Tài liệu Mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khà năng sinh lời của công ty tại việt nam

  • Số trang: 75 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 147 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 39907 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM KHOA TÀI CHÍNH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: Ths. DƯƠNG KHA ĐỀ TÀI ĐẦU TƯ DOANH NGHIỆP, SỞ HỮU NHÀ NƯỚC VÀ CÁC KÊNH TÀI TRỢ Sinh viên thực hiện: Hoàng Duyên Anh TC08 (SĐT: 01663389652) (Email: duyenanhhoang@rocketmail.com) TP.HCM, tháng 4/2014 Mục lục Danh mục bảng Danh mục viết tắt CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI ....................................................................................................1 1.1 Lý do chọn đề tài ...................................................................................................................1 1.2 Mục tiêu nghiên cứu:.............................................................................................................1 1.3 Phương pháp nghiên cứu:......................................................................................................2 1.4 Bố cục bài nghiên cứu: ..........................................................................................................3 CHƯƠNG 2: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA QUẢN TRỊ VLC VÀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÔNG TY ......................................................5 CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI ................................ 14 3.1 Mô tả dữ liệu .......................................................................................................................14 3.2 Biến nghiên cứu: .................................................................................................................14 3.3 Giả thiết nghiên cứu ............................................................................................................18 3.4 Phương pháp nghiên cứu:....................................................................................................19 3.4.1 Mô hình nghiên cứu: ....................................................................................................19 3.4.2 Tiến trình nghiên cứu ...................................................................................................21 CHƯƠNG 4: KIỂM ĐỊNH SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN TRỊ VLC LÊN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÔNG TY TẠI VIỆT NAM ............................................................................................. 22 4.1 Thực hiện thống kê mô tả ....................................................................................................22 4.2 Phân tích tương quan ...........................................................................................................29 4.3 Phân tích hồi quy: ................................................................................................................32 4.3.1 Kiểm định lựa chọn mô hình REM và FEM: ............................................................... 32 4.3.2 Kết quả và ý nghĩa hồi quy .......................................................................................... 34 4.3.3 Kiểm định mô hình: .....................................................................................................55 4.3.4 Tổng kết chương ..........................................................................................................55 4.3.5 Hạn chế của bài nghiên cứu .........................................................................................56 CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN ..................................................................................................................57 PHỤ LỤC Phụ lục 1: Bảng kết quả hồi quy theo phương pháp FEM ................................................................ i Phụ lục 2: Bảng kết quả hồi quy theo phương pháp OLS ................................................................. ii Phụ lục 3: Danh sách các mã chứng khoán nghiên cứu .................................................................... iii DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1: Sơ lược các nghiên cứu thực nghiệm trước đây về tác động của quản trị VLC đến khả năng sinh lời của công ty .............................................................................................. 12 Bảng 3.1: Kỳ vọng về tương quan giữa khả năng sinh lời và các biến độc lập .................. 18 Bảng 4.1: Thống kê mô tả ................................................................................................... 23 Bảng 4.2: Lược đồ tương quan Perason .............................................................................. 29 Bảng 4.3: Kết quả ước lượng tác động của quản trị VLC lên khả năng sinh lời ................ 34 Bảng 4.4: Bảng so sánh kết quả nghiên cứu của đề tài với các nghiên cứu trước đây........ 39 Bảng 4.5: Kết quả ước lượng theo ngành với biến độc lập là CCC theo phương pháp REM ............................................................................................................................................. 