Tài liệu Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở quảng ninh hiện nay

  • Số trang: 188 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 16 |
  • Lượt tải: 0
hoangtuavartar

Tham gia: 05/08/2015

Mô tả:

BỘ QUỐC PHÒNG HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ PHẠM THỊ LỆ NGỌC Mèi quan hÖ gi÷a t¨ng trëng kinh tÕ vµ b¶o vÖ m«i trêng ë Qu¶ng Ninh hiÖn nay LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC HÀ NỘI - 2019 BỘ QUỐC PHÒNG HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ PHẠM THỊ LỆ NGỌC Mèi quan hÖ gi÷a t¨ng trëng kinh tÕ vµ b¶o vÖ m«i trêng ë Qu¶ng Ninh hiÖn nay Chuyên ngành: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mã số : 922 90 02 LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1. PGS, TS Nguyễn Văn Thế 2. PGS, TS Võ Văn Hải HÀ NỘI - 2019 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu của tác giả. Các tài liệu và số liệu trong luận án là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học và có nguồn gốc rõ ràng, không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố. Hà Nội, ngày tháng Tác giả năm 2019 Phạm Thị Lệ Ngọc MỤC LỤC MỞ ĐẦU Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1. Các công trình khoa học đã công bố có liên quan đến luận án 1.2. Khái quát kết quả chủ yếu của các công trình khoa học đã công bố có liên quan và vấn đề đặt ra luận án tập trung giải quyết Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở QUẢNG NINH 2.1. Thực chất mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở Quảng Ninh 2.2. Những nhân tố quy định mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở Quảng Ninh Chương 3 THỰC TRẠNG VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆC GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở QUẢNG NINH HIỆN NAY 3.1. Thực trạng nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở Quảng Ninh hiện nay 3.2. Vấn đề đặt ra đối với việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở Quảng Ninh hiện nay Chương 4 GIẢI PHÁP CƠ BẢN GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở QUẢNG NINH HIỆN NAY 4.1. Nâng cao nhận thức, phát huy vai trò, trách nhiệm của các chủ thể trong giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở Quảng Ninh hiện nay 4.2. Xây dựng, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách và năng lực thanh tra, kiểm tra, giám sát việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở Quảng Ninh hiện nay 4.3. Nâng cao hiệu quả quy hoạch, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp để giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở Quảng Ninh hiện nay 4.4. Tăng cường ứng dụng khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế, liên kết vùng trong giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở Quảng Ninh hiện nay KẾT LUẬN DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 5 9 9 26 30 30 57 74 74 103 117 117 127 136 144 160 161 162 174 5 MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài luận án Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường là vấn đề có tính quy luật trong sự phát triển của xã hội. Hiện nay, vấn đề này trở thành cấp thiết ở mọi quốc gia, dân tộc trong đó có Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: “Ngăn chặn và từng bước khắc phục sự xuống cấp của môi trường tự nhiên do chủ quan con người, nhất là do các dự án phát triển kinh tế gây ra. Bảo vệ môi trường tự nhiên vừa là nội dung, vừa là mục tiêu phát triển bền vững,… Đảm bảo sự hài hòa giữa môi trường tự nhiên với môi trường sống ở các khu công nghiệp, đô thị, dân cư. Phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên” [41, tr. 141-142]. Việc nghiên cứu và giải quyết vấn đề này có ý nghĩa to lớn để phát triển bền vững ở Việt Nam nói chung và các địa phương nói riêng, trong đó có tỉnh Quảng Ninh. Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Quảng Ninh đóng vai trò là một trong những đầu tàu về phát triển kinh tế - xã hội, cửa ngõ giao thương quan trọng với khu vực ASEAN, Trung Quốc. Với lợi thế về cảng biển, du lịch, than đá, trong những năm gần đây, Quảng Ninh đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về kinh tế - xã hội, bao gồm cả tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở Quảng Ninh thời gian qua vẫn đang tồn tại nhiều hạn chế: Tăng trưởng chưa bền vững, vẫn còn chủ yếu dựa vào tài nguyên hữu hạn; mâu thuẫn giữa việc khai thác than, phát triển công nghiệp nặng với phát triển du lịch, dịch vụ trên cùng một địa bàn; mâu thuẫn giữa việc có nhiều tiềm năng thế mạnh, lợi thế cạnh tranh với cơ chế chính sách còn bó hẹp. Cùng với đó là thách thức giữa phát triển công nghiệp hoá và đô thị hoá nhanh với giải quyết vấn đề môi trường sống; thách thức giữa phát triển bền vững trước những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu... Chính vì vậy, đối với Quảng Ninh, việc giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường đang là yêu cầu cấp bách để phát triển bền vững trong tương lai. 6 Định hướng phát triển của Quảng Ninh đến năm 2030 là “trở thành một tỉnh dịch vụ, công nghiệp hiện đại, trung tâm du lịch quốc tế, là một trong những đầu tàu kinh tế của Miền Bắc và cả nước với hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, hạ tầng kỹ thuật đô thị đồng bộ, hiện đại; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, đảm bảo môi trường bền vững;…” và “Đến năm 2050, Quảng Ninh trở thành vùng đô thị lớn mang tầm vóc quốc tế; là vùng động lực phát triển kinh tế quốc gia với định hướng phát triển du lịch công nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững; là vùng di sản văn hóa, lịch sử quốc tế, Di sản và kỳ quan thiên nhiên thế giới” [127]… Vấn đề nêu trên với những thuận lợi, khó khăn, thách thức đan xen nhau đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường để đạt được mục tiêu, tầm nhìn theo quy hoạch phát triển ở Quảng Ninh. Đến nay, đã có một số công trình khoa học từ các góc độ, khía cạnh tiếp cận khác nhau bàn về mối quan hệ, sự kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở Quảng Ninh hiện nay từ góc độ triết học. Đó là những lý do cơ bản để tác giả quyết định lựa chọn và triển khai đề tài “Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở Quảng Ninh hiện nay” làm luận án tiến sĩ triết học. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án Mục đích nghiên cứu của luận án Làm rõ một số vấn đề lý luận, thực tiễn về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở Quảng Ninh; đề xuất các giải pháp cơ bản giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở Quảng Ninh hiện nay. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án và xác định các vấn đề luận án cần tập trung giải quyết. 7 Làm rõ thực chất và những nhân tố cơ bản quy định mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở Quảng Ninh. Phân tích thực trạng, chỉ ra nguyên nhân và xác định những vấn đề đặt ra đối với việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở Quảng Ninh hiện nay. Đề xuất các giải pháp cơ bản để tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở Quảng Ninh hiện nay. 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận án * Đối tượng nghiên cứu của luận án Những vấn đề lý luận, thực tiễn mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở Quảng Ninh. Phạm vi nghiên cứu của luận án Về nội dung: Nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường tự nhiên ở Quảng Ninh hiện nay. Về không gian: Nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường tự nhiên trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Về thời gian: Nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường tự nhiên ở Quảng Ninh từ năm 2011 đến 2018 và các giải pháp đưa ra cho thời kỳ đến năm 2030. 4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận án Cơ sở lý luận của luận án Hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về mối quan hệ biện chứng giữa con người và tự nhiên; giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường; thành tựu của các công trình khoa học đã công bố có liên quan đến luận án. Cơ sở thực tiễn của luận án Thực trạng mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở Quảng Ninh trong những năm gần đây; các báo cáo, nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh nhiệm kỳ 2010-2015, 2015-2020; các báo cáo tình hình kinh tế - xã hội từ năm 2011-2018 của tỉnh Quảng Ninh. Ngoài ra, tác giả còn nghiên cứu, tham khảo các công trình khoa học có liên quan đến đề tài luận án. 8 Phương pháp nghiên cứu của luận án Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, lịch sử và lôgíc, hệ thống - cấu trúc, khảo sát, xin ý kiến chuyên gia… Các phương pháp này được sử dụng phù hợp với từng nội dung của luận án. 5. Những đóng góp mới của luận án Xây dựng quan niệm và luận chứng những nhân tố cơ bản quy định mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở Quảng Ninh. Khái quát một số vấn đề đặt ra và đề xuất các giải pháp cơ bản giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở Quảng Ninh hiện nay. 6. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án Ý nghĩa lý luận của luận án Góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở tỉnh Quảng Ninh; làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu khoa học, giảng dạy các nội dung có liên quan đến tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường, mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường. Ý nghĩa thực tiễn của luận án Góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho công tác lãnh đạo, quản lý của các cấp ủy đảng, chính quyền, tổ chức chính trị - xã hội, các doanh nghiệp,… ở tỉnh Quảng Ninh trong việc hoạch định chủ trương, biện pháp để nâng cao hiệu quả giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay. 7. Kết cấu của luận án Luận án gồm: Mở đầu, 4 chương (10 tiết), kết luận, danh mục các công trình khoa học của tác giả đã công bố liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. 9 Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1. Các công trình khoa học đã công bố có liên quan đến luận án 1.1.1. Các công trình khoa học đã công bố đề cập đến lý luận về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường Vấn đề tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường, mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý trong và ngoài nước, từ các góc độ khác nhau quan tâm nghiên cứu, cụ thể: Trong công trình khoa học “Indicators for Sustainable Development: Theory, Method, Applications” (Các chỉ số cho sự phát triển bền vững: Lý thuyết, Phương pháp, Ứng dụng) [134], tác giả Atkinson và các cộng sự đã cho rằng, có 6 hệ thống chỉ tiêu cho phát triển bền vững, được chia thành 3 nhóm: Hệ thống con người; hệ thống hỗ trợ; hệ thống tự nhiên. Trong đó: “Hệ thống con người = phát triển cá nhân + hệ thống xã hội + hệ thống chính phủ”; “Hệ thống hỗ trợ = hệ thống kinh tế + hệ thống cơ sở hạ tầng”; “Hệ thống tự nhiên = môi trường và hệ thống tài nguyên”. Ba nhóm hệ thống trên đây tương ứng với ba nguồn vốn thường được sử dụng trong phân tích toàn bộ hệ thống, đó là: Vốn con người (Human capital); vốn cấu trúc (Structural capital); vốn tự nhiên (Natural capital). Tác giả O’Connor M trong công trình khoa học “The “Four Spheres” framework for sustainability” [141] đã đề xuất một mô hình tứ giác như là “Bốn trụ cột” cho phát triển bền vững. O’Connor cho rằng “phát triển bền vững được đặc trưng là sự gắn kết phát triển (coevolution) của hệ thống gồm: Kinh tế (Economic organisation), Xã hội (Social organisation) và Hệ tự nhiên/Môi trường (Natural Systems organisation), được thể hiện bằng các mục tiêu chất lượng/hoạt động liên quan đến mỗi một lĩnh vực”. Lĩnh vực thứ tư là hệ thống quy định thông qua lĩnh vực Chính trị (System Regulation via 10 Political organisation), được tác giả định nghĩa là những quy định có vai trò điều chỉnh hoạt động của lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực xã hội và những mối quan hệ song hành với lĩnh vực môi trường. Trong công trình khoa học nghiên cứu về “Economic growth and the environment” (Tăng trưởng kinh tế và môi trường) [136], tác giả Gene M.Grossman và Alan B.Krueger chỉ ra rằng, sự suy thoái môi trường không tỷ lệ với tốc độ tăng trưởng kinh tế. Thông qua nghiên cứu bốn chỉ số: Ô nhiễm không khí đô thị, nồng độ ôxy ở các lưu vực sông, ô nhiễm đáy của các lưu vực sông, ô nhiễm lưu vực sông do kim loại nặng gây ra, các tác giả đã rút ra kết luận rằng: Trong giai đoạn đầu của phát triển, ô nhiễm gia tăng một cách nhanh chóng do đặt ưu tiên cao cho việc gia tăng năng suất và người dân quan tâm nhiều đến việc làm, thu nhập hơn là không khí hay nguồn nước sạch. Sự phát triển nhanh chóng dẫn đến việc sử dụng nhiều hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên và phát thải nhiều hơn các chất ô nhiễm làm suy thoái môi trường trầm trọng. Khi thu nhập tăng lên, người dân có ý thức hơn về giá trị môi trường, luật pháp, chính sách môi trường cũng như các cơ quan thi hành trở nên nghiêm khắc và hiệu quả hơn, các công nghệ sạch, công nghệ tiên tiến được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi tạo điều kiện cải thiện chất lượng môi trường. Tác giả Tsumor Ushiyama với công trình khoa học “Environment Pollution Control in Janpan-Development and