Tài liệu Mối quan hệ giữa quan niệm văn học và sáng tác của cao bá quát

  • Số trang: 102 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 71 |
  • Lượt tải: 0
nguyetha

Đã đăng 8490 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ===================== PHÙNG THỊ NGÂN MỐI QUAN HỆ GIỮA QUAN NIỆM VĂN HỌC VÀ SÁNG TÁC CỦA CAO BÁ QUÁT LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Văn học Việt Nam Hà Nội – 2014 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ===================== PHÙNG THỊ NGÂN MỐI QUAN HỆ GIỮA QUAN NIỆM VĂN HỌC VÀ SÁNG TÁC CỦA CAO BÁ QUÁT LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Văn học Việt Nam Mã số: 60 22 01 21 Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Nho Thìn Hà Nội – 2014 MỤC LỤC MỞ ĐẦU ....................................................................................................................3 1. Lý do chọn đề tài .....................................................................................................3 2. Lịch sử vấn đề .........................................................................................................5 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài ........................................................11 4. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................................12 5. Cấu trúc của đề tài .................................................................................................12 CHƢƠNG 1 BỐI CẢNH VĂN HÓA VĂN HỌC ................................................13 1.1. Bối cảnh văn hóa xã hội Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX ..........................................................................................................13 1.2. Đời sống văn học .........................................................................................20 CHƢƠNG 2 QUAN NIỆM VĂN HỌC CỦA CAO BÁ QUÁT ..........................32 2.1. Thuyết tính linh trong tƣ tƣởng thi học cổ Trung Quốc .........................32 2.1.1. Tính linh thời Nam Bắc triều (Lưu Hiệp – Văn tâm điêu long) ...............32 2.1.2. Quan niệm về tính linh ở thời Đường (Bạch Cư Dị) ...............................35 2.1.3. Thuyết tính linh thời Minh – Thanh (Viên Mai) ......................................36 2.2 . Quan niệm về tính linh trong tƣ tƣởng thi học Việt Nam thế kỷ XVIII...... 41 2.3. Từ thuyết tính linh đến quan điểm sáng tác văn chƣơng của Cao Bá Quát .45 CHƢƠNG 3 SÁNG TÁC CỦA CAO BÁ QUÁT ................................................56 3.1. Những nhân tố ảnh hƣởng đến văn chƣơng Cao Bá Quát .....................56 3.1.1. Những nhân tố khách quan ......................................................................56 3.1.2. Những nhân tố chủ quan ..........................................................................57 3.2. Các dạng đề tài trong thơ Cao Bá Quát ...................................................58 3.2.1. Đề tài về nỗi nhớ gia đình, quê hương ....................................................58 3.2.2. Đề tài về tình yêu thiên nhiên đất nước ...................................................63 3.2.3. Đề tài gắn với niềm cảm thông, thương yêu con người ...........................67 3.2.4. Thơ bộc lộ nội tâm ...................................................................................70 3.2.5. Các dạng cảm xúc trong thơ Cao Bá Quát .............................................72 1 3.3. Thể thơ và ngôn ngữ ...................................................................................76 3.3.1. Thể thơ .....................................................................................................76 3.3.2. Ngôn ngữ ..................................................................................................84 KẾT LUẬN ..............................................................................................................95 TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................97 2 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX có bước phát triển vượt trội cả về số lượng và chất lượng. Đây là thời kỳ xuất hiện hàng loạt những tác giả lớn cùng những tác phẩm tiêu biểu cho một thời đại và cho cả nền văn học. Trong đó có những tác giả trở thành “hiện tượng” văn học và gây được sự chú ý. Văn học thời kỳ này có sự phát triển vượt trội như vậy chủ yếu là do những tác động, ảnh hưởng của bối cảnh xã hội. Xã hội phong kiến Việt Nam cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX là xã hội phong kiến khủng hoảng, nội bộ tranh chấp, khởi nghĩa nông dân diễn ra nhiều nơi. Xã hội ấy không còn đủ sức kiềm tỏa con người trong những khuôn khổ nhỏ hẹp của đạo đức nho gia. Mặt khác, sự tiếp xúc bước đầu của văn hóa phương tây với những điều xa lạ với văn hóa phương đông truyền thống tạo cơ hội cho con người thời kỳ này có điều kiện tiếp thu với nhiều điều mới mẻ. Tuy vậy không thể không nhắc tới sự ảnh hưởng của những yếu tố trong nền văn hóa Trung hoa, nhất là trong văn học. Tất cả tạo nên xu hướng coi trọng tình cảm, coi trọng sự chân thực, tự nhiên của cảm xúc là nét chủ đạo trong văn học Việt Nam thời kỳ này. Văn học bộc lộ cái tôi cá nhân cùng những cảm xúc chân thật ở đầy đủ các trạng thái khác nhau thật mạnh mẽ và mãnh liệt mà những giai đoạn trước không có được. Lê Quý Đôn có thể coi là người đầu tiên đề cập đến vấn đề tình trong lý luận thơ ca có hệ thống nhất và đặt mối quan hệ giữa ba yếu tố tình – cảnh – sự, trong đó tình là quan trọng nhất. Các tác giả giai đoạn này cũng đề cập nhiều đến yếu tố tình cảm trong thơ, thể hiện sự trân trọng tình cảm và cảm xúc chân thật. Trong thơ họ xuất hiện nhiều cung bậc trạng thái khác nhau của cảm xúc, cái tôi cá nhân được khẳng định mạnh mẽ và quyết liệt hơn. Như thế, sự chuyển biến trong lòng xã hội kết hợp với những nhân tố bên ngoài đã thúc đẩy sự chuyển biến trong văn học, tạo nền tảng cho sự biến đổi từ quan niệm con người thánh nhân quân tử trở về với con người tự nhiên, trần thế trong văn chương. Các tác giả tiêu biểu cho khuynh hướng 3 trên như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Công Trứ..., không thể bỏ qua cái tên Cao Bá Quát. Trong văn học trung đại Việt Nam, Cao Bá Quát là người đưa thuyết tính linh lên đến đỉnh cao và thể hiện được điều đó trong sáng tác thơ ca của mình. Ông viết trong Bài bạt tập thơ của Thương Sơn Công như sau: “bàn về thơ, tuy phải chú trọng về quy cách nhưng làm thơ thì phải gốc ở tính tình. Nếu việc nào cũng bắt chước cũ, câu nào cũng học theo người, đầu thôn tạm biệt đã hát câu “chén rượu Dương Quan”, xóm gần qua chơi đã hát câu “tiếng gà điếm cỏ”. Nắn nót những lời biến tái, lòe người là tuyệt điệu Gia Châu, chải chuốt các thể trong cung, tự phu là văn nòi Thiếu Bá. Có thể nghìn bài chứa đầy bể khổ, trăm bài đã cạn ruột héo khô, ham được khoe nhiều, không quan hệ gì tới tính linh cả...”. Cao Bá Quát phê phán lối sáng tác sử dụng nhiều điển tích, điển cố, dùng nhiều đề tài và thể loại sáo mòn, sự mô phỏng bắt chước tiền nhân thực chất là của hoàng phái nhà Nguyễn, nhưng chính bản thân chủ thể sáng tạo lại trống rỗng, không có tư tưởng tình cảm chân thực thì không có giá trị. Từ đó mà đi đến chỗ khái quát quan niệm của ông đề cao tính chân thực của tình cảm, cảm xúc. Thực chất thuyết tính linh là lý thuyết đề cao những tình cảm, cảm xúc chân thành, tự nhiên của con người. Trong đó chú ý tới mối quan hệ giữa con người với ngoại cảnh. Ở đó con người sống với chính mình, với những cảm xúc vốn có của con người. Đó là con người thật nhất, hiểu theo nghĩa con người tự nhiên chứ không phải con người chức năng. Ông ngầm ý phê phán lối thơ của hoàng phái nhà Nguyễn vì thiếu tình cảm cuộc sống, thiên về mô phỏng, nệ cổ và không có cá tính riêng. Chính những tình cảm, cảm xúc chân thật trong thơ làm nên thời kỳ văn học đặc sắc với nhiều thành tựu. Khi nhắc đến tác giả Cao Bá Quát, từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về con người, sự nghiệp, phong cách cùng những yếu tố thuộc quan niệm sáng tác của ông. Tuy nhiên vẫn chưa có công trình nghiên cứu đầy đủ và toàn vẹn đặt trong một chỉnh thể từ bối cảnh văn hóa văn học ở thời kỳ mà ông sinh sống để hiểu rõ hơn về quan niệm sáng tác, ý nghĩa mới mẻ, tích cực của những quan niệm đó trên nền tảng bối cảnh đương thời. Song song với việc tiếp cận tác phẩm thì việc tìm hiểu quan niệm văn học của ông có ý nghĩa quan trọng. Bởi lẽ nếu nắm 4 được những tư tưởng này chúng ta sẽ nắm được chìa khóa để tìm hiểu tác phẩm của ông, sự thể hiện của nó trong nội dung và nghệ thuật để thấy được mối liên hệ trong toàn bộ sự nghiệp văn chương của tác giả này, cũng như theo tiến trình lịch sử văn học dân tộc. Đề tài tập trung tìm hiểu hoàn cảnh văn hóa, quan niệm văn học (tập trung vào thơ, bộ phận thể hiện hầu hết giá trị văn học) của Cao Bá Quát cùng ảnh hưởng của quan niệm ấy đến đề tài, thể thơ và ngôn ngữ; nhất là thông qua việc nghiên cứu tìm hiểu về lịch sử hình thành, phát triển của thuyết tính linh trong tư tưởng thi học Trung Quốc để có thể đối sánh quan niệm văn học đề cao sự chân thật tự nhiên của tình cảm, cảm xúc thơ Cao Bá Quát. Xét theo dòng chảy văn học dân tộc thì quan niệm văn học này cùng những đóng góp trong sáng tác của ông được nhìn nhận sâu sắc hơn, đồng thời với đó, xét theo mặt đồng đại cho thấy sự tiếp thu có chọn lọc mang màu sắc văn hóa Việt trên cơ sở văn hóa - văn học Trung hoa. Với những lý do trên chúng tôi chọn đề tài “Mối quan hệ giữa quan niệm văn học và sáng tác của Cao Bá Quát” nhằm góp thêm một chút sức lực vào khối lượng những công trình nghiên cứu về Cao Bá Quát, góp phần tìm hiểu thấu đáo và sâu sắc về sự nghiệp thơ ca của nhà thơ nổi tiếng này. Do thời gian hạn chế nên luận văn mới chỉ quan tâm đến bối cảnh văn hóa văn học, quan niệm văn chương (hạt nhân là thuyết tính linh) và sự thể hiện quan niệm trong sáng tác của Cao Bá Quát. 2. Lịch sử vấn đề Việc nghiên cứu, tiếp nhận văn chương Cao Bá Quát chia làm hai giai đoạn: trước và sau cách mạng tháng Tám - 1945. Trước cách mạng, tình hình nghiên cứu về tác giả Cao Bá Quát nói chung, sự nghiệp văn học của ông nói riêng cũng được chú ý. Nhìn chung các bài viết thường giới thiệu về tiểu sử, những nét khái quát về cuộc