42 Bảng 4.6: Kết quả ước lượng theo ngành với biến độc lập là NTC theo phương pháp REM ............................................................................................................................................. 43 Bảng 4.7: Kiểm định mối quan hệ phi tuyến giữa CCC, NTC và NOP .............................. 46 Bảng 4.8: Tác động của quản trị VLC lên khả năng sinh lời trong điều kiện ràng buộc tài chính .................................................................................................................................... 48 Bảng 4.9: Kiểm định nhân quả Granger giữa CCC và các biến khác ................................. 50 Bảng 4.10: Kiểm định nhân quả Granger giữa NTC và các biến khác ............................... 51 Bảng 4.11: Tác động của khả năng sinh lời và các yếu tố khác lên việc quản trị VLC ...... 53 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VLC: Vốn luân chuyển TSSL: Tỷ suất sinh lợi ACP: Kỳ thu tiền bình quân ITID: Kỳ luân chuyển hàng tồn kho bình quân APP: Kỳ phải trả bình quân CCC: Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt NTC: Chu kỳ kinh doanh thuần GWCTR: Tỷ lệ doanh thu thuần trên tài sản ngắn hạn CATAR: Tỷ lệ tài sản ngắn hạn CLATAR: Tỷ lệ nợ ngắn hạn FDR: Tỷ lệ nợ tài chính LOS: Quy mô công ty SG: Tăng trưởng doanh thu CR: Tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt FFA: Tỷ lệ tài sản tài chính cố định EX: Chi tiêu vốn DIV: Tỷ lệ chi trả cô tức bằng tiền mặt GDP: Tỷ lệ tăng trưởng GDP TÓM TẮT ĐỀ TÀI Với dữ liệu 118 công ty trên 2 sàn chứng khoán TP.HCM và Hà Nội, chúng tôi nghiên cứu tác động của việc quản trị vốn luân chuyển đến khả năng sinh lời của công ty. Bằng phương pháp hối quy theo FEM và REM chúng tôi thấy các thành phần của quản trị VLC đều có mối quan hệ ngược chiều với khả năng sinh lợi. Điều này ngụ ý rằng, công ty càng rút ngắn số ngày tồn kho và chu kỳ thu tiền thì khả năng sinh lời càng tăng. Ngoài ra bài còn kiểm định mối quan hệ phi tuyến giữa NOP và các 2 thành phần với luân chuyển (NTC và CCC) nhưng không tồn tại nên có thể kết luận rằng mối quan hệ đó là tuyến tính. Chúng tôi còn tìm ra rằng khà năng sinh lời và tỷ lệ tiền mặt năm trước càng cao thì việc quản trị VLC càng chặt hơn có thể do công ty đang theo đuổi chính sách quản trị VLC ổn định. Một phát hiện trái ngược với một số bài nghiên cứu trước đó là khi công ty đang trong tình trạng ràng buộc tài chính thì công ty vẫn có thể mở rộng chính sách VLC nếu công ty hướng đến mụ tiêu VLC tối ưu ở mức cao hơn. Ngoài ra, bài nghiên cứu cũng còn cho thấy mối quan hệ giữa tỷ lệ nợ ngắn hạn, tỷ lệ nợ tài chính, tỷ lệ chi trả cổ tức tiền mặt với khả năng sinh lời là tương quan âm có ý nghĩa thống kê và tỷ lệ doanh thu trên tài sản ngắn hạn, tỷ lệ tài sản ngắn hạn, tỷ lệ tăng trưởng doanh thu, tỷ lệ tài sản tài chính cố định, tỷ lệ chi tiêu vốn và tăng trưởng GDP có tác động dương lên khả năng sinh lời có ý nghĩa. Do đó ngoài việc quản trị tốt vốn luận chuyển còn phải quản lý tốt các nhân tố kể trên để làm tăng giá trị của công ty trong ngắn cũng như dài hạn. 1 MỐI QUAN HỆ GIỮA QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN VÀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÔNG TY CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1.1 Lý do chọn đề tài Quản trị VLC luôn là vấn đề được các giám đốc tài chính và các nhà khoa học quan tâm vì có tác động lớn đến thành quả hoạt động của công ty. Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang phục hồi từ sau cuộc khủng hoảng, quản trị tốt VLC là một trong các mục tiêu quan trọng mà doanh nghiệp cần hướng đến. Việc đầu tư vào các thành phần của VLC thật sự chỉ mang lại lợi ích cho công ty một khi hiệu quả thu được từ việc tài trợ cho các thành phần VLC lớn hơn chi phí sử dụng vốn dùng để tài trợ cho nguồn VLC. Trong vài năm trở lại đây, lạm phát ở Việt Nam ở mức khá cao điển hình như năm 2011 lên đến trên 18%, vậy việc găm vốn vào hàng tồn kho có phải là giải pháp hiệu quả hay để nâng cao uy tín của mình một số công ty có chính sách tín dụng thương mại thoáng hơn. Hơn nữa lượng tiền mặt bao nhiêu được xem là thích hợp để công ty vừa có thế đảm bảo khả năng thanh toán trong ngắn hạn vừa có được các khoản đầu tư làm tăng giá trị công ty. Chiến lược của công ty là phải cân bằng giữa hai mục tiêu tính thanh khoản và khả năng sinh lời của công ty. Chúng ta không thể loại bỏ hoàn toàn một mục tiêu nào, chẳng hạn nếu như chúng ta bỏ qua khả năng sinh lời thì công ty khó lòng tồn tại và duy trì hoạt động trong thời gian dài, còn nếu bỏ qua tính thanh khoản công ty sẽ đối mặt với khả năng mất thanh toán các khoản nợ đến hạn. Vì vậy quản trị VLC là một phần rất quan trong trong công việc của nhà quản lý, có ảnh hưởng đến sự tồn vong của côn ty. Chính vì thế chúng tôi lựa chọn đề tài: Quản trị VLC và khả năng sinh lời của các doanh nghiệp tại Việt Nam, với mục đích làm rõ tầm quan trọng của việc quản trọ VLC đối với khả năng sinh lời của công ty. 1.2 Mục tiêu nghiên cứu: Để nghiên cứu mối quan hệ giữa viện quản trị VLC và khả năng sinh lời của công ty chúng tôi lần lượt làm rõ các vấn đề sau:  Thứ nhất, quản trị VLC có tác động đến khả năng sinh lời của công ty hay không.  