Tài liệu Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty xây dựng cầu 75

  • Số trang: 80 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 39 |
  • Lượt tải: 0
hoangtuavartar

Tham gia: 05/08/2015

Mô tả:

NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN NGHIỆP CHUYÊN ĐỀ TỐT chuyªn ®Ò tèt nghiÖp LỜI NÓI ĐẦU Vốn là một yếu tố quan trọng quyết định đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Là chìa khoá, là điều kiện tiền đề cho các doanh nghiệp thực hiện các mục tiêu kinh tế của mình là lợi nhuận, lợi thế và an toàn. Trong nền kinh tế kế hoạch tập trung chóng ta chƣa đánh giá hết đƣợc vai trò thiết yếu của nó nên dẫn đến hiện tƣợng sử dụng vốn còn nhiều hạn chế, các doanh nghiệp Nhà Nƣớc hoạt động trong cơ chế này đƣợc bao tiêu cung ứng, chính vì thế hiệu quả sử dụng vốn không đƣợc chú ý đến, do đó không mang lại hiệu quả, làm lãng phí nguồn nhân lực . Hiện nay, đất nƣớc ta bƣớc vào thời kỳ đổi mới, cùng với việc chuyển dịch cơ chế quản lý kinh doanh đó là việc mở rộng quyền tự chủ, giao vốn cho các doanh nghiệp tự quản lý và sử dụng theo hƣớng lời ăn, lỗ thì chịu. Bên cạnh đó nƣớc ta đang trong quá trình hội nhập kinh tế, các doanh nghiệp đang đối mặt với cạnh tranh gay gắt, mọi doanh nghiệp đều thấy rõ điều này, Nhà Nƣớc và doanh nghiệp cùng bắt tay nhau hội nhập. Điều này đã tạo cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh. Bên cạnh những doanh nghiệp năng động, sớm thích nghi với cơ chế thị trƣờng đã sử dụng vốn có hiệu quả còn những doanh nghiệp khó khăn trong tình trạng sử dụng vốn có hiệu quả nguồn vốn. Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn không còn là khái niệm mới mẻ, nhƣng nó luôn đƣợc đặt ra trong suốt quá trình hoạt động của mình. Công ty xây dựng Cầu 75 – Thuộc Tổng Công ty Xây dựng công trình Giao thông 8 là một trong những doanh nghiệp nhà nƣớc thành công trong ngành xây dựng và luôn khảng định: Làm thế nào để sử dụng hiệu quả hơn nữa nguồn vốn kinh doanh. Chính vì lẽ đó, trong thời gian thực tập tại công ty em quyết định chọn đề tài: ― Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty xây dựng Cầu 75 “. Phạm vi nghiên cứu của đề tài chủ yếu đề cập đến hiệu quả sử dụng vốn, nâng cao công tác đầu tƣ và phát triển của doanh nghiệp, chuyên đề có sử dụng 1 NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN NGHIỆP CHUYÊN ĐỀ TỐT chuyªn ®Ò tèt nghiÖp phƣơng pháp thống kê phân tích kinh doanh phục vụ cho công tác phân tích các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh. Nội dung chủ yếu của chuyên đề ngoài phần mở đầu và kết luận đƣợc chia làm ba chƣơng : Chƣơng I: Những vấn đề lý luận cơ bản về vốn và hiệu quả sử dụng vốn. Chƣơng II: Phân tích tình hình thực tế về hiệu quả sử dụng vốn của Công ty xây dựng Cầu 75 . Chƣơng III: Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty xây dựng Cầu 75 Chuyên đề này đƣợc hoàn thành, song đây là một vấn đề khó mà thời gian nghiên cứu lại có hạn, do vậy không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong sự góp ý của các thầy cô giáo trong khoa Quản trị khinh doanh của trƣờng mà đặc biệt là sự quan tâm , giúp đỡ của giáo viên hƣớng dẫn GVC. Nguyễn Thị Thảo và Ban lãnh đạo Công ty xây dựng Cầu 75 . Hà Nội , ngày 16tháng 04 năm 2004. th¸ng 04 n¨m 2004. 2 NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN NGHIỆP CHUYÊN ĐỀ TỐT chuyªn ®Ò tèt nghiÖp CHƢƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN I VỐN VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VỐN TRONG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH I.1./ Khái niệm về vốn: Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển đƣợc đều cần phải có nguồn tài chính đủ mạnh, đây là một trong ba yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp có thể duy trì hoạt động của mình, nhiều quan niệm về vốn, nhƣ: Vốn là một khối lượng tiền tệ nào đó được ném vào lưu thông nhằm mục đích kiếm lời, tiền đó được sử dụng muôn hình muôn vẻ. Nhƣng suy cho cùng là để mua sắm tƣ liệu sản xuất và trả công cho ngƣời lao động, nhằm hoàn thành công việc sản xuất kinh doanh hay dịch vụ nào đó với mục đích là thu về số tiền lớn hơn ban đầu. Do đó vốn mang lại giá trị thặng dƣ cho doanh nghiệp. Quan điểm này đã chỉ rõ mục tiêu của quản lý là sử dụng vốn, nhƣng lại mang tính trừu tƣợng, hạn chế về ý nghĩa đối với hạch toán và phân tích quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp Theo nghĩa hẹp thì: vốn là tiềm lực tài chính của mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp, mỗi quốc gia. Theo nghĩa rộng thì: vốn bao gồm toàn bộ các yếu tố kinh tế được bố trí để sản xuất hàng hoá, dịch vụ như tài sản hữu hình, tài sản vô hình, các kiến thức kinh tế, kỹ thuật của doanh nghiệp được tích luỹ, sự khéo léo về trình độ quản lý và tác nghiệp của các cán bộ điều hành, cùng đội ngò cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp, uy tín của doanh nghiệp. Quan điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc khai thác đầy đủ hiệu quả của vốn trong nền kinh tế thị trƣờng. Tuy nhiên, việc xác định vốn theo quan điểm này rất khó khăn phức tạp nhất là khi nƣớc ta trình độ quản lý kinh tế còn chƣa cao và pháp luật chƣa hoàn chỉnh. 3 NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN NGHIỆP CHUYÊN ĐỀ TỐT chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Theo quan điểm của Mác thì: vốn (tư bản) không phải là vật, là tư liệu sản xuất, không phải là phạm trù vĩnh viễn. Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao động làm thuê. Để tiến hành sản xuất, nhà tƣ bản ứng tiền ra mua tƣ liệu sản xuất và sức lao động, nghĩa là tạo ra các yếu tố của quá trình sản xuất. Các yếu tố này có vai trò khác nhau trong việc tạo ra giá trị thặng dƣ. Mác chia tƣ bản thành tƣ bản bất biến và tƣ bản khả biến. Tƣ bản bất biến là bộ phận tƣ bản tồn tại dƣới hình thức tƣ liệu sản xuất (máy móc, thiết bị, nhà xƣởng,) mà giá trị của nó đƣợc chuyển nguyên vẹn vào sản phẩm. Còn tƣ bản khả biến là bộ phận tƣ bản tồn tại dƣới hình thức lao động, trong quá trình sản xuất thay đổi về lƣợng, tăng lên do sức lao động của hàng hoá tăng. Theo David Begg, Stenley Ficher, Rudiger Darubused trong cuốn (Kinh tế học) thì: vốn hiện vật là giá trị của hàng hoá đã sản xuất được sử dụng để tạo ra hàng hoá và dịch vụ khác. Ngoài ra còn có vốn tài chính. Bản thân vốn là một hàng hoá nhưng được tiếp tục sử dụng vào sản xuất kinh doanh tiếp theo. Quan điểm này đã cho thấy nguồn gốc hình thành vốn và trạng thái biểu hiện của vốn, nhƣng hạn chế cơ bản là chƣa cho thấy mục đích của việc sử dụng vốn. Một số nhà kinh tế học khác lại cho rằng: Vốn có nghĩa là phần lượng sản phẩm tạm thời phải hi sinh cho tiêu dùng hiện tại của nhà đầu tư, để đẩy mạnh sản xuất tiêu dùng trong tương lai. Quan điểm này chủ yếu phản ánh động cơ về đầu tƣ nhiều hơn là nguồn vốn và biểu hiện của nguồn vốn. Do vậy quan điểm này cũng không đáp ứng đƣợc nhu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng nhƣ phân tích vốn. Có thể thấy, các quan điểm khác nhau về vốn ở trên, một mặt thể hiện đƣợc vai trò tác dụng trong điều kiện lịch sử cụ thể với các yêu cầu, mục đích nghiên cứu cụ thể. Mặt khác, trong cơ chế thị trƣờng hiện nay, đứng trên phƣơng diện hạch toán và quản lý, các quan điểm đó chƣa đáp ứng đƣợc đầy đủ các yêu cầu về quản lý đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trên cơ sở phân tích các quan điểm về vốn ở trên, khái niệm cần thể hiện đƣợc các vấn đề sau đây: - Nguồn gốc sâu xa của vốn kinh doanh là một bộ phận của thu nhập quốc dân 4 NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN NGHIỆP CHUYÊN ĐỀ TỐT chuyªn ®Ò tèt nghiÖp đƣợc tái đầu tƣ, để phân biệt với vốn đất đai, vốn nhân lực. - Trong trạng thái của vốn kinh doanh tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh là tài sản vật chất (tài sản cố định và tài sản dự trữ) và tài sản tài chính (tiền mặt gửi ngân hàng, các tín phiếu, các chứng khoán) là cơ sở để ra các biện pháp quản lý vốn kinh doanh của doanh nghiệp một cách có hiệu quả. - Phải thể hiện đƣợc mục đích sử dụng vốn đó là tìm kiếm các lợi Ých kinh tế, lợi Ých xã hội mà vốn đem lại, vấn đề này sẽ định hƣớng cho quá trình quản lý kinh tế nói chung, quản lý vốn doanh nghiệp nói riêng. Từ những vấn đề nói trên,có thể nói quan niệm về vốn là: phần thu nhập quốc dân dưới dạng tài sản vật chất và tài chính được cá nhân, các doanh nghiệp bỏ ra để tiến hành sản xuất kinh doanh nhằm mục đích tối đa hoá lợi Ých. I.2./ Tầm quan trọng của vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh : Trong nền kinh tế thị trƣờng, mọi vận hành kinh tế đều đƣợc tiền tệ hoá, do vậy bất kỳ một quá trình sản xuất kinh doanh nào dù bất cứ cấp độ nào, gia đình, doanh nghiệp hay quốc gia luôn cần một lƣợng vốn nhất định dƣới dạng tiền tệ, tài nguyên đã đƣợc khai thác, bản quyền phát… Vốn là điều kiện tiền đề quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Vốn là cơ sở xác lập địa vị pháp lý của doanh nghiệp, vốn đảm bảo cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo mục tiêu đã định. I.2.1./Về mặt pháp lý: Mỗi doanh nghiệp khi muốn thành lập thì điều kiện đầu tiên là doanh nghiệp đó phải có một lƣợng vốn nhất định, lƣợng vốn đó tối thiểu phải bằng lƣợng vốn pháp định (lƣợng vốn tối thiểu mà pháp luật quy định cho từng loại doanh nghiệp) khi đó địa vị pháp lý mới đƣợc công nhận. Ngƣợc lại, việc thành lập doanh nghiệp không thể thực hiện đƣợc. Trƣờng hợp trong quá trình hoạt động kinh doanh, vốn của doanh nghiệp không đạt điều kiện mà pháp luật quy định, doanh nghiệp sẽ chấm dứt hoạt động nhƣ phá sản, sát nhập vào doanh nghiệp khác… Nhƣ vậy, vốn đƣợc xem là một trong những cơ sở quan trọng nhất để đảm bảo sự tồn tại tƣ cách pháp nhân của một doanh nghiệp trƣớc pháp luật . I.2.2./Về kinh tế: Trong hoạt động sản xuất kinh doanh vốn là mạch máu của doanh nghiệp quyết 5 NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN NGHIỆP CHUYÊN ĐỀ TỐT chuyªn ®Ò tèt nghiÖp định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Vốn không những đảm bảo khả năng mua sắm máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ phục vụ cho quá trình sản xuất mà còn đảm bảo cho hoạt động kinh doanh diễn ra một cách liên tục, thƣờng xuyên. Vốn là yếu tố quyết định đến mở rộng phạm vi hoạt động của doanh nghiệp. Để có thể tiến hành tái sản xuất mở rộng thì sau mét chu kỳ kinh doanh vốn của doanh nghiệp phải sinh lời, tức là hoạt động kinh doanh phải có lãi đảm bảo cho doanh nghiệp đƣợc bảo toàn và phát triển. Đó là cơ sở để doanh nghiệp tiếp tục đầu tƣ sản xuất, thâm nhập vào thị trƣờng tiềm năng từ đó mở rộng thị trƣờng tiêu thụ, nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thƣơng trƣờng. Nhận thức đƣợc vai trò quan trọng của vốn nhƣ vậy thì doanh nghiệp mới có thể sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả hơn và luôn tìm cách nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. I.3./ Đặc trƣng của vốn: Để tiến hành sản xuất kinh