Tài liệu Mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế trên địa bàn tỉnh quảng nam

  • Số trang: 26 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 506 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG NGUYỄN TẤN VĂN MỐI QUAN HỆ GIỮA BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM Chuyên ngành : Kinh tế Phát triển Mã số : 60.31.01.05 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Đà Nẵng - Năm 2016 Công trình được hoàn thành tại ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. BÙI QUANG BÌNH Phản biện 1: PGS. TS. Nguyễn Thị Như Liêm Phản biện 2: TS. Lâm Minh Châu . Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Kinh tế chuyên ngành Kinh tế phát triển họp tại Đại học Đà Nẵng vào ngày 19 tháng 12 năm 2015 Có thể tìm hiểu luận văn tại: - Trung tâm Thông tin – Học liệu, Đại học Đà Nẵng; - Thư viện trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng 1 MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài Một xã hội phát triển toàn diện đòi hỏi không chỉ tăng trưởng kinh tế đơn thuần mà còn cần tới sự phân phối công bằng hơn. Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là những vấn đề lớn mà bất cứ xã hội nào cũng đều phải quan tâm đến. Tăng trưởng nhanh và thực hiện phân phối công bằng là những mục tiêu mà nhiều địa phương đều mong muốn đạt được. Giữa tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập có sự liên quan mật thiết với nhau. Đây là những chủ đề đã và đang được các nhà kinh tế trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm. Theo lý thuyết truyền thống, thực hiện mục tiêu công bằng xã hội, đặc biệt là hướng tới phân phối thu nhập bình đẳng hơn có thế mâu thuẫn với mục tiêu đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động hiệu quả hơn và có tăng trưởng nhanh hơn. Theo nhà kinh tế Simon Kuznets (1955), bất bình đẳng trong phân phối thu nhập có xu hướng nới rộng trong những giai đoạn đầu của quá trình phát triển, trở nên ổn định trong một giai đoạn ngắn, và sau đó thu hẹp dần trong những giai đoan sau khi nền kinh tế đã chín muồi. Các nghiên cứu sau đó như Ahluwwalia (1976) và Psacharopoulos và các cộng sự (1995) đã ủng hộ cho giả thuyết Kuznets. Tuy nhiên, các nghiên cứu của Deininger và SQuyre (1996), Chen và Ravallion (1997), Easterly (1999), Dollar, và Kraay (2002) lại cho thấy tăng trưởng không có tác động đến bất bình đẳng. Sau khi lý thuyết tăng trưởng nội sinh được giới thiệu vào giữa thập niên 1980, các mối quan tâm đã chuyển sang nghiên cứu tác động của phân phối thu nhập đến tăng trưởng kinh tế. Kết luận rút ra từ các nghiên cứu rất khác nhau. Các nghiên cứu như Persson và 2 Tabellini (1994), Clarke (1995), Persson và Tabellini (1994) cho thấy bất bình đẳng thu nhập gây tổn hại cho tăng trưởng kinh tế, trong khi Li và Zou (1998), Frank (2009) lại phát hiện bất bình đẳng thu nhập có tác động dương đến tăng trưởng kinh tế. Quảng Nam là một tỉnh ven biển thuộc vùng phát triển kinh tế trọng điểm của miền Trung. Vị trí địa lý kinh tế thuận lợi, có nhiều lợi thế trong giao lưu kinh tế và thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Trong những năm qua, kinh tế trên địa bàn tỉnh Quảng Nam phát triển mạnh mẽ và đạt được nhiều thành công nhất định. Tuy nhiên, đi kèm với quá trình phát triển đó cũng xuất hiện nhiều vấn đề kinh tế xã hội phát sinh, mà một trong những vấn đề đó là bất bình đẳng phân phối thu nhập. Sự gia tăng chênh lệch về thu nhập giữa các nhóm dân cư và giữa các vùng, khoảng cách giàu nghèo có xu hướng tăng lên, gây trở ngại cho sự phát triển bền vững của tỉnh. Tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập là những chủ đề được quan tâm nghiên cứu ở Việt Nam. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu chủ yếu mới chỉ bàn riêng hoặc về tăng trưởng kinh tế hoặc về phân phối thu nhập. Gần đây đã có một số nghiên cứu mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, các nghiên cứu chủ yếu là nghiên cứu định tính và các nghiên cứu định lượng chủ yếu mới tập trung nghiên cứu tác động của tăng trưởng kinh tế đến bất bình đẳng thu nhập. Việc nghiên cứu tác động của bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng kinh tế còn ít. Bắt nguồn từ thực tế trên, em quyết định chọn đề tài: “Mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trƣởng kinh tế trên địa bàn tỉnh Quảng Nam”. 2. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu tổng quát là nghiên cứu mối quan hệ giữa bất bình 3 đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế ở tỉnh Quảng Nam. Mục tiêu cụ thể nghiên cứu cần hướng tới, gồm: - Hệ thống cơ sở lý thuyết và thực nghiệm về mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế; - Phân tích thực trạng bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế ở Quảng Nam trong thời gian qua; - Phân tích mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế ở Quảng Nam; - Đề xuất các quan điểm và giải pháp nhằm tận dụng tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của bất bình đẳng thu nhập đến tăng trưởng kinh tế ở Quảng Nam. 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế ở Quảng Nam. Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chỉ nghiên cứu phân phối thu nhập theo quy mô với trọng tâm là nghiên cứu bất bình đẳng thu nhập giữa các nhóm dân cư với tăng trưởng kinh tế. Số liệu được thu thập từ Cục thống kê và UBND các huyện, thành phố của tỉnh trong giai đoạn 2012 – 2014. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu: uận văn s dụng các phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp số liệu, hồi quy tuyến tính, phương pháp đánh giá. 5. Ý nghĩa khoa học của luận văn Về mặt l luận, luận văn cung cấp cho những ai quan tâm đến vấn đề bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế một cách có hệ thống l luận tương đối đầy đủ. Về mặt thực tế, đây là một trong những số ít nghiên cứu ở Việt Nam lượng hóa được mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng 4 trưởng kinh tế, cung cấp một căn cứ tham khảo cho việc hoạch định các chiến lược phân phối thu nhập, tăng trưởng cũng như nghiên cứu sâu về chủ đề này cho từng tỉnh, thành phố khác. Luận văn chứng minh tầm quan trọng của các chính sách trong việc giải quyết mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế. 6. Kết cấu của luận văn Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 4 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế Chương 2: Thực trạng bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế trên địa bàn tỉnh Quảng Nam Chương 3: Phân tích mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế trên địa bàn tỉnh Quảng Nam Chương 4: Bàn luận kết quả và hàm ý chính sách CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA MỐI QUAN HỆ BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP VÀ TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ 1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP 1.1.1. Khái niệm về bất bình đẳng thu nhập Bất bình đẳng thu nhập đề cập đến hiện tượng thu nhập được phân phối không đều giữa các cá nhân hoặc các hộ gia đình trong nền kinh tế. 1.1.2. Đo lƣờng bất bình đẳng thu nhập Có rất nhiều thước đo bất bình đẳng thu nhập. i thước đo 5 đề có những ưu, nhược điểm riêng. uận văn giới thiệu những thước đo phố biến nhất và s dụng trong các nghiên cứu thực nghiệm ở các chương sau bao gồm: tỷ lệ giữa thu nhập bình quân của nhóm 20% hộ gia đình giàu nhất với thu nhập bình quân của nhóm 20% hộ gia đình nghèo nhất (Q5/Q1); Đường Lorenz; Hệ số GINI; và tiêu chuẩn 40 của Ngân hàng Thế giới. 1.1.3. Các nhân tố ảnh hƣởng đến bất bình đẳng thu nhập Nhìn chung các nguyên nhân gây ra bất bình đẳng trong phân phối thu nhập có thể xếp vào hai nhóm: bất bình đẳng trong phân phối thu nhập từ tài sản; và bất bình đẳng trong phân phối thu nhập từ lao động. Trong nền kinh tế thị trường, một phần thu nhập của các cá nhân nhận được từ sở hữu các nguồn lực. T y theo quy mô và cơ cấu danh mục tài sản nắm giữ, cũng như giá thuê các tài sản đó, thu nhập của các cá nhân từ tài sản có thể khác nhau rất nhiều. Tài sản của các cá nhân được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, mà chủ yếu là do được thừa kế tài sản hoặc do tiết kiệm trong quá khứ. i người lao động có những đặc điểm rất khác nhau như sức khỏe, năng lực, trình độ, k năng, kinh nghiệm và sở thích. Các công việc cũng khác nhau về tiền lương và các đặc điểm phi tiền tệ. Những khác biệt này có ảnh hưởng đến cung, cầu lao động và thu nhập của các cá nhân. 1.2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ 1.2.1. Khái niệm tăng trƣởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế được định nghĩa là sự gia tăng mức sản 6 xuất của nền kinh tế theo thời gian. Nhìn chung tăng trưởng kinh tế được tính bằng phần trăm thay đổi của GDP thực tế hay GDP thực tế bình quân đầu người. 1.2.2. Các nhân tố ảnh hƣởng đến tăng trƣởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế chịu tác động của nhiều nhân tố, bao gồm nhân tố kinh tế và nhân tố phi kinh tế. Các nhân tố kinh tế tác động tăng trưởng kinh tế là những nhân tố tác động trực tiếp đến các yếu tố đầu vào và đầu ra của nền kinh tế, bao gồm vốn, lao động, tiến bộ công nghệ và tài nguyên. hác với các nhân tố kinh tế, các nhân tố chính trị, xã hội, thể chế hay còn gọi là các nhân tố phi kinh tế, có tác động gián tiếp và rất khó lượng hóa cụ thể mức độ tác động của chúng đến tăng trưởng kinh tế. Có thể kể ra một số nhân tố phi kinh tế tác động đến tăng trưởng như: vai trò của Nhà nước, các yếu tố văn hóa – xã hội, thể chế, cơ cấu dân tộc tôn giáo và sự tham gia của cộng đồng. 1.3. TỔNG QUAN CÁC LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP VÀ TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ Nhiều nghiên cứu đã n lực đưa ra lời đáp cho câu hỏi lớn: iệu các quốc gia có phải đối mặt với sự đánh đổi giữa giảm bất bình đẳng thu nhập và cải thiện thành tựu tăng trưởng hay không, liệu bất bình đẳng thu nhập có ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia hay không Nếu có, thì hình mẫu cụ thể của mối quan hệ là gì và tại sao Giả thuyết về mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế rất nhiều và đa dạng. ột số nghiên cứu lý thuyết cho thấy bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng có mối quan hệ đánh đổi như chấp nhận bất bình đẳng nền kinh tế sẽ tăng trưởng 7 nhanh hơn. Theo l thuyết truyền thống, để lấy thu nhập của người giàu chuyển cho người nghèo, Chính phủ phải thực hiện các chính sách tái phân phối thu nhập, ví dụ như thông qua hệ thống thuế thu nhập lũy tiến và các chương trình phúc lợi mà điều này sẽ làm giảm động lực lao động và gây ra tổn thất cho tăng trưởng kinh tế. Trong khi đó nhiều lý thuyết lại cho thấy bất bình đẳng thu nhập có thể làm giảm tăng trưởng kinh tế, bao gồm: Lý thuyết kinh tế chính trị được phát triển bởi các nhà nghiên cứu Alesina và Rodrik (1994), Persson và Tabellini (1994); Lý thuyết thị trường vốn không hoàn hảo được xây dựng bởi các nhà nghiên cứu Galor và Zeira (1993), Aghion và Bolton (1997), Chiou (1998), Grossman và Kim (1996); Lý thuyết những vấn đề về giáo dục và sinh sản được xây dựng bởi Perotti (1996); Lý thuyết so sánh và xã hội của Knell (1998); Todaro (1998). Tóm lại, tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập tác động trực tiếp đến nhau, tăng trưởng cao giúp giảm bất bình đẳng thu nhập, bất bình đẳng thu nhập là điều kiện để có tăng trưởng cao,… Hai nhân tố này tác động tới nhau thông qua các kênh truyền dẫn đầu tư, tiết kiệm, giáo dục, tín dụng, phân phối lại thông qua thuế và trợ cấp. Các kênh truyền dẫn này sẽ quyết định tăng trưởng và bất bình đẳng thu nhập tác động tới nhau như thế nào. Vấn đề đặt ra là Nhà nước ta phải xác định kênh nào hữu ích, kênh nào cho tác động tiêu cực để đưa ra nhưng giải pháp nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội, giảm bất bình đẳng thu nhập. 1.4. XÁC ĐỊNH MÔ HÌNH ƢỚC LƢỢNG Căn cứ vào l thuyết và cân nhắc nguồn dữ liệu s n có ở tỉnh Quảng Nam, đề tài s dụng mô hình thực nghiệm sau để ước lượng tác động của bất bình đẳng trong phân phối thu nhập tới tăng trưởng kinh tế ở Quảng Nam: 8 GROWTH = β0 + β1INEQUA ITY + β2X + ei Trong đó, GROWTH là biến tốc độ tăng trưởng GDP, tuy nhiên dựa vào phân tích phân phối của GDP, nghiên cứu sẽ s dụng dạng hàm với biến phụ thuộc là lnGDP. INEQUALITY là biến số đo lường bất bình đẳng thu nhập. Luận văn s dụng 2 biến đo lường bất bình đẳng thu nhập để đại diện cho biến INEQUALITY là GINI và INCGAP. Biến GINI là hệ số GINI được s dụng để biểu thị bất bình đẳng trong phân phối thu nhập. Ở Việt Nam số liệu GINI không có s n cho các tỉnh/thành, tác giả đã tự tính hệ số GINI thông qua bộ số liệu VHLSS. Biến INGAP là biến đo lường khoảng cách thu nhập giữa nhóm giàu nhất và nhóm nghèo nhất. Biến này cũng được tính thông qua bộ số liệu VHLSS. X là các biến ngoại sinh có tác động đến tăng trưởng kinh tế bao gồm tỷ lệ đầu tư trong GDP, lực lượng lao động. CHƢƠNG 2 THỰC TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP VÀ TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM 2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM Quảng Nam là một tỉnh ven biển, thuộc v ng Duyên hải Nam Trung bộ, nằm ở vị trí trung điểm đất nước theo trục Bắc – Nam; phía Bắc giáp thành phố Đà N ng, phía Đông giáp biển Đông với trên 125 km bờ biển, phía Tây giáp tỉnh on Tum và nước cộng hoà Dân chủ Nhân dân ào, phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi. Quảng Nam nằm ở một vị trí chiến lược trong khu vực duyên hải miền Trung, gắn liền với một chu i các điểm đến về du lịch trong khu vực. Phía cuối của khu vực duyên hải này, Quảng Nam cũng có cơ 9 hội để xây dựng cơ sở hạ tầng qui mô làm đầu mối giao thông của khu vực như cảng biển Kỳ Hà, sân bay quốc tế Chu Lai, khu kinh tế mở Chu Lai. Với đầy đủ các nguồn tài nguyên về rừng, biển, mặt nước, lại nằm trong hành lang Đông - Tây, Quảng Nam có rất nhiều tiềm năng phát triển kinh tế. 2.2. THỰC TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM a. Thực trạng b ng chung Theo số liệu tính toán từ niên giám thống kê cho thấy thu nhập bình quân đầu người có xu hướng gia tăng trong khi chênh lệch giữa nhóm có thu nhập giàu nhất và nhóm nghèo nhất ngày càng dãn ra. Cụ thể chênh lệch giữa nhóm 5 (nhóm giàu nhất) so với nhóm 1 (nhóm nghèo nhất) là 5.3 lần năm 2004, tăng lên 6 lần năm 2010, rồi 6.5 lần năm 2012 và cuối c ng là 8.3 lần năm 2014. b. B ng thu nh p phân theo khu vực thành thị và nông thôn Thu nhập bình quân đầu người ở thành thị và nông thôn đều có xu hướng tăng trong giai đoạn 2004 – 2014. Năm 2004 thu nhập bình quân 1 người 1 tháng ở khu vực thành thị đạt 518 nghìn đồng gấp 1.39 lần so với khu vực nông thôn đạt 372 nghìn đồng, con số này đến năm 2010 tăng lên 1.51 lần cao nhất trong giai đoạn này, tuy nhiên đến năm 2014 thì mức chênh lệch này giảm xuống còn 1.35 lần. e ệ GINI Đối với tỉnh Quảng Nam, hệ số GINI dựa trên thu nhập