Thứ hai, nếu có tác động thì giữa chúng có mối quan hệ cùng hay ngược chiều. 2  Thứ ba chúng tôi so sánh xem liệu các ngành khác nhau có quản trị VLC giống nhau hay không.  Thứ tư, kết quả nghiên cứu có khác gì so với các bài nghiên cứu trước ở thế giới và cả Việt Nam hay không.  Thứ năm, mối quan hệ giữa khả năng sinh lời và các thành phần của VLC là tuyến tính hay phi tuyến (do một số quan điểm cho rằng một số thành tố cấu tạo nên VLC có quan hệ phi tuyến với khả năng sinh lợi của doanh nghiệp.  Thứ sáu chúng tôi kiểm định xem liệu khi công ty rơi vào tình trạng ràng buộc tài chính thì chính sách quản trị VLC bị ảnh hưởng như thế nào  Cuối cùng chúng tôi kiểm định xem khả năng sinh lời có tác động trở lại việc quản trị VLC hay không. 1.3 Phương pháp nghiên cứu: Để nghiên cứu mối quan hệ giữa việc quản trị VLC và khả năng sinh lời của công ty chúng tôi tiến hành thực nghiệm trên dữ liệu gồm 118 công ty phi tài chính thuộc 3 ngành khách nhau (ngành hàng tiêu dùng, dịch vụ công nghiệp và vật liệu xây dựng) trên cả sàn chứng khoán (HOSE, HNX, UPCOM) trong giai đoạn 2006-2012 với 826 quan sát. Chúng tôi đưa vào mẫu nghiên cứu một số công ty thuộc sàn UPCOM vì các công ty này có tầm quan trọng đáng kể trong ngành nhưng chưa niêm yết trên sàn chứng khoán chính thức, việc bỏ qua những công ty này là một thiếu sót, các số liệu tài chính chúng tôi lấy từ báo cáo tài chính đã kiểm toán nên sự sai sot thông tin sẽ giảm đi. Hơn nữa chúng tôi lại lựa chọn 3 ngành khác nhau như vậy là để xem chính sách quản trị VLC giữa các ngành có khác biệt nhau không dựa trên chu kỳ kinh doanh của từng ngành, trong nẫu ngành xây dựng có chu kỳ kinh doanh dài nhất, tiếp đến là ngành hàng công nghiệp và sau cùng là ngành hàng tiêu dùng. Để ước lượng mối quan hệ trên chúng tôi tiến theo trình tự sau: Đầu tiên chúng tôi kiểm định tính dừng và độ trễ của các biến để đảm bảo các điều kiện ban đầu của việc ước lượng. Tiếp theo chúng tôi tiến hành thống kê mô tả các biến sau:  Biến độc lập: NOP (thu nhập hoạt động ròng) đại diện cho khả năng sinh lời của công ty  Biến phụ thuộc: ACP (kỳ thu tiền bình quân), ITID (số ngày tồn kho bình quân), APP ( kỳ phải trả bình quân), NTC (chu kỳ kinh doanh thuần)  Biến điều khiển: GWCTR, CATAR, CLTAR, FDR, LOS, SG, CR, FFA, EX, GDP. 3  Biến giả: gồm biến giả ngành và biến giả năm. Sau đó chúng tôi dùng lược đồ tương quan Pearson để xem xét mối tương quan giữa các biến và tiến hành hồi quy lần lược theo 3 phương pháp Pooled OLS, FEM, và REF, tiếp đến thực hiện các kiểm định Hauman test và Log likehood để chọn ra mô hình phù hợp Chúng tôi còn sử dụng kiểm định nhân quả Granger để xem xét nguồn gốc tác động lên các biến. Cuối cùng chúng tôi thực hiện kiểm định về ý nghĩa của mô hình, hiện tượng tự tương quan, đa cộng tuyến và tính dừng của phần dư. Để ước lượng mối quan hệ trên chúng tôi sử dụng những mô hình sau đây: (1) NOPit=β0 + β1(ACPit) + β2(GWCTRit) + β3(CATARit) + β4(CLTARit) + β5(FDRit) + β6(LOSit) + β7(SGit) + β8 (CRit) + β9(FFAit) + β10(EXit) + β11(GDPit) + εit (2) NOPit=β0 +β1(ITIDit) + β2(GWCTRit) + β3(CATARit) + β4(CLTARit) + β5(FDRit) + β6(LOSit) + β7(SGit) + β8(CRit) + β9(FFAit) + β10(EXit) + β11(GDPit) + εit (3) NOPit=β0 + β1(APPit) + β2(GWCTRit) + β3(CATARit) + β4(CLTARit) + β5(FDRit) + β6(LOSit) + β7(SGit) + β8 (CRit) + β9(FFAit) + β10(EXit) + β11(GDPit) + εit (4) NOPit=β0 +β1(CCCit) + β2(GWCTRit) + β3(CATARit) + β4(CLTARit) + β5(FDRit) + β6(LOSit) + β7(SGit) + β8 (CRit) + β9(FFAit) + β10(EXit) + β11(GDPit) + εit (5) NOPit=β0 +β1(NTCit) + β2(GWCTRit) + β3(CATARit) + β4(CLTARit) + β5(FDRit) + β6(LOSit) + β7(SGit) + β8 (CRit) + β9(FFAit) + β10(EXit) + β11(GDPit) + εit 1.4 Bố cục bài nghiên cứu: Phần đầu tiên chúng tôi sẽ tổng quan về các nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam về mối quan hệ giữa quản trị VLC và khả năng sinh lời của công ty ở nhiều 4 quốc gia với những khoảng thời gian, loại hình công ty khác nhau và các phương pháp khác nhau. Phần thứ 2 trình bày dữ liệu nghiên cứu và phương pháp, phần này giải thích mô hình hồi quy được sử dụng và các biến trong mô hình, lý do chọn các biến này đồng thời sẽ giải thích về thời kì lấy mẫu nghiên cứu và nguồn dữ liệu. Sau đó, trình bày các phương pháp hồi quy Pooled OLS, REM, FEM và các kiểm định cần thực hiện. Phần thứ 3 là kết quả thực nghiệm, trong phần này sẽ xem xét kết quả của quá trình nghiên cứu, bao gồm các phân tích về thống kê mô tả, phân tích tương quan và hồi quy đa biến. Ngoài ra, trong phần này sẽ xem xét các hiện tượng tự tương quan, đa cộng tuyến, quan hệ nhân quả Granger trong mô hình. Trong phần chúng tôi phân tích các kết quả hồi quy mẫu chung và các ngành khác nhau, chúng tôi phân tích tại sao lại có kết quả như vậy và các nguyên nhân dẫn đến sự khác nhau trong chính sách quản lý VLC giữa các ngành. Phần thứ 4 là phần mở rộng bài nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa vòng quay tiền mặt và tỷ suất sinh lợi là phi tuyến tính. Cuối cùng là phần kết luận của bài nghiên cứu. Trong phần này sẽ đưa ra những kết luận rút ra từ bài nghiên cứu, lời khuyên cho các nhà quản trị, nhà đầu tư. Đồng thời định hướng cho các bài nghiên cứu sau khắc phục những giới hạn của đề tài này. 5 CHƯƠNG 2: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TRÊN THẾ GIỚI VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA QUẢN TRỊ VLC VÀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÔNG TY Quản lý VLC là một phạm vi cực kỳ quan trọng của quản trị tài chính vì tài sản ngắn hạn đại diện cho hơn một nửa tổng tài sản của doanh nghiệp. VLC được xác định bằng sự khác biệt giữa tài sản ngắn hạn (nó bao gồm các khoản phải thu, hàng tồn kho, và tiền mặt) và nợ ngắn hạn (nó bao gồm các khoản phải trả và nợ ngắn hạn). Nó đại diện cho nguồn và cách sử dụng nguồn vốn ngắn hạn. Theo Dewing (1941) nó cùng với vốn cố định, là một thành tố quan trọng của doanh nghiệp. Kim và Srinivasan (1988) nhấn mạnh giá trị các thành phần riêng biệt của VLC. Ví dụ, việc giữ nhiều hàng tồn kho có thể làm doanh nghiệp tránh sự gián đoạn trong quá trình sản xuất và chi phí kho bãi. Ngoài ra, việc cấp tín dụng thương mại cho một khách hàng của nó có thể kích thích tăng doanh số vì nó cho khách hàng biết được chất lượng của sản phẩm trước khi mua nó (Long et al., 1993; Petersen và Rajan (1997)). Mục tiêu căn bản của quản trị VLC như sau:  Tối ưu hoá việc đầu tư vào tài sản ngắn hạn và giảm mức độ nợ ngắn hạn, do đó công ty có thể giảm việc găm giữ các nguồn quỹ vào VLC và có thể nâng cao khả năng sinh lời từ hoạt động kinh doanh.  Quản lý VLC là việc mà công ty nên luôn luôn đặt trong một vị trí sẵn sang để đáp ứng các nghĩa vụ ngắn hạn mà được tài trợ bởi tài sản ngắn hạn có sẵn của công ty. Nhưng giữ lại quá nhiều các quỹ trong VLC có nghĩa là quỹ bị găm giữ, không thể sinh lời.  Để quản lý tài sản ngắn hạn của công ty, làm cho lợi nhuận biên từ việc đầu tư vào tài sản này không nhỏ hơn chi phí sử dụng vốn sử dụng để tài trợ cho tài sản ngắn hạn. VLC thường được sử dụng để đo lường tính thanh khoản của công ty. Tính thanh khoản là một điều kiện tiên quyết để đảm bảo rằng công ty có thể đáp ứng các nghĩa vụ ngắn hạn của nó. Sự thiếu tính thanh khoản có thể dẫn đến phá sản (Dunn và Cheatham, 1993). Tuy nhiên 6 tính thanh khoản quá cao có thể gây bất lợi cho khả năng sinh lợi của công ty (Bhattacharya, 2001). Quản lý tốt VLC theo đó đòi hỏi phải cân bằng giữa tính thanh khoản và khả năng sinh lợi để tối đa hoá giá trị công ty. Những lợi thế của việc giữ hàng tồn kho và mở rộng chính sách tín dụng cho khách hàng được nêu ở trên. Tuy nhiên, hàng tồn kho và tín dụng cho khách hàng quá nhiều, thì sẽ có ít tiền mặt có sẵn để công ty đầu tư sinh lời. Điều này cho thấy rằng việc tìm ra mức VLC tối ưu có thể là một nhiệm vụ khó khăn cho các nhà quả lý của công ty (Deloof, 2003). Việc đầu tư vào VLC có liên quan đến chi phí nắm giữ và chi phí thiếu hụt, do đó công ty cần phải tìm ra sự cân đối giữa chúng. Kinh nghiệm cho thấy rằng một lý do chính của rối loạn tài chính và phá sản trong hầu hết các công ty là do quản lý yếu kém VLC. Việc quản trị VLC hiệu quả cũng làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp so với các đối thủ (Appuhami, 2008). Các nhà quản lý dành một khoảng thời gian đáng kể cho các quyết định về VLC vì tài sản ngắn hạn là những khoản đầu tư ngắn hạn liên tục được chuyển thành các dạng tài sản khác (Rao, 1989). Đối với nợ ngắn hạn, công ty có trách nhiệm đáp ứng các nghĩa vụ nợ ngắn hạn một cách kịp thời. Tính thanh khoản đối với công ty thì rất quan trọng, dựa trên dòng tiền từ hoạt động được tạo ra bởi tài sản của công ty (Soenen, 1993). Vì thế, quản trị VLC là 1 lĩnh vực nhạy cảm trong việc quản trị tài chính (Abuzayed, 2012). Một số quan điểm khác cho rằng việc giữ tính thanh khoản cao cho công ty có thề làm giảm giảm sút khả năng sinh lời thông qua các cơ hội phí cho các đầu tư sinh lời khác và các chi phí liên quan đến việc tăng các tài sản ngắn hạn. Để làm rõ thêm các quan điểm về quản trị VLC ảnh hưởng đến khả năng sinh lời như thế nào chúng tôi lần lượt giới thiệu tóm tắt các nghiên cứu trước đây theo thời gian về mối quan hệ này: Shin và Sonen (1998) sử dụng mẫu theo năm gồm 58,985 công ty trong suốt từ năm 1975 đến 1994 để làm rõ mối quan hệ giữa chu kì chuyển đổi tiền mặt (Net Trade Cycle or Cash Conversion Cycle) – thước đo được sử dụng để đo lường hiệu quả quản lý VLC và lợi nhuận hoạt động. Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt đo lường khoảng thời gian tiền được giữ dưới dang các khoản phải thu, phải trả và hàng tồn kho cho đến khi trở lại hình thái ban đầu là tiên mặt. Tác giả thấy rằng công ty có thể đạt được doanh thu lớn hơn với một chính sách tín dụng thoáng hơn, điều này làm tăng chu kì chuyển đổi tiền mặt. Trong tình huống này, chu kì chuyển đồi tiền mặt dài hơn dẫn đến làm tăng khả năng sinh lời của công ty. Tuy 7 nhiên, theo quan điểm truyền thống thì ngược lại, một chu kì tiền mặt dài hơn làm giảm khả năng sinh lời của công ty. Deloof (2003) phát hiện ra rằng cách thức quản lý VLC có một tác động đáng kể lên khả năng sinh lời của công ty. Tác giả sử dụng mẫu gồm 1009 công ty phi tài chính lớn của Bỉ trong giai đoạn từ 1992-1996. Tuy nhiên, chính sách tín dụng và chính sách hàng tồn kho được bằng số ngày phải thu, khoản phải trả và hàng tồn kho, và chu kì chuyển đồi tiền mặt đo lường việc quản trị VLC. Tác giả tìm ra mối quan hệ có ý nghĩa và ngược chiều giữa thu nhập hoạt động ròng và vòng quay khoản phải thu, khoản phải trả và hàng tồn kho. Do đó, tác giả suy ra rằng nhà quản lý có thể tạo ra giá trị cho các cổ đông bằng việc giảm vòng quay khoản phải thu và vòng quay hàng tồn kho đến mức nhỏ nhất hợp lý. Tác giả cũng nhận định rằng những công ty ít sinh lợi hơn chờ lâu hơn để thanh toán hóa đơn của họ (vòng quay khoản phải trả dài hơn). Lazaridis và Tryfonidis (2006) nghiên cứu quan hệ giữa khả năng sinh lời của doanh nghiệp và quản lý VLC với mẫu là 131 công ty trên sàn Athens trong giai đoạn 2001-2004. Tác giả tìm ra mối quan hệ nghịch chiều và có ý nghĩa thống kê của các thành phần VLC (chu kỳ chuyển tiền mặt, kỳ tồn kho và phải thu bình quân) với khả năng sinh lời, riêng kỳ phải trả có tương quan dương với khả năng sinh lời điều này cho thấy rằng chiếm dịch vốn của nhà cung cấp càng lâu thì càng sinh lợi. Đối với kỳ phải thu, tác giả cho rằng công ty bị khách hàng chiếm dụng vốn càng lâu thì khả năng sinh lời càng thấp. Tương tự như vậy, việc tăng hàng tồn kho ứ đọng sẽ dẫn đến làm giảm khả năng sinh lời. Cuối cùng, các tác giả nhận định rằng việc duy trì các thành phần VLC ở một mức tối ưu sẽ làm tăng khả năng sinh lời cho công ty. Padachi (2006) nghiên cứu các hướng quản trị VLC và tác động của nó lên kết quả hoạt động của công ty với mẫu gồm 58 công ty sản xuất nhỏ của Mautitia từ 1998 đến 2003. Tác giả giải thích rằng việc quản trị VLC được vạch ra và tiến hành tốt có tác động cùng chiều lên việc tạo ra giá trị cho công ty. Các kết quả này chỉ ra rằng đầu tư nhiều vào hàng tồn kho và khoản phải thu dẫn đến khả năng sinh lời thấp và cũng chỉ ra có xu hướng tăng trong các thành phần ngắn hạn của việc tài trợ VLC. Garcia-Teruel và Martinez-Solano (2007) đã nghiên cứu tác động của VLC lên khả năng sinh lợi của những công ty vừa và nhỏ ở Tây Ban Nha. Đa số tài sản của các công ty vừa và nhỏ là tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn là nguồn tài trợ bên ngoài quan trọng. Tác giả sử 8 dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng bao gồm 8872 công ty trong giai đoạn 1996-2002. Kết quả thể hiện rằng nhà quản trị có thể gia tăng giá trị cổ phần bằng cách làm giảm kỳ thu tiền bình quân, kỳ tồn kho bình quân, kỳ phải trả bình quân và vòng quay tiền mặt. Các ước lượng của tác giả về mối quan hệ này đều có ý nghĩa thống kê. Tương tự, Raheman và Nasr (2007) cũng cho thấy mối quan hệ ngược chiều có ý nghĩa giữa các thành phần VLC và khả năng sinh lời với mẫu gồm 94 công ty Pakistan trong giai đoạn 1999-2004. Losbichler et al. (2008) thực hiện nghiên cứu 6925 công ty Châu Âu từ 1995 đến 2004. Họ cho thấy trung bình các công ty có thể giảm được chu kì chuyển đổi tiền mặt khoản 2 ngày. Để nghiên cứu liệu có ngành công nghiệp nào hoặc công ty nào có thể giảm chu kì chuyển đổi tiền mặt của họ với cùng mức chi phí của công ty khác trong chuỗi giá trị (value chain), Losbichler et al. xem xét các nghành công nghiệp cung ứng cho những ngành khác. Họ thấy rằng ngành công nghiệp dẫn đầu của của chuỗi giá trị có khả năng giảm chu kì chuyển đổi tiền mặt (CCC) của nó hơn nhưng ngành công nghiệp mà nó cung ứng. Mathuva (2009) đã kiểm tra tác động giữa quản lý VLC cùng các thành phần của nó đến lợi nhuận hoạt động trên mẫu gồm 30 công ty được niêm yết trên thị trường chứng khoán Nairobi giai đoan 1993 – 2008. Các điểm chính trong kết quả nghiên cứ của ông là:  Tồn tại một mối quan hệ nghịch biến giữa kì thu tiền bình quân và lợi nhuận.  Tồn tại một mối quan hệ đồng biến giữa số ngày tồn kho bình quân và lợi nhuận.  Tồn tại mối quan hệ đồng biến giửa kì trả tiền bình quân và lợi nhuận. Falope và Ajilore (2009) sử dụng một mẫu gồm 50 công ty phi tài chính ở Nigeria giai đoạn 1996 – 2005, và tìm thấy mối quan hệ nghịch biến giữa thu nhập hoạt động ròng và kỳ thu tiền bình quân, số ngày tồn kho bình quân, kỳ trả tiền bình quân và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt ở các công ty này. Hơn nữa, nghiên cứu này cũng không tìm thấy sự khác biệt đáng kể giữa tác động của việc quản lý VLC giữa các công ty lớn và các công ty nhỏ. Khác với Mathuva (2009) và Falope và Ajilore (2009), Afza và Nazir (2009) đã nghiên cứu về mối quan hệ này giữa các ngành công nghiệp khác nhau với mẫu là 204 công ty phi tài chính được niêm yết trên sàn chứng khoán Karachi (KSE) giai đoạn 1998 – 2005. Nghiên cứu này cho thất có sự khác biệt đáng kễ giữa các yêu cầu VLC và chính sách tài trợ giữa các ngành công nghiệp khác nhau. Ngoài ra, kết quả hồi quy cho thấy một mối quan hệ nghịch biến giữa khả năng sinh lời và mức độ của VLC trong tổng nguồn vốn đầu tư cũng 9 như vốn tài trợ. Họ cho rằng các nhà quản