đời và thơ văn của ông chứ chưa đi sâu nghiên cứu về tác phẩm. Một số bài viết: Dật sử ông Cao Bá Quát (Đông Thanh tạp chí -1932), Thân thế và văn chương hai ông họ Cao (tạp chí Văn học -1932), Một nhân vật tỉnh Bắc Ninh: ông Cao Bá Quát (Nam Phong tạp chí -1934), Cao Bá Quát (tạp chí Tri Tân -1943)… 5 Từ năm 1945 đến nay, nhận thức về văn chương Cao Bá Quát được khơi dậy và có những bước tiến không ngừng, từ thành tựu dịch thuật đến thành tựu nghiên cứu (quan niệm văn chương và thực tiễn sáng tác thơ văn). Dịch thuật góp phần không nhỏ trong việc đưa các tri thức về quan niệm văn chương của Cao Bá Quát đến với độc giả và làm nền tảng cho những nghiên cứu sau này. Việc dịch thuật bài viết thể hiện quan niệm văn học của Cao Bá Quát được nói đến trong một số công trình tiêu biểu như: Từ trong di sản (1981), Người xưa bàn luận về văn chương (1993), Mười thế kỷ bàn về văn chương (2007)… Tuy nhiên trong việc chuyển dịch còn một số hạn chế. Việc giới thiệu các tác phẩm hoặc các lời bạt, lời tựa thể hiện quan niệm văn học Cao Bá Quát chưa đầy đủ (trong cuốn Người xưa bàn luận về văn chương, tác giả Đỗ Văn Hỷ chỉ tuyển dịch Bài viết đặt sau tập thơ “Yên Đài Anh Ngữ”, tác phẩm mới thể hiện một phần trong quan niệm văn chương của Cao Bá Quát), lược bỏ tên bài và việc giám định văn bản chưa thống nhất. Ví như bài Nhờ du lịch muôn dặm mới tới được cái thần diệu của văn chương trong cuốn sách Từ trong di sản đề tên của tác giả Phan Huy Vịnh. Sau này trong cuốn sách Mười thế kỷ bàn luận về văn chương chỉnh lại với tên tác giả Cao Bá Quát. Cuốn sách Từ trong di sản được coi là công trình tư liệu đầu tiên tập hợp những ý kiến của cha ông ta bàn về thơ từ thế kỷ X đến đầu thế kỷ XX, trong đó trình bày tư liệu về quan niệm văn học của Cao Bá Quát khá hệ thống. Tuy nhiên tác giả cuốn sách sử dụng nội dung trong bài để đặt tiêu đề cho cả bài đó là chưa chính xác và dễ gây hiểu nhầm. Trong các lời bạt, lời tựa của Cao Bá Quát thường không chỉ bao gồm một nội dung mà hàm chứa trong đó một số luận điểm khác nhau, tập trung vào lý thuyết tính linh. Ví như việc lấy tên “Cái tệ của lối học khoa cử” thay cho Bài tựa đề cuối tập thơ Thương Sơn Công là chưa đầy đủ vì nội hàm quan trọng nhất của bài này là việc ông coi gốc của thơ là ở chữ tình, ở sự chân thật của cảm xúc, phản đối lối thơ nệ cổ, bắt chước, từ đó mở rộng một số luận điểm khác, trong đó có việc phê phán “cái tệ của lối học khoa cử”… Trên cơ sở tiếp thu những thành tựu dịch thuật đã có, một số bài nghiên cứu về quan niệm văn học của Cao Bá Quát đã xuất hiện. Luận văn của chúng tôi cũng theo tinh thần trên, đồng thời cố gắng khắc phục theo khả năng có thể những điều đã nói ở trên. 6 Trên phương diện văn bản, năm 1970 đánh dấu một bước tiến mới trong việc nghiên cứu, xử lý và công bố các tư liệu thơ văn Cao Bá Quát với công trình Thơ chữ hán Cao Bá Quát, gồm 156 bài thơ cả chữ Hán và chữ Nôm. Tác giả Nguyễn Lộc đã đánh giá công trình này như sau: “chính nhờ giới thiệu rộng rãi thơ chữ hán của Cao Bá Quát như thế nên việc đánh giá nhà thơ trong giới nghiên cứu cũng như đông đảo công chúng mới ngày càng được chính xác...”. Từ năm 2000 trở lại đây xuất hiện những công trình lớn thực hiện việc biên soạn, dịch thuật, giới thiệu tác giả và tác phẩm Cao Bá Quát khá đầy đủ. Đáng chú ý là cuốn sách Cao Bá Quát toàn tập (tập 1, tập 2) do tác giả Mai Quốc Liên chủ biên cung cấp nguyên văn chữ Hán, phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ của 1.353 bài thơ chữ Hán (một số bài thơ không có phần dịch thơ) và một số tác phẩm văn xuôi, truyện ngắn, thuyết, tự, văn tế, câu đối; Cuốn sách Thơ văn Cao Bá Quát (2010) do tác giả Vũ Khiêu chủ biên và viết lời giới thiệu trên cơ cở phát triển cuốn sách Thơ chữ hán Cao Bá Quát, có bổ sung thêm một số bài thơ, văn xuôi, thơ phú nôm, giai thoại, đặc biệt nêu rõ thời gian sáng tác thơ qua đó giúp người đọc nhìn nhận dễ dàng hơn đặc điểm thơ của Cao Bá Quát trong từng thời kỳ. Cũng trong cuốn sách này trích dẫn một số bài nghiên cứu tiêu biểu ở các thời kỳ, trên các khía cạnh khác nhau về quan niệm văn chương, giá trị nội dung và nghệ thuật đưa đến cái nhìn toàn cảnh về sáng tác văn chương của ông. Đây là những công trình có ý nghĩa quan trọng giúp người đọc tiếp xúc đầy đủ và chính xác hơn với các sáng tác của Cao Bá Quát, tạo tiền đề thuận lợi cho việc nghiên cứu toàn diện và sâu sắc sự nghiệp văn học của ông sau này . Khi nhắc tới các công trình nghiên cứu về Cao Bá Quát phải nhắc tới công trình Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam (1995) của tác giả Trần Ngọc Vương. Tuy đây không phải là công trình chuyên biệt về Cao Bá Quát nhưng nó có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá về loại hình nhà nho mới bên cạnh những loại hình truyền thống mà Cao Bá Quát là tiêu biểu. Qua công trình này, hình ảnh Cao Bá Quát – nhà nho tài tử được nhìn nhận một cách sâu sắc, toàn diện trên những phương diện mới, giàu sức thuyết phục. Tác giả Trần Đình Hượu trước đó và tác giả Trần Ngọc Vương trong công trình này đã xác lập được cái nhìn khoa học trên cơ sở khảo sát các tác giả, trong đó