doanh cần có tƣ liệu lao động, đối tƣợng lao động và sức lao động, quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình kết hợp các yếu tố đó để tạo ra sản phẩm lao vụ, dịch vụ. Để tạo ra các yếu tố phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải có một lƣợng vốn nhất định ban đầu. Có vốn doanh nghiệp mới có thể tiến hành sản xuất kinh doanh, cũng nhƣ trả tiền lƣơng cho lao động sản xuất, sau khi tiến hành tiêu thụ sản phẩm doanh nghiệp dành một phần doanh thu để bù đắp giá trị tài sản cố định đã hao mòn, bù đắp chi phí vật tƣ đã tiêu hao và một phần để lập quỹ dự trữ cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh tiếp theo. Nhƣ vậy có thể thấy các tƣ liệu lao động và đối tƣợng lao động mà doanh nghiệp đầu tƣ cho mua sắm cho hoạt động sản xuất kinh doanh là hình thái hiện vật của vốn sản xuất kinh doanh. Vốn bằng tiền là tiền đề cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Do vậy vốn sản xuất kinh doanh mang đặc trƣng cơ bản sau: - Vốn phải đại diện cho một lƣợng tài sản nhất định có nghĩa là vốn đƣợc biểu hiện bằng giá trị tài sản hữu hình và tài sản vô hình của doanh nghiệp. - Vốn phải vận động sinh lời đạt đƣợc mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp. 6 NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN NGHIỆP CHUYÊN ĐỀ TỐT chuyªn ®Ò tèt nghiÖp - Vốn phải đƣợc tích tụ tập trung đến một lƣợng nhất định mới có thể phát huy tác dụng để đầu tƣ vào sản xuất kinh doanh. - Vốn có giá trị về mặt thời gian tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, vốn luôn biến động và chuyển hoá hình thái vật chất theo thời gian và không gian theo công thức : T - H - SX - H’ - T’ - Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định và phải đƣợc quản lý chặt chẽ. - Vốn phải đƣợc quan niệm nhƣ một hàng hoá đặc biệt có thể mua bán hoặc bán bản quyền sử dụng vốn trên thị trƣờng tạo nên sự giao lƣu sôi động trên thị trƣờng vốn, thị trƣờng tài chính. Nhƣ vậy vốn bắt đầu là hình thái tiền tệ chuyển sang hình thái vật tƣ hàng hoá là tƣ liệu lao động và đối tƣợng lao động trải qua quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm lao vụ hoặc dịch vụ vốn sang hình thái hoá sản phẩm. Khi tiêu thụ sản phẩm lao vụ dịch vụ xong vốn lại trở về hình thái tiền tệ. Do sự luân chuyển vốn không ngừng trong hoạt động sản xuất kinh doanh nên cùng một lúc vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thƣờng tồn tại dƣới nhiều hình thức khác nhau trong lĩnh vực sản xuất và lƣu thông. I.4./Phân loại vốn: I.4.1./Căn cứ theo nguồn hình thành vốn: a./ Vốn chủ sở hữu: Là số tiền vốn của các chủ sở hữu, các nhà đầu tƣ đóng góp, số vốn vay này không phải là một khoản nợ. Doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán, không phải trả lãi suất. Vốn chủ sở hữu đƣợc xác định là phần còn lại trong tài sản của doanh nghiệp sau khi trừ đi toàn bộ nợ phải trả tuỳ theo loại hình doanh nghiệp. Vốn chủ sở hữu đƣợc hình thành theo các cách khác nhau thông thƣờng nguồn vốn này bao gồm: +Vốn góp: là số vốn đóng góp của các thành viên tham gia thành lập doanh nghiệp sử dụng vào mục đích kinh doanh. Đối với các công ty liên doanh thì cần vốn góp của các đối tác liên doanh, số vốn này có thể bổ sung hoặc rút bớt trong quá trình kinh doanh. 7 NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN NGHIỆP CHUYÊN ĐỀ TỐT chuyªn ®Ò tèt nghiÖp +Lãi chưa phân phối: Là số vốn có từ nguồn gốc lợi nhuận, là phần chênh lệch giữa một bên là doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, từ hoạt động tài chính và từ hoạt động bất thƣờng khác và một bên là chi phí. Số lãi này trong khi chƣa phân phối cho các chủ đầu tƣ, trích quỹ thì đƣợc sử dụng trong kinh doanh vốn chủ sở hữu. b./Vốn vay : Là khoản vốn đầu tƣ ngoài vốn pháp định đƣợc hình thành từ nguồn đi vay, đi chiếm dụng từ các đơn vị cá nhân sau một thời gian nhất định doanh nghiệp phải hoàn trả cho ngƣời cho vay cả gốc lẫn lãi. Vốn vay có thể sử dụng hai nguồn chính: Vay của các tổ chức tài chính và phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Doanh nghiệp càng sử dụng nhiều vốn vay thì mức độ rủi ro càng cao nhƣng để phục vụ sản xuất kinh doanh thì đây là một nguồn vốn huy động lớn tuỳ thuộc vào khả năng thế chấp tình hình kinh doanh của doanh nghiệp. Thông thƣờng một doanh nghiệp phải phối hợp cả hai nguồn vốn trên để đảm bảo cho nhu cầu vốn kinh doanh của doanh nghiệp, kết hợp lý hai nguồn vốn này phụ thuộc vào ngành mà doanh nghiệp hoạt động cũng nhƣ quyết định của ngƣời quản lý trên cơ sở xem xét tình hình chung của nền kinh tế cũng nhƣ tình hình thực tế tại doanh nghiệp. I.4.2./ Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn: a./Nguồn vốn thường xuyên: Đây là nguồn vốn mang tính ổn định và lâu dài mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đầu tƣ vào TSCĐ và một bộ phận tài sản lƣu động tối thiểu cần thiết cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn vay dài hạn của doanh nghiệp. b.Nguồn vốn tạm thời: Đây là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng tạm thời, bất thƣờng phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này thƣờng gồm các khoản vay ngắn hạn, các khoản chiếm dụng của bạn hàng. Theo cách phân loại này còn giúp cho doanh nghiệp lập kế hoạch tài chính, hình thành nên những dự định về tổ nguồn vốn trong tƣơng lai trên cơ sở xác định về quy mô số lƣợng vốn cần thiết, lùa chọn nguồn vốn và quy 8 NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN NGHIỆP CHUYÊN ĐỀ TỐT chuyªn ®Ò tèt nghiÖp mô thích hợp cho từng nguồn vốn đó, khai thác những nguồn tài chính tiềm tàng, tổ chức sử dụng vốn có hiệu quả cao. I.4.3./ Căn cứ vào phạm vi nguồn hình thành: a./ Nguồn vốn bên trong nội bộ doanh nghiệp : Là nguồn vốn có thể huy động từ hoạt động của bản thân doanh nghiệp bao gồm khấu hao tài sản, lợi nhuận để lại, các khoản dự trữ, dự phòng, các khoản thu từ nhƣợng bán, thanh lý tài sản cố định. b./ Nguồn vốn hình thành từ ngoài doanh nghiệp: Là nguồn vốn mà doanh nghiệp huy động từ bên ngoài đáp ứng nhu cầu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm: - Nguồn tín dụng từ các khoản vay nợ có kỳ hạn mà các ngân hàng hay tổ chức tín dụng cho doanh nghiệp vay và có nghĩa vụ hoàn trả các khoản tiền vay nợ theo đúng kỳ hạn quy định. - Nguồn vốn từ liên doanh liên kết giữa các doanh nghiệp gồm nguồn vốn vay có đƣợc do doanh nghiệp liên doanh, liên kết từ các doanh nghiệp để phục vụ cho việc mở rộng sản xuất kinh doanh. - Nguồn vốn huy động từ thị trƣờng vốn thông qua việc phát hành trái phiếu, cổ phiếu. Việc phát hành những chứng khoán có giá trị này cho phép các doanh nghiệp có thể thu hót số tiền rộng rãi nhàn rỗi trong xã hội phục vụ cho huy động vốn dài hạn của doanh nghiệp. Dùa theo cách phân loại này cho phép các doanh nghiệp thấy đƣợc những lợi thế giúp doanh nghiệp có thể chủ động trong việc huy động nguồn vốn. Đồng thời do nhu cầu thƣờng xuyên cần vốn doanh nghiệp phải tích cực huy động vốn, không trông chờ ỷ lại vào các nguồn vốn sẵn có. Đối với các nguồn vốn bên trong doanh nghiệp có thể toàn quyền tự chủ sử dụng vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh và phát triển của doanh nghiệp mà không phải trả chi phí cho việc sử dụng vốn. Tuy nhiên, điều này dễ dẫn đến việc sử dụng vốn kém hiệu quả. Huy động vốn từ bên ngoài tạo cho doanh nghiệp có cơ cấu tài chính linh hoạt. Do doanh nghiệp phải trả một khoản chi phí sử dụng vốn nên doanh nghiệp phải cố gắng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Chính vì thế, doanh nghiệp có thể vay vốn từ bên ngoài để làm tăng nội lực vốn bên trong. 9 NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN NGHIỆP CHUYÊN ĐỀ TỐT chuyªn ®Ò tèt nghiÖp I.4.4.Căn cứ vào công dụng kinh tế của vốn : a./ Vốn cố định: Là mét bộ phận vốn đầu tƣ ứng trƣớc về tài sản cố định và tài sản đầu tƣ cơ bản mà điểm luân chuyển từng phần trong chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hình thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời hạn sử dụng. b./ Vốn lưu động : Là bộ phận sản xuất kinh doanh ứng ra để mua sắm các tƣ liệu lao động nhằm phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp I.5./ Cơ cấu vốn : Là thuật ngữ dùng để chỉ một doanh nghiệp sử dông vốn lưu động và vốn cố định theo một tỷ lệ nào đó. I.5.1./ Cơ cấu vốn cố định: Là một bộ phận của sản xuất kinh doanh ứng ra hình thành TSCĐ của doanh nghiệp. Vốn cố định là một khoản đầu tƣ ứng ra trƣớc để mua sắm TSCĐ có hình thái vật chất và TSCĐ không có hình thái vật chất. I.5.2./Cơ cấu vốn lƣu động: Là mét bộ phận của vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, ứng ra để mua sắm TSLĐ sản xuất và TSLĐ lƣu thông nhằm phục vụ cho sản xuất. Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn hoạt động có hiệu quả, muốn nâng cao khả năng sử dụng vốn đều phải xác định cho mình một cơ cấu vốn hợp lý.Tuy nhiên tuỳ từng loại hình doanh nghiệp khác nhau có một cơ cấu vốn khác nhau. Nếu doanh nghiệp sản xuất thì tỷ lệ cố định sẽ lớn hơn so với vốn lƣu động, còn đối với doanh nghiệp thƣơng mại thì cần số vốn lƣu động lớn hơn. Nếu các doanh nghiệp thƣơng mại này không xác định đƣợc cơ cấu vốn hợp lý, họ đầu tƣ mua sắm TSCĐ quá nhiều dẫn đến vốn cố định lớn, điều này cho lãng phí đầu tƣ không có hiệu quả vì đầu tƣ cho TSCĐ cần một lƣợng vốn lớn, thời gian thu hồi vốn lâu, tuy nhiên, nếu đây là doanh nghiệp sản xuất thì cơ cấu vốn này là đƣợc bởi vì đầu tƣ trang bị kỹ thuật sản xuất kinh doanh sẽ tạo điều kiện giải phóng sức lao động, 10 NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN NGHIỆP CHUYÊN ĐỀ TỐT chuyªn ®Ò tèt nghiÖp nâng cao chất lƣợng sản phẩm do đó tạo điều kiện cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phát triển và tăng trƣởng. II./ Các nguồn huy động vốn: II.1./Tự cung ứng: Cung ứng vốn nội bộ là phƣơng thức tự cung cấp vốn của doanh nghiệp. Trong các doanh nghiệp các phƣơng thức tự cung ứng vốn cụ thể là: II.1.1.Khấu hao tài sản cố định: Tài sản cố định là những tƣ liếu lao động tham gia vào nhiều quá trình sản xuất. Trong quá trình sử dụng, tài sản cố định bị hao mòn dần và chuyển dần giá trị vào giá thành sản phẩm. Hao mòn tài sản cố định là một quá trình mang tính khách quan, phụ thuộc vào nhân tố nhƣ chất lƣợng của bản thân tài sản cố định, các yếu tố tự nhiên, cƣờng độ sử dụng tài sản cố định,…Trong quá trình sử dụng tài sản cố định doanh nghiệp phải xác định độ hao mòn của chúng để chuyển dần giá trị hao mòn vào giá trị của sản phẩm đƣợc sản sản xuất ra từ tài sản cố định đó. Việc xác định mức khấu hao tài sản cố định phụ thuộc vào thực tiễn sử dụng tài sản cố định đó cũng nhƣ ý muốn chủ quan của con ngƣời. Đối với các doanh nghiệp Nhà Nƣớc trong quá trình khấu hao tài sản cố định phụ thuộc vào ý đồ của Nhà Nƣớc thông qua quy định, chính sách cụ thể của cơ quan tài chính trong từng thời kỳ. Các doanh nghiệp khác có thể tự lùa chọn thời hạn sử dụng và phƣơng pháp tính khấu hao cụ thể. Trong chính sách tài chính cụ thể ở