bình quân đầu người trong giai đoạn 2004 – 2014 tuy có sự thay đổi nhưng không quá cao. Cụ thể năm 2004 là 0,302, năm 2010 là 0,328, đến năm 2014 tăng lên 0,386. Điều này cho thấy mô hình tăng trưởng kinh tế tương đối công bằng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn 10 này. Theo tiêu chuẩn “40%” thì Quảng Nam có phân bố thu nhập trong dân cư ở mức tương đối bình đẳng, khi tỷ trọng thu nhập của 40% dân số có thu nhập thấp nhất trong tổng thu nhập là 20.02% năm 2004, tỷ lệ này là 15.67% năm 2014, đã phản ánh phân phối thu nhập trong dân cư luôn giữ được ở mức tương đối bình đẳng. ng theo ti p c n m t s dịch vụ ơ d. B n Quảng Nam không chỉ đặt mục tiêu phát triển kinh tế mà còn quan tâm cải thiện đời sống của người dân. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại hệ thống này vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu s dụng dịch vụ của người dân kể cả về số lượng và chất lượng. Đặc biệt là vẫn còn khá cách biệt trong tiếp cận, s dụng các loại hình dịch vụ an sinh xã hội s n có giữa các nhóm dân cư, đặc biệt là nhóm nghèo có thu nhập thấp và dân cư khu vực nông thôn, v ng sâu, v ng xa. e N yê ở ỉ Q N m Luận văn đã chỉ ra các nguyên nhân dẫn tới gia tăng bất bình đẳng thu nhập ở tỉnh Quảng Nam bao gồm: Sự phát triển không đều giữa các v ng do điều kiện địa l , phương thức sản xuất, văn hóa, phong tục tập quán, lối sống khác nhau; Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh chóng; Các cơ hội và việc làm phi nông nghiệp là nhân tố góp phần gia tăng bất bình đẳng 2.3. THỰC TRẠNG TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM X ướ ă ưởng kinh t Với những thay đổi và chính sách phù hợp đã đưa nền kinh tế trên địa bàn tỉnh Quảng Nam tăng trưởng cao từ 10.15% năm 2004 lên 13.25% năm 2007, cao hơn nhiều so với cả nước (cả nước đạt 8.3% năm 2004 và năm 2007 là 8.46%) . Do tác động của cuộc khủng 11 hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2007 – 2009 đã làm cho GDP giảm xuống còn 11.04% năm 2009, đến năm 2010 nhờ những thay đổi tích cực nên tốc độ tăng trưởng đã tăng trở lại, lên 13% năm 2010, qua đó tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2004 – 2010 đạt hơn 12%. Đến năm 2011, tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm còn 12.58% và tiếp tục giảm xuống còn 10.92% năm 2012, đến năm 2013 d vẫn còn chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế và lạm phát nhưng tốc độ tăng trưởng vẫn đạt 11.06%. ượ ă ưở Chất lượng tăng trưởng kinh tế được đánh giá thông qua một số chỉ tiêu như hiệu quả lao động (năng suất lao động), năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), hiệu quả sự dụng vốn (ICOR). Tốc độ tăng năng suất lao động có xu hướng chậm lại từ 10.8% giai đoạn 2004 – 2007, xuống 8.99% năm 2008 và 8.57% năm 2009. Tuy nhiên, đến năm 2014 với những chính sách quy hoạch và phát triển nhân lực cho tỉnh nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đã làm cho năng suất lao động tăng nhẹ trở lại (năm 2014 đạt 9.79%). Trong giai đoạn 2004 – 2009, hệ số ICOR có xu hướng gia tăng theo các năm và có xu hướng giảm từ sau năm 2009. Nếu năm 2006, hệ số này là 3.47 thì còn số này đã tăng lên 4.03 vào năm 2009. Đặc biệt giai đoạn 2010 – 2012, hệ số ICOR từ mức 4 trở lại, năm 2014 là 2.79. Giai đoạn từ 2005 – 2009, tăng trưởng kinh tế giai đoạn này phụ thuộc vào việc tăng vốn hơn là lao động và các yếu tố công nghệ. Nhưng từ giai đoạn 2010 – 2014 thì ta có thể thấy có sự dịch chuyển của về việc các yếu tố công nghệ đóng góp chủ yếu cho việc tăng trưởng kinh tế so với sự đóng góp của yếu tố lao động và vốn. 12 2.4. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ GIỮA BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP VÀ TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM Những kết quả đạt được: - Tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định đã tạo điều kiện thuận lợi cho tiến trình thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo ở Quảng Nam. - Quảng Nam đã thực hiện ưu tiên cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế và bắt đầu chú đến mục tiêu công bằng trong phân phối thu nhập. - Tăng trưởng đã chú gắn kết với các mục tiêu về phát triển con người. Những hạn chế: - Phân phối thu nhập không được thực hiện một cách đồng đều gắn với tăng trưởng. Tăng trưởng đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhóm người giàu, dẫn đến sự bất bình đẳng về thu nhập. - ô hình tăng trưởng kinh tế và cơ chế phân bổ nguồn lực có ảnh hưởng tiêu cực đến việc đảm bảo công bằng thu nhập. - Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa đã dẫn đến tăng trưởng nóng và đã làm phát sinh nhiều vấn đề liên quan đến bất bình đẳng thu nhập. - Quá trình chuyển đổi cơ chế từ kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường làm gia tăng bất bình đẳng thu nhập. - Có tác động của cơ chế xin cho, bao cấp, môi trường kinh doanh không bình đẳng và thông tin không minh bạch đến bất bình đẳng thu nhập. - Chưa thể kết hợp tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội trong từng chính sách. 13 CHƢƠNG 3 PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP VÀ TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ 3.1. XÁC ĐỊNH PHƢƠNG PHÁP ƢỚC LƢỢNG Để khắc phục vấn đề thiếu biến hay không quan sát được một số biến độc lập trong mô hình, luận văn s dụng phương pháp hồi quy với số liệu mảng theo thành phố/thị xã/huyện nhằm đo lường tác động của bất bình đẳng thu nhập tới tăng trưởng. Điều quan trọng với luận văn là phải chọn phương pháp ước lượng phù hợp, đó là phương pháp ước lượng bình phương bé nhất (OLS). Luận văn s dụng một số kiểm định để tìm kiếm các khuyết tật (nếu có) của mô hình bao gồm: Kiểm định Breusch-Godfrey Serial Correlation LM Test; iểm định giá trị VIF; Kiểm định White Heteroskedasticity Test; Yếu tố ngẫu nhiên tuân theo phân phối chuẩn. 3.2. SỐ LIỆU - Số liệu từ Tổng Cục thống kê, Cục Thống kê tỉnh Quảng Nam và Niên giám thống kê trên địa bàn tỉnh Quảng Nam Trong nghiên cứu này tác giả s dụng số liệu thống kê chủ yếu sau: GDP, đầu tư, lao động của tỉnh. - Số liệu điều tra mức sống hộ gia đình (VH SS) Đây là cuộc điều tra nhằm thu nhập các thông tin làm căn cứ đánh giá mức sống, đánh giá tình trạng nghèo đói và phân hóa giàu nghèo, để phục vụ công tác hoạch định các chính sách, kế hoạch và các chương trình mục tiêu quốc gia. 3.3. THỐNG KÊ VÀ PHÂN PHỐI XÁC SUẤT CỦA CÁC BIẾN TRONG MÔ HÌNH Thống kê cơ bản về Gini (sau khi nhân 100) là 32.93, giá trị 14 nhỏ nhất là 30.16 và giá trị lớn nhất là 39.95. Phân bố xác suất của biến GINI và INCGAP cho thấy có dạng phân bố gần phân bố chuẩn. Phân bố xác suất của biến GDP, INVEST, FS lệch trái. Như vậy biến GDP, INVEST, FS không có phân bố chuẩn. hắc phục vấn đề này, ta xét logarit cơ số tự nhiên của biến GDP, INVEST và FS. So sánh phân bố xác suất của lnGDP, lnINVEST, ln FS với đồ thị hàm mật độ xác suất ta thấy lnGDP, lnINVEST, ln FS phân bố chuẩn. 3.4. MỐI QUAN HỆ GIỮA BIẾN PHỤ THUỘC VÀ MỘT SỐ BIẾN GIẢI THÍCH 3.5. KẾT QUẢ ƢỚC LƢỢNG HỒI QUY 3.5.1 Tác động của bất bình đẳng thu nhập (đo lƣờng bằng hệ số GINI) đến tăng trƣởng kinh tế Mô hình 1: Bảng 3.3. Tóm tắt kết quả tác động của bất bình đẳng thu nhập (đo lường bằng hệ số GINI) đến tăng trưởng kinh tế Biến giải thích ao động – lnlfs Bất bình đẳng thu nhập – GINI OLS 1.158948 (0.082788)* 0.108954 (0.03099)* Biên tương tác giữa GINI và đầu tư – 0.01371 GINI_INVEST (0.003075)* 2 R 0.589307 Prob - Xem thêm -