có Cao Bá Quát để nêu ra những đặc trưng có tính loại hình 7 học của một kiểu tác giả giai đoạn văn học thế kỷ XVIII - thế kỷ XIX. Đây là hướng tiếp cận đầy triển vọng cho phép đi sâu nghiên cứu Cao Bá Quát trên nhiều bình diện mà trước hết là một Cao Bá Quát với tư cách là một tác gia văn học tiêu biểu cho một loại hình là nhà nho tài tử, một khuynh hướng văn học đặc sắc trong văn học Việt Nam trung đại. Trên phương diện nghiên cứu quan niệm văn học của Cao Bá Quát có những bài viết, công trình nghiên cứu đáng chú ý. Tác giả Trần Đình Sử trong bài nghiên cứu Đôi điều về quan niệm văn học của Cao Bá Quát trên tạp chí Nghiên Cứu Văn học, số 11 – 2008 tuy không trực tiếp bàn về thuyết tính linh nhưng đã đề cập về một số khía cạnh của thuyết tính linh trong thơ văn Cao Bá Quát như: coi trọng chữ tình trong văn chương, phê bình thơ thiếu cá tính sáng tạo, chủ trương làm văn lòng phải chân thật, tự nhiên. Tuy nhiên tác giả vẫn đánh giá quan niệm văn chương của Cao Bá Quát “về cơ bản là quan niệm văn học nho gia” và tác giả mới nêu “đôi điều” về quan niệm văn học chứ chưa đi sâu phân tích để thấy tính hệ thống trong quan niệm của Cao Bá Quát. Tác giả Nguyễn Tài Thư có bài Quan điểm sáng tác và nghệ thuật thơ ca của của Cao Bá Quát chỉ ra một số luận điểm trong quan niệm văn chương của Cao Bá Quát (gốc của thơ là tư tưởng, tình cảm người sáng tác (tính tình là gốc của thơ); thơ ca cần hình thức đẹp nhưng ông phản đối chủ nghĩa hình thức và lối sáng tác cầu kỳ kiểu cách; ý thức về việc kế thừa tinh hoa dân tộc nhưng cần biến hóa trong quá trình sáng tác…). Tác giả Nguyễn Tài Thư đã chứng minh quan điểm văn chương trên thể hiện trong phong cách tư tưởng, sắc thái tình cảm và ngôn ngữ hình tượng trong thơ của Cao Bá Quát nhưng do chưa thoát khỏi những quan niệm truyền thống nên chưa khai thác hết giá trị mới mẻ trong quan niệm văn chương của Cao Bá Quát, cũng như chưa chỉ ra được mối quan hệ giữa quan niệm với nội dung mà Cao Bá Quát thể hiện trong thơ. Hơn nữa tác giả cho rằng quan niệm văn chương Cao Bá Quát có được chủ yếu là do tư tưởng tự tin, sáng tạo của chính tác giả mà bỏ qua vai trò của yếu tố quan trọng là sự tiếp thu lý luận văn học Trung hoa. Tác giả Nguyễn Thanh Tùng có bài nghiên cứu Vài nét về thuyết tính linh trong tư tưởng thi học Việt Nam thời trung đại trình bày khá hệ thống quan niệm về 8 tính linh ở Trung hoa, Việt Nam và có đề cập vai trò của Cao Bá Quát là người đưa tính linh thành lý thuyết thực thụ. Trong khuôn khổ bài nghiên cứu tác giả mới chỉ nêu lên, chưa chỉ ra luận điểm rõ ràng. Năm 2010, Nguyễn Thanh Tùng trong luận án tiến sĩ của mình là Sự phát triển tư tưởng thi học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX có phát triển những luận điểm trong bài viết trên khá sâu sắc từ sự nảy sinh, phát triển của lý thuyết này ở Trung hoa và những đặc điểm, nội dung của nó thể hiện cụ thể trong các tác giả trung đại Việt Nam. Thuyết tính linh ở đây được nhắc đến với vai trò là một trong số những lý thuyết được hình thành và phát triển trong văn học Việt Nam giai đoạn thế kỷ XVIII – XIX và trong tổng thể các tư tưởng thi học của cả thời kỳ văn học trung đại Việt Nam. Nói riêng về quan niệm tính linh của Cao Bá Quát, Nguyễn Thanh Tùng chỉ ra luận điểm đề cao chữ tình trong thơ, phê phán lối thơ bắt chước, mô phỏng phổ biến trong văn chương đương thời và chỉ ra được sự ảnh hưởng từ quan niệm tính linh của Viên Hoằng Đạo, Viên Mai (Trung Quốc) đến quan niệm tính linh của Cao Bá Quát. Dẫu vậy, trong khuôn khổ luận án về tư tưởng thi học của mười thế kỷ văn học trung đại, quan niệm tính linh của Cao Bá Quát được đề cập trong hai trang văn bản thì chưa thể hiện đầy đủ quan niệm và ý nghĩa tích cực về tính linh của tác giả Cao Bá Quát. Tác giả Nguyễn Thanh Tùng là một trong số những tác giả theo hướng nghiên cứu khái quát toàn bộ hệ thống quan niệm văn học Việt Nam thời trung đại. Tác giả Phương Lựu cùng công trình Góp phần xác lập hệ thống quan niệm văn học trung đại có nhiều đóng góp cho việc nghiên cứu tư tưởng thi học trung đại Việt Nam. Tác giả đã xây dựng hệ thống quan niệm văn học theo tiến trình lịch sử, có đề cập quan niệm văn học của Cao Bá Quát nhưng hướng quan niệm văn chương của Cao Bá Quát tới khuynh hướng hiện thực và nhân dân trong thời kỳ phong kiến suy tàn, bỏ qua giá trị nổi bật nhất là việc đề cao chữ tình và cảm xúc chân thực trong quan niệm của ông. Tác giả Phạm Quang Trung trong cuốn sách Quan niệm văn chương cổ Việt Nam từ một góc nhìn đã dành một mục về quan niệm văn chương Cao Bá Quát với ba nội dung: văn chương là báu vật, văn chương hay ở đâu và văn chương hay do đâu. Tác giả đã chỉ ra một số điểm trong quan niệm văn chương Cao Bá Quát như việc đề cao văn chương dân tộc, đề cao chữ tình, sự chân thực giản dị 9 trong văn chương, cái hay văn chương được thể hiện qua chủ thể sáng tạo... Nhìn chung các tác giả theo hướng nghiên cứu này đã chỉ ra một số đặc điểm trong quan niệm văn học của Cao Bá Quát nhưng do phạm vi nghiên cứu trải rộng theo nhiều thế kỷ, với nhiều tác giả nên vai trò của Cao Bá Quát trên phương diện lý luận văn học