Characteristics” (Kiểm soát ô nhiễm môi trường ở Nhật Bản - đặc trưng và phát triển) [140], đã chỉ ra vai trò của chính quyền tự quản địa phương và hoạt động phong trào của người dân địa phương trong việc hình thành, thực hiện Luật kiểm soát ô nhiễm môi trường ở Nhật Bản. Pháp luật bảo vệ môi trường áp dụng cho các quận của Tokyo có quy định: Người dân được tham gia vào công tác quản lý hành chính, bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành của mình; các nhà lãnh đạo phải có nhiệm vụ điều tra, giám sát nguồn gốc, nguyên nhân, tình trạng ô nhiễm môi trường và các vấn đề khác, phải công khai cho người dân các quận, 11 huyện biết về tình trạng ô nhiễm như đã điều tra. Bên cạnh đó, một hội đồng giám sát ô nhiễm môi trường (có sự tham gia của người dân) được thành lập để điều tra và cân nhắc các biện pháp giám sát nguồn gây ô nhiễm môi trường (được thực hiện bởi nhà quản lý và các cơ quan hành chính). Trong công trình khoa học “Phát triển xã hội bền vững và hài hòa Những vấn đề lý luận và thực tiễn chủ yếu hiện nay” [48], tác giả Lương Đình Hải nhấn mạnh: Phát triển xã hội bền vững và hài hoà là một xu hướng tất yếu, khách quan của thời đại. Phát triển bền vững không thể dựa trên khuôn mẫu tư duy cũ, các quan niệm và giá trị cũ; nó đòi hỏi phải có tư duy mới, khoa học hơn, nghĩa là cần có một thế giới quan triết học mới. Vấn đề cấp thiết, đặc biệt quan trọng đặt ra hiện nay không chỉ là giữ gìn, bảo vệ mà còn là cải thiện môi trường sinh thái. Nội dung của quan niệm phát triển xã hội bền vững và hài hoà phải bao gồm: “Tăng trưởng kinh tế, hiện đại hoá xã hội gắn liền với việc bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái trong mỗi bước phát triển tất yếu phải trở thành nguyên tắc chủ đạo của đời sống xã hội ở mỗi quốc gia cũng như trên phạm vi quốc tế” [48, tr. 33] và “quan niệm về ba yếu tố trụ cột: Kinh tế - xã hội - sinh thái vẫn là quan điểm chủ đạo, tương thích với sự phát triển của tổng thể hệ thống con người - xã hội - sinh thái, đảm bảo sự phát triển của tất cả các yếu tố riêng biệt trong sự hài hoà với các yếu tố khác và với cả hệ thống” [48, tr. 34]. Trong công trình khoa học “Cơ sở triết học nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường” [28], tác giả Bùi Văn Dũng đã dựa trên lập trường chủ nghĩa duy vật để làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa con người với tự nhiên, giữa xã hội và giới tự nhiên, giữa con người và môi trường. Trước hết, con người chỉ có thể tồn tại và phát triển ở trong xã hội; mặt khác, con người là “một bộ phận của giới tự nhiên”, là sản phẩm cao nhất của giới tự nhiên, sống dựa vào giới tự nhiên, nằm trong lòng của giới tự nhiên, gắn với giới tự nhiên bằng trăm nghìn mối dây liên hệ. Yêu cầu bảo vệ môi trường, 12 bảo đảm mối quan hệ cân bằng giữa tự nhiên với xã hội là mục tiêu của mọi quá trình phát triển kinh tế bền vững. Theo tác giả, phải có quan điểm hệ thống, quan điểm toàn diện và phát triển trong việc nghiên cứu và giải quyết các vấn đề nảy sinh từ mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường. Tác giả Bùi Văn Dũng trong công trình khoa học “Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường cho sự phát triển lâu bền” [27] đã lý giải rõ hơn cơ sở triết học trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường. Mối quan hệ này được hình thành gắn liền với quá trình sản xuất vật chất, nó tồn tại và phát triển cùng với lịch sử xã hội loài người. Giữa tự nhiên và xã hội vừa có sự thống nhất, vừa có sự mâu thuẫn. Sự thống nhất và mâu thuẫn đó đều thể hiện ở nền sản xuất vật chất của xã hội. Trong quá trình sản xuất vật chất đã nảy sinh mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường. Sự tác động qua lại giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường luôn luôn có xu hướng loại trừ nhau nhưng đồng thời lại là tiền đề tồn tại của nhau, chúng không thể tồn tại thiếu nhau trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Một trong những điều kiện cần thiết để tăng trưởng kinh tế là phải dựa vào nguồn tài nguyên và cách sử dụng nguồn tài nguyên đó. Điều kiện để giải quyết mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường cho sự phát triển lâu bền là phải thay đổi thái độ và hành động; giữ tỷ lệ dân số một cách hợp lý, xóa bỏ nghèo nàn và giảm khoảng cách mức sống giữa các nước, các cộng đồng người trên thế giới; mở rộng cách mạng khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào quá trình sản xuất vật chất, tạo ra tiền đề cho sự thống nhất giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường; hòa bình và sự hợp tác toàn cầu; xóa bỏ chế độ người áp bức bóc lột người trong xã hội và xây dựng một cơ chế quốc gia. Tác giả Đỗ Trọng Hưng trong công trình khoa học “Kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường ở các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam hiện nay” [68] đã tập trung nghiên cứu làm rõ hệ thống các khái niệm: Kinh tế, tăng 13 trưởng kinh tế và phát triển kinh tế; môi trường và bảo vệ môi trường. Chỉ ra yêu cầu, nội dung và những nhân tố ảnh hưởng đến kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường, cụ thể: Bảo vệ môi trường tự nhiên hợp lý là tiền đề để tăng trưởng kinh tế bền vững; tăng trưởng kinh tế hợp lý là cơ sở cho việc bảo vệ môi trường bền vững. Nội dung của việc kết hợp này thể hiện ở việc quy hoạch, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội phải bảo đảm kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường; khai thác tài nguyên thiên nhiên hợp lý cho tăng trưởng kinh tế; phát triển công nghiệp - xây dựng, dịch vụ, nông - lâm - ngư nghiệp trong mối quan hệ với bảo tồn, phát triển môi trường tự nhiên. Việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường chịu sự quy định của những nhân tố như: Nhân tố kinh tế; chính trị, văn hóa; khoa học và công nghệ; nhận thức của cán bộ, nhân dân, doanh nhân. Đây là cơ sở để tác giả đánh giá thực trạng, xác định những vấn đề đặt ra và đề xuất các giải pháp để giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở các tỉnh Bắc Trung bộ Việt Nam hiện nay. Trong công trình khoa học “Một số vấn đề về bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay” [95], tác giả Nguyễn Văn Ngừng cho rằng: Môi trường là địa bàn và là đối tượng của phát triển. Phát triển là nguyên nhân tạo nên mọi biến đổi tích cực và tiêu cực đối với môi trường. Phát triển kinh tế - xã hội là nhu cầu tất yếu của loài người và tất nhiên trong quá trình phát triển kinh tế, con người sẽ phải khai thác môi trường... đối với một quốc gia đang phát triển, đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường là tất yếu. Ngoài ra, các công trình khoa học: “Tài nguyên thiên nhiên môi trường với tăng trưởng và phát triển bền vững ở Việt Nam” của tác giả Trần Văn Chử [17]; “Bảo vệ môi trường trong khai thác than ở Quảng Ninh” của tác giả Nguyễn Thị Huệ [64]; “Môi trường tự nhiên trong hoạt động cuộc sống của con người” của tác giả Đỗ Thị Ngọc Lan [77]; 14 “Quản lý tài nguyên môi trường để phát triển bền vững” của nhóm tác giả Võ Đình Long, Lê Bá Huy [81]; “Nghiên cứu phát triển du lịch bền vững tại tỉnh Quảng Ninh trong bối cảnh biến đổi khí hậu” của tác giả Ngô Hải Ninh [97]; “Kinh tế xanh cho phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu” do tác giả Nguyễn Danh Sơn làm chủ biên [104]… đã nhấn mạnh, tài nguyên và môi trường là một yếu tố nền tảng của phát triển bền vững. Nguy cơ suy giảm, cạn kiệt tài nguyên, suy thoái môi trường đang hiện hữu và đe dọa đến tiến trình phát triển bền vững của nước ta. Các quyết định phát triển và quản lý phát triển trong thời gian tới ở Việt Nam nói chung, tỉnh Quảng Ninh nói riêng cần phải tính đến tác động của biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường trong phát triển bền vững. Các công trình khoa học nêu trên có giá trị nhất định về lý luận, kết quả nghiên cứu của những công trình đó sẽ được nghiên cứu sinh kế thừa trên các nội dung: Khái niệm tăng trưởng kinh tế, phát triển bền vững, môi trường và bảo vệ môi trường; mối quan hệ giữa con người và môi trường; mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường. 1.1.2. Các công trình khoa học đã công bố đề cập đến thực trạng giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường Nghiên cứu về thực trạng giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường có các công trình khoa học liên quan như: Tác giả Nguyễn Văn Ngừng trong công trình khoa học “Một số vấn đề về bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay” [95] cho rằng, việc phát triển kinh tế hiện nay ở nước ta đang gây ra nhiều tác hại về môi trường. Vì vậy, để phát triển bền vững, cần nhìn nhận đúng đắn mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường. Theo kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới, nhờ đạt được mức độ nhất định trong phát