từng thời kỳ, doanh có thể lùa chọn và điều chỉnh khấu hao tài sản cố định và coi đây là công cụ điều chỉnh cơ cấu vốn bên trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, cần chú ý rằng việc điều chỉnh khấu hao không thể diễn ra một cách tuỳ tiện, không có kế hoạch mà phải dùa trên các kế hoạch tài chính dài hạn và ngắn hạn đã xác định. Mặt khác, cần chú ý rằng điều chỉnh tăng khấu hao tài sản cố định sẽ dẫn đến tăng chi phí kinh doanh khấu hao tài sản cố định trong giá thành sản phẩm nên luôn khống chế bởi giá bán sản phẩm. II.1.2./ Tích luỹ tái đầu tư: Tích luỹ tái đầu tƣ luôn đƣợc các doanh nghiệp coi là nguồn tự cung ứng tài chính quan trọng vì nó có ƣu điểm cơ bản sau: - Doanh nghiệp có thể hoàn toàn chủ động. - Giảm sự phụ thuộc vào các nhà cung ứng. - Giúp các doanh nghiệp tăng thêm tiềm lực tài chính làm giảm tỉ lệ nợ/vốn. 11 NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN NGHIỆP CHUYÊN ĐỀ TỐT chuyªn ®Ò tèt nghiÖp - Càng có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong điều kiện chƣa tạo đƣợc uy tín với các nhà cung ứng tài chính. Quy mô tự cung ứng vốn tích luỹ tái đầu tƣ tuỳ thuộc vào hai nhân tố chủ yếu là tổng số lợi nhuận thu đƣợc trong từng thời kỳ kinh doanh cụ thể và chính sách phân phối lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp. Tổng số lợi nhuận cụ thể thu đƣợc trong từng thời kỳ phụ thuộc vào quy mô kinh doanh, chất lƣợng hoạt động kinh doanh của từng doanh nghiệp trong từng thời kỳ đó. Chính sách phân phối lợi nhuận trƣớc hết tuỳ thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp. II.2./ Các phƣơng thức cung ứng từ bên ngoài: II.2.1./Cung ứng vốn từ ngân sách Nhà Nước: Với hình thức cung ứng từ ngân sách Nhà Nƣớc doanh nghiệp sẽ nhận đƣợc lƣợng vốn xác định từ ngân sách Nhà Nƣớc cấp. Thông thƣờng hình thức này không đòi hỏi nhiều điều kiện ngặt nghèo đối với doanh nghiệp đƣợc cấp vốn nhƣ các hình thức vốn huy động khác nhau. Tuy nhiên, càng ngày hình thức cung ứng vốn từ ngân sách Nhà Nƣớc đối với các doanh nghiệp ngày càng thu hẹp cả về quy mô vốn và phạm vi cung cấp vốn. Hiện nay, đối với tƣợng đƣợc cung cấp vốn theo hình thức này thƣờng phải là các doanh nghiệp Nhà Nƣớc xác định duy trì để đóng vai trò điều tiết nền kinh tế; các dự án đầu tƣ ở lĩnh vực sản xuất hàng hoá công cộng, hoạt động công Ých mà tƣ nhân không muốn và không có khả năng đầu tƣ; các dự án lớn có tầm quan trọng đặc biệt do Nhà Nƣớc đầu tƣ. II.2.2./ Gọi hùn vốn qua phát hành cổ phiếu: Gọi hùn vốn qua phát hành cổ phiếu là hình thức doanh nghiệp đƣợc cung ứng trực tiếp từ thị trƣờng chứng khoán. Khi có cầu về vốn và lùa chọn hình thức này, doanh nghiệp tính toán và phát hành cổ phiếu, bán trên thị trƣờng chứng khoán. Hình thức cung ứng vốn này có đặc trƣng cơ bản là tăng vốn không làm tăng nợ của doanh nghiệp bởi những ngƣời chủ sở hữu cổ phiếu thành những cổ đông của doanh nghiệp. Vì lẽ này nhiều nhà quản trị học coi hình thức gọi hình thức hùn vốn qua phát hành cổ phiếu là nguồn cung ứng vốn nội bộ. Tuy nhiên, không phải mọi doanh nghiệp đƣợc phép khai thác nguồn vốn này mà chỉ những doanh nghiệp đƣợc phát hành cổ phiếu (công ty cổ phần, doanh nghiệp Nhà Nƣớc có quy mô lớn). 12 NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN NGHIỆP CHUYÊN ĐỀ TỐT chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Hình thức huy động vốn qua phát hành cổ phiếu có ƣu điểm rất lớn là tập hợp đƣợc lƣợng vốn ban đầu và dễ tăng vốn trong quá trình kinh doanh, quyền sở hữu vốn tách khỏi quản trị một cách một tƣơng đối nên bộ máy quản trị doanh nghiệp đƣợc toàn quyền sử dụng vốn có hiệu quả nguồn vốn này. Bên cạnh đó, hình thức gọi hùn vốn qua phát hành cổ phiếu có hạn chế là doanh nghiệp phải có nghĩa vụ khai háo thông tin tài chính theo luật doanh nghiệp; Khi thừa vốn không hoặc chƣa sử dụng đến doanh nghiệp không hoàn trả lại đƣợc vì vậy, khi có nhu cầu gọi hùn vốn qua phát hành cổ phiếu đòi hỏi doanh nghiệp phải tính toán, cân nhắc. Mặt khác, hình thức huy động vốn này có thể làm cổ tức giảm cho nên doanh nghiệp phải có quy mô lớn hứa hẹn lợi nhuận cao mới dễ bán cổ phiếu trên thị trƣờng. II.2.3.Vay vốn bằng phát hành trái phiếu trên thị trường vốn : Hình thức vay vốn bằng phát hành trái phiếu trên thị trƣờng vốn là hình thức cung ứng vốn trực tiếp từ công chúng: doanh nghiệp phát hành lƣợng vốn cần thiết dƣới hình thức trái phiếu thƣờng có kỳ hạn xác định và bán cho công chúng. Khác với hình thức phát hành cổ phiếu, hình thức phát hành cổ phiếu với đặc điểm là tăng vốn và tăng nợ của doanh nghiệp. Vay vốn bằng phát hành trái phiếu có những ƣu điểm chủ yếu là: có thể thu hót một lƣợng vốn lớn cần thiết, chi phí kinh doanh sử dụng vốn thấp hơn so với vay ngân hàng, không bị ngƣời cung ứng kiểm soát chặt chẽ nhƣ vay ngân hàng và doanh nghiệp có thể lùa chọn trái phiếu thích hợp với yêu cầu của mình. Tuy nhiên, hình thức huy động từ phát hành trái phiếu cũng có những hạn chế nhất định. Hình thức này đòi hỏi doanh nghiệp nắm chắc kỹ thuật tài chính để tránh áp lực nợ đến hạn trả và vẫn có lợi nhuận, đặc biệt khi nền kinh tế suy thoái, lạm phát cao. Chi phí kinh doanh phát hành cổ phiếu khá cao vì doanh nghiệp cần trợ giúp của một (một số) ngân hàng thƣơng mại. Doanh nghiệp phải tính toán thoả mãn điều kiện: Tài sản cố định phải nhỏ hơn tổng số vốn và nợ dài hạn của doanh nghiệp. Mặt khác, không phải mọi doanh nghiệp mà chỉ những doanh nghiệp nào thoả mãn điều kiện theo luật định mới đƣợc phép phát