lý có thể tăng giá trị doanh nghiệp nếu họ xem xét một cách thận trọng việc đầu tư bằng VLC cũng như cân nhắc về chính sách vốn tài trợ. Uyar (2009) cũng đã tìm ra mối tương quan âm có ý nghĩa thống kê giữa vòng quay tiền mặt và tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA). Bằng phân tích ANOVA và tương quan Pearson với dữ liệu nghiên cứu gồm các công ty trên sàn chứng khoán Istanbul (ISE) năm 2007, tác giả chỉ ra rằng, những công ty với vòng quay tiền mặt thấp hơn thì dường như có tính sinh lợi hơn những công ty với vòng quay tiền mặt dài hơn. Bài nghiên cứu đầu tiền về mối quan hệ này ở Việt Nam là hai tác giả Huỳnh Phương Đông và Jyh-tay Su (2010) cho thấy khả năng sinh lời và tính thanh khoản của công ty chịu ảnh hưởng bởi việc quản trị VLC. Dữ liệu dạng Pooled được tác giả sử dụng cho nghiên cứu 131 công ty trên sàn chứng khoán Việt Nam từ 2006 đến 2008. Tác giả tập trung vào các biến: khả năng sinh lời, chu kì chuyển đổi tiền mặt và các thành phần có liên quan của nó. Tác giả chỉ ra rằng mối quan hệ giữa các biến này là ngược chiều nhau. Điều này ngụ ý rằng sự sụt giảm khả năng sinh lời xảy ra khi có sự gia tăng trong chu kì chuyển đồi tiền mặt. Đồng thời, nếu vòng quay khoản phải thu và vòng quay hàng tồn kho giảm đi thì sẽ làm cho khả năng sinh lời tăng lên. Nghiên cứu ở thị trường Mỹ, năm 2010, Amarjit Gill, Nahum Biger và Neil Mathur đã tìm thấy mối quan hệ cùng chiếu có ý nghĩa thống kê giữa chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và khả năng sinh lời. Từ đó nhà quản lý có thể tăng khả năng sinh lời cho công ty bằng việc xử lý một cách đúng đắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và khoản phải thu ở múc tối ưu. Mẫu nghiên cứu gồm 88 công ty sản xuất thuộc 5 lĩnh vực khác nhau: công nghiệp, thiết bị y tế, hóa chất, năng lượng và lương thực, các công ty này đều được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán New York trong giai đoạn từ 2005-2007. Kết quả ước lượng cho thấy mối tương quan dương giữa chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và khả năng sinh lời. Tác giả ngụ ý rằng các công ty nên duy trì số dư tiền mặt hợp lý để đảm bảo khả năng đáp ứng về các khoản phải trả ngắn hạn. Bài nghiên cứu cho thấy các nhà quản trị có thể tao ra giá trị cho các cổ đông bằng các giảm kỳ phải thu bình quân. Neab và Noriza (2010) cũng nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị VLC và kết qủa hoạt động của công ty với mẫu gồm 172 công ty trên sàn chứng khoán Malaysia từ 2003 đến 2007. Tác giả nghiên cứu tác động của các thành phần của việc quản trị VLC như: CCC, tỷ lệ thanh toán hiện hành (CR), tài sản ngắn hạn tên tổng tài sản (CARTAR), nợ ngắn hạn 10 trên tổng tài sản (CLTAR), và nộ trên tổng tài sản (DTAR) lên kết quả hoạt động của công ty được đo bằng Tobin Q (TQ) và khà năng sinh lời (như ROA, ROIC). Họ áp dụng hai kỹ thuật để phân tích dữ liệu là hồi quy đa biến và ma trận tương quan. Họ tìm ra mối quan hệ nghịch biến giữa các biến VLC và kết quả hoạt động của công ty. Tương tự, Nor E. và cộng sự (2010) nghiên cứu 172 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Bursa Malaysia trong 5 năm từ 2003-2007. Thông qua phân tích hồi quy đa nhân tố và phân tích tương quan, hai nhà khoa học đã chỉ ra rằng có mối tương quan âm có ý nghĩa thống kê giữa VLC và khả năng sinh lời. Sharma và Kumar (2011) đã nghiên cứu tác động của VLC lên khả năng sinh lợi ở những công ty Ấn Độ với dữ liệu nghiên cứu gồm 263 công ty phi tài chính BSE 500 niêm yết trên sàn chứng khoán Bombay từ 2002 đến 2008. Hai nhà khoa học đã phân tích dữ liệu bằng hồi quy đa nhân tố OLS và tìm thấy mối tương quan dương giữa VLC và tỷ suất sinh lợi. Điều này có nghĩa rằng khi các công ty Ấn Độ gia tăng vòng quay tiền mặt, tỷ suất sinh lợi có thể cao hơn. Các tác giả suy luận rằng Ấn Độ là thị trường đang phát triển, các công ty dường như sinh lợi nhiều hơn khi mở rộng chính sách bán chịu, do đó có nhiều khách hàng hơn, nhiều doanh thu hơn, và dẫn tới nhiều lợi nhuận hơn. Mustafa (2011), cho thấy việc quản trị hiệu quả VLC co thế có tác động lớn hơn đến khả năng sinh lợi của các công ty nhỏ hơn là những công ty lớn vì trong tổng tài sản các doanh nghiệp này thì chủ yếu là tài sản ngắn hạn và một phần khá lớn trong tổng nợ là nợ ngắn hạn. Mẫu nghiên cứu gồm 40 doanh nghiệp vừa và nhỏ Pakistan niêm yết trên sàn Karachi trong giai đoạn từ 2003 đến 2008. Kết quả cho tương quan và hồi quy cho thấy có mối quan hệ phủ định mạnh giữa chu kỳ hàng tồn kho và kỳ thu tiền bình quân. Tuy nhiên, không có tương quan ý nghĩa cao giữa chu kỳ tiền mặt (CCC) và kỳ phải trả với khả năng sinh lời của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Khác với các nghiên cứu trước cho thấy mối quan hệ tuyến tính giữa các thành phần VLC và khả năn sinh lời, Sonia B. và cộng sự (2011) đã chứng minh rằng: Mối quan hệ giữa khả năng sinh lời và VLC là không tuyến tính, các doanh nghiệp có thể có mức VLC tối ưu, cân bằng lợi nhuận và chi phí, đồng thời tỷ suất sinh lợi cũng là lớn nhất. Năm 2012, Arunkumar O.N và T.Radharamanan tập trung nghiên cứu mối quan hệ này của các công ty trong ngành sản xuất tại Paskistan, gồm 1198 công ty trong giai đoạn nghiên cứu là 5 năm từ 2006-2010. Kết quả cho thấy mối tương quan dương giữa khả năng 11 sinh lời và kỳ phải trả bình quân, kỳ hàng tồn kho. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng khả năng sinh lời sẽ cải thiện khi chu kỳ chuyển đổi tiền mặt ngắn hơn. Các tác giả kết luận: đối với các công ty Ấn Độ, các công ty này cần duy trì kỳ luân chuyển hàng tồn kho và kỳ trả tiền bình quân sao cho tương đối dài, đầu tư cho tài sản ngắn hạn phải tương xứng với nợ để đảm bảo và nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh. Cũng cùng khoản thời gian đó, V.Taghizadeh Khanqah (2012) nghiên cứu trên 50 công ty thuộc ngành dược phẩm và xi măng từ 2006-2009. Bằng phương pháp hồi quy Pooled và bảng tương quan tác giả đã tìm thấy mối quan hệ nghịch biến và có ý nghĩa giữa các thành phần VLC: kỳ phải thu, kỳ phải trà, kỳ luân chuyển hàng tồn kho và chu kỳ tiền mặt với khả năng sinh lời của công ty.Tác giả cũng sử dụng thêm một thước đo VLC khác là chu kỳ kinh doanh thuần để xem xét, nhưng mối quan hệ giữa chu kỳ kình doanh ròng và khả năng sinh lời là không có ý nghĩa. Sau đó trong khoảng thời gian và tại quốc gia này, Abbasali Pourahajan and Milad Emamholipourarchi nghiên cứu với mẫu 400 quan sát của 80 công ty trong giai đoạn 2006-2010 cho thấy tồn tại mối quan hệ có ý nghĩa giữa quản trị VLC và khả năng sinh lời của công ty, nhưng không tồn tại mối quan hệ có ý nghĩa với giá trị thị trường của công ty. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy nhà quản trị có thể làm tăng khả năng sinh lời của các công ty thông qua việc giảm chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và tỷ lệ nợ. Iluta A. và cộng sự (2012) nghiên cứu 182 công ty ở Latvian trong giai đoạn 2004-2010. Các tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích tương quan Pearson, hồi quy đa nhân tố và kết luận rằng có mối tương quan âm có ý nghĩa thống kê giữa kỳ thu tiền bình quân và khả năng sinh lời. Trong khi đó, nghiên cứu của Mathias Bernard Baveld (2012) chỉ ra mối tương quan dương giữa khoản phải thu và tỷ suất sinh lợi gộp. Vì vậy, các công ty lớn có thể gia tăng lợi ích lâu dài thông qua gia tăng khoản phải thu, mở rộng chính sách bán chịu. Điều này dựa trên thực tế rằng: chính sách bán chịu sẽ mở rộng số lượng khách hàng. Từ những nghiên cứu thực nghiệm khác nhau, các tác giả đưa ra những quan điểm khác nhau trong việc quản trị VLC được trình bày tóm tắt trong bảng 2.1. Hầu hết các tác giả đều cho rằng để tăng khả năng sinh lời thì nên rút ngắn chu kỳ tiền mặt. Tuy nhiên, một số tác giả thì cho rằng nên giữ tỷ trọng các thành phần VLC ở mức tối ưu (Lazaridis (2006), Đông (2010), Mathuva (2010) hay Mustafa (2011), một số khác lại cho rằng chỉ cần quàn trị khoản phải thu (Gill 2010), hay chỉ quản trị hàng tồn kho, khoản phải trả (Garcia-Teruel 2007, Arunkumar 2012). 12 Đối với tình hình Việt Nam hiện tại, một số ngành vẫn còn đang hoạt động trì trệ kể từ khi khủng hoảng 2008, đối với nhưng công ty thuộc ngành này thường gặp những vấn đề chung như thiếu hụt vốn, khách hàng ngày càng giảm sút cũng như sự thiếu hụt các nhà cung cấp dài hạn có chất lượng tốt. Mặc dù mối quan hệ này ở Việt Nam đã được nghiên cứu từ nhiều năm trước nhưng chúng tôi nghĩ rằng vấn đề quản trị VLC vẫn còn là chủ đề cần được quan tâm hơn nữa vì đa số các doanh nghiệp ở Việt Nam đều là doanh nghiệp vừa và nhỏ nên việc quản trị VLC cũng mang tính chất quyết định sống còn, hơn nữa hầu hết các nghiên cứu trước đều dừng lại ở việc kiểm định tác đọng của quản trị VLC lên khả năng sinh lời của công ty mà ít nghiên cứu về mối quan hệ ngược lại tức là khả năng sinh lời có tác đông gì đến chính sách VLC của công ty hay không. Phần sau đây chúng tôi sẽ tiến hành kiểm định hai mối quan hệ đó đối với các công ty ở Việt Nam Bảng 2.1: Sơ lược các nghiên cứu thực nghiệm trước đây về tác động của quản trị VLC đến khả năng sinh lời của công ty Mối quan hệ đối với khả năng sinh lời Nghiên cứu Quốc gia Mẫu Kỳ phải thu Shin và Sonen tồn kho Chu kỳ phải tiền trả mặt 58,985 công ty (1998) (+) (1975-1994) Deloof (2003) Bỉ Lazaridis và Tryfonidis Hy lạp (2006) Padachi (2006) Mautitia 1009 công ty (1992-1996) 131 công ty (2001-2004) 58 công ty (1998-2003) Garcia-Teruel và Tây Ban 8872 công ty Martinez (2007) Nha (1996-2002) Raheman 94 công ty Nasr (2007) Kỳ hàng Kỳ và Pakistan (1999-2004) (-) (-) (-) (-) (-) (-) (+) (-) (-) (-) (-) (-)/(+) (-) (-) (-) (-) (-) (-) (-) (-) Chu kỳ kinh doanh thuần (-) 13 Losbichler et al. (2008) Mathuva (2009) Falope và Ajilore (2009) Afza và Nazir (2009) Đông và Jyh-tay Su (2010) Amarjit Gill (2010) Nor E. và cộng sự (2010) Sharma và Kumar (2011) Mustafa (2011) Ahsen Saghir (2011) Arunkumar (2012) V.Taghizadeh Khanqah (2012) Châu Âu 30 công ty Nairobi (1993-2008) Nigeria Pakistan Việt Nam Mỹ Malaysia Ấn Độ Pakistan Pakistan Pakistan Iran Iran (2012) Iluta A. và cộng sự (2012) (1995-2004) Sàn Abbasali Pourahajan 6925 công ty Latvia 50 công ty (1996-2005) 204 công ty (1998-2005) 131 công ty (2006-2008) 88 công ty (2005-2007) 172 công ty (2003-2007) 263 công ty (2002-2008) 40 công ty (2003-2008) 60 công ty (2001-2006) 1198 công ty 2006-2010) 50 công ty (2006-2009) (-) (-) (-) (-) (-) (+) (+) (-) (-) (-) (-) (-) (-) (-) (-) (-) (-) (-) (+) (-) (-) (+) (-) (-) (-) (-) (+) (-) (-) (+) (-) (-) (-) (+) (-) (-) (-) (-) (-) (+) (+) (-) (-) (-) (-) (-) (+) 80 công ty (-) (2006-2010) 182 công ty (2004-2010) (-) (-) 14 CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 3.1 Mô tả dữ liệu Để nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị VLC và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp chúng tôi tiến hành thu thập dữ liệu của 118 công ty phi tài chính trên cả 3 sàn chứng khoán (HOSE, HNX, UPCOM) thuộc 3 ngành: dịch vụ công nghiệp, vật liệu xây dựng và hàng tiêu dùng. Trong đó có 52 công ty thuộc ngành dịch vụ công nghiệp, 43 công ty thuộc ngành vật liệu xây dựng và 23 công ty thuộc ngành hàng tiêu dùng. Khoảng thời gian chúng tôi nghiên cứu là từ 2006 đến 2012 với tổng cộng 826 quan sát. Các công ty trong mẫu của chúng tôi phải thỏa mãn điều kiện là vẫn còn hoạt động cho đến năm 2013 và sẵn có các báo tài chính đã được kiểm toán. Với việc lựa chọn số quan sát khá lớn như thế này chúng tôi tin rằng các kết quả ước lượng sẽ được chuẩn xác hơn. Lý do chúng tôi chọn các công ty thuộc 3 ngành khác nhau là để so sánh sự khác biệt trong chính sách quản trị VLC đối với mỗi ngành, đồng thời nó giúp tạo cái nhìn tổng quát hơn về tình hình quản trị VLC của các công ty. Ngành hàng tiêu dùng và vật liệu xây dựng chịu sự chi phối rất nhiều về việc quản trị VLC nên với mẫu trên sẽ tạo điều kiện cho chúng tôi thấy được tác động của việc quản trị VLC đến khả năng sinh lời của công ty một cách rõ ràng nhất. Việc chọn mẫu này còn có một thuận lợi nữa đó là sẽ giảm được hiện tương đa cộng tuyến do thiếu quan sát và đảm bảo các điều kiện đầu vào cũng như các kiểm định trong mô hình hồi quy dạng bảng. 3.2 Biến nghiên cứu: Các chỉ tiêu dùng để tính toán các biến được thu thập từ các báo cáo tài chính đã kiểm toán của các công ty trong giai đoạn từ 2006-2012. Trong bài nghiên cứu này chúng tôi sử dụng các biến sau: Biến phụ thuộc: đo lường khả năng sinh lời của công ty, trong bài nghiên cứu này chúng tôi sử dụng thu nhập hoạt động ròng (NOP) như là một thước đo cho khả năng sinh lời của công ty. Nó được đo bằng tỷ số số giữa thu nhập trước thuế và lãi vay trên tổng tài sản sau khi đã trừ ra tài sản tài chính, vì tài sản tài chính không tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Ngoài ra còn một số một số đại diện khác làm thước đo cho khả năng sinh lời của công ty, chẳng hạn như Agrawal and Knoeber (1996); Himmelberg, Hubbard and Palia (1999); Thomsen, Pedersen and Kvist (2006), King and Santor (2008), 15 Tong (2008), and Beiner, Schmid and Wanzenried (2009) sử dụng Tobin Q hay Teruel & Solano, 2007, Nazir & Afza, 2009; Śamiloġlo & Demirgũneş, 2008; Zariyawati, et al., 2009; Azhar & Noriza, 2010; Vijayakumar, 2011 sử dụng ROA, ROIC làm đại diện cho khả năng sinh lời của công ty. Biến độc lập: biến độc lập được sử dụng là các thành phần cấu tạo nên việc quản trị VLC. Chúng tôi sử dụng các biến như trong bài của Taghizadeh Khanqah (2012) gồm các biến sau:  ACP (average collection period): kỳ thu tiền bình quân được đo lường bằng các khoản phải thu bình quân chia cho doanh thu thuần sau đó nhân cho 360 ngày. Có rất nhiều quan điểm đề cập đến tác động của kỳ thu tiền bình quân lên khả năng sinh lời của công ty. Với chính sách thắt chặt kỳ thu tiền sẽ đảm bảo công ty thu tiền được về nhanh chóng đảm bảo cho các hoạt động đầu tư sinh lời cũng như khả năng thanh toán ngắn hạn từ đó làm tăng giá trị công ty. Một quan điểm khác cho thấy với 1 chính sách tín dụng thương mại thoáng công ty có thể giữ được và thu hút them nhiều khách hàng, điều này cũng dẫn đến làm tăng khả năng sinh lời của công ty.  ITID (inventory turnover in days): số ngày hàng tồn kho bình quân được đo bằng hàng tồn kho bình quân chia cho giá vốn hàng bán nhân cho 360 ngày. Các quan điểm thông thường cho thấy tác động của số ngày tồn kho lên khả năng sinh lời của công ty là nghịch biến, việc rút ngắn vòng quay hàng tồn kho sẽ đẩy nhanh quá trình kinh doanh làm tăng doanh thu và giảm các chi phí liên quan đến việc nắm giữ hàng tồn kho từ đó làm tăng khả nằng sinh lời của công ty. Mặt khác trong những thời kỳ lạm phát cao, hoặc thiếu hụt nguồn cung ứng thì công ty thường tích trữ hàng tồn kho nhiều hơn nhờ đó có thể giảm chi phí phải gánh chịu do lạm phát hoặc thiếu hụt nguồn cung ứng, với phương thức này cũng làm tăng khả năng sinh lời của công ty.  APP (average payment period): kỳ thu tiền bình quân được tính bằng các khoản phải trả bình quân chia cho giá vốn hàng bán chịu nhân 360 ngày. Việc kéo dài kỳ thanh toán để dành cho các khoản đầu tư khác thì có thể làm mất uy tín của công ty việc này có thể làm giảm khà năng sinh lợi của công ty vì thế công ty luôn muốn rút ngắn kỳ thanh toán bình quân.  CCC (cash conversion cycle): chu kỳ chuyển hóa tiền mặt được tính bằng: ACP + ITID –APP, chu kỳ này càng nhỏ thì thời gian mà công ty thu hồi lại tiền mặt càng
- Xem thêm -