triển kinh tế, khoa học và công nghệ mà có điều kiện dần dần hạn chế ô nhiễm môi trường, khôi phục các vùng tự nhiên bị khai thác và sử dụng quá mức. Đối với Việt Nam, trong quá 15 trình chuyển giao giữa cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì càng phải chú ý giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường. Tác giả Chu Thái Thành trong công trình khoa học “Bảo vệ môi trường - Yêu cầu cấp thiết trong thời kỳ mới” [106], trên cơ sở phân tích quan điểm của Đảng về kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế, xã hội với bảo vệ và cải thiện môi trường theo hướng phát triển bền vững đã nhấn mạnh: Mục tiêu bảo vệ môi trường về cơ bản, lâu dài là phải đạt được sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, thực hiện tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường; mọi người đều có ý thức bảo vệ môi trường và sống trong môi trường trong lành, sạch, đẹp và thân thiện với thiên nhiên. Mục tiêu này bao trùm lên toàn bộ các hoạt động bảo vệ môi trường nhằm bảo đảm phát triển bền vững đất nước. Tác giả cho rằng, công tác bảo vệ môi trường những năm qua đã có nhiều chuyển biến tích cực, song tình trạng ô nhiễm môi trường vẫn đang gây ra nhiều vấn đề bức xúc, nguyên nhân chính là do sự phát triển thiếu bền vững. Tác giả Hoàng Đình Cúc trong công trình khoa học “Phát triển bền vững ở Việt Nam: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” [18] đã luận chứng làm rõ việc thực hiện chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam trong thời gian qua, ngoài những thành tựu to lớn đã đạt được, Việt Nam đang phải đối mặt với hiện trạng: Nền kinh tế có sự tăng trưởng nhưng chưa thật sự bền vững; chưa thực hiện thật tốt việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội; nguy cơ ô nhiễm môi trường và cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên. Tác giả Mai Hoàng Thịnh trong công trình khoa học “Phân tích mối quan hệ giữa môi trường và phát triển kinh tế ở Việt Nam” [108] trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa môi trường và phát triển kinh tế, đã chỉ ra những hậu quả do phát triển kinh tế tác động đến môi trường ở các khía cạnh: Phát triển dân số và đô thị hóa, phát triển công nghiệp, hậu quả ô nhiễm môi trường do phát triển kinh tế mang lại. Việc phân tích thực trạng là cơ sở quan trọng để tác giả đề xuất các giải pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường. 16 Trong công trình khoa học “Ô nhiễm môi trường ở nước ta hiện nay Thực trạng và một số giải pháp khắc phục” [50], tác giả Trần Đắc Hiến cho rằng, “một vấn đề nóng bỏng, gây bức xúc trong dư luận xã hội cả nước là tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái do các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người gây ra ngày càng trầm trọng, đe dọa trực tiếp sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững, sự tồn tại, phát triển của thế hệ hiện tại và tương lai” [50, tr. 54]. Ô nhiễm môi trường bao gồm 3 loại chủ yếu: Ô nhiễm đất, ô nhiễm nước và ô nhiễm không khí. Trong ba loại ô nhiễm đó, tình trạng ô nhiễm không khí tại các đô thị lớn, khu công nghiệp và làng nghề là nghiêm trọng nhất, mức độ ô nhiễm vượt nhiều tiêu chuẩn cho phép. Tình trạng ô nhiễm môi trường, có nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó tập trung chủ yếu vào những hạn chế, bất cập của cơ chế, chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường và việc tổ chức thực hiện của các cơ quan chức năng; cơ sở pháp lý, chế tài xử phạt đối với các loại hành vi gây ô nhiễm môi trường và các loại tội phạm về môi trường còn thiếu và chưa đủ mạnh, dẫn đến hạn chế tác dụng giáo dục, phòng ngừa, răn đe đối với những hành vi xâm hại môi trường; công tác tuyên truyền, giáo dục, đào tạo về môi trường trong xã hội còn hạn chế. Trong công trình khoa học “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay: khía cạnh môi trường sống” [56], tác giả Nguyễn Đình Hòa cho rằng, ngoài những thành tựu quan trọng đã đạt được, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng tạo nên sức ép to lớn đối với môi trường sống ở nông thôn. Những vấn đề về môi trường sống nảy sinh trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam hiện nay đang ngày càng trở lên phức tạp cả về quy mô và tính chất. Nếu không được giải quyết kịp thời và có hiệu quả, sự tác động của chúng sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng, cản trở quá