còn mờ nhạt, chưa chỉ ra điểm quan trọng nhất trong quan niệm văn chương của ông là lý thuyết về tính linh. Nhìn vào lịch sử nghiên cứu về Cao Bá Quát từ trước đến nay có thể thấy đã đạt được nhiều thành tựu về nghiên cứu tiểu sử, nghiên cứu nội dung tư tưởng, thế giới nghệ thuật, nhất là quan niệm văn chương... Những thành tựu đã đạt được phong phú và quý báu nhưng chưa phải đã khai thác hết giá trị văn chương Cao Bá Quát cả bề rộng và bề sâu. Đây là cơ sở để chúng tôi tiếp tục tìm hiểu trong phạm vi thích hợp quan niệm văn học của Cao Bá Quát nói riêng, sự nghiệp văn chương của ông nói chung để khẳng định vị trí của tác giả này trong nền văn học nước nhà. Nói cách khác, vấn đề tồn tại là chúng ta vẫn chưa có công trình nghiên cứu có tính hệ thống về quan niệm văn học (trọng tâm là thuyết tính linh) đặt trong bối cảnh thời đại và sự thể hiện của nó trong các tác phẩm của ông trên phương diện nội dung, hình thức để thấy rõ mối liên hệ và sự độc đáo, mới mẻ trong đó. Có một số bài viết, công trình có nói đến quan niệm sáng tác của ông nhưng chưa trở thành hệ thống mang tính độc lập, nhiều khi các vấn đề chỉ được nhắc đến để minh họa cho một quan niệm hay ý tưởng. Điều đó chưa tương xứng với giá trị và ý nghĩa của những đóng góp văn chương của Cao Bá Quát trong lịch sử văn học dân tộc. Việc nghiên cứu một cách thống nhất biện chứng ba vấn đề (quan niệm văn học thể hiện thống nhất ở nội dung và hình thức) giúp hình thành nên đặc điểm phong cách nghệ thuật trong sáng tác của ông. Đặt trong tiến trình văn học dân tộc nói chung, bối cảnh văn hóa văn học của thời đại đó nói riêng càng khẳng định đây việc làm cần thiết, có ý nghĩa khoa học. Trong luận văn này, chúng tôi không tham vọng làm được tất cả mọi vấn đề nhưng việc nghiên cứu “mối quan hệ giữa quan niệm văn học và sáng tác của Cao Bá Quát”, trong đó chúng tôi đi sâu nghiên cứu bối cảnh thời đại, nguồn gốc những quan niệm, sự ảnh hưởng và phản ánh của quan niệm văn học đó đến 10 việc lựa chọn đề tài, thể thơ và ngôn ngữ, đích cuối cùng là hình thành nên cái nhìn toàn diện về phong cách của nhà thơ tài tử này. 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn là “Mối quan hệ giữa quan niệm văn học và sáng tác của Cao Bá Quát”. Để làm rõ đối tượng và phạm vi nghiên cứu này, đề tài của chúng tôi tập trung nghiên cứu ba vấn đề lớn sau: Thứ nhất là bối cảnh văn hóa văn học, bao gồm những nét lớn về văn hóa xã hội Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX, nhất là khi triều đình nhà Nguyễn thống nhất đất nước, ổn định chính trị, xã hội và thi hành nhiều biện pháp có liên quan chặt chẽ đến xã hội nói chung, văn học giai đoạn này nói riêng. Trong bối cảnh đó, Cao Bá Quát đưa ra quan niệm về tính linh, đề cao chữ tình, sự chân thật của cảm xúc đối lập với văn học hoàng phái nhà Nguyễn, phê phán lối thơ bắt chước, thiếu tính chân thực và cá tính. Từ đó giúp người đọc hình dung sự tiếp nối, khu biệt trong tư tưởng văn học của Cao Bá Quát với đương thời. Thứ hai là thuyết tính linh trong lý luận văn học Trung quốc, văn học Việt Nam, đặc biệt là thuyết tính linh trong quan niệm sáng tác của Cao Bá Quát. Để giải quyết được vấn đề này, chúng tôi sẽ tìm hiểu những tư liệu, nhất là qua các tác giả và các tác phẩm tiêu biểu trực tiếp đề cập đến sự hình thành, phát triển của quan niệm này trong lý luận văn học Trung hoa và văn học trung đại Việt Nam. Ở Việt Nam, thuyết tính linh được Lê Quý Đôn nhắc tới đầu tiên. Tuy nhiên Cao Bá Quát lại là người phát triển lý thuyết này lên đỉnh cao và thể hiện nó thống nhất trong sự nghiệp thi ca của mình. Trong quan niệm sáng tác của Cao Bá Quát hạt nhân chính là thuyết tính linh. Đây là vấn đề quan trọng của đề tài. Phần này chúng tôi sẽ tập trung tìm hiểu những bài phát biểu về văn học của Cao Bá Quát trong các lời bạt, lời tựa, hoặc tác giả gửi gắm trong tác phẩm của mình. Thứ ba là sự thể hiện quan niệm sáng tác đó trong đề tài, thể thơ và ngôn ngữ thơ Cao Bá Quát, từ đó chứng minh quan niệm văn học của Cao Bá Quát có ảnh hưởng như thế nào đến thơ ca của ông xét trên phương diện nội dung và hình thức. Những vấn đề thuộc về nội dung và hình thức trong sáng tác của ông luôn được đặt trong sự soi chiếu bởi quan niệm sáng tác, cụ thể là thuyết tính linh. Chúng tôi sẽ 11 tiến hành khảo sát thơ chữ Hán Cao Bá Quát bởi đây là bộ phận văn học chủ yếu và đóng góp hầu hết những giá trị văn chương của ông để tìm ra những giá trị nội dung cũng như những đặc trưng về mặt nghệ thuật trong mối quan hệ hữu cơ với quan niệm sáng tác của ông. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu Để thực hiện đề tài này chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính sau: - Phương pháp thống kê: đề tài sử dụng phương pháp này nhằm tập hợp tư liệu phục vụ cho phần lịch sử vấn đề, thứ hai là để khảo sát phần quan niệm văn chương và nhất là sáng tác của Cao Bá Quát, lấy đó làm tư liệu, dẫn chứng cho phần khai triển, cũng như chia ra các đề tài, đề mục cho ba chương của luận văn. - Phương pháp phân tích, tổng hợp: đây là những phương pháp chính được chúng tôi sử dụng hoặc riêng lẻ hoặc kết hợp với nhau tùy theo mục đích từng phần mục nhằm phân tích vấn đề, đưa ra ý kiến, nhận định và tổng hợp những luận điểm cơ bản trong từng phần. Đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp trên để đọc các tài liệu tham khảo, đọc thơ... từ đó tạo cơ sở triển khai thành những vấn đề cụ thể trong từng chương mục nhằm giải quyết vấn đề chung nhất là quan niệm sáng tác văn học cùng sự thể hiện của nó trong sáng tác của Cao Bá Quát. - Phương pháp so sánh chúng tôi đặc biệt sử dụng để nhấn mạnh điểm khác biệt và cũng là điểm nổi bật trong sáng tác của Cao Bá Quát so với một số các tác giả nổi tiếng khác trong nền văn học trung đại về nội dung và hình thức. 5. Cấu trúc của đề tài Tương ứng với nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, luận văn chia thành 3 chương: Chương 1. Bối cảnh văn hóa văn học Chương 2. Quan niệm văn học của Cao Bá Quát Chương 3. Sáng tác của Cao Bá Quát 12 CHƢƠNG 1 BỐI CẢNH VĂN HÓA VĂN HỌC 1.1 . Bối cảnh văn hóa xã hội Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX Việt Nam cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX là thời kỳ diễn ra những chuyển biến to lớn. Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn phá vỡ tình trạng cát cứ hai miền kéo dài gần hai trăm năm. Sau đó là cuộc chiến tranh giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh chấm dứt với sự sụp đổ của nhà Tây Sơn. Nguyễn Ánh lên ngôi năm 1802 đưa nước ta vào thời kỳ thống nhất dưới sự trị vì của triều Nguyễn. Thời gian lịch sử nửa cuối thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX có một số điểm khác biệt. Tuy nhiên giữa hai mốc thời gian này có nhiều điểm tương đồng về mặt văn hóa xã hội, đặc biệt là văn học. Trong luận văn này, chúng tôi tập trung phân tích những vấn đề có liên quan trực tiếp nội dung luận văn chúng tôi triển khai. Lịch sử triều Nguyễn về cơ bản chia thành hai giai đoạn trước và sau khi Pháp xâm lược. Niên biểu tác giả Cao Bá Quát (1808 – 1855) nằm trọn trong giai đoạn đầu khi triều Nguyễn độc lập cũng là thời kỳ nhà Nguyễn được đánh giá có nhiều đóng góp cho lịch sử dân tộc, trải qua bốn vị vua đầu nhà Nguyễn: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Nguyễn Ánh lên ngôi sau khi đất nước đã thống nhất về cương vực lãnh thổ tiến hành độc tôn Nho giáo để thống nhất chính trị, tư tưởng. Đây là sự kiện có ý nghĩa lớn và ảnh hưởng đến nhiều mặt trong đời sống văn hóa xã hội và văn học. Nho giáo trong vai trò là học thuyết chính trị đạo đức gần với người Việt Nam từ lâu đời, qua mấy thế kỷ thăng trầm của lịch sử, sức ảnh hưởng của Nho giáo đối với xã hội có những biến đổi nhưng chưa bao giờ mất đi vị trí của mình. Việc triều Nguyễn tiếp tục dòng mạch độc tôn Nho giáo cũng là điều dễ hiểu. Hơn nữa nội dung cốt lõi của Nho giáo là tam cương, ngũ thường trong đó đề cao nhất mối quan hệ vua tôi, đề cao tư tưởng trung quân, đặt nhà nho vào thế trung thành tuyệt đối với vua. Xã hội Việt Nam suốt hai thế kỷ (XVII - XVIII) chứng kiến sự khủng hoảng cả chính trị lẫn tư tưởng. Trước tình hình đó, Gia Long thống nhất đất nước chọn Nho giáo để thiết lập lại tình trạng ổn định trong tư tưởng chính trị, đạo đức từ triều đình đến toàn xã hội. 13 Triều Nguyễn đưa ra nhiều chính sách nhằm củng cố chính quyền, tăng cường sự thống nhất đất nước. Gia Long trong vai trò là người khai cơ của triều đại nên những năm đầu phải tập trung củng cố chính quyền từ trung ương đến địa phương. Công cuộc cải cách, phát triển mọi mặt đặt lên vai ông vua thứ hai Minh Mạng. Đây cũng là vị vua được đánh giá cao nhất của triều Nguyễn kéo dài hơn một trăm năm. Ngay từ thời Gia Long đã chú trọng đến các chính sách thu hút nhân tài làm quan trong triều đình, điều này càng được đẩy mạnh hơn dưới sự trị vì của Minh Mạng. Vua Minh Mạng quan tâm đến vấn đề giáo dục, xây dựng hệ thống các cơ sở giáo dục của triều đình đến các địa phương. Triều đình đặc biệt chú trọng đến việc giảng dạy cho các hoàng tử cho nên các vị vua đều là những người có học vấn cao, bên cạnh đó các hoàng tử anh em với vua cũng là những người học nhiều, thuộc nhiều kinh điển và giáo lý nho gia mà sau này chính các vị vua và các hoàng thân tập hợp với nhau tạo thành dòng văn chương của hoàng tộc nhà Nguyễn. Họ viết văn làm thơ và sử dụng văn thơ là công cụ để tu dưỡng nhân cách và đề cao đạo lý cương thường trong xã hội. Các ông vua nhà Nguyễn cũng chú trọng việc lập các trường học ở phủ huyện để xây dựng nền giáo dục, mở mang kiến thức và học vấn trong xã hội, thông qua đó đào tạo người tài, quan lại trên nền tảng đề cao tinh thần đạo đức nhà nho duy trì từ những thế hệ trước. Nội dung giáo dục cũng chưa thay đổi so với các thời đại trước. Minh Mạng khẳng định “trước hết phải giảng ngũ kinh và tứ truyện để hiểu rõ nghĩa lý rồi giảng đến sách chư, tử và chư sử để thông hiểu lý sự, cứ mỗi tháng bốn lần khảo hạch hoặc học thêm văn thù phụng mà làm ra bài hỏi về những việc đời nay” [25, tr.83]. Không khí học tập thực hành các luân lý, đạo đức Nho giáo dấy lên mạnh mẽ. Trong thời đại Nho giáo giữ vị trí chính thống và chi phối hệ tư tưởng thì chắc chắn nội dung việc học không thể khác biệt với tư tưởng Nho giáo, coi trọng lễ nghĩa, coi trọng văn. Văn có vai trò xứ mệnh cao cả, ở vị trí giúp vua dẫn đến quan niệm sùng bái văn chương, sùng bái nội dung về văn trong nền giáo dục. Cùng với việc quan tâm giáo dục thì thiết chế có ý nghĩa quan trọng để tăng cường củng cố cho Nho giáo chính là việc nhà Nguyễn tổ chức các kỳ thi tuyển chọn quan lại bằng con đường văn chương. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến sự 14 phát triển của văn học. Xuất phát từ quan niệm Nho giáo, văn chương là linh thiêng, có vị trí - chức năng xã hội tạo thành không khí sùng bái văn chương. Nhìn tổng thể văn học nước ta theo chiều dài lịch sử, đặc biệt ở triều Nguyễn khi Nho giáo được độc tôn trở lại thì những yếu tố của cá nhân ít nhiều bị hạn chế, và mở ra sự phát triển mạnh của văn học chính thống hướng về triều đình, phục vụ những giáo lý cơ bản của chế độ quân chủ đề cao vua và đạo đức nhà nho. Lý do chọn văn chương là nội dung khoa cử có quan hệ thống nhất với quan niệm về văn chương. Xuất phát từ cách thức cai trị bằng giáo hóa của nhà nước phong kiến chuyên chế (văn là công cụ thực thi giáo hóa), từ lề lối cai trị, cung cách cai trị của ông quan (sản phẩm của khoa cử), người ta đã chọn văn làm nội dung để chọn người tài, lấy văn làm thước đo năng lực trình độ học vấn cũng như khả năng quản lý xã hội của nho sĩ- vị quan. Văn chương được đồng nhất với tri thức. Đối tượng được lựa chọn phải là những người đạt tiêu chuẩn đạo đức, học thuộc và hiểu nhiều kinh điển của nho gia. Cho nên nếu nói đến văn chương khoa cử là “thứ văn chương khô khan, dùng nhiều khuôn phép định sẵn về những nội dung kinh điển. Nhưng đó là văn chương chính thống, chính đạo. Hàng trăm thế hệ những người đi học, đi thi phải coi nó mới là văn chương” [11, tr.37]. Ngay chính vua Minh Mạng cũng nhận thấy những điểm hạn chế của loại văn này, cho rằng “văn chương cử nghiệp chỉ câu nệ sáo cũ hủ lậu mà hãnh diện với nhau, dựng riêng ra một môn, nhân phẩm cao thấp ở đấy, khoa trường lấy đậu hay không là do ở đây, vậy nhân tài ngày càng kém, không lấy gì làm lạ vậy. Nhưng tập tục nhai duyên đã lâu khó mà thay đổi ngay được” [25, tr.81]. Minh Mạng cho rằng vì “tập tục nhai duyên đã lâu khó mà thay đổi được” để giải thích cho việc tiếp tục mạch văn chương khoa cử trong tuyển chọn quan lại là điều đúng nhưng chưa đủ. Mảng văn chương này có nội dung Nho giáo đậm đặc bởi vì thi là thi nho học, nội dung lấy từ kinh điển Nho giáo. Nói cách khác giáo dục khoa cử chính là hình thức tồn tại, tái sinh của Nho giáo. Trong bối cảnh học tập, thi cử như trên dẫn đến sự thiếu hụt tri thức người học, nhất là trên các phương diện kiến thức khoa học, kỹ thuật, thương mại… Không thể phủ nhận những giá trị của nho học và chế độ khoa cử đào tạo, tuyển chọn cho triều đình nhà Nguyễn những danh nhân, người tài giúp nước, để lại nhiều giá trị văn 15 hóa, văn học. Mặt khác, lối học văn chương luân lý đạo đức làm gốc không còn phù hợp trước sự thay đổi của lịch sử, nhất là sự phát triển nhanh của cách mạng công nghiệp ở phương tây và ảnh hưởng đến phương đông mạnh mẽ. Những trí thức nhà Nguyễn vẫn say sưa học hành, thực hành nội dung Nho giáo, say sưa văn chương cử tử, gọt câu đẽo chữ mà không quan tâm đến các vấn đề thực tế khác. Lại thêm tư tưởng thủ cựu bảo trì lâu dài ở quốc gia và xã hội theo khuôn khổ Nho giáo làm cơ sở trật tự xã hội, lấy đạo đức làm gốc, bảo vệ nếp cổ theo văn hóa Trung hoa truyền thống làm mẫu mực là những đặc điểm có thể nhận thấy rõ trong xã hội triều Nguyễn. Bên cạnh đó, các ông vua nhà Nguyễn với tư cách là người đứng đầu triều đình cũng là những nhà nho chính hiệu là người trực tiếp tuyển giảng Nho giáo, tự mình đề ra các đề thi Đình, tạo ra các đề tài cho đình thần ứng đối. Trong bối cảnh đó hàng loạt các bài thơ ngự chế của vua quan ra đời. Bản thân các vua Nguyễn, các hoàng thân nhà Nguyễn cũng ham thích thơ văn và cũng có tài văn chương. Những tác giả tiêu biểu cho dòng văn học nhà Nguyễn như Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Miên Thẩm, Miên Trinh, Miên Bửu… Xuất phát từ nguyên nhân chủ quan (yêu chuộng văn thơ) của hoàng phái nhà Nguyễn kéo theo đội ngũ quan lại văn thần đông đảo hưởng ứng tạo nên không khí sáng tác, bình phẩm văn chương sôi nổi. Trong xã hội trọng văn, người làm văn đồng thời là nhà nho trong ngàn năm lịch sử quen nghiên cứu nghiền ngẫm sách vở kinh viện nho giáo, ít chú trọng đến những vấn đề tìm kiếm cái mới cả về nội dung lẫn hình thức. Dù nội dung có chứa những nhận thức hay tình cảm, cảm xúc thì nó vẫn giữ gìn cho có trừng mực đúng chính đạo. Về nghệ thuật quan tâm sự tìm tòi trong thế gọt giũa tìm câu tìm chữ cho phù hợp, nhắc lại mà không sáng tạo. Không thể phủ nhận hoàn toàn loại văn chương này nhưng giá trị của nó không lớn đối với sự phát triển của nền văn học nói chung. Tuy nhiên sự ảnh hưởng của bộ phận hay một dòng văn học không bao trùm toàn bộ giá trị của cả nền văn học. Đặc biệt trong giai đoạn thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX với sự phát triển nhiều dòng văn học khác nhau, chưa từng xuất hiện trong các giai