hành trái phiếu. II.2.4./ Vay vốn từ ngân hàng thương mại: Vay vốn từ ngân hàng thƣơng mại là hình thức doanh nghiệp vay vốn dƣới hình thức ngắn hạn, trung hạn, dài hạn từ các ngân hàng thƣơng mại, đây là mối quan hệ tín dụng giữa một bên cho vay và một bên đi vay. 13 NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN NGHIỆP CHUYÊN ĐỀ TỐT chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Với hình thức vay vốn từ ngân hàng thƣơng mại doanh nghiệp có thể huy động đƣợc một lƣợng vốn lớn, đúng hạn và có thể mời các ngân hàng cùng tham gia thẩm định dự án nếu có cầu vay đầu tƣ lớn. Bên cạnh đó để có thể vay vốn từ ngân hàng thƣơng mại đòi hỏi doanh nghiệp phải có uy tín lớn, kiên trì đàm phán, chấp nhận các thủ tục ngặt nghèo. Trong quá trình sử dụng vốn, doanh nghiệp phải tính toán trả nợ ngân hàng theo đúng kế hoạch. Mặt khác, khi doanh nghiệp vay vốn ở các ngân hàng thƣơng mại có thể bị ngân hàng thƣơng mại đòi hỏi quyền kiểm soát các hoạt động của doanh nghiệp trong thời gian cho vay, chẳng hạn; - Ngân hàng cho vay có thể khống chế giá trị TSCĐ để tránh ―ngâm vốn‖, tránh rủi ro; - Doanh nghiệp sẽ không đƣợc vay thêm dài hạn nếu không có sự đồng ý của ngân hàng cho vay; - Doanh nghiệp không đƣợc đem thế chấp tài sản nếu không có sự đồng ý của ngân hàng cho vay; - Ngân hàng cho vay có áp đặt cơ chế kiểm soát chi phối hoạt động đầu tƣ để phòng ngõa doanh nghiệp sử dụng vốn bừa bãi; - Ngân hàng cho vay có thể đòi hỏi can thiệp vào sự thay đổi ban lãnh đạo của doanh nghiệp;… II.2.5./Tín dụng thương mại từ các nhà cung cấp: Trong hoạt động kinh doanh do đặc điểm quá trình cung ứng hàng hoá và thanh toán không thể khi nào cũng phải diễn ra đồng thời nên tín dụng thƣơng mại tồn tại là một nhu cầu khách quan. Thực chất, luôn diễn ra đồng thời doanh nghiệp nợ khách hàng tiền và chiếm dụng tiền của khách hàng. Nếu số tiền doanh nghiệp chiếm dụng của khách hàng lớn hơn số tiền doanh nghiệp bị chiếm dụng thì số tiền dƣ ra sẽ mang bản chất tín dụng thƣơng mại. Có các hình thức tín dụng thƣơng mại chủ yếu sau: Thứ nhất, doanh nghiệp mua máy móc thiết bị theo phƣơng thức trả chậm. Sẽ chỉ có hình thức tín dụng này nếu đƣợc ghi rõ trong hợp đồng mua bán về giá cả, số lần trả và số tiền trả mỗi lần, khoảng cách giữa các lần trả tiền. Nhƣ thế, doanh nghiệp có máy móc thiết bị sử dụng ngay nhƣng tiền chƣa phải trả ngay, số tiền chƣa trả là số tiền mà doanh nghiệp chiếm dụng đƣợc của ngƣời cung ứng. Trong môi trƣờng kinh doanh hiện nay, với nhiều mặt hàng thì mua bán chƣa phải trả ngay đƣợc coi là chiến lƣợc maketing của ngƣời bán cho nên doanh nghiệp dễ dàng tìm kiếm tín dụng từ loại này. Đặc biệt, khi thị trƣờng có nhiều nhà cung 14 NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN NGHIỆP CHUYÊN ĐỀ TỐT chuyªn ®Ò tèt nghiÖp ứng cạnh tranh với nhau doanh nghiệp càng có lợi thế về giá cả, kỳ hạn trả,… Khi quá trình này diễn ra một cách thƣờng xuyên thì nguồn chiếm dụng này nhƣ là một nguồn tín dụng trung hoặc dài hạn. Với phƣơng thức tín dụng này doanh nghiệp có thể đầu tƣ chiều sâu với vốn Ýt mà không ảnh hƣởng tới tình hình tài chính của mình. Hình thức tín dụng mua máy móc thiết bị theo phƣơng thức trả chậm lại càng có ý nghĩa với các doanh nghiệp vừa và nhỏ thiếu các điều kiện để vay vốn từ các nguồn khác. Bên cạnh đó, hình thức mua máy móc thiết bị theo phƣơng thức trả chậm có những hạn chế nhất định. Chẳng hạn, mua theo phƣơng thức này doanh nghiệp sẽ phải chịu chi phí kinh doanh sử dụng vốn khá cao. Mặt khác, doanh nghiệp chỉ có thể mua theo hình thức trả chậm nếu doanh nghiệp có uy tín, có truyền thống tín dụng sòng phẳng cũng nhƣ tình hình tài chính lành mạnh. Thứ hai, Vốn khách hàng ứng trƣớc. Trong quá trình kinh doanh, khi ký hợp đồng đặt hàng khách hàng thƣờng phải đặt cọc trƣớc một số tiền nhất định, số tiền đặt cọc này doanh nghiệp đƣợc sử dụng mặc dù chƣa sản xuất và cung cấp sản phẩm (dịch vụ) cho khách hàng. Tuỳ theo lƣợng mua hàng của khách hàng, thông thƣờng doanh nghiệp tín dụng từ hai nguồn: - Vốn ứng trƣớc của khách hàng lớn, - Vốn ứng trƣớc của ngƣời tiêu dùng. Thông thƣờng số vốn chiếm dụng này là không lớn. Mặt khác, để sản xuất hàng hoá hoặc dịch vụ doanh nghiệp phải đặt hàng (nguyên vật liệu,…) nên lại bị ngƣời cấp hàng chiếm dụng vốn của doanh nghiệp cũng theo hình thức này nên các quá trình kinh doanh diễn ra bình thƣờng thì diễn ra bình thì số dƣ vốn chiếm dụng này là không lớn. Tuy nhiên, kinh doanh trong thị trƣờng hiện tại đòi hỏi doanh nghiệp phải tính toán, cân nhắc rất cẩn thận vì không chỉ tồn tại lƣợng vốn nhất định khách hàng chiếm dụng lại khi mua hàng của doanh nghiệp nhiều khi là rất lớn. II.2.6.Tín dụng thuê mua (leasing): Trong cơ chế kinh tế thị trƣờng phƣơng thức tín dụng thuê mua đƣợc thực hiện giữa một doanh nghiệp có cầu sử dụng máy móc, thiết bị với một doanh nghiệp thực hiện chức năng thuê mua diễn ra khá phổ biến. Sở dĩ hình thức thuê mua diễn ra khá phổ biến vì nó đáp ứng đƣợc yêu cầu cơ bản của bên có cầu 15 NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN NGHIỆP CHUYÊN ĐỀ TỐT chuyªn ®Ò tèt nghiÖp (doanh nghiệp muốn thuê mua thiết bị) và bên đáp ứng cầu (doanh nghiệp thực hiện chức năng thuê mua). Hình thức tín dụng thuê mua có ƣu điểm rất cơ bản là giúp doanh nghiệp sử dụng vốn đúng mục đích, khi nào doanh nghiệp có cầu về sử dụng máy móc thiết bị cụ thể mới đặt vấn đề thuê mua và chỉ ký hợp đồng thuê mua trong khoảng thời gian thích hợp. Doanh nghiệp không chỉ nhận đƣợc