trình phát triển bền vững và trước mắt, có thể ảnh hưởng trở lại mục tiêu phát triển nông nghiệp, nông thôn như: Nguy cơ cạn kiệt một số nguồn tài nguyên; vấn đề ô nhiễm môi trường; nguy cơ suy giảm tính đa dạng sinh học… đây là vấn đề cấp bách cần được khắc phục. 17 Trong công trình khoa học “Kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường ở các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam hiện nay” [68] trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường, tác giả Đỗ Trọng Hưng đi vào đánh giá thực trạng việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường ở các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam hiện nay, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân. Từ thực trạng đó, tác giả xác định đang có bốn vấn đề đặt ra: Một là, mâu thuẫn giữa yêu cầu nhận thức đúng đắn về kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường với thực tế nhận thức của cán bộ, đảng viên, nhân dân và doanh nhân còn nhiều bất cập; Hai là, mâu thuẫn giữa yêu cầu phải có quy hoạch, kế hoạch hợp lý cho việc kết hợp hài hòa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường và thực trạng công tác quy hoạch, kế hoạch này chưa đáp ứng được yêu cầu; Ba là, mâu thuẫn giữa yêu cầu phải có hệ thống chính sách hợp lý bảo đảm kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường với hệ thống chính sách bảo đảm kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường hiện tại còn nhiều bất cập; Bốn là, mâu thuẫn giữa yêu cầu ứng dụng khoa học và công nghệ vào tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường với thực tế chưa đáp ứng yêu cầu. Tác giả Võ Thị Tuyết Hoa trong công trình khoa học “Quan hệ giữa phát triển kinh tế nông thôn và bảo vệ môi trường ở tỉnh Đồng Tháp” [54] đã đánh giá thực trạng quan hệ giữa phát triển kinh tế nông thôn và bảo vệ môi trường ở Đồng Tháp giai đoạn 2010-2015: Thực trạng ảnh hưởng ở cả chiều hướng tích cực, tiêu cực của phát triển kinh tế nông thôn đến bảo vệ môi trường và hoạt động bảo vệ môi trường đến phát triển kinh tế nông thôn. Trên cơ sở đó, tác giả xác định những vấn đề đặt ra cần xử lý để giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế nông thôn và bảo vệ môi trường ở tỉnh Đồng Tháp, cụ thể: Tồn tại mâu thuẫn về lợi ích giữa phát triển kinh tế nông thôn và bảo vệ môi trường; quy hoạch phát triển kinh tế nông thôn chưa thực sư gắn với bảo 18 vệ môi trường; các nguồn lực để bảo vệ môi trường trong phát triển kinh tế nông thôn còn hạn chế; công tác xử lý ô nhiễm môi trường trong phát triển kinh tế nông thôn còn nhiều bất cập. Trong công trình khoa học “Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường - kinh nghiệm của Nhật Bản” [75], tác giả Nguyễn Văn Kim cho rằng, chính con người là tác nhân chủ yếu gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường, làm mất cân bằng sinh thái. Phân tích sự phát triển kinh tế của Nhật Bản trong những năm đầu thế kỷ XX có ảnh hưởng tới môi trường sinh thái, tác giả nhấn mạnh, sự tập trung quá mức các ngành sản xuất và dân cư vào những khu vực địa lý nhất định đã dẫn đến tình trạng mất cân bằng sinh thái và ô nhiễm môi trường sống. Kinh nghiệm của Nhật Bản trong bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế như: Luật hóa và tăng cường thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường; thiết lập cơ quan chuyên trách bảo vệ môi trường; sử dụng công nghệ sạch, đảm bảo an toàn; giáo dục cho người dân hiểu rõ về ý nghĩa và trách nhiệm của bảo vệ môi trường và vận động nhân dân tham gia tích cực phòng chống ô nhiễm; thay đổi chiến lược phát triển kinh tế... Theo tác giả, Việt Nam nên coi kinh nghiệm của Nhật Bản như một bài học để phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường bền vững. Tác giả Jung Gun Young trong công trình khoa học “Quản lý nhà nước về môi trường ở Hàn Quốc và những giá trị tham khảo cho Việt Nam” [69] đã tập trung phân tích, đánh giá, so sánh thực tiễn quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường ở Hàn Quốc và Việt Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước như: So sánh về mô hình tổ chức và hoạt động của chính phủ trong quản lý nhà nước về môi trường, thông qua nghiên cứu điển hình và phân tích chuyên sâu về các mô hình tổ chức này tại Hàn Quốc và Việt Nam trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội khác nhau. Từ đó, tác giả khẳng định những kinh nghiệm của Hàn