đoạn văn học trước đó, không chỉ có xu hướng đối lập với dòng văn học cung đình mà cho thấy sự phát triển của cả nền văn học Việt Nam giai đoạn này với những thay đổi, phát triển phù hợp với tiến trình lịch sử. 16 Nói đến xã hội triều Nguyễn không thể không nhắc tới quan hệ giữa triều Nguyễn với phương tây. Việc triều Nguyễn “đóng cửa” trong quan hệ với phương tây và tiếp thu những ảnh hưởng của văn hóa Trung hoa đã được thừa nhận. Hiện nay đã có nhiều thay đổi trong cách đánh giá về triều Nguyễn trên các phương diện. Nguyễn Ánh, vị vua sáng lập triều Nguyễn cũng là người chủ động hợp tác với Pháp xuất phát từ mục đích muốn khôi phục lại giang sơn nhà Nguyễn, lợi dụng ưu thế kinh tế, kỹ thuật chiến thắng nhà Tây Sơn. Trong lịch sử Việt Nam thì Nguyễn Ánh là người có quan hệ hợp tác với phương tây khá toàn diện trên các phương diện quân sự, ngoại giao, kinh tế và chính trị mà trước đó chưa một nhân vật lịch sử nào làm được. Sau Gia Long có Minh Mạng và Thiệu Trị tiếp tục giao hảo với Pháp nhưng có những hạn chế nhất định. Tác giả Vĩnh Sính cung cấp những thông tin cho thấy mối quan hệ giao thương giữa Việt Nam với phương tây. Tác giả cho rằng địa danh Hạ Châu mà Cao Bá Quát được phái đi dương trình hiệu lực “trên nguyên tắc được dùng không những để chỉ Singapore mà còn để gọi cả Penang và Malacca – tức là các thuộc địa của người tây phương trên biển Malacca…” [57]. Hơn nữa thời điểm 1844 diễn ra chuyến đi này có thể coi là thời điểm nhạy cảm bởi “đây là một trong các phái bộ đầu tiên do triều đình Nguyễn gửi sang Hạ châu ngay sau khi Thanh triều vì bị thất trận nặng nề trong cuộc chiến tranh nha phiến (1839 – 1842) nên phải nuốt nhục ký điều ước Nam kinh (1842) với nước Anh” [57]. Chúng tôi đồng tình với ý kiến của nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn rằng “việc các chuyến thuyền do triều đình sai đi Hạ Châu vẫn nằm trong xu thế chung là hết sức dè dặt trong quan hệ với thế giới bên ngoài… Bản thân việc nhà Nguyễn cử các phái đoàn đi sang Đông Nam Á vừa để giao thương, buôn bán, vừa nắm thông tin về mọi mặt trước sự hiện diện của Anh và các cường quốc phương tây cho thấy thực ra nhà Nguyễn có quan tâm đến các vấn đề ứng xử với các thế lực mới này”[54, tr.8-9]. Việc nhà Nguyễn có những quan hệ giao thương với phương tây (nhất là ở ba vị vua đầu triều Nguyễn) có những tác động đến xã hội triều Nguyễn giai đoạn này. Những đô thị như Hội An, Phố Hiến, Gia Định… phát triển ở thế kỷ trước thì đến nay vẫn tiếp tục phát triển trong vai trò của những trung tâm kinh tế, thương mại và sự thay đổi về văn hóa tinh thần trong đời sống đô thị. Có lẽ tác động quan trọng từ 17 đời sống đô thị, xã hội thị dân chính là “sự xuất hiện những nhân vật xã hội” (Trần Ngọc Vương). Trong đó “các nhà nho phi cổ truyền tạo nên trong đời sống tinh thần một luồng sinh khí mới, vừa thể hiện tính tất yếu của sự vận động của bản thân cuộc sống, cũng vừa mâu thuẫn với những xác tín, những nguyên lý ứng xử chính thống” [40, tr.69]. Sự ra đời và phát triển của một lớp nhà nho với tư tưởng và lối sống mới, có khuynh hướng đối lập và phá vỡ khuôn khổ truyền thống, tạo lập tính cá nhân đã tạo hương sắc mới cho thời kỳ này và thể hiện rõ trong những sáng tác văn học của họ. Cao Bá Quát là trường hợp tiêu biểu. Hơn nữa việc Cao Bá đi dương trình hiệu lực được tận mắt chứng kiến những điều xa lạ, thể hiện trong văn chương của mình với những tư tưởng, nhận thức mới so với thời đại của ông chính là sản phẩm của sự tiếp thu văn hóa của con người cởi mở, đầy cá tính. Triều Nguyễn độc tôn Nho giáo nhưng thời kỳ này vẫn có sự tồn tại và phát triển của Phật giáo, Đạo giáo tạo nên đời sống tinh thần đa dạng. Nho giáo quay trở lại vị trí độc tôn nhưng tư tưởng của lớp nho sĩ đã có sự chuyển biến, họ không tuyệt đối tin theo những giáo lý Nho giáo như trước đây. Tác giả Nguyễn Thanh Tùng cho rằng tư tưởng của giai đoạn này là “tam giáo đồng nguyên”, “cư nho mộ thích” mà bản chất của hai tư tưởng này khác biệt không lớn bởi “tam giáo nhưng thực chất là tam giáo dưới cái nhìn của Nho giáo. Phật, Đạo chỉ có thể gây ra ảnh hưởng qua con đường ảnh hưởng của Nho giáo” [39, tr.104]. Thực tế Phật, Đạo chỉ có thể gây ảnh hưởng qua Nho là điều đó chưa chẳn. Nho giáo là học thuyết chính trị, đạo đức, là đạo lý nhập thế vốn không phải là tôn giáo. Vì vậy họ tìm đến Phật, Đạo để “bù đắp” những thiết hụt trong đời sống mà Nho giáo không đưa lại. Tác giả Nguyễn Huệ Chi khi nghiên cứu về đặc trưng của văn học trung đại Việt Nam nhấn mạnh “văn học cổ Việt Nam chịu sự chi phối của ba hệ thống tư tưởng tôn giáo Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo… Ở những chặng đường sau tuy có lúc Nho giáo giữ vị trí độc tôn nhưng chưa bao giờ Đạo giáo và Phật giáo mất hẳn địa vị trong việc nâng đỡ tinh thần và cảm hứng cho mọi thế hệ người cầm bút viết văn” [4, tr.1000]. Cũng có nghĩa ảnh hưởng của Phật, Đạo trong tư tưởng tầng lớp trí thức không thể mạnh như Nho nhưng sự tồn tại của chúng tách biệt trong khoảng cách nhất định và sự ảnh hưởng là khác nhau chứ không phải chỉ dựa vào Nho, thông qua Nho. Trong 18
- Xem thêm -