máy móc thiết bị mà còn nhận đƣợc tƣ vấn đào tạo và hƣớng dẫn kỹ thuật cần thiết từ doanh nghiệp thực hiện chức năng thuê mua. Doanh nghiệp sử dụng máy móc thiết bị có thể tránh đƣợc những tổn thất do mua máy móc thiết bị không đúng đƣợc yêu cầu hoặc hay do mua nhầm. Doanh nghiệp sử dụng máy móc thiết bị cần thiết mà không phải đầu tƣ một lần với vốn lớn. Mặt khác, doanh nghiệp sử dụng máy móc thiết bị có thể giảm đƣợc tỷ lệ nợ/vốn vì tránh phải vay ngân hàng thƣơng mại. Trong quá trình sử dụng máy móc, thiết bị doanh nghiệp sử dụng có thể thoả thuận tái thuê với doanh nghiệp có chức năng thuê mua; tức là doanh nghiệp sử dụng bán một phần tài sản thiết bị cho doanh nghiệp thuê mua rồi lại thuê lại để tiếp tục sử dụng tài sản thiết bị đó. Với phƣơng thức thuê mua doanh nghiệp sử dụng có thể nhanh chóng đổi mới tài sản cố định, nâng cao khả năng cạnh tranh của mình. II.2.7./ Vốn liên doanh, liên kết: Với phƣơng thức này doanh nghiệp liên doanh, liên kết với một (một số) doanh nghiệp khác nhằm tạo vốn cho một (một số) hoạt động (dự án) liên doanh nào đó. Các bên liên doanh ký hợp đồng liên doanh với các hoạt động cụ thể về phƣơng thức hoạt động, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên có giá trị trong một khoảng thời gian nào đó. Khi hết hạn, hợp đồng liên doanh hết hiệu lực. Với phƣơng thức liên doanh, liên kết doanh nghiệp có một lƣợng vốn lớn cần thiết cho một(một số) hoạt động nào đó mà không làm tăng nợ.Vì vậy, nhiều nhà quản trị học cho rằng phƣơng thức này có thể đƣợc coi là phƣơng thức cung ứng vốn nội bộ.Trong quá trình hoạt động, các bên liên doanh cùng chia sẻ rủi ro. Bên cạnh đó, phƣơng thức liên doanh, liên kết cũng có những hạn chế nhất định. Chẳng hạn, huy động vốn theo phƣơng thức này tất sẽ dẫn đến các bên liên doanh cùng tham gia kinh doanh và cùng chia sẻ lợi nhuận thu đƣợc. II.2.8./Cung ứng từ sự kết hợp cung và tư trong XD cơ sở hạ tầng (phương thức BOT): Phƣơng thức cung ứng vốn từ sự kết hợp công tƣ trong xây dƣng cơ sở hạ tầng có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp hoạt động trong ngành xây dựng cơ sở hạ 16 NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN NGHIỆP CHUYÊN ĐỀ TỐT chuyªn ®Ò tèt nghiÖp tầng. Thực tế, có thể có nhiều hình thức kết hợp khác nhau với cách thức tiến hành cụ thể khác nhau. Đó là cách thức: 1. Xây dùng – sở hữu- chuyển giao (BOT). 2. Xây dùng – sở hữu- điều hành- chuyển giao (BOOT), 3. Xây dùng – chuyển giao - điều hành (BTO), 4. Xây dùng – sở hữu- điều hành (BOO), 5. Xây dựng- sở hữu- bán (BSO). Tuỳ theo hoàn cảnh thực tế doanh nghiệp có thể lùa chọn quyết định hình thức cụ thể thích hợp. Lùa chọn phƣơng thức này, doanh nghiệp phải thoả mãn các điều kiện nhất định. II.2.9./Nguồn vốn nước ngoài đầu tư trực tiếp (FDI): Trong cơ chế kinh tế mở, từ khi có Luật đầu tƣ nƣớc ngoài, các doanh nghiệp trong nƣớc còn có thể cung ứng vốn bằng phƣơng thức các doanh nghiệp (tổ chức kinh tế) nƣớc ngoài đầu tƣ trực tiếp. Với nguồn vốn nƣớc ngoài đầu tƣ trực tiếp doanh nghiệp không chỉ nhận đƣợc vốn mà còn nhận đƣợc cả kỹ thuật – công nghệ cũng nhƣ phƣơng thức quản trị tiên tiến. Hơn nữa, doanh nghiệp cũng đƣợc chia sẻ thị trƣờng xuất khẩu. Tuy nhiên, huy động vốn bằng nguồn vốn nƣớc ngoài đầu trực tiếp doanh nghiệp sẽ chịu sự kiểm soát điều hành của doanh nghiệp (tổ chức kinh tế) cấp vốn. Mức độ kiểm soát điều hành của doanh nghiệp (tổ chức kinh tế) nƣớc ngoài phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn của họ. Mặt khác, mà một doanh nghiệp trong nƣớc vấp phải là doanh nghiệp khó tìm đƣợc đối tác nƣớc ngoài thích hợp nhằm phát huy ƣu thế mỗi bên. Vấn đề duy trì mối quân hệ hợp tác trong khoảng thời gian dài là bao nhiêu cũng là vấn đề các doanh nghiệp cần cân nhắc một cách thận trọng. II.2.10./ Nguồn vốn ODA: Cuối cùng là phƣơng thức cung ứng của doanh nghiệp bằng nguồn vốn ODA. Đối tác mà doanh nghiệp có thể tìm kiếm và nhận đƣợc nguồn vốn này là các chƣơng trình hợp tác của chính phủ, các tổ chức phi chính phủ hoặc các tổ chức quốc tế khác. Hình thức cấp vốn ODA có thể là hình thức viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay có diều kiện ƣu đãi về lãi suất và thời gian thanh toán. Nếu doanh nghiệp đƣợc vay từ nguồn vốn ODA có thể chịu mức lãi suất thƣờng trong khoảng 1%1,5%/năm, phí ngân hàng thƣờng là 0,2-0,3%/năm trong thời hạn có thể từ 10-20 năm và có thể đƣợc gia hạn thêm. 17 NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN NGHIỆP CHUYÊN ĐỀ TỐT chuyªn ®Ò tèt nghiÖp Hình thức huy động vốn từ nguồn ODA có chi phí kinh doanh sử dụng vốn thấp. Tuy nhiên, để nhận đƣợc nguồn vốn này các doanh nghiệp phải chấp nhận các điều kiện thủ tục rất chặt chẽ. Đồng thời, doanh nghiệp phải có trình độ quản lý dự án đầu tƣ cũng nhƣ trình độ phối hợp làm việc với các cơ quan chính phủ và chuyên gia nƣớc ngoài. III.Hiệu quả sử dụng vốn và ý nghĩa của nó đối với doanh nghiệp: III.1.Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn: Sự phát triển kinh tế ở các nƣớc trên thế giới và Việt Nam cho thấy muốn phát triển một doanh nghiệp phải giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản là sản xuất cái gì, sản xuất nhƣ thế nào và sản xuất cho ai? Tuy nhiên nếu nguồn tài nguyên là vô hạn, ngƣời ta có thể sản xuất hàng hoá một cách không hạn chế, sử dụng máy móc nguyên vật liệu bừa bãi… cũng chẳng sao. Song mọi tài nguyên nhƣ đất đai, khoáng sản…lại là một phạm trù hữu hạn đòi hỏi ngày một nhiều và cao hơn, điều này buộc các doanh nghiệp phải sử dụng một cách có kế hoạch các nguồn lực của mình để tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh. Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện tập trung của sự phát triển kinh tế chiều sâu, thể hiện trình độ khai thác các nguồn lực và trình độ chi phí các nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh. Công thức tổng quát xác định hiệu quả kinh doanh: Kết quả đầu ra ®Çu ra KÕt qu¶ Hiệu quả kinh doanh =  Chi phí đầu vào Hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là chỉ tiêu phản ánh kết quả tổng hợp nhất quá trình sử dụng các loại vốn. Đó là sự tối thiểu hoá vốn cần sử dụng và tối đa hoá kết quả hay khối lƣợng nhiệm vụ sản xuất kinh doanh trong một giới hạn nguồn nhân tài, vật lực, phù hợp với kinh tế hiệu quả nói chung. Hiệu quả sử dụng vốn đƣợc lƣợng hoá thông qua hệ thống chỉ tiêu về khả năng hoạt động, khả năng sinh lời độ luân chuyển vốn… Nó phản ánh quan hệ 18 NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN NGHIỆP CHUYÊN ĐỀ TỐT chuyªn ®Ò tèt nghiÖp giữa đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất kinh doanh thông qua thƣớc đo tiền tệ. Công thức xác định là: Hv = V G  V Trong đó: Hv: hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp G : sản lượng sản phẩm hàng hoá tiêu thụ hoặc doanh thu bán hàng V : vốn sản xuất bình quân dùng vào sản xuất kinh doanh trong kỳ. Theo công thức trên, Hv càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh càng cao. Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp phải đảm bảo các điều kiện sau: - Phải khai thác nguồn lực một cách triệt để, nghĩa là không để nhàn rỗi không sinh lời. - Phải sử dụng vốn một cách hợp lý và tiết kiệm. - Phải quản lý vốn một cách chặt chẽ, nghĩa là không để vốn bị sử dụng sai mục đích, không để vốn thất thoát do buông lỏng quản lý. III.2./ Phƣơng pháp phân tích hiệu quả sử dụng vốn trong Công ty : III.2.1./Phƣơng pháp so sánh: Để áp dụng phƣơng pháp so sánh cần phải đảm bảo các điều kiện so sánh đƣợc của chỉ tiêu tài chính (thống nhất về không gian, thời gian, nội dung, tính chất và đơn vị tính toán…) và theo mục đích phân tích mà xác định gốc so sánh. Gốc so sánh đƣợc chọn là gốc về thời gian, kỳ phân tích đƣợc gọi là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch, giá trị so sánh có thể đo bằng giá trị tuyệt đối hoặc số bình quân. Nội dung so sánh gồm: + So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trƣớc để thấy rõ xu hƣớng thay đổi về tài chính doanh nghiệp, đánh giá sự suy giảm hay sự giảm sút trong hoạt động sản xuất kinh doanh để có biện pháp khắc phục trong kỳ tới. + So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy rõ mức độ phấn đấu của doanh nghiệp. + So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số bình quân của ngành, của các doanh nghiệp khác để đánh giá doanh nghiệp mình tốt hay xấu đƣợc hay không đƣợc. 19 NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN NGHIỆP CHUYÊN ĐỀ TỐT chuyªn ®Ò tèt nghiÖp + So sánh chiều dọc để xem xét tỷ trọng của trừng chỉ tiêu so với tổng thể, so sánh chiều ngang của nhiều kỳ để thấy đƣợc sự biến động cả về số tƣơng đối và số tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua các liên độ kế toán liên tiếp. III.2.2./Phương pháp phân tích tỷ lệ: Phƣơng pháp này dùa trên chuẩn mực các tỷ lệ của đại lƣợng tài chính. Về nguyên tắc phƣơng pháp này yêu cầu phải xác định đƣợc các ngƣỡng, các mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ lệ doanh nghiệp với các tỷ lệ tham chiếu. Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ tài chính doanh nghiệp đƣợc phân tích thành các nhóm đặc trƣng, phản ánh những nội dung cơ bản theo mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp. Đó là các nhóm tỷ lệ mục tiêu thanh toán, nhóm tỷ lệ về cơ cấu vốn, nhóm tỷ lệ về năng lực kinh doanh, nhóm tỷ lệ về khả năng sinh lời. Mỗi nhóm tỷ lệ lại bao gồm nhiều nhóm tỷ lệ riêng lẻ, từng bộ phận của hoạt động tài chính. Trong mỗi trƣờng hợp khác nhau, tuỳ theo góc độ phân tích, ngƣời phân tích lùa chọn các mục tiêu khác nhau. Để phục vụ cho mục tiêu phân tích hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp ngƣời ta phải tính đến hao mòn vô hình do sự phát triển không những của tiến bộ khoa học kỹ thuật… III.3./ Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn: Để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải có ba yếu cơ bản là vốn, lao động và kỹ thuật- công nghệ. Cả ba yếu tố này đều đóng vai trò quan trọng, song vốn là điều kiện tiên quyết không thể thiếu. Bởi vì hiện nay, đang có một nguồn lao động dồi dào, việc thiếu lao động chỉ xảy ra ở các ngành nghề cần đòi hỏi chuyên môn cao, nhƣng vấn đề này có thể khắc phục đƣợc trong một thời gian ngắn nếu chúng ta có tiền để đào tạo hay đào tạo lại. Vấn đề là công nghệ cũng không gặp khó khăn phức tạp vì chúng ta có thể nhập chúng cùng kinh nghiệm quản lý tiên tiến trên thế giới, nếu chúng ta có khả năng về vốn, ngoại tệ hoặc có thể tạo ra nguồn vốn, ngoại tệ. Nhƣ vậy, yếu tố cơ bản của doanh nghiệp nƣớc ta hiện nay là vốn và quản lý sử dụng vốn có hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nhƣ chóng ta đã biết hoạt động kinh doanh là hoạt động kiếm lời, lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trƣờng. Để đạt đƣợc lợi nhuận tối đa các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao trình độ sản xuất kinh doanh, trong đó quản lý và sử dụng vốn là một bộ phận quan trọng, có ý nghĩa 20
- Xem thêm -