Quốc trong bảo vệ môi trường mà Việt Nam cần ưu tiên vận dụng đó là: Quyết liệt và nhanh chóng triển khai các chính sách phòng ngừa ô nhiễm môi trường trong tất cả các ngành kinh tế; tăng cường hiệu 19 quả quản lý nhà nước, đặc biệt là công tác kiểm tra, giám sát, kiềm chế ô nhiễm môi trường thông qua một đầu mối để tránh sự chồng chéo, trùng lắp và tiết kiệm ngân sách; cải cách mạnh mẽ chính sách phí và thuế môi trường. Ngoài ra, còn có các công trình khoa học như: “Vấn đề bảo vệ môi trường trong quá trình thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc và miền núi” của tác giả Hoàng Hữu Bình [5]; “Một số vấn đề về ô nhiễm và suy thoái đất đai ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Quốc Hùng [65]; “Một số vấn đề quản lý môi trường trong bối cảnh Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới” của nhóm tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền, Lại Văn Mạnh [67]; “Gắn tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái vì mục tiêu phát triển bền vững: những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Khương [73]; “Bảo vệ môi trường trong khai thác than ở Quảng Ninh” của tác giả Nguyễn Thị Huệ [64]…, các công trình khoa học này trên cơ sở những vấn đề lý luận đã đánh giá về thực trạng tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường, mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường, qua đó chỉ ra nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế và xác định vấn đề đặt ra cần tập trung giải quyết. Kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học trong việc phân tích, đánh giá thực trạng tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường, việc nhận thức và quá trình giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường là tiền đề thực tiễn quan trọng được nghiên cứu sinh kế thừa trong quá trình triển khai việc phân tích, đánh giá thực trạng mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở Quảng Ninh hiện nay. 1.1.3. Các công trình khoa học đã công bố đề cập đến giải pháp giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường Đề khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường, thúc đẩy sự phát triển bền vững, đến nay đã có nhiều công trình khoa học ở cả trong và ngoài nước bàn về vấn đề này, cụ thể: 20 Trong công trình khoa học “Is environmental degradation an inevitable consequence of economic growth: tunneling through the environmental Kuznets curve - EKC” (Có phải suy thoái môi trường là hệ quả tất yếu của tăng trưởng kinh tế: Nghiên cứu thông qua đường cong Kuznets môi trường - EKC) [138] tác giả Mohan Munasinghe cho rằng, những cải cách về kinh tế trên diện rộng thường góp phần thúc đẩy lợi ích về kinh tế, xã hội và môi trường. Các nước đang phát triển có thể học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia công nghiệp, tiến hành chuyển dịch cơ cấu và tăng trưởng thông qua bất kỳ đường EKC tiềm năng nào để tránh khỏi những phát triển có khả năng gây tổn hại tới môi trường. Tác giả khuyến nghị, các chính phủ cần quyết tâm trong việc tìm ra các chính sách cùng thắng để đồng thời mang lại lợi ích kinh tế và lợi ích môi trường, giảm thiểu tác hại đối với môi trường bằng các biện pháp khắc phục hậu quả trước đó, cải cách chính sách để tránh thiệt hại môi trường nghiêm trọng. Trong công trình khoa học “Economic instruments for environmental regulation” (Các công cụ kinh tế cho quy định về môi trường) [139] của tác giả T.H.Tietenberg, Colby College có nêu ra vấn đề bảo vệ môi trường thông qua cách tiếp cận dựa trên động lực kinh tế, các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm đã được nghiên cứu một cách thận trọng và nghiêm túc, cung cấp những kiến thức nhất định cho các nhà hoạch định chính sách. Các nhà kinh tế đều khuyến cáo cần nâng cao mối quan tâm đối với việc thắt chặt kiểm soát về môi trường cũng như những mối nguy hiểm trong nền kinh tế địa phương với việc thắt chặt kiểm soát trong môi trường toàn cầu có tính cạnh tranh cao. Ngoài ra, còn có các công trình khoa học như: “Transformation of Growth Pattern and Growth Sustainability in China” (Chuyển đổi mô hình tăng trưởng và tăng trưởng bền vững ở Trung Quốc) của nhóm tác giả Wang Xiaolu, Fan Gang and Liu Peng [142]; “Economic growth, international competitiveness and environmental protection: R & D and innovation strategies with the WARM model” (Tăng trưởng kinh tế, tính cạnh tranh
- Xem thêm -