lớn phát triển mạnh mẽ. Trƣớc Cách mạng tháng Tám, cả nƣớc ta chỉ có 3% dân số đƣợc học hành, chủ yếu là những ngƣời đƣợc đào tạo ra nhằm phục vụ cho bộ máy cai trị của thực dân Pháp; do đó chống nạn thất học, nâng cao dân trí là nhiệm vụ cấp bách của Đảng và Nhà nƣớc ta. Ngay trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy tôi đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ”. Sau đó liên tục các sắc lệnh 17, 19, 20 đã ra đời nhằm chống nạn thất học, bắt buộc và miễn phí cho mọi ngƣời học chữ quốc ngữ. Cuối năm 1958, chiến dịch 3 năm (1956 - 1958) xoá mù chữ kết thúc, vùng đồng bằng và trung du miền Bắc đã căn bản xóa xong nạn mù chữ; 93,4% dân số từ 12 đến 50 tuổi đã biết đọc, viết chữ quốc ngữ. Sau chiến dịch xóa mù chữ, miền Bắc bƣớc vào giai đoạn phát triển với quy mô lớn, Đảng và Nhà nƣớc đã chỉ đạo tổ chức dạy bổ túc văn hoá nhằm nâng cao trình độ văn hóa cho đội ngũ cán bộ, công nhân - viên chức. Nghị quyết 93/TW, ngày 2/12/1959 của Trung ƣơng Đảng đã chỉ rõ: “Trình độ văn hóa thấp kém của cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo ngày càng trở ngại lớn đến công cuộc xây dựng miền Bắc và đấu tranh thống nhất nƣớc nhà. Yêu cầu bức thiết là phải ra sức đẩy mạnh và lãnh đạo tốt phong trào BTVH”. Chỉ thị 97 của Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng, ngày 18/5/1965 đã nêu rõ: “Công tác bổ túc văn hoá phải đƣợc đặt ra cấp thiết hơn trƣớc và bƣớc vào một thời kỳ phát triển mới. Trên miền Bắc, toàn dân đã đƣợc huy động thành một lực lƣợng sản xuất và chiến đấu hùng hậu, đang đòi hỏi có